THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
cMỤC LỤC SÁM PHÁP
TUYỂN TẬP CÁC BÀI SÁM VĂN - TẬP VI
 55 BÀI SÁM VĂN PHỤ LỤC
Thích Đồng Bổn Sưu Tập
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội  - Phật lịch 2548 - DL 2004

PHẦN THỨ NHẤT
 SÁM VĂN PHÁT NGUYỆN - SÁM HỐI

276. Sám Tán Phật 
277. Sám Nguyện Trẻ Thơ Buổi Sáng 
278. Văn Sám Hối Sáu Căn 
279. Bác Đại Nhơn Giác Văn Vần 
280. Sám Văn Bát Chánh Đạo 
281. Sám Phát Nguyện 
282. Sám Văn Phục Nguyện (1) 
283. Sám Văn Phục Nguyện (2) 
284. Sám Văn Phục Nguyện (3)
285. Sám Văn Phục Nguyện (4)
286. Sám Quy Mạng Nghĩa (9)
287. Sám Khể Thủ Nghĩa (8)
288. Văn Phát Nguyện Ba Câu Tự Quy 
 

276- SÁM TÁN PHẬT
(Sám phát nguyện 30)

Đấng Như Lai vẹn đầy phúc tuệ,
Đức mênh mông như biển không lường,
Độ cho khắp cả mười phương,
Thoát vòng khổ não lên đường tiêu dao.
Đạo nhiệm mầu núi cao khôn sánh,
Khắp muôn đời phàm thánh quy y,
Lòng đầy hỷ xả từ bi,
Lấp bằng bể khổ, sông mê chẳng còn.
Thành phiền não cùng non ngã mạn,
Phá tan tành từ ngọn đến chân,
Lòng không vướng chút bụi trần,
Pháp thân tự tại muôn phần yên vui.
Báo thân hưởng đời đời sung túc,
Hóa thân ra muôn ức nhẹ nhàng,
Hào quang soi khắp mười phương,
Phá tan tành hết mọi đường tối tăm.
Dung nhan đẹp đủ ba mươi hai tướng,
Sức oai thiêng vô lượng vô biên,
Cho bao loài được như nguyền,
Một lòng bình đẳng chẳng thiên vị gì.
Coi kẻ oán cũng như ruột thịt,
Thả bè từ vớt hết trầm luân,
Chúng con mừng có thiện nhân,
Được làm người lại được gần Như Lai.
Dốc lòng lạy xin ngài coi xét,
Nguyện đời đời sạch hết nghiệp duyên,
Chẳng còn vướng chút lo phiền,
Tiêu dao tự tại chứng lên Bồ đề.
-------------------
- Trích khóa lễ “Đêm Giao Thừa” của chùa Giác Hoàng, Mỹ quốc, 1995.

277- SÁM NGUYỆN TRẺ THƠ BUỔI SÁNG
(Sám phát nguyện 31)

Thành tâm quỳ dưới Phật đài,
Cúi đầu lạy Phật đón ngày mới sang.
Phật đà từ ái nghiêm trang,
Cha lành của khắp mười phương vạn loài.
Xin nghe con trẻ tỏ bày,
Lời cầu nguyện của kiếp này kiếp sau.
Trước là cha mẹ ơn sâu,
Được nhiều phước đức sống lâu tuổi trời.
Ông bà tiên tổ nhiều đời,
An vui cõi Phật thảnh thơi tu hành.
Xin cho thế giới thanh bình,
Ai ai cũng sống hiền lành với nhau.
Thầy cô vất vả công lao,
Mong sao sẽ được phước cao đức dầy.
Còn con xin nguyện từ đây,
Siêng năng học tập để ngày lớn khôn.
Đáp đền cha mẹ công ơn,
Đắp xây thế giới đẹp hơn bây giờ.
Hôm nay con trẻ dại khờ,
Biết bao mơ ước còn chờ mai sau.
Nguyện trên ơn Phật nhiệm mầu,
Cho con trí tuệ hiệu sâu mọi điều.
Cho lòng con biết thương yêu,
Để con giúp đỡ được nhiều tha nhân.
Cho con lễ độ ân cần,
Biết nhường kính với người gần kẻ xa.
Từng ngày cuộc sống đi qua,
Xin cây đạo đức nở hoa trong lòng.
Đôi điều con trẻ ước mong,
Cúi xin đức Phật cảm thông độ trì.
Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-----------------
-  Chưa rõ tác giả, được tìm thấy trong tập “LờI khấn nguyền” ấn tống tạI chùa Xá Lợi, Tp. Hồ Chí Minh, 2002
-  Biên giả sửa lời tựa cho hợp Sám văn, nguyên tác là “Lời nguyện cầu buổi sáng dành cho trẻ ”
 

278- VĂN SÁM HỐI SÁU CĂN  
(Sám phát nguyện 16)

- Chí tâm sám hối: 
Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,  
Bỏ mất bản tâm không biết chánh đạo.  
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm;  
Không sám lỗi trước khó tránh lỗi sau. 
1.- Nghiệp căn Mắt là: 
Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,  
Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.  
Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành,  
Chợp mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.  
Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai,  
Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.  
Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang,  
Lòa mắt chưa sanh, bản lai diện mục.  
Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn,  
Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.  
Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,  
Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.  
Hoặc đến Tam bảo, hoặc vào chùa chiền,  
Gần tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó.  
Phòng Tăng, điện Phật gặp gỡ gái trai,  
Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.  
Không ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,  
Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.  
Những tội như thế, vô lượng vô biên,  
Ðều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.  
Trải hằng sa kiếp, mới được làm người,  
Dù được làm người, lại bị mù chột. 
2.- Nghiệp căn Tai là:
Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,  
Mê mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.  
Sáo đàn inh ỏi, Bảo khúc Long ngâm,  
Văng vẳng mõ chuông,coi như ếch nhái.  
Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ,  
Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai.  
Thoảng nghe khen hảo, khấp khởi mong cầu,  
Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.  
Vài ba bạn rượu, dăm bảy khách chơi,  
Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.  
Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,  
Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.  
Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm,  
Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.  
Những tội như thế, vô lượng vô biên,  
Ðầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.  
Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác  
Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc. 
3.- Nghiệp căn Mũi là:  
Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,  
Chẳng thích chơn hương, năm phần thanh tịnh.  
Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,  
Giới định huân hương, chưa từng để mũi.  
Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,  
Nghểnh cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.  
Theo dõi hương trần, Long thần chẳng nể,  
Chỉ thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.  
Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,  
Cây giác hoa tâm, xoay đi không đoái.  
Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,  
Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.  
Chẳng ngại tanh hôi, không kiên hành  tỏi,  
Mê mãi không thôi, như lợn nằm ổ.  
Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,  
Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.  
Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng,  
Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.  
Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,  
Không biết không hay, đều do nghiệp mũi,  
Những tội như thế, vô lượng vô biên,  
Sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ.  
Trải ngàn muôn kiếp, mới được làm người,  
Dù được làm người, quả báo bệnh mũi 
4.- Nghiệp căn Lưỡi là:  
Tham đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,  
Nếm hết các thứ, rõ biết béo gầy.  
Sát sanh hại vật, nuôi dưỡng thân mình,  
Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.  
Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.  
Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.  
Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,  
Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong.  
Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,  
Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.  
Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,  
Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.  
Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,  
Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.  
Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,  
Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.  
Chửi mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,  
Khinh khi Hiền thánh, lừa dối mọi người.  
Chê bai người khác, che dấu lỗi mình,  
Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.  
Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,  
Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.  
Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,  
Tô vẽ điều sai, nói không thành có.  
Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,  
Tán dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật.  
Những tội như thế, vô lượng vô biên,  
Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.  
Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt  
Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.  
Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,  
Dù được làm người, lại bị câm bặt. 
5.- Nghiệp căn Thân là:
Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,  
Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.  
Chấp cho là thật, quên mất pháp thân,  
Sanh dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp: 
a.- Nghiệp Sát Sanh là:
Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ,  
Giết hại bốn loài, đâu biết một thể.  
Lầm hại cố giết, tự làm dạy người,  
Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối.  
Hoặc làm thuốc độc, để hại sanh linh,  
Chỉ cốt hại người, không hề thương vật.  
Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,  
Buông chài bủa lưới, huýt chó thả chim,  
Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,  
Cử động vận hành, đều là tội lỗi. 
b.- Nghiệp Trộm Cắp là:  
Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà,  
Phá khóa cạy then, sờ bao mò túi.  
Thấy của thường trụ, lòng dấy khởi tham,  
Trộm của nhà chùa, không sợ Thần giận.  
Không những vàng ngọc, mới mắc tội to,  
Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm. 
c.- Nghiệp Tà Dâm là:  
Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,  
Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.  
Hoặc nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,  
Cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.  
Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,  
Khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.  
Những tội như thế, vô lượng vô biên,  
Ðến lúc mạng chung, đều vào địa ngục.  
Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,  
Muôn kiếp tái sanh, lại chịu tội báo. 
6.- Nghiệp căn Ý là:  
Nghĩ vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,  
Mắc mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.  
Như tầm kéo kén, càng buộc càng bền,  
Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.  
Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh  
Não loạn tâm thần, đều do ba độc. 
a.- Tội keo tham là:  
Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,  
Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.  
Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy,  
Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.  
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét,  
Lụa là chất đống, nào có giúp ai,  
Ðược người mấy trăm, chưa cho là nhiều,  
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.  
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai,  
Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.  
Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,  
Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp. 
b.- Tội nóng giận là:  
Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,  
Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí.  
Không riêng người tục, cả đến thầy tu,  
Kinh luận tranh dành, cùng nhau công kích.  
Chê cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,  
Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.  
Buông lời hại vật, cất tiếng hại người,  
Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.  
Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,  
Dù ở cửa Không, chưa thành vô ngã.  
Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây,  
Những tội trên đây, đều do nghiệp giận. 
c.- Tội ngu si là:  
Căn tánh dần độn, ý thức tối tăm,  
Chẳng hiểu tôn ty, không phân thiện ác.  
Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay,  
Mắng Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt.  
Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,  
Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.  
Những tội như thế, rất nặng rất sâu,  
Ðến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.  
Trải trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh,  
Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.  
Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ,  
Nay trước Phật đài, thành tâm sám hối. 

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma ha tát.
 

------------
- Trích trong website “Thiền Tông Việt Nam” của Thiền Viện Thường 
   Chiếu, phổ biến tại địa chỉ huongsen.com

279-Bác Đại Nhơn Giác Văn Vần 
(Sám phát nguyện 32)

THÍCH THIÊN ÂN

Làm người Phật tử ở đời, 
Đêm ngày tụng niệm những lời dạy 
                                                       khuyên, 
Tám điều Giác ngộ Kinh truyền, 
Ghi lòng tạc dạ tinh chuyên tu hành.
Thứ nhất là tâm thành giác ngộ,
Cảnh thế gian quốc độ vô thường,
Sắc, tâm sanh diệt không lường,
Tứ đại ngũ uẩn theo đường khổ không.
Nguồn tội ác bởi lòng dục vọng,
Nghiệp oan gia như bóng theo hình,
Suy đi nghĩ lại cho rành (tinh),
Dần dần giải thoát tử sanh luân hồi. 
Thứ hai là ghi lời giác ngộ,
Tham dục nhiều lụy khổ thêm nhiều,
Dạt dào sanh tử bao nhiêu,
Cũng vì tham dục mọi điều gây nên.
Muốn sống đời bình yên tự tại, 
Hãy mở lòng quảng đại vô vi. 
Thứ ba hằng nhớ ghi tâm trí, 
Lòng tham cầu ý chí khó lừa (lường),
Chất chồng tội ác ngàn xưa,
Cũng vì không chán, không chừa cầu 
                                                          mong.
Hàng Bồ tát giữ lòng biết đủ,
An phận nghèo quy củ tu hành,
Trau giồi trí tuệ thông minh,
HUỆ là sự nghiệp, bình sanh đạo thường.
Thứ tư là nhờ đường giác ngộ,
Lười biếng là gốc khổ lầm than,
Thường tu tinh tấn không ngần (ngừng),
Dẹp các phiền não, ma quân phục tùng.
Phá địa ngục muôn trùng kiên cố,
Thoát thành sầu cùng khổ ấm, duyên.
Thứ năm là giác ngộ cơ thuyền (thiền),
Ngu si là gốc nhơn duyên mê lầm,
Hàng Bồ tát chuyên tâm học vấn,
Nghe thấy nhiều diệt tận nguồn mê,
Khai thông tâm trí Bồ đề,
Biện tài thành tựu đề huề chúng sanh.
Thường giáo hóa an lành tất cả,
Ban nguồn vui hỷ xả cho nhau.
Thứ sáu là nhớ câu giác ngộ,
Nghèo khó nhiều, đau khổ càng nhiều,
Nợ oan vay trả bao nhiêu,
Dây oan buộc chặt lắm điều đắng cay.
Hàng Bồ tát ra tay bố thí,
Bình đẳng tâm không nghĩ oán thân,
Càng thương những kẻ ác nhơn,
Quên điều tội phước (cũ) thường phần khổ đau (sau).
Giác thứ bảy thân dầu ở tục,
Lòng thường vui, ngũ dục lánh xa,
Giữ gìn ba áo cà sa,
Tay bưng bình bát yên hà vui thay.
Chí xuất gia tháng ngày giữ dạ,
Phẩm hạnh lành, đức hạnh cao xa,
Sao cho trong sạch lòng ta,
Từ bi cứu thoát hằng hà chúng sanh.
Thứ tám là đinh ninh giác ngộ,
Lửa tử sanh đau khổ vô cùng,
Bồ đề tâm phát bao dung,
Thệ đầu tế độ, thoát vòng truân chuyên.
Chúng sanh khổ lòng nguyền thay thế,
Dẫu gian lao, chẳng kể chẳng phiền,
Mong cho nhân loại đều yên,
Hoàn toàn giải thoát lên miền chơn như.
Tám điều ấy lời chư Phật dạy,
Bậc Đại nhơn như vậy tu hành,
Đạo tâm tinh tấn chí thành,
Ngồi thuyền lên bến vô sanh Niết bàn.
Thừa nguyện lực nhơn gian trở gót,
Bể trầm luân cứu vớt chúng sanh,
Y theo tám việc thực hành,
Tuyên dương tiếp dẫn siêu sanh giác đài.
Rõ tử sanh đêm dài đau khổ,
Thoát năm trần, siêu độ tâm tình,
Là người Phật tử chơn thành,
Hàng ngày tụng niệm, phước sanh tội trừ.
Đoạn sanh tử, lên bờ giải thoát,
Chứng Bồ đề cực lạc huy hoàng,
Cúi đầu lạy đấng Giác hoàng,
Cầu xin chứng giám đạo tràng từ bi.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-  Trích từ bản dịch của HT. Thích Thiên Ân diễn nghĩa văn vần, trong quyển Kinh Bát Đại Nhơn Giác Lược Giảng của TT. Thích Nguyên Ngôn, NXB Tôn Giáo ấn hành, Tp. HCM 2003.

280- SÁM VĂN BÁT CHÁNH ĐẠO
(Sám Phát Nguyện 33)

Cái nhìn chân chính mở ra,
Cho người thấy rõ đâu là chân tâm,
Vọng hư xin chớ ruỗi dong,
Tìm trăng đáy nước bao năm phí hoài.

Tuổi xuân nào có đợi ai, 
Cô phần đa thị thiếu gì thanh niên,
Tư duy ý thức thiêng liêng,
Mặc cho nhân thế đảo điên mê lầm.

Nghĩ suy chân chính chớ nhầm,
Tính toan, mưu lợi, độc thâm bỏ dần,
Nói lời chân thật nghĩa nhân,
Một lòng nhớ nghĩ Phật tâm của mình.
Sống cần nuôi nấng niềm tin,
Bảo tồn thân mạng giữa nghìn sóng to,
Sống cần chân chính dù cho,
Gian nan, cơ cực đắn đo nhiều bề.

Dở hay chọn lấy một nghề,
Hơn là theo đuổi cận kề tử sinh,
Nhớ đừng đổi mạng sinh linh,
Gia đình no ấm nghiệp mình đa mang.

Siêng năng tinh tấn khinh an,
Cần chuyên niệm Phật dù đang giữa đời,
Bão giông tàn phá bên ngoài,
Định lòng chân chính, sáu loài vượt qua.

Huệ tâm minh mẫn mở ra,
Phá tan u tối sáng lòa chân tâm,
Tám con đường chánh chớ lầm,
Thế gian hàng vạn nẻo ngầm quanh co.
Thiện duyên gieo sẵn chớ lo,
Dù muôn vạn hướng, ngẫn ngơ giữa đường,
Trợ duyên chư Phật mười phương,
Sẵn sàng tiếp độ dẫn đường chúng sanh.

Đời người tan hợp mong manh,
Chớ tham vật chất hư danh đổi dời.

------------------
-  Bài của nhà thơ Vân Hà (TTHA)  sáng tác, đăng trong tuyển tập thơ Vân Hà, tác giả xuất bản, Tp. Hồ Chí Minh, 1995.

281- SÁM PHÁT NGUYỆN
(Sám Phát Nguyện 34)

Nương tựa A Di Đà,
Nơi Bản môn mầu nhiệm,
Con dốc lòng quay về,
Duy trì nguồn chánh niệm.
Con đã nguyền trở lại,
Nương tựa A Di Đà,
Cúi xin Phật nhiếp thọ,
Cõi tịnh độ bày ra.
Xin lấy đuốc ánh sáng,
Soi vào tâm tư con,
Xin lấy thuyền thọ mạng,
Chuyên chở hình hài con.
Cho sự sống an lạc,
Cho lý‎ tưởng vẹn toàn,
Xin Phật luôn bảo hộ,
Để tâm không buông lơi.
Cho con phá tà kiến,
Làm phiền não rụng rơi,
Trong giấy phút hiện tại,
Có Phật trong cuộc đời.
Tịnh độ đi từng bước,
Vững chãi và thảnh thơi,
Hiện tại sống chánh niệm,
Tịnh độ đã thật rồi,
Sau này đổi thân khác,
Thế nào cũng an vui.
Niệm Phật A Di Đà,
Được nhất tâm bất loạn.
Chín phẩm sen hiện tiền,
Tự tha đều thọ dụng.
Biết trước giờ mạng chung,
Tâm con không nao núng,
Thân con không bệnh khổ,
Ý con không ngại ngùng,
Di Đà cùng thánh chúng,
Tay nâng đóa sen vàng,
Có mặt trong giây lát,
Cùng lên đường thong dong.
Sen nở là thấy Phật,
Tịnh độ là quê hương,
Cúi xin Phật chứng giám,
Hành trì không buông lung.
 

--------------------
-  Trích “Nghi thức hộ niệm siêu độ”, đạo tràng Mai Thôn ấn hành, Pháp quốc, 1997
-  Biên giả có sửa vài từ cho phù hợp phổ biến đại chúng.

282- SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (1)
(Sám Phát Nguyện 35)
 

Một là : nguyện Phật hộ trì,
Duyên nhiều phước đủ.
Hơn tám vạn ma quân bặt dấu,
Cả bao nhiêu thánh trí mở lòng,
Hoa Bát nhã nở bông,
Cây Bồ đề nảy nhánh.
Sống không tai bệnh,
Thác đặng khinh an.
Về Tây phương ngồi tọa sen vàng,
Chơi bảo địa dựa nơi lầu ngọc.
Sớm tiêu trần tục,
Mau chứng chơn thường,
Cũng như Phật vậy.
Hai là : nguyện Phật hộ trì,
Âm dương hai cảnh.
Người còn khoẻ mạnh,
Kẻ thác siêu sanh.
Tám phương mở cuộc thái bình,
Muôn họ chơi miền Cực lạc.
Lấp ba đường ác,
Về một nẻo chơn.
Ai nấy đều nương đặng chánh nhơn,
Trước sau cũng chứng thành diệu quả.

Ba là : nguyện Phật hộ trì.
Dắt người mê mộng.
Tránh đường lợi dụng,
Rửa bụi công danh.
Mộ sự tu hành,
Giữ bề giới luật.
Niệm niệm A Di Đà Phật,
Ngày ngày dõng mãnh tinh thần,
Không tham không sân,
Biết tà biết chánh.
Đều thoát vòng mê tín,
Thảy vào trong cửa không môn.
Phước thừa lưu lại tử tôn,
Cõi Tịnh về theo Phật tổ.

Nam mô A Di Đà Phật
 
 

--------------------
-  Bài do biên giả phỏng soạn  từ văn phục nguyện cổ do chư Tổ truyền lại
-  Xá Lợi  tàng bản, TP. HCM 2001.

283- SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (2)
(Sám Phát Nguyện 36)
 

Con nay trì tụng kinh (chú) này,
Đạo tâm nguyện lớn từ rày phát ra;
Xin tròn định huệ của ta,
Bao nhiêu công đức đều là trọn nên.
Trang nghiêm phước khắp bốn bên,
Cùng loài hàm thức chứng lên Bồ đề.
Xưa gây ác nghiệp nặng nề,
Bởi lòng tham giận si mê buổi nào.
Do thân khẩu ý làm đầu,
Con nay sám hối nguyện cầu tiêu tan.
Nguyện khi căn mạng vô thường,
Những điều nghiệp chướng chớ ràng buộc ta.
Xin cho gặp Phật Di Đà,
Dắt con về đến cửa nhà Lạc bang.
Cúi xin Tam Bảo chứng minh,
Hiển linh oai thần chiếu giám,
Hộ cho đệ tử chúng con,
Cùng trong tứ thân quyến thuộc,
Khắp đến muôn loại chúng sanh,
Lúc hiện sống ở đời này,
Đều khỏi tai ương tật bệnh,
Tà ma quỉ yêu bặt tích.
Duyên lành nhóm thành phước đủ,
Nhà nhà đặng chữ đoàn viên,
Xứ xứ an thuyên lợi lạc.
Đời này đời sau kiếp nọ,
Vun trồng hạt giống Bồ đề,
Đồng nhau thoát khỏi sông mê,
Đều nguyện sanh về cõi Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.
------------------
-  Bài do biên giả phỏng soạn lại từ một bài phục nguyện truyền khẩu của chư Tổ xưa. Xá Lợi, 2001.

284- SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (3)
(Sám Phát Nguyện 37)
 

Quỳ trước đài sen bửu điện,
Đệ tử một lòng kính nguyện,
Từ hồi vô thỉ lâu xa,
Mê muội ngày qua tháng lại.
May có duyên lành hối cải,
Được nhờ Phật pháp hồng ân,
Nguyện y kinh giáo thoát trần,
Phúng tụng thọ trì lễ thỉnh.

Cúi xin Tam Bảo chứng minh,
Mở lòng tiêu trừ hôn chướng,
Khiến cho tội khiên tiêu hết,
Đường tu phước huệ thêm nhiều.
Sống thì nương cội Bồ đề,
Chết đặng sanh về Tịnh độ.
Thứ nhứt : nguyện ông bà, cha mẹ,
Cùng họ hàng Nội Ngoại hai bên,
Kẻ chết thì được siêu lên,
Người còn khỏe mạnh, dưới trên thuận hòa.
Thứ hai : nguyện gần xa lớn nhỏ,
Được vinh hoa phước thọ lộc trời,
Di Đà luôn niệm một đời,
Ăn chay tụng niệm lục thời công phu.
Thứ ba : nguyện chúng con sức khỏe,
Việc làm no ấm trọn đời nầy,
Sống thời hưởng phước lâu dài,
Chết về cõi Phật ngự đài liên hoa.

Nam mô A Di Đà Phật.

------------------
-  Bài do biên giả phỏng soạn theo văn phục nguyện xưa của chư Tổ tương truyền. Xá Lợi, 2001.

285- SÁM VĂN PHỤC NGUYỆN (4)
(Sám Phát Nguyện 38)
 

Nam mô Giáo chủ Ta bà,
Mâu Ni Văn Phật Thích Ca chứng nguyền.
Con quỳ gối trước đài sen,
Khắp xin ba cõi thánh hiền mười linh.
Cùng chư Hộ pháp, Long thiên,
Hết thảy Thiện thần, chơn tể Già lam.
Đều về chứng giám cho con,
Phát lời chúc nguyện mong tròn quả tu.

Cúi xin mây Từ che chở,
Ngưỡng cầu mưa Pháp rơi rơi,
Cây Bồ đề tươi tợ ba xuân,
Bóng Bát nhã nở tròn muôn kiếp.
Duyên lành đến giờ nhóm tới,
Nghiệp dữ thảy dứt tiêu đi.
Mấy phước mấy thiện cũng về,
Mấy tai mấy họa cũng sẩy.

Từ người chí vật,
Từ trẻ đến già,
Đều đặng an vui,
Thảy không phiền não.
Mẹ cha sống đời mạnh giỏi,
Chồng vợ ân nghĩa vuông tròn.
Tộc họ đoàn kết sum vầy,
Cháu con đề huề đông đủ.
Lộc trời nối đời hưởng mãi,
Cuộc sống hưng thạnh ấm no.

Khắc lòng niệm Phật Di Đà,
Cầu về an dưỡng ở nhà Như Lai.
Giác tánh xa lìa ba cõi khổ,
Hóa thân sanh tới chín phẩm sen.
Tỏ ngộ pháp giới chơn nguyên,
Chứng ngôi bất thối dong thuyền Ma ha.
 

----------------
-  Biên giả phỏng soạn theo bài văn phục nguyện của chư Tổ tương truyền, Xá Lợi, 2001

286- SÁM QUY MẠNG NGHĨA
(Sám Quy mạng 9)
HT. THÍCH DIỆU BỔN
 
Quy mạng chư Phật khắp mười phương,
Pháp mầu thanh tịnh rộng hiển dương,
Thánh Tăng tứ quả tam thừa độ,
Xin nguyện từ tâm rộng nhiếp thương.

Đệ tử chúng con,
Tự xa chơn tánh,
Dòng mê mãi nhập,
Sanh tử nổi chìm,
Nhiểm say thanh sắc.
Mười triền mười sử, 
Chứa đầy hữu lậu gây nhơn,
Sáu căn đắm sáu trần,
Tạo nên biết bao nghiệp chướng.
Lăn trôi biển khổ,
Chìm ngập nẽo tà,
Đắm trước ngã nhơn,
Theo cong bỏ thẳng.
Chất chồng chướng nghiệp,
Gom trọn quấy sai,
Ngưỡng mong Tam bảo mở lượng từ bi,
Con trải tâm xin sám hối. 
Cúi mong đức Năng nhơn cứu vớt,
Nương theo hạnh lành cùng tu,
Khiến vượt khỏi vực sâu phiền não,
Nhập Bồ đề về bến giác.
Hiện đời phước mạng thanh cao,
Kiếp sau mầm linh giống trí,
Thảy đều tươi tốt,
Tái sanh đô thị,
Lớn gặp Minh sư,
Chơn chánh xuất gia,
Ấu niên ngộ đạo.
Sáu căn thông lợi, 
Ba nghiệp thuần hòa,
Chẳng nhiễm thế duyên,
Hằng tu phạm hạnh.
Giữ gìn giới cấm,
Thế nghiệp chẳng mang,
Tế hạnh oai nghi,
Loài trùng loài bay chẳng tổn.
Tám nạn không gần,
Bốn duyên chẳng thiếu,
Bát nhã trí hằng khai,
Bồ đề tâm kiên cố.
Luyện tu chánh pháp,
Thông chứng Đại thừa,
Cửa lục độ mở khai,
Vượt ba A tăng kỳ kiếp.
Tuyên dương pháp xứ xứ,
Phá lưới nghi trùng trùng,
Chuyển hóa chúng ma,
Hiển dương Tam bảo.
Thừa hành Phật sự khắp mười phương,
Chẳng xao chẳng mệt,
Tu học hết các pháp môn,
Thảy đều thông đạt.
Rộng lưu phước huệ,
Trải ích nhiều như bụi trần,
Đắc sáu phép thần thông,
Một đời tròn Phật quả.
Mai sau chẳng rời pháp giới tánh,
Hóa nhập chốn phàm trần,
Tâm từ bi tựa đức Quán Thế Âm,
Nguyện rộng noi ngài Phổ Hiền Bồ tát.
Phương này cõi khác,
Tùy loại ứng hình,
Hiển hiện sắc thân,
Truyền trao diệu pháp.
Chốn địa ngục đau khổ,
Nơi ngạ quỉ thâm sâu,
Con nguyện tỏa ánh sáng nhiệm mầu,
Con nguyện biến phép,
Thần thông hóa hiện.
Ai thấy được hình tướng,
Hoặc vừa nghe tên con,
Đều phát Bồ đề tâm,
Thoát khỏi luân hồi khổ.
Nơi nóng nung như lửa,
Chỗ lạnh buốt như băng,
Bỗng biến rừng hương ngào ngạt.
Ngục uống nước đồng sôi,
Chốn nuốt nhai sắt nóng,
Bỗng biến thành tịnh độ.
Loài mang lông mọc sừng,
Kẻ oán hờn vỡ nợ,
Đều dứt nỗi đắng cay,
Khắp thấm nhuần lợi ích.
Gặp thời gây tật dịch,
Kịp chế thuốc hóa linh,
Để cứu bệnh nguy nan.
Gặp lúc đói khát cơ hàn,
Tạo thêm nhiều lương thực,
Để cứu trợ khổ nghèo.
Khi thành tựu hạnh lợi tha,
Thì đâu chẳng hiển hưng sùng bái,
Và quay lại kẻ oán người thân,
Ngay hiện đời quyến thuộc,
Khiến lìa chìm nổi tứ sanh.(1)
Cắt đứt dây ái ân hằng vạn kiếp,
Độ khắp thảy giống hàm linh,
Đồng thành quả Phật.
Hư không có thể tận,
Nguyện con không cùng,
Hữu tình và vô tình,
Đồng tròn giống Phật.

-----------------
-  Bài do Hòa thượng Thích Diệu Bổn, chùa Phi Lai, Biên Hòa soạn dịch, được Tổ đình Quan Thế Âm lưu hành nội bộ, Tp. Hồ Chí Minh, 1998.
(1)  Tứ sanh : Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.

287- SÁM KHỂ THỦ DIỄN NGHĨA
(Sám khể thủ 8)

Cúi đầu thọ qui y Tam bảo,
Cùng Trung thiên giáo chủ Thích Ca;
Tây phương Từ phụ Di Đà,
Các Phật quá, hiện, vị lai ba đời.
Quan Tự Tại, Phổ Hiền, Sư Lợi,
Với Quan Ââm, Thế Chí, Thánh hiền;
Nguyện cầu phóng hiện oai quang,
Chiếu soi chỗ tối tiềm tàng độ sanh.
Độ quần sanh, ai lân hỷ xả,
Đệ tử đồng một dạ chí thiềng,
Cùng nhau tựu tại Phật tiền,
Năm thân chấm đất, một nguyền chẳng sai.
Dốc một lòng tiêu tai sám hối,
Nguyện tiêu trừ những tội lỗi xưa;
Sanh ra ác nghiệp có thừa,
Bởi từ vô thủy tham, lừa, sân, si.
Thân khẩu ý là nơi tạo khởi,
Con phát nguyền sám hối tự tân;
Cầu cho chướng cũ bỏ lần,
Thiện căn thêm lớn mấy phần tươi xanh.
Các phiền não chí thành tiêu diệt,
Lưới vô minh trừ tuyệt trong lòng;
Diệu tâm, duyên giác mở thông,
Tịch quang cảnh thiệt đặng trông thấy liền.
Khi thọ mạng gần miền viên mãn,
Đã tiên tri số mạng đến kỳ;
Thân không bệnh khổ nàn chi,
Lòng không một chút sự gì tham mê.
Sáu căn đặng đủ bề vui vẻ,
Chánh niệm thì toàn thể phân minh;
Báo thân khi xả an ninh,
Ví như thiền định không hình kém suy.
Phật Di Đà, Quan Âm, Thế Chí,
Với Thánh hiền các vị rất đông;
Phóng quang tiếp dẫn qua sông,
Đem về Cực lạc, hưởng chung phước nhàn.
Có lầu các, tràng phan, bảo cái,
Cùng dị hương, thiên nhạc tỏ tường;
Nghiêm trang cõi thánh Tây phương,
Hiện ra trước mắt, rõ ràng chẳng sai.
Khiến cho kẻ thấy nghe phấn chí,
Lòng vui mừng phát ý Bồ đề;
Con trong khi ấy đặng về,
Theo hầu bên Phật, tại đài Kim Cang.
Ví móng tay, khảy ngang kêu “cắc”,
Đã sanh về Cực lạc quốc bang;
Trong ao thất bảo rõ ràng,
Hoa sen chín phẩm, mình vàng ngồitrong.
Nở ra thấy kim dung Phật sắc,
Cùng các ngôi Bồ tát đâu đâu,
Nghe xong tiếng pháp nhiệm mầu,
Vô sanh liền đặng chứng vào chẳng sai.
Trong khoảnh khác đặng kề Phật vị,
Ngỏ mong cầu thọ ký cho tôi;
Sau khi đặng thọ ký rồi,
Tam thân tứ trí thảy đều viên dung.
Lại cũng đặng lục thông, ngũ nhãn,
Cùng bá thiên vô hạng Đà ni;
Bao nhiêu công đức cũng thì,
Thảy đều thành tựu trong khi ấy rồi.
An Dưỡng quốc, sau con hồi tỵ,
Nhập Ta bà cho phỉ dạ mong;
Chia thân ra số rất đông,
Ứng trong thế giới giáp vòng mười  phương.
Lấy thần lực chẳng lường lao khổ,
Vận chước mầu cứu độ quần sanh;
Làm cho lìa các nhiễm tình,
Mau mau đem đặng lòng thanh tịnh về.
Cõi Cực lạc đề huề sanh đó,
Vào cõi này không có trở lui,
Ấy là đại nguyện viên dung,
Không cùng thế giới, không cùng chúng sanh.
Nghiệp phiền não cũng rằng vô tận,
Con thề nguyền trọn phận chẳng chăng;
Nay con lễ Phật nguyện rằng:
Công phu tu luyện thí sang hữu tình.
Trọn bốn ân, chí thành đền đủ,
Ba cõi đều hưởng thụ vẻ vang;
Biết bao pháp giới mênh mang,
Chúng sanh chủng trí một đoàn đồng viên.
 
 
 
 
 

--------------------
-  Bài do Cư sĩ Minh Chánh-Đỗ Phước Tâm, nguyên Tri phủ, Hội trưởng Thiên Thai Thiền giáo Tông Liên Hữu Hội soạn vào khoảng 1936 – 194o, đăng trong tạp chí Bác Nhã Âm, Bà Rịa, 1941
-  Biên giả có chỉnh sửa lại một số từ cho phù hợp.
 
288- VĂN PHÁT NGUYỆN
BA CÂU TỰ QUY
(Sám phát nguyện 39)

Chúng con xin dốc lòng phát nguyện,
Nguyện cho con đời hiện tại đây !
Phúc duyên trí tuệ vẹn đầy,
Tội tình báo chướng mảy may không còn.
Bao phiền não làm con khổ sở,
Cùng duyên trần xin dũ sạch không;
Thân tâm như thể gương trong,
Bao phép mầu nhiệm con thông hiểu liền.
Chúng sinh dẫu vô biên vô lượng,
Độ cho đều sung sướng yên vui !
Ngôi chính giác là ngôi cao nhất,
Đêm ngày con xin dốc lòng cầu;
Giữ gìn trọn vẹn trước sau,
Ngàn kia đi chẳng bao lâu tới liền.
Xin cho con được như nguyền. . .
- Con từ nay về theo Phật bảo,
Cầu nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Hiểu tường đạo lớn rõ rành,
Mở lòng vô thượng quang minh tuyệt vời…
- Con từ nay về theo Pháp bảo,
Cầu nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Hiểu sâu nghĩa lý luật kinh,
Mở mang trí tuệ mênh mông biển trời...
- Con từ nay về theo Tăng bảo,
Cầu nguyện cho sáu đạo chúng sinh,
Sửa sang việc chúng việc mình,
Đều không quản ngại hoàn thành khắp nơi.
--------------
-  Bài do Thượng tọa Thích Thanh Khoát, chùa Phú Cốc, Thường Tín-Hà
Tây soạn năm 1996.
-  Chùa Hải Ninh-Đồng Thiện, Hải Phòng tàng bản.
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx