276.
Sám Tán Phật
277.
Sám Nguyện Trẻ Thơ Buổi Sáng
278.
Văn Sám Hối Sáu Căn
279.
Bác Đại Nhơn Giác Văn Vần
280.
Sám Văn Bát Chánh Đạo
281.
Sám Phát Nguyện
282.
Sám Văn Phục Nguyện (1)
283.
Sám Văn Phục Nguyện (2)
284.
Sám Văn Phục Nguyện (3)
285.
Sám Văn Phục Nguyện (4)
286.
Sám Quy Mạng Nghĩa (9)
287.
Sám Khể Thủ Nghĩa (8)
288.
Văn Phát Nguyện Ba Câu Tự Quy
276-
SÁM TÁN PHẬT
(Sám
phát nguyện 30)
Đấng
Như Lai vẹn đầy phúc tuệ,
Đức
mênh mông như biển không lường,
Độ
cho khắp cả mười phương,
Thoát
vòng khổ não lên đường tiêu dao.
Đạo
nhiệm mầu núi cao khôn sánh,
Khắp
muôn đời phàm thánh quy y,
Lòng
đầy hỷ xả từ bi,
Lấp
bằng bể khổ, sông mê chẳng còn.
Thành
phiền não cùng non ngã mạn,
Phá
tan tành từ ngọn đến chân,
Lòng
không vướng chút bụi trần,
Pháp
thân tự tại muôn phần yên vui.
Báo
thân hưởng đời đời sung túc,
Hóa
thân ra muôn ức nhẹ nhàng,
Hào
quang soi khắp mười phương,
Phá
tan tành hết mọi đường tối tăm.
Dung
nhan đẹp đủ ba mươi hai tướng,
Sức
oai thiêng vô lượng vô biên,
Cho
bao loài được như nguyền,
Một
lòng bình đẳng chẳng thiên vị gì.
Coi
kẻ oán cũng như ruột thịt,
Thả
bè từ vớt hết trầm luân,
Chúng
con mừng có thiện nhân,
Được
làm người lại được gần Như Lai.
Dốc
lòng lạy xin ngài coi xét,
Nguyện
đời đời sạch hết nghiệp duyên,
Chẳng
còn vướng chút lo phiền,
Tiêu
dao tự tại chứng lên Bồ đề.
-------------------
-
Trích khóa lễ “Đêm Giao Thừa” của chùa Giác Hoàng, Mỹ
quốc, 1995.
277-
SÁM NGUYỆN TRẺ THƠ BUỔI SÁNG
(Sám
phát nguyện 31)
Thành
tâm quỳ dưới Phật đài,
Cúi
đầu lạy Phật đón ngày mới sang.
Phật
đà từ ái nghiêm trang,
Cha
lành của khắp mười phương vạn loài.
Xin
nghe con trẻ tỏ bày,
Lời
cầu nguyện của kiếp này kiếp sau.
Trước
là cha mẹ ơn sâu,
Được
nhiều phước đức sống lâu tuổi trời.
Ông
bà tiên tổ nhiều đời,
An
vui cõi Phật thảnh thơi tu hành.
Xin
cho thế giới thanh bình,
Ai
ai cũng sống hiền lành với nhau.
Thầy
cô vất vả công lao,
Mong
sao sẽ được phước cao đức dầy.
Còn
con xin nguyện từ đây,
Siêng
năng học tập để ngày lớn khôn.
Đáp
đền cha mẹ công ơn,
Đắp
xây thế giới đẹp hơn bây giờ.
Hôm
nay con trẻ dại khờ,
Biết
bao mơ ước còn chờ mai sau.
Nguyện
trên ơn Phật nhiệm mầu,
Cho
con trí tuệ hiệu sâu mọi điều.
Cho
lòng con biết thương yêu,
Để
con giúp đỡ được nhiều tha nhân.
Cho
con lễ độ ân cần,
Biết
nhường kính với người gần kẻ xa.
Từng
ngày cuộc sống đi qua,
Xin
cây đạo đức nở hoa trong lòng.
Đôi
điều con trẻ ước mong,
Cúi
xin đức Phật cảm thông độ trì.
Nam
Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
-----------------
-
Chưa rõ tác giả, được tìm thấy trong tập “LờI khấn
nguyền” ấn tống tạI chùa Xá Lợi, Tp. Hồ Chí Minh, 2002
-
Biên giả sửa lời tựa cho hợp Sám văn, nguyên tác là “Lời
nguyện cầu buổi sáng dành cho trẻ ”
278-
VĂN SÁM HỐI SÁU CĂN
(Sám
phát nguyện 16)
- Chí
tâm sám hối:
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm;
Không
sám lỗi trước khó tránh lỗi sau.
1.-
Nghiệp căn Mắt là:
Nhân
ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,
Lầm
nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
Yêu
ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành,
Chợp
mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Trắng
qua xanh lại, tía phải vàng sai,
Nhìn
lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
Gặp
người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang,
Lòa
mắt chưa sanh, bản lai diện mục.
Thấy
ai giàu có, giương mắt mãi nhìn,
Gặp
kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
Người
dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân
quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Hoặc
đến Tam bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần
tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó.
Phòng
Tăng, điện Phật gặp gỡ gái trai,
Mắt
liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Không
ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,
Trố
mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðều
từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
Trải
hằng sa kiếp, mới được làm người,
Dù
được làm người, lại bị mù chột.
2.-
Nghiệp căn Tai là:
Ghét
nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,
Mê
mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.
Sáo
đàn inh ỏi, Bảo khúc Long ngâm,
Văng
vẳng mõ chuông,coi như ếch nhái.
Câu
ví bài vè, bỗng nhiên để dạ,
Lời
kinh câu kệ, không chút lắng tai.
Thoảng
nghe khen hảo, khấp khởi mong cầu,
Biết
rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.
Vài
ba bạn rượu, dăm bảy khách chơi,
Tán
ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
Hoặc
gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,
Những
điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.
Hoặc
nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm,
Nghe
nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðầy
ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
Sau
khi mạng chung, rơi ba đường ác
Hết
nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.
3.-
Nghiệp căn Mũi là:
Thường
tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng
thích chơn hương, năm phần thanh tịnh.
Lan
xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,
Giới
định huân hương, chưa từng để mũi.
Trầm
đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,
Nghểnh
cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
Theo
dõi hương trần, Long thần chẳng nể,
Chỉ
thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.
Mặt
đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,
Cây
giác hoa tâm, xoay đi không đoái.
Hoặc
ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,
Thấy
bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
Chẳng
ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi,
Mê
mãi không thôi, như lợn nằm ổ.
Hoặc
chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,
Bôi
cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
Hoặc
say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng,
Hai
mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
Ngửi
sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,
Không
biết không hay, đều do nghiệp mũi,
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Sau
khi mạng chung, đọa ba đường khổ.
Trải
ngàn muôn kiếp, mới được làm người,
Dù
được làm người, quả báo bệnh mũi
4.-
Nghiệp căn Lưỡi là:
Tham
đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,
Nếm
hết các thứ, rõ biết béo gầy.
Sát
sanh hại vật, nuôi dưỡng thân mình,
Quay
rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
Thịt
tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.
Ăn
rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
Hoặc
đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,
Cố
cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
Sáng
sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,
Giống
hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt
đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu
chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bày
tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết
hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nói
dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai
lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
Chửi
mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,
Khinh
khi Hiền thánh, lừa dối mọi người.
Chê
bai người khác, che dấu lỗi mình,
Bàn
luận cổ kim, khen chê này nọ.
Khoe
khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,
Xua
đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.
Lời
dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,
Tô
vẽ điều sai, nói không thành có.
Oán
hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,
Tán
dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ví
như cát bụi, đếm không thể cùng.
Sau
khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt
Cày
sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Quả
báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,
Dù
được làm người, lại bị câm bặt.
5.-
Nghiệp căn Thân là:
Tinh
cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,
Năm
tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp
cho là thật, quên mất pháp thân,
Sanh
dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp:
a.-
Nghiệp Sát Sanh là:
Luôn
làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ,
Giết
hại bốn loài, đâu biết một thể.
Lầm
hại cố giết, tự làm dạy người,
Hoặc
tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
Hoặc
làm thuốc độc, để hại sanh linh,
Chỉ
cốt hại người, không hề thương vật.
Hoặc
đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,
Buông
chài bủa lưới, huýt chó thả chim,
Thấy
nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,
Cử
động vận hành, đều là tội lỗi.
b.-
Nghiệp Trộm Cắp là:
Thấy
tài bảo người, thầm khởi tâm tà,
Phá
khóa cạy then, sờ bao mò túi.
Thấy
của thường trụ, lòng dấy khởi tham,
Trộm
của nhà chùa, không sợ Thần giận.
Không
những vàng ngọc, mới mắc tội to,
Ngọn
cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.
c.-
Nghiệp Tà Dâm là:
Lòng
mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,
Chẳng
đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
Hoặc
nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,
Cư
sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.
Tung
hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,
Khoét
ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðến
lúc mạng chung, đều vào địa ngục.
Gái
nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,
Muôn
kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.
6.-
Nghiệp căn Ý là:
Nghĩ
vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,
Mắc
mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như
tầm kéo kén, càng buộc càng bền,
Như
bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn
mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh
Não
loạn tâm thần, đều do ba độc.
a.-
Tội keo tham là:
Âm
mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,
Mười
vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Của
chứa tợ sông, lòng như hũ chảy,
Rót
vào lại hết, nên nói chưa đầy.
Tiền
mục lúa hư, không cứu đói rét,
Lụa
là chất đống, nào có giúp ai,
Ðược
người mấy trăm, chưa cho là nhiều,
Mất
mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên
từ châu báu, dưới đến tơ gai,
Kho
đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao
nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,
Khổ
tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
b.-
Tội nóng giận là:
Do
tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,
Quắc
mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Không
riêng người tục, cả đến thầy tu,
Kinh
luận tranh dành, cùng nhau công kích.
Chê
cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,
Cỏ
nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Buông
lời hại vật, cất tiếng hại người,
Không
nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Bàn
thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,
Dù
ở cửa Không, chưa thành vô ngã.
Như
cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây,
Những
tội trên đây, đều do nghiệp giận.
c.-
Tội ngu si là:
Căn
tánh dần độn, ý thức tối tăm,
Chẳng
hiểu tôn ty, không phân thiện ác.
Chặt
cây hại mạng, giết gấu gãy tay,
Mắng
Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt.
Quên
ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,
Không
tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Những
tội như thế, rất nặng rất sâu,
Ðến
lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải
trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh,
Dù
được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu
không sám hối, đâu được tiêu trừ,
Nay
trước Phật đài, thành tâm sám hối.
Nam
mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma ha tát.
------------
-
Trích trong website “Thiền Tông Việt Nam” của Thiền Viện
Thường
Chiếu, phổ biến tại địa chỉ huongsen.com
279-Bác
Đại Nhơn Giác Văn Vần
(Sám
phát nguyện 32)
THÍCH
THIÊN ÂN
Làm
người Phật tử ở đời,
Đêm
ngày tụng niệm những lời dạy
khuyên,
Tám
điều Giác ngộ Kinh truyền,
Ghi
lòng tạc dạ tinh chuyên tu hành.
Thứ
nhất là tâm thành giác ngộ,
Cảnh
thế gian quốc độ vô thường,
Sắc,
tâm sanh diệt không lường,
Tứ
đại ngũ uẩn theo đường khổ không.
Nguồn
tội ác bởi lòng dục vọng,
Nghiệp
oan gia như bóng theo hình,
Suy
đi nghĩ lại cho rành (tinh),
Dần
dần giải thoát tử sanh luân hồi.
Thứ
hai là ghi lời giác ngộ,
Tham
dục nhiều lụy khổ thêm nhiều,
Dạt
dào sanh tử bao nhiêu,
Cũng
vì tham dục mọi điều gây nên.
Muốn
sống đời bình yên tự tại,
Hãy
mở lòng quảng đại vô vi.
Thứ
ba hằng nhớ ghi tâm trí,
Lòng
tham cầu ý chí khó lừa (lường),
Chất
chồng tội ác ngàn xưa,
Cũng
vì không chán, không chừa cầu
mong.
Hàng
Bồ tát giữ lòng biết đủ,
An
phận nghèo quy củ tu hành,
Trau
giồi trí tuệ thông minh,
HUỆ
là sự nghiệp, bình sanh đạo thường.
Thứ
tư là nhờ đường giác ngộ,
Lười
biếng là gốc khổ lầm than,
Thường
tu tinh tấn không ngần (ngừng),
Dẹp
các phiền não, ma quân phục tùng.
Phá
địa ngục muôn trùng kiên cố,
Thoát
thành sầu cùng khổ ấm, duyên.
Thứ
năm là giác ngộ cơ thuyền (thiền),
Ngu
si là gốc nhơn duyên mê lầm,
Hàng
Bồ tát chuyên tâm học vấn,
Nghe
thấy nhiều diệt tận nguồn mê,
Khai
thông tâm trí Bồ đề,
Biện
tài thành tựu đề huề chúng sanh.
Thường
giáo hóa an lành tất cả,
Ban
nguồn vui hỷ xả cho nhau.
Thứ
sáu là nhớ câu giác ngộ,
Nghèo
khó nhiều, đau khổ càng nhiều,
Nợ
oan vay trả bao nhiêu,
Dây
oan buộc chặt lắm điều đắng cay.
Hàng
Bồ tát ra tay bố thí,
Bình
đẳng tâm không nghĩ oán thân,
Càng
thương những kẻ ác nhơn,
Quên
điều tội phước (cũ) thường phần khổ đau (sau).
Giác
thứ bảy thân dầu ở tục,
Lòng
thường vui, ngũ dục lánh xa,
Giữ
gìn ba áo cà sa,
Tay
bưng bình bát yên hà vui thay.
Chí
xuất gia tháng ngày giữ dạ,
Phẩm
hạnh lành, đức hạnh cao xa,
Sao
cho trong sạch lòng ta,
Từ
bi cứu thoát hằng hà chúng sanh.
Thứ
tám là đinh ninh giác ngộ,
Lửa
tử sanh đau khổ vô cùng,
Bồ
đề tâm phát bao dung,
Thệ
đầu tế độ, thoát vòng truân chuyên.
Chúng
sanh khổ lòng nguyền thay thế,
Dẫu
gian lao, chẳng kể chẳng phiền,
Mong
cho nhân loại đều yên,
Hoàn
toàn giải thoát lên miền chơn như.
Tám
điều ấy lời chư Phật dạy,
Bậc
Đại nhơn như vậy tu hành,
Đạo
tâm tinh tấn chí thành,
Ngồi
thuyền lên bến vô sanh Niết bàn.
Thừa
nguyện lực nhơn gian trở gót,
Bể
trầm luân cứu vớt chúng sanh,
Y
theo tám việc thực hành,
Tuyên
dương tiếp dẫn siêu sanh giác đài.
Rõ
tử sanh đêm dài đau khổ,
Thoát
năm trần, siêu độ tâm tình,
Là
người Phật tử chơn thành,
Hàng
ngày tụng niệm, phước sanh tội trừ.
Đoạn
sanh tử, lên bờ giải thoát,
Chứng
Bồ đề cực lạc huy hoàng,
Cúi
đầu lạy đấng Giác hoàng,
Cầu
xin chứng giám đạo tràng từ bi.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
-
Trích từ bản dịch của HT. Thích Thiên Ân diễn nghĩa văn
vần, trong quyển Kinh Bát Đại Nhơn Giác Lược Giảng của
TT. Thích Nguyên Ngôn, NXB Tôn Giáo ấn hành, Tp. HCM 2003.
280-
SÁM VĂN BÁT CHÁNH ĐẠO
(Sám
Phát Nguyện 33)
Cái
nhìn chân chính mở ra,
Cho
người thấy rõ đâu là chân tâm,
Vọng
hư xin chớ ruỗi dong,
Tìm
trăng đáy nước bao năm phí hoài.
Tuổi
xuân nào có đợi ai,
Cô
phần đa thị thiếu gì thanh niên,
Tư
duy ý thức thiêng liêng,
Mặc
cho nhân thế đảo điên mê lầm.
Nghĩ
suy chân chính chớ nhầm,
Tính
toan, mưu lợi, độc thâm bỏ dần,
Nói
lời chân thật nghĩa nhân,
Một
lòng nhớ nghĩ Phật tâm của mình.
Sống
cần nuôi nấng niềm tin,
Bảo
tồn thân mạng giữa nghìn sóng to,
Sống
cần chân chính dù cho,
Gian
nan, cơ cực đắn đo nhiều bề.
Dở
hay chọn lấy một nghề,
Hơn
là theo đuổi cận kề tử sinh,
Nhớ
đừng đổi mạng sinh linh,
Gia
đình no ấm nghiệp mình đa mang.
Siêng
năng tinh tấn khinh an,
Cần
chuyên niệm Phật dù đang giữa đời,
Bão
giông tàn phá bên ngoài,
Định
lòng chân chính, sáu loài vượt qua.
Huệ
tâm minh mẫn mở ra,
Phá
tan u tối sáng lòa chân tâm,
Tám
con đường chánh chớ lầm,
Thế
gian hàng vạn nẻo ngầm quanh co.
Thiện
duyên gieo sẵn chớ lo,
Dù
muôn vạn hướng, ngẫn ngơ giữa đường,
Trợ
duyên chư Phật mười phương,
Sẵn
sàng tiếp độ dẫn đường chúng sanh.
Đời
người tan hợp mong manh,
Chớ
tham vật chất hư danh đổi dời.
------------------
-
Bài của nhà thơ Vân Hà (TTHA) sáng tác, đăng trong tuyển
tập thơ Vân Hà, tác giả xuất bản, Tp. Hồ Chí Minh, 1995.
281-
SÁM PHÁT NGUYỆN
(Sám
Phát Nguyện 34)
Nương
tựa A Di Đà,
Nơi
Bản môn mầu nhiệm,
Con
dốc lòng quay về,
Duy
trì nguồn chánh niệm.
Con
đã nguyền trở lại,
Nương
tựa A Di Đà,
Cúi
xin Phật nhiếp thọ,
Cõi
tịnh độ bày ra.
Xin
lấy đuốc ánh sáng,
Soi
vào tâm tư con,
Xin
lấy thuyền thọ mạng,
Chuyên
chở hình hài con.
Cho
sự sống an lạc,
Cho
lý tưởng vẹn toàn,
Xin
Phật luôn bảo hộ,
Để
tâm không buông lơi.
Cho
con phá tà kiến,
Làm
phiền não rụng rơi,
Trong
giấy phút hiện tại,
Có
Phật trong cuộc đời.
Tịnh
độ đi từng bước,
Vững
chãi và thảnh thơi,
Hiện
tại sống chánh niệm,
Tịnh
độ đã thật rồi,
Sau
này đổi thân khác,
Thế
nào cũng an vui.
Niệm
Phật A Di Đà,
Được
nhất tâm bất loạn.
Chín
phẩm sen hiện tiền,
Tự
tha đều thọ dụng.
Biết
trước giờ mạng chung,
Tâm
con không nao núng,
Thân
con không bệnh khổ,
Ý
con không ngại ngùng,
Di
Đà cùng thánh chúng,
Tay
nâng đóa sen vàng,
Có
mặt trong giây lát,
Cùng
lên đường thong dong.
Sen
nở là thấy Phật,
Tịnh
độ là quê hương,
Cúi
xin Phật chứng giám,
Hành
trì không buông lung.
--------------------
-
Trích “Nghi thức hộ niệm siêu độ”, đạo tràng Mai Thôn
ấn hành, Pháp quốc, 1997
-
Biên giả có sửa vài từ cho phù hợp phổ biến đại chúng.
282-
SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (1)
(Sám
Phát Nguyện 35)
Một
là : nguyện Phật hộ trì,
Duyên
nhiều phước đủ.
Hơn
tám vạn ma quân bặt dấu,
Cả
bao nhiêu thánh trí mở lòng,
Hoa
Bát nhã nở bông,
Cây
Bồ đề nảy nhánh.
Sống
không tai bệnh,
Thác
đặng khinh an.
Về
Tây phương ngồi tọa sen vàng,
Chơi
bảo địa dựa nơi lầu ngọc.
Sớm
tiêu trần tục,
Mau
chứng chơn thường,
Cũng
như Phật vậy.
Hai
là : nguyện Phật hộ trì,
Âm
dương hai cảnh.
Người
còn khoẻ mạnh,
Kẻ
thác siêu sanh.
Tám
phương mở cuộc thái bình,
Muôn
họ chơi miền Cực lạc.
Lấp
ba đường ác,
Về
một nẻo chơn.
Ai
nấy đều nương đặng chánh nhơn,
Trước
sau cũng chứng thành diệu quả.
Ba
là : nguyện Phật hộ trì.
Dắt
người mê mộng.
Tránh
đường lợi dụng,
Rửa
bụi công danh.
Mộ
sự tu hành,
Giữ
bề giới luật.
Niệm
niệm A Di Đà Phật,
Ngày
ngày dõng mãnh tinh thần,
Không
tham không sân,
Biết
tà biết chánh.
Đều
thoát vòng mê tín,
Thảy
vào trong cửa không môn.
Phước
thừa lưu lại tử tôn,
Cõi
Tịnh về theo Phật tổ.
Nam
mô A Di Đà Phật
--------------------
-
Bài do biên giả phỏng soạn từ văn phục nguyện cổ
do chư Tổ truyền lại
-
Xá Lợi tàng bản, TP. HCM 2001.
283-
SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (2)
(Sám
Phát Nguyện 36)
Con
nay trì tụng kinh (chú) này,
Đạo
tâm nguyện lớn từ rày phát ra;
Xin
tròn định huệ của ta,
Bao
nhiêu công đức đều là trọn nên.
Trang
nghiêm phước khắp bốn bên,
Cùng
loài hàm thức chứng lên Bồ đề.
Xưa
gây ác nghiệp nặng nề,
Bởi
lòng tham giận si mê buổi nào.
Do
thân khẩu ý làm đầu,
Con
nay sám hối nguyện cầu tiêu tan.
Nguyện
khi căn mạng vô thường,
Những
điều nghiệp chướng chớ ràng buộc ta.
Xin
cho gặp Phật Di Đà,
Dắt
con về đến cửa nhà Lạc bang.
Cúi
xin Tam Bảo chứng minh,
Hiển
linh oai thần chiếu giám,
Hộ
cho đệ tử chúng con,
Cùng
trong tứ thân quyến thuộc,
Khắp
đến muôn loại chúng sanh,
Lúc
hiện sống ở đời này,
Đều
khỏi tai ương tật bệnh,
Tà
ma quỉ yêu bặt tích.
Duyên
lành nhóm thành phước đủ,
Nhà
nhà đặng chữ đoàn viên,
Xứ
xứ an thuyên lợi lạc.
Đời
này đời sau kiếp nọ,
Vun
trồng hạt giống Bồ đề,
Đồng
nhau thoát khỏi sông mê,
Đều
nguyện sanh về cõi Phật.
Nam
mô A Di Đà Phật.
------------------
-
Bài do biên giả phỏng soạn lại từ một bài phục nguyện
truyền khẩu của chư Tổ xưa. Xá Lợi, 2001.
284-
SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (3)
(Sám
Phát Nguyện 37)
Quỳ
trước đài sen bửu điện,
Đệ
tử một lòng kính nguyện,
Từ
hồi vô thỉ lâu xa,
Mê
muội ngày qua tháng lại.
May
có duyên lành hối cải,
Được
nhờ Phật pháp hồng ân,
Nguyện
y kinh giáo thoát trần,
Phúng
tụng thọ trì lễ thỉnh.
Cúi
xin Tam Bảo chứng minh,
Mở
lòng tiêu trừ hôn chướng,
Khiến
cho tội khiên tiêu hết,
Đường
tu phước huệ thêm nhiều.
Sống
thì nương cội Bồ đề,
Chết
đặng sanh về Tịnh độ.
Thứ
nhứt : nguyện ông bà, cha mẹ,
Cùng
họ hàng Nội Ngoại hai bên,
Kẻ
chết thì được siêu lên,
Người
còn khỏe mạnh, dưới trên thuận hòa.
Thứ
hai : nguyện gần xa lớn nhỏ,
Được
vinh hoa phước thọ lộc trời,
Di
Đà luôn niệm một đời,
Ăn
chay tụng niệm lục thời công phu.
Thứ
ba : nguyện chúng con sức khỏe,
Việc
làm no ấm trọn đời nầy,
Sống
thời hưởng phước lâu dài,
Chết
về cõi Phật ngự đài liên hoa.
Nam
mô A Di Đà Phật.
------------------
-
Bài do biên giả phỏng soạn theo văn phục nguyện xưa của
chư Tổ tương truyền. Xá Lợi, 2001.
285-
SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (4)
(Sám
Phát Nguyện 38)
Nam
mô Giáo chủ Ta bà,
Mâu
Ni Văn Phật Thích Ca chứng nguyền.
Con
quỳ gối trước đài sen,
Khắp
xin ba cõi thánh hiền mười linh.
Cùng
chư Hộ pháp, Long thiên,
Hết
thảy Thiện thần, chơn tể Già lam.
Đều
về chứng giám cho con,
Phát
lời chúc nguyện mong tròn quả tu.
Cúi
xin mây Từ che chở,
Ngưỡng
cầu mưa Pháp rơi rơi,
Cây
Bồ đề tươi tợ ba xuân,
Bóng
Bát nhã nở tròn muôn kiếp.
Duyên
lành đến giờ nhóm tới,
Nghiệp
dữ thảy dứt tiêu đi.
Mấy
phước mấy thiện cũng về,
Mấy
tai mấy họa cũng sẩy.
Từ
người chí vật,
Từ
trẻ đến già,
Đều
đặng an vui,
Thảy
không phiền não.
Mẹ
cha sống đời mạnh giỏi,
Chồng
vợ ân nghĩa vuông tròn.
Tộc
họ đoàn kết sum vầy,
Cháu
con đề huề đông đủ.
Lộc
trời nối đời hưởng mãi,
Cuộc
sống hưng thạnh ấm no.
Khắc
lòng niệm Phật Di Đà,
Cầu
về an dưỡng ở nhà Như Lai.
Giác
tánh xa lìa ba cõi khổ,
Hóa
thân sanh tới chín phẩm sen.
Tỏ
ngộ pháp giới chơn nguyên,
Chứng
ngôi bất thối dong thuyền Ma ha.
----------------
-
Biên giả phỏng soạn theo bài văn phục nguyện của chư Tổ
tương truyền, Xá Lợi, 2001
286-
SÁM QUY MẠNG NGHĨA
(Sám
Quy mạng 9)
HT.
THÍCH DIỆU BỔN
Quy
mạng chư Phật khắp mười phương,
Pháp
mầu thanh tịnh rộng hiển dương,
Thánh
Tăng tứ quả tam thừa độ,
Xin
nguyện từ tâm rộng nhiếp thương.
Đệ
tử chúng con,
Tự
xa chơn tánh,
Dòng
mê mãi nhập,
Sanh
tử nổi chìm,
Nhiểm
say thanh sắc.
Mười
triền mười sử,
Chứa
đầy hữu lậu gây nhơn,
Sáu
căn đắm sáu trần,
Tạo
nên biết bao nghiệp chướng.
Lăn
trôi biển khổ,
Chìm
ngập nẽo tà,
Đắm
trước ngã nhơn,
Theo
cong bỏ thẳng.
Chất
chồng chướng nghiệp,
Gom
trọn quấy sai,
Ngưỡng
mong Tam bảo mở lượng từ bi,
Con
trải tâm xin sám hối.
Cúi
mong đức Năng nhơn cứu vớt,
Nương
theo hạnh lành cùng tu,
Khiến
vượt khỏi vực sâu phiền não,
Nhập
Bồ đề về bến giác.
Hiện
đời phước mạng thanh cao,
Kiếp
sau mầm linh giống trí,
Thảy
đều tươi tốt,
Tái
sanh đô thị,
Lớn
gặp Minh sư,
Chơn
chánh xuất gia,
Ấu
niên ngộ đạo.
Sáu
căn thông lợi,
Ba
nghiệp thuần hòa,
Chẳng
nhiễm thế duyên,
Hằng
tu phạm hạnh.
Giữ
gìn giới cấm,
Thế
nghiệp chẳng mang,
Tế
hạnh oai nghi,
Loài
trùng loài bay chẳng tổn.
Tám
nạn không gần,
Bốn
duyên chẳng thiếu,
Bát
nhã trí hằng khai,
Bồ
đề tâm kiên cố.
Luyện
tu chánh pháp,
Thông
chứng Đại thừa,
Cửa
lục độ mở khai,
Vượt
ba A tăng kỳ kiếp.
Tuyên
dương pháp xứ xứ,
Phá
lưới nghi trùng trùng,
Chuyển
hóa chúng ma,
Hiển
dương Tam bảo.
Thừa
hành Phật sự khắp mười phương,
Chẳng
xao chẳng mệt,
Tu
học hết các pháp môn,
Thảy
đều thông đạt.
Rộng
lưu phước huệ,
Trải
ích nhiều như bụi trần,
Đắc
sáu phép thần thông,
Một
đời tròn Phật quả.
Mai
sau chẳng rời pháp giới tánh,
Hóa
nhập chốn phàm trần,
Tâm
từ bi tựa đức Quán Thế Âm,
Nguyện
rộng noi ngài Phổ Hiền Bồ tát.
Phương
này cõi khác,
Tùy
loại ứng hình,
Hiển
hiện sắc thân,
Truyền
trao diệu pháp.
Chốn
địa ngục đau khổ,
Nơi
ngạ quỉ thâm sâu,
Con
nguyện tỏa ánh sáng nhiệm mầu,
Con
nguyện biến phép,
Thần
thông hóa hiện.
Ai
thấy được hình tướng,
Hoặc
vừa nghe tên con,
Đều
phát Bồ đề tâm,
Thoát
khỏi luân hồi khổ.
Nơi
nóng nung như lửa,
Chỗ
lạnh buốt như băng,
Bỗng
biến rừng hương ngào ngạt.
Ngục
uống nước đồng sôi,
Chốn
nuốt nhai sắt nóng,
Bỗng
biến thành tịnh độ.
Loài
mang lông mọc sừng,
Kẻ
oán hờn vỡ nợ,
Đều
dứt nỗi đắng cay,
Khắp
thấm nhuần lợi ích.
Gặp
thời gây tật dịch,
Kịp
chế thuốc hóa linh,
Để
cứu bệnh nguy nan.
Gặp
lúc đói khát cơ hàn,
Tạo
thêm nhiều lương thực,
Để
cứu trợ khổ nghèo.
Khi
thành tựu hạnh lợi tha,
Thì
đâu chẳng hiển hưng sùng bái,
Và
quay lại kẻ oán người thân,
Ngay
hiện đời quyến thuộc,
Khiến
lìa chìm nổi tứ sanh.(1)
Cắt
đứt dây ái ân hằng vạn kiếp,
Độ
khắp thảy giống hàm linh,
Đồng
thành quả Phật.
Hư
không có thể tận,
Nguyện
con không cùng,
Hữu
tình và vô tình,
Đồng
tròn giống Phật.
-----------------
-
Bài do Hòa thượng Thích Diệu Bổn, chùa Phi Lai, Biên Hòa soạn
dịch, được Tổ đình Quan Thế Âm lưu hành nội bộ, Tp.
Hồ Chí Minh, 1998.
(1)
Tứ sanh : Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.
287-
SÁM KHỂ THỦ DIỄN NGHĨA
(Sám
khể thủ 8)
Cúi
đầu thọ qui y Tam bảo,
Cùng
Trung thiên giáo chủ Thích Ca;
Tây
phương Từ phụ Di Đà,
Các
Phật quá, hiện, vị lai ba đời.
Quan
Tự Tại, Phổ Hiền, Sư Lợi,
Với
Quan Ââm, Thế Chí, Thánh hiền;
Nguyện
cầu phóng hiện oai quang,
Chiếu
soi chỗ tối tiềm tàng độ sanh.
Độ
quần sanh, ai lân hỷ xả,
Đệ
tử đồng một dạ chí thiềng,
Cùng
nhau tựu tại Phật tiền,
Năm
thân chấm đất, một nguyền chẳng sai.
Dốc
một lòng tiêu tai sám hối,
Nguyện
tiêu trừ những tội lỗi xưa;
Sanh
ra ác nghiệp có thừa,
Bởi
từ vô thủy tham, lừa, sân, si.
Thân
khẩu ý là nơi tạo khởi,
Con
phát nguyền sám hối tự tân;
Cầu
cho chướng cũ bỏ lần,
Thiện
căn thêm lớn mấy phần tươi xanh.
Các
phiền não chí thành tiêu diệt,
Lưới
vô minh trừ tuyệt trong lòng;
Diệu
tâm, duyên giác mở thông,
Tịch
quang cảnh thiệt đặng trông thấy liền.
Khi
thọ mạng gần miền viên mãn,
Đã
tiên tri số mạng đến kỳ;
Thân
không bệnh khổ nàn chi,
Lòng
không một chút sự gì tham mê.
Sáu
căn đặng đủ bề vui vẻ,
Chánh
niệm thì toàn thể phân minh;
Báo
thân khi xả an ninh,
Ví
như thiền định không hình kém suy.
Phật
Di Đà, Quan Âm, Thế Chí,
Với
Thánh hiền các vị rất đông;
Phóng
quang tiếp dẫn qua sông,
Đem
về Cực lạc, hưởng chung phước nhàn.
Có
lầu các, tràng phan, bảo cái,
Cùng
dị hương, thiên nhạc tỏ tường;
Nghiêm
trang cõi thánh Tây phương,
Hiện
ra trước mắt, rõ ràng chẳng sai.
Khiến
cho kẻ thấy nghe phấn chí,
Lòng
vui mừng phát ý Bồ đề;
Con
trong khi ấy đặng về,
Theo
hầu bên Phật, tại đài Kim Cang.
Ví
móng tay, khảy ngang kêu “cắc”,
Đã
sanh về Cực lạc quốc bang;
Trong
ao thất bảo rõ ràng,
Hoa
sen chín phẩm, mình vàng ngồitrong.
Nở
ra thấy kim dung Phật sắc,
Cùng
các ngôi Bồ tát đâu đâu,
Nghe
xong tiếng pháp nhiệm mầu,
Vô
sanh liền đặng chứng vào chẳng sai.
Trong
khoảnh khác đặng kề Phật vị,
Ngỏ
mong cầu thọ ký cho tôi;
Sau
khi đặng thọ ký rồi,
Tam
thân tứ trí thảy đều viên dung.
Lại
cũng đặng lục thông, ngũ nhãn,
Cùng
bá thiên vô hạng Đà ni;
Bao
nhiêu công đức cũng thì,
Thảy
đều thành tựu trong khi ấy rồi.
An
Dưỡng quốc, sau con hồi tỵ,
Nhập
Ta bà cho phỉ dạ mong;
Chia
thân ra số rất đông,
Ứng
trong thế giới giáp vòng mười phương.
Lấy
thần lực chẳng lường lao khổ,
Vận
chước mầu cứu độ quần sanh;
Làm
cho lìa các nhiễm tình,
Mau
mau đem đặng lòng thanh tịnh về.
Cõi
Cực lạc đề huề sanh đó,
Vào
cõi này không có trở lui,
Ấy
là đại nguyện viên dung,
Không
cùng thế giới, không cùng chúng sanh.
Nghiệp
phiền não cũng rằng vô tận,
Con
thề nguyền trọn phận chẳng chăng;
Nay
con lễ Phật nguyện rằng:
Công
phu tu luyện thí sang hữu tình.
Trọn
bốn ân, chí thành đền đủ,
Ba
cõi đều hưởng thụ vẻ vang;
Biết
bao pháp giới mênh mang,
Chúng
sanh chủng trí một đoàn đồng viên.
--------------------
-
Bài do Cư sĩ Minh Chánh-Đỗ Phước Tâm, nguyên Tri phủ, Hội
trưởng Thiên Thai Thiền giáo Tông Liên Hữu Hội soạn vào
khoảng 1936 – 194o, đăng trong tạp chí Bác Nhã Âm, Bà Rịa,
1941
-
Biên giả có chỉnh sửa lại một số từ cho phù hợp.
288-
VĂN PHÁT NGUYỆN
BA
CÂU TỰ QUY
(Sám
phát nguyện 39)
Chúng
con xin dốc lòng phát nguyện,
Nguyện
cho con đời hiện tại đây !
Phúc
duyên trí tuệ vẹn đầy,
Tội
tình báo chướng mảy may không còn.
Bao
phiền não làm con khổ sở,
Cùng
duyên trần xin dũ sạch không;
Thân
tâm như thể gương trong,
Bao
phép mầu nhiệm con thông hiểu liền.
Chúng
sinh dẫu vô biên vô lượng,
Độ
cho đều sung sướng yên vui !
Ngôi
chính giác là ngôi cao nhất,
Đêm
ngày con xin dốc lòng cầu;
Giữ
gìn trọn vẹn trước sau,
Ngàn
kia đi chẳng bao lâu tới liền.
Xin
cho con được như nguyền. . .
-
Con từ nay về theo Phật bảo,
Cầu
nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Hiểu
tường đạo lớn rõ rành,
Mở
lòng vô thượng quang minh tuyệt vời…
-
Con từ nay về theo Pháp bảo,
Cầu
nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Hiểu
sâu nghĩa lý luật kinh,
Mở
mang trí tuệ mênh mông biển trời...
-
Con từ nay về theo Tăng bảo,
Cầu
nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Sửa
sang việc chúng việc mình,
Đều
không quản ngại hoàn thành khắp nơi.
--------------
-
Bài do Thượng tọa Thích Thanh Khoát, chùa Phú Cốc, Thường
Tín-Hà
Tây
soạn năm 1996.
-
Chùa Hải Ninh-Đồng Thiện, Hải Phòng tàng bản.