PHẦN
IV
CẢNH
TỈNH — KHUYẾN TU — THÍ THỰC
262.
Văn Hồi hướng cúng thí (Thí thực cô hồn 14)
263.
Sám Tán khô lâu (Thí thực cô hồn 15)
264.
Trạo văn diễn âm (Thí thực cô hồn 16)
265.
Văn Thỉnh thập loại cô hồn (Thí thực cô hồn 17)
266.
Văn Khuyến tu thiện nghiệp (Văn khuyến tu 14)
267.
Sắc không tỉnh thế (Văn khuyến tu 15)
268.
Thập nhị thi tụng diễn âm (Văn khuyến tu 16)
269.
Sám Tinh tấn (Sách tấn tu tập 14)
270.
Sám Từ bi (Sách tấn tu tập 15)
271.
Đường Giải thoát (Sám hồi tâm 9)
272.
Hạ thừa Bát Nhã ngộ đạo quốc âm (Văn khuyến tu 17)
273.
Trung thừa Bát Nhã ngộ đạo quốc âm (Văn khuyến tu 18)
274.
Thượng thừa Bát Nhã ngộ đạo quốc âm (Văn khuyến tu 19)
275.
Kinh tinh yếu Bát Nhã Ba la mật đa
262.
VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ
(Thí
thực cô hồn 14)
Bích
Liên Pháp Sư
Nguồn
chơn trong văn vắt,
Tánh
tội vẫn là không,
Biển
khổ rộng thênh thang,
Sóng
quanh theo đuổi mãi.
Bởi
nghiệp cảm chúng sanh kia mang phải,
Khiến
trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày,
Địa
ngục đà thọ khổ đắng cay,
Ngạ
quỉ lại chuyển sanh đói khát.
Đã
chẳng có ngày giải thoát,
Ắt
là không ngõ siêu thăng,
Ví
chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân,
Để
mở đặng đảo huyền dây ác thú.
Chơn
thuyên ấy niệm đôi câu thần chú,
Thí
thực ra trên tiệc cam lồ,
Bảo
cự kia thắp một ngọn đèn,
Soi
khắp cả trong đường minh giới.
Nào
những mấy dòng mê cả thảy,
Khiến
đều về Cực lạc phương Tây.
Bảo
đạo tràng nay,
Khắp
thỉnh vào diên thí thực.
Đem
công đức ấy,
Trở
về trong núi Thiết Vi,
Diện
Nhiên đại sĩ một tay,
Thống
lãnh cả ba mươi sáu bộ.
Chúng
ngạ quỉ hằng hà sa số,
Biết
bao nhiêu vô lượng vô biên,
Cúi
xin từ kiếp bỏ liền,
Cho
đến ngày lai tái thế.
Tiêu
nghiệp chướng chẳng còn chút để,
Rửa
tội khiên phút đã sạch rồi,
Vạc
nóng dầu sôi,
Biến
thành ao Liên trì bát đức.
Lò
hừng lửa cháy,
Hóa
nên tòa Hương cái thất trân.
Kìa
mũi gươm trần.
Kiếm
thọ hóa ra Ngọc thọ.
Nọ
con dao sắc,
Đao
sơn đổi lại Bảo sơn.
Khắp
nơi bày chật đất thiết sàng,
Hiện
pháp tọa Bồ đề ra nơi đó.
Khắp
chỗ dựng đầy nước đồng sôi,
Rưới
cam lộ Đề hồ vào nơi đấy.
Gặp
những người trai chủ bấy nay,
Đó
đói khát, hết đòi hết hỏi.
Nhóm
kiếp oan gia thuở trước,
Cùng
nhau thôi dứt vấn vương.
Dạ
hưng từ, ngục chủ yêu thương,
Lòng
từ thiện, minh quan ủng hộ.
Thân
phụ mẫu đa sanh kim với cổ,
Hồn
nay thì nhập thánh lại siêu phàm.
Nợ
nhơn thân lụy thế, trả hết rồi,
Rày
thừa ân giải thoát, miễn trần duyên.
Cõi
thiên thượng, ngũ si chẳng hiện,
Miền
nhân gian, tứ tướng chẳng có,
Đã
biết tu, là bỏ cả tham sân si,
Thì
địa ngục, sẽ hết điều khổ não.
Hồn
ngạ quỉ, nhộn nhàng trong sáu đạo,
Hứng
gió thanh, khỏi chốn lửa hồng.
Giống
hàm sanh, sực nức mười loài,
Lên
bờ giác, lánh nơi đường tội.
Khắp
xin cả hữu tình một nỗi :
Quốc
độ này quốc độ nọ,
Và
tất cả vô lượng quốc,
Thảy
cùng nhau đồng chứng chơn thường.
Lại
nguyện cùng hàm thức giống nòi :
Thế
giới đó thế giới đây,
Và
các vô lượng thế giới,
Tất
cả đều nên Phật đạo.
Tứ
ân khắp báo,
Tam
hữu đều nhờ.
Người
trong pháp giới bao giờ,
Ai
ai cũng đồng viên chủng trí.
———————————
—
Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng
năm 1940.
—
Trích soạn từ “Nghi chẩn tế cô hồn nghĩa” của Hòa Thượng
Thành Lệ , chùa Tiên Linh, Bến Tre tàng bản.
263.
SÁM TÁN KHÔ LÂU
(Thí
thực cô hồn 15)
Bích
Liên Pháp Sư
Hôm
qua đồng vắng ngoạn du
Thấy
liền Đại đức khô lâu một vùng
Bốn
bên ghê gốc bịt bùng
Mồ
hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh
Dàu
dàu âm khí lạnh tanh
Lá
sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu
Khô
lâu ơi hỡi ! Khô lâu
Quê
người ở mé giang đầu thiu thiu
Nằm
phơi ngọn gió, chìu hiu
Cỏ
giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời
Phèo
phèo khí lạnh đòi nơi
Anh
em lai vãng, có người nào đâu
Khô
lâu ơi hỡi ! Khô lâu
Ấy
người quân tử ở đâu bên đường
Nhà
ai vang vọng đêm trường
Mưa
tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào
Đau
thay gan ruột như bào
Chan
chan hạt lụy, như trào dòng châu
Khô
lâu ơi hỡi ! Khô lâu
Đôi
khuôn con mắt, thấy đâu chốn này
Xiết
thay, người thế ra chi
Kiếp
phù sanh gởi tháng ngày bao lăm
Ác
vàng thỏ bạc xa xăm
Bóng
quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi
Dần
dà chi nữa người ơi
Sớm
lìa biển khổ, cho rời kiếp ma
Hôm
nay thiện tín trai gia
Nghi
diên mở hội, gọi là “minh dương”
Lò
vàng vừa bén mùi hương
Đạo
tràng mời khắp mười phương cô hồn
Bao
nhiêu tội chướng để dồn
Bây
giờ tiêu hết chi còn nữa đâu
Ân
triêm phước lợi thắm mầu
Mau
mau dời bước lên chầu Tây phương.
———————————
—
Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng
năm 1940.
—
Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng
Thành Lệ, Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa
Xá Lợi, TP HCM, 1998.
264.
TRẠO VĂN DIỄN ÂM
(Thí
thực cô hồn 16)
Bích
Liên Pháp Sư
Hôm
nay cúng thí trai đàn,
Dây
nhân duyên gặp A Nan cơ lành.
Quan
Âm cứu khổ đã đành,
Hiện
làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.
Niệm
câu Mô Phật từ bi,
Tuyên
lời bí mật đức dày công cao.
Độ
người thập loại nao nao,
Mùi
cam lồ ấy hưởng vào một phen.
Trước
đây triều đại còn truyền,
Lên
ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.
Hầu
vương huân thích vang danh,
Cây
vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.
Trung
cung, Tể chấp, đại quan,
Kìa
trang thể nữ, nọ hàng tần phi.
Điềm
hoa tươi đã vứt đi,
Mùi
cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.
Hàng
quốc sĩ, bậc triều thần,
Dọc
ngang trong cõi hồng trần giúp xong.
Chăn
dân bủa hóa giữa giòng,
Nào
hay chưa toại tấm lòng trung lương.
Đau
lòng một chiếu thôi thương,
Phải
khi trích án sa trường biên bang.
Hồn
còn trìu mến giang san,
Tiệc
cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.
Người
võ sĩ, kẻ nhung thần,
Một
tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.
Băng
xông trăm trận mũi vàng,
Trống
rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.
Đánh
Nam dẹp Bắc tơi bời,
Chiến
trường phút sẩy chân người vào trong.
Tấm
lòng vì nước mà vong,
Tiệc
cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.
Những
người học cổ cùng kinh,
Chức
văn chương khéo như hình gấm thêu.
Bóng
quang, hột tuyết dòm theo,
Chí
trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!
Ta
đà mạng vận làm sao,
Bảng
vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.
Hương
hồn uất uất chi linh,
Mùi
cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.
Những
người cắt ái từ thân,
Cửa
không sớm đã chân lần vào trong.
Tầm
thầy hỏi đạo Thiền tông,
Chút
vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.
Trải
bao lạnh nắng xoay quanh,
Sự
vô thường đã đến mình nào hay!
Hồi
quang soi chút bóng dày,
Mùi
cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.
Những
người võ phục huỳnh quan,
Sớm
đã quyết chí theo đàng tu chơn.
Luyện
hoàn thuốc, nấu lò đơn,
Dưỡng
trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.
Lao
thần khổ hạnh đòi phen,
Chỉ
mong lên đặng ngôi tiên mới đành.
Thôi
đừng tiếc chút dị hình,
Tiệc
cam lồ đã sẵn dành vị thanh.
Những
người con thảo cháu lành,
Với
người nghĩa dũng trung thành xưa kia.
Những
người liệt nữ trinh thê,
Cái
thân coi chết như về đâu đâu.
Với
người trọng tiết vong xu,
Khí
tinh anh để ngàn thu còn truyền.
Hồn
còn chói lọi linh thiêng,
Đến
đây hưởng thọ một diên cam lồ.
Những
người đạo nữ Ni đồ,
Chốn
huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.
Phụng
loan bỏ khống duyên phần,
Nhơn
gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.
Còn
chưa liễu đặng vô vi,
Nước
trôi sóng lãng ra gì tử sanh!
Hồn
người thăm thẳm thanh thanh,
Vị
cam lồ đã phỉ tình cho chăng?
Những
người địa lý thiên văn,
Nghề
hay y dược chứa thầm âm dương.
Bói
qui, dịch sủ qui vàng,
Kẻ
tinh coi gió, người tường bủa sao.
Mách
người hung kiết biết bao,
Vô
thường để khỏi mang vào hoạn thân.
Thôi
rày xả ngụy qui chân,
Cam
lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.
Những
người tọa mãi hành thương,
Cả
bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.
Lắm
hay nghề nghiệp mưu sanh,
Toan
phường tài lợi trong vành bán buôn.
Quê
xưa hương tỉnh bỏ luôn,
Chết
chôn đất khách, theo phương cảnh người.
Một
niềm lữ mộng vơi vơi,
Mùi
cam lồ đã khắp rời u minh.
Những
người phạm pháp tạo hình,
Ngục
tù buộc mãi lấy mình vào nơi.
Hại
người toan lấy của người,
Oan
gia trái chủ trả đời nào xong!
Người
tật ác, kẻ tai hung,
Hoặc
là đói khát lạnh lùng vong thân.
Suối
vàng kíp kíp đôi chân,
Mùi
cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.
Những
người ngựa đạp, xe thương,
Vách
đè thân nát như tương rã rời!
Kẻ
suông roi quỉ, sấm trời.
Kẻ
cam tự vận, người thời huyền lương.
Hoặc
là thủy hỏa tai ương,
Kẻ
suông độc rắn, người vương miệng hùm.
Hồn
người bất hạnh trầm trầm,
Một
cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.
Những
người âm huyết dương mao,
Chỗ
sanh trưởng vốn ẩn vào man di.
Thi
công mà trả nợ đày,
Kẻ
làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.
Hoặc
người ngọng, lịu, điếc, đui,
Tật
nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.
Hồn
người oan khổ biết bao,
Mùi
cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.
Những
người ngỗ nghịch mẹ cha,
Oán
rủa trời đất, mắng la đốt bằm.
Những
người chê Phật khinh Tăng,
Đốt
hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.
Lắm
điều tà kiến trầm mê,
Chịu
trong khổ báo ê chề chẳng thôi.
Hồn
người thật ác, thương ôi,
Mùi
cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.
Cửa
nhà đại thí mở ra,
Hãy
xin tiến bạt cho ma cô hồn.
Tiên
vong hòa tổ hòa tôn,
Oan
gia trăm họ cũng dồn về đây.
Đường
ba, nạn tám thiếu chi,
Bao
nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.
Cậy
chưng Phật Pháp quang miên,
Mùi
cam lồ hưởng một diên ê hề.
A Di
Đà Phật Bồ Đề,
Xưa
kia sẵn có lời thề vô biên,
Đường
mê trông thấy nhãn tiền,
Đắm
phiêu biển khổ liền liền thảm thay!
Ngậm
ngùi vội duỗi hai tay,
Thuyền
từ chống thẳng vớt ngay mọi người.
Nguyện
cho khắp chỗ ai ơi,
Chúng
sanh đều đến nhập nơi Liên trì.
——————————
—
Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định
soạn, khoảng năm 1940.
—
Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng
sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh
trong Du Già Trung Khoa.
—
Tạng bản Nôm của Đại Đức Thích Lệ Trang, chùa Viên Giác
– Tân Bình, TP HCM.
—
Diễn Quốc ngữ của Hòa Thượng Thành Lệ, chùa Tiên Linh,
Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa Xá Lợi, Sài
Gòn, 1998.
—
Có hiệu đính sửa chữa lại một số câu chữ cho phù hợp,
và để nâng cao tính giá trị của văn phong.
265.
VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN
(Thí
thực cô hồn 17)
Bích
Liên Pháp Sư
Dấu
người thập loại biết là đâu?
Hồn
phách mơ màng trải mấy thu,
Cồn
biển nghinh ngang bầu thế giới,
Những
mồ vô chủ thấy mà đau !
Tịch
mịch dạ canh thâm,
Hoa
Đàm bá phạm âm,
Cô
hồn văn triệu thỉnh,
Bộ
bộ tốc lai lâm.
—
Nhứt tâm triệu thỉnh :
Ác
vàng tên ruỗi,
Thỏ
bạc thoi dong,
Ôm
lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,
Sửng
mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!
Lò
bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,
Giọng
thiền lưu, rày ngõ với vong linh,
Nghe
lời triệu thỉnh đành rành,
Hồn
chơi trong cõi U minh xin về.
—
Nhứt tâm triệu thỉnh :
Màu
non lờ lạc,
Dòng
nước thầm thì,
Xuân
đi rồi, hoa hỡi còn đây,
Người
mới đó, chim rày đã lặn.
Vài
lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,
Đôi
phen mời, linh sản ở đâu đây,
Vong
linh ơi hỡi có hay,
Nghe
lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.
—
Nhứt tâm triệu thỉnh :
Biển
trần lênh láng,
Sóng
nghiệp lao xao,
Người
mê man trong giấc chiêm bao,
May
tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.
Sống
chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,
Uổng
một vòng chơi nẻo nhân gian,
Đầy
ba phen, hương thắp bảo đàn,
Ba
lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.
Xin
vâng Tam Bảo pháp lành,
Nương
lời bí mật, đêm thanh trở về.
Về
đây hưởng thọ hương huê,
Cam
lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.
—
Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,
Triều
đại xưa, trải quá biết bao !
Đền
đài chín lớp ở cao,
Non
sông muôn dặm chiếm vào một tay.
Thuyền
chiến phút đổi thay vượng khí,
Xe
loan còn rầm rĩ vắng thinh,
Đỗ
quyên kêu trót tàn canh,
Mây
buồn đượm mãi trên cành đào hoa.
Trước
sau vương bá những là,
Hồn
hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.
—
Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,
Dựng
ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,
Ngàn
cân, lực cử đảnh vàng,
Thân
trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.
Trướng
hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,
Khói
lang tàn, nào gã Phàn Long,
Ngựa
xe chiến tướng vắng không,
Hoa
lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!
Anh
hùng tướng soái bao nhiêu,
Pháp
diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?
—
Lại thỉnh kẻ : Ngũ lăng tài tuấn,
Phẩm
hiền lương, bách phận danh thần.
Ba
năm thanh tiết làm quan,
Lòng
son một tấm, trung quân rõ ràng.
Nhà
châu huyện, xa làng phụ mẫu,
Xóm
nước trời, theo dấu thần tiên,
Chinh
chinh biển loạn sóng ngàn,
Mờ
mờ hồn bướm ly miền dương quang.
Văn
thần xiết kể muôn ngàn,
Chốn
này xin chứng Pháp đàn kính dâng.
—
Lại thỉnh kẻ : Tao ông mặc khách,
Lối
cửa hoàng, nhà bạch vào ra,
Rừng
văn nhẹ bước, Thám hoa,
Ngàn
cung bút chiến, chơi trò các vi.
Tan
bữa đốm, tiếc dày công học,
Mòn
dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,
Lụa
hồng bảy thước đề tên,
Đất
vàng một cụm, lấp nền văn chương.
Văn
nhân biết mấy đâu lường,
Hồn
hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.
—
Lại thỉnh kẻ : Xuất trần phi tích,
Thượng
sĩ kìa với khách Cao Tăng,
Trai
tinh ngũ giới, đạo hằng,
Gái
Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.
Làn
hoa trúc, vài câu mật đế,
Nhà
hổ-nô, vắng kệ khổ không,
Tam
canh song tẩm lạnh lùng,
Nhà
thiền leo lét đèn chong canh dài.
Trung
lưu này những bi ai,
Chơn
hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.
—
Lại thỉnh kẻ : Huỳnh quan dã khách,
Dòng
vũ y phong cách nhà tiên,
Tu
chơn trong động đào nguyên,
Trước
châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.
Trời
nêu tiếng, tam lưu chưa toại,
Đất
chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,
Lò
đơn lẫm quán lạnh sương,
Tiêu
đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.
Bao
nhiêu đạo sĩ những là,
Mùi
hương phó cảm, thấu nhà hư vô.
—
Lại thỉnh kẻ : Giang hồ cơ lữ,
Đường
bắc nam trải thử hành thương,
Lợi
quyền muôn dặm, toan đương,
Ngàn
vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.
Thân
sương gió, thịt chôn bụng cá,
Bước
đá mây, xương rã đường dê,
Phách
theo mây cuốn sè sè,
Hồn
theo ngọn nước xuôi về biển Đông.
Thương
nhân, sau trước một dòng,
Bữa
nay xin chứng vào trong tiệc đàn.
—
Lại thỉnh kẻ : Lướt xông chiến trận,
Sức
phương cường, mình bận áo binh,
Cờ
điều phất bóng tương tranh,
Trong
chòm mũi bạc, đan mình chống đương.
Ruột
gan nát, thao trường kim cổ,
Da
thịt rơi, đầy chỗ can qua,
Cát
vàng văng vẳng tiếng ma,
Mờ
mờ sương trắng ai mà thấu cho.
Xưa
nay mấy kẻ tốt đồ,
Đêm
này xin hưởng cam lồ tiệc trai.
—
Lại thỉnh kẻ : Nghén thai mười tháng,
Lót
chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,
Trước
mừng loan phụng hiệp bầy,
Sau
thì trông giấc hùng bi cho tường.
Vầng
cung phụng, phút tường hung cát.
Tuồng
ngỏa chương, rơi nát mẹ con,
Nhành
hoa nở, trận mưa tuông,
Đường
khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.
Những
người sản nạn qui âm,
Nghe
lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.
—
Lại thỉnh kẻ : Bốn phương mọi rợ,
Với
những người ú ớ điếc đui,
Chết
mình, tôi tớ lui thui,
Liều
thân hầu hạ, bởi người ghen tương.
Khinh
Tam Bảo, tội dường cát bãi,
Nghịch
song thân, ác dẫy cõi người,
Đêm
trường thăm thẳm bóng mơi,
Cửa
mù thiu thỉu như trời thu đông.
Những
người bội nghịch hoang hung,
Pháp
diên xin chứng vào trong cho đầy.
—
Lại thỉnh kẻ : Cung khuê thuở trước,
Gái
má đào, sắc nước kém đâu,
Bức
tranh chỉ phấn, đua nhau,
Áo
quần long xạ, ganh màu thiên hương.
Hồn
vân vũ, tan vườn kim cốc,
Ruột
trăng hoa, héo trạm mã khôi,
Phong
lưu ngày trước đâu rồi,
Xương
khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.
Những
trang xinh tốt xưa nay,
Lửa
hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.
—
Lại thỉnh kẻ : Cơ hàn khất cái,
Cùng
tù nhơn mang phải trọng hình,
Gặp
tai nước lửa hại mình,
Hoặc
truông hùm sói, tan tành thịt xương.
Khí
oán, mãi đầy dường thuốc độc,
Hồn
kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,
Mưa
chiều khói lạnh nước reo,
Lá
thu gió thổi dập dìu như bay.
Những
người hoạnh tử xưa nay,
Cam
lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.
—
Lại thỉnh kẻ : Sáu đường pháp giới,
Những
cô hồn mười loại đâu đây,
Diện-Nhiên
sở thống một tay,
Nòi
kia dịch-lệ, giống này trần-sa.
Nương
cây cỏ, bóng ma mường tượng,
Ly-mỵ,
hòa vọng-lượng uy danh,
Hồn
cô, phách trệ linh đinh,
Tiên
vong, với kẻ thân tình gần xa.
Bao
nhiêu tiệu thỉnh những là,
Ai
ai xin cũng chứng qua tiệc này.
Nãy
giờ mời thỉnh tỏ bày,
Hồn
linh xin hãy về đây chứng đàn.
Cùng
qui y Phật, Pháp, Tăng,
Sửa
mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.
A
Di Đà Phật Như Lai,
Từ
bi tiếp độ hoa khai thoát trần.
————————————
—
Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng
Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân
Bình tàng bản.
266.
VĂN KHUYẾN TU THIỆN NGHIỆP
(Văn
khyến tu 14)
Chơn
Thường Thiền Sư
Đôi
dòng bút ký thiên thu,
Dụng
tâm khuyên giáo sĩ phu ít lời.
Quy
y Tam bảo đời đời,
Tự
tâm tỏ ngộ nay thời gắng tu.
Thọ
trì trai giới công phu,
Tinh
thông học tập vân du Ta bà.
Nhìn
xem khắp cõi hằng sa,
Hư
không thế giới lòng ta nguyện hoài.
Nguyện
lên chín phẩm Liên đài,
Niết
bàn tịch tịnh thiệt rày cao thâm.
Pháp
môn Tịnh độ tịnh tâm,
Quy
y theo Phật nhiều năm mới thành.
Giữ
lòng chẳng dám vọng sanh,
Quy
y theo Pháp xem rành luật, kinh.
Giữ
lòng chớ có dễ khinh,
Quy
y Tăng, học tự mình sửa tâm.
Giữ
lòng chừa sát đạo dâm,
Đêm
ngày xem xét chơn tâm làu làu.
Chiếu
soi thiện ác lẽ nào,
Kiếp
xưa Võ Đế ngài vào rừng xanh.
Nón
đội Phật đá phước lành,
Sao
còn giết khỉ, để dành miếng ăn.
Khiến
nên chết đói Đài thành,
Tiền
nhân hậu quả đành rành nào sai.
Lập
chùa, bố thí, trì trai,
Tạo
lành hưởng phước khuyên ai gắng làm.
Nghiệp
dữ mắc họa chớ ham,
Sát
sanh hại vật lại cam làm gì.
Khuyến
người xem xét nghĩ suy,
Võ
Đế, Hy Thị còn gì than ôi !
Hầu
Kiển, Võ Đế trả rồi,
Thấy
gương nhân quả nghĩ thôi lạnh lùng.
Ai
ai nghe thấy cũng run,
Tránh
xa sát nghiệp ung dung tu hành.
Kíp
nhau bỏ dữ làm lành,
Ngày
sau mới đặng vãng sanh Thiên đường.
Nói
qua “nghiệp đạo” thêm thương,
Tại
vì đói lạnh, tuyết sương chẳng nài.
Rình
mò lặn lội chông gai,
Rủi
thời bị bắt ai ai cũng cười.
Nhân
xưa ăn ở biếng lười,
Quả
nay đói lạnh, của người tóm thâu.
Làm
cho kẻ khóc người rầu,
Trộm
cướp bắt đặng đâu đâu cũng mừng.
Đem
ra pháp luật phạt trừng,
Khuyên
bỏ “nghiệp đạo” mau vâng theo lời.
Làm
người thân ở trong trời,
Ăn
ngay ở thẳng vậy thời người thương.
Đừng
làm theo thói bất lương,
Ngày
sau mắc đọa nhiều đường khổ thân.
Nghĩ
cho cuộc thế xoay vần,
Giàu
sang xưa cũng kiệm cần mới nên.
Sửa
lòng tập tánh cho bền,
Bán
mua tiết kiệm mới nên sang giàu.
Xét
xem cải đổi mau mau,
Tránh
xa “nghiệp đạo” dồi trau phước điền.
Nghĩ
cho “dâm nghiệp” không hiền,
Tham
tài đắm sắc bỏ liền chẳng tu.
Vương
hầu cho đến sĩ phu,
Say
mê vì sắc thiên thu chê cười !
Xưa
nay xét lại nhiều người,
Sa
di Tư Hổ, thế cười lạ thay !
Long
Đĩnh tửu sắc nằm ngay,
Kiệt,
Trụ tiếng để ai ai giựt mình.
Kìa
như Lữ Bố bất minh,
Tham
dâm chi quá dứt tình cha con.
Cuộc
đời nghĩ lại héo hon,
Tránh
xa “dâm nghiệp” chồng con an hòa.
Bốn
điều “vọng ngữ” kể ra,
Nói
dối, nói láo rất là tội thay !
Nói
thêm, nói bớt, nói sai,
Đòn
xóc, hai lưỡi ai ai cũng rầy.
Nói
lời hung dữ, nói trây,
Rủa
chưởi, mắng nhiếc, van vầy gớm ghê.
Vọng
ngữ tội ác đời chê,
Nói
cho thất đức chẳng hề có sai.
Nói
lời chắc thiệt, khuyên ai,
Ngay
thẳng, hòa hiệp ngày nay sum vầy.
Phát
nguyện về cõi phương Tây,
Hiền
lành, nhơn đức thuở này mới nên.
Đọc
tụng kinh, sám cho bền,
Hiểu
thông nghĩa lý, cứu trên cửu huyền.
Chưa
thông, học hỏi thầy hiền,
Dứt
trừ tửu, nhục, thấy liền chơn tâm.
Như
Lai vô thượng thâm thâm,
Theo
thầy học tập nhiều năm mới thành.
Nếu
còn tửu, nhục sự sanh,
Tham
sân si ái, cạnh tranh luân hồi.
Say
rượu các việc đều thôi,
Lành
dữ, tội phước, than ôi kể gì !
Ngày
đêm say rượu li bì,
Công
ơn cha mẹ còn gì nữa đâu.
Vợ
con thấy vậy thêm sầu,
Nhân
xưa say rượu, lọt cầu sông mê.
Quả
này, đọa ngục Nê Lê,
Thúi
hôi khổ sở bộn bề gớm ghê !
Tham
dâm tửu sắc đời chê,
Sân
hận tội ác đọa về Tu La.
Si
mê trôi dạt ái hà,
Kêu
người tỉnh lại về nhà quang minh.
Lánh
xa tửu nhục sắc thinh,
Quy
y Tam Bảo kệ kinh tu hành.
————————————
—
Trích soạn theo bài “Khuyến tu Thập Thiện” của Thiền
Sư Thích Chơn Thường – Chùa Trường Quang Mỹ Tho – Đăng
trong “Học Phật Vấn Đáp” – Châu Đốc năm Tân Mão, 1951.
—
Đồng Bổn soạn lại, có lược bớt trọn phần sự tích
“Hy Thị thọ thân mãng xà” và hiệu đính một số câu
văn cho phù hợp lưu hành.
267.
SẮC KHÔNG TỈNH THẾ
(Văn
khuyến tu 15)
Đàm
Tuệ
Kiếp
nhân sinh hỏi dài hay ngắn,
Thân
phù du sống đặng bao lâu?
Kể
chi khanh tướng công hầu,
Cũng
như hạt cát giữa bầu bao la.
Hỡi
nhân thế ! Sao đà chưa tỉnh?
Đem
sức người toan tính mà sao,
Chi
bằng giữ đạo thanh cao,
Đèn
trăng, quạt gió, màn sao, phên giường.
Bước
vân du rộng đường thiên lý,
Ngó
trần hoàn bé tí con con,
Xương
đồng chân cứng đá mềm,
Ấy
kho vô tận há còn ai tranh.
Vượt
ra ngoài sắc thanh hình tướng,
Riêng
lắng lòng duyên tưởng “thể chân”,
Cũng
không nghĩ ngợi phân vân,
Không
xanh không đỏ không gần không xa.
Không
tất cả nước da nòi giống,
Không
vuông tròn hẹp rộng trước sau,
Không
tâm tìm kiếm mong cầu,
Không
sanh già chết ốm đau như người.
Không
tất cả muôn loài vạn vật,
Không
trong ngoài, chân thật, đảo điên,
Đạo
huyền, huyền lại càng huyền,
Có
không, không có, vô biên, vô lường.
Có
tất cả mười phương nòi giống,
Có
vuông tròn, hẹp rộng, trước sau,
Có
tâm tìm kiếm mong cầu,
Có
sanh, già, chết, ốm đau như người.
Có
tất cả muôn loài vạn vật,
Có
trong ngoài chân thật đảo điên,
Nói
càng lầm lỗi, tạc xuyên,
“Hằng
sa thế giới ở liền mảy lông.”
Còn
ham cảnh lầu hồng, cõi tục,
Chốn
Quảng Hàn say khúc Thường Nghê,
Dao
Trì hôm sớm đi về,
Đào
tiên, rượu cúc quen lề tỉnh say !
Thời
hãy gắng đêm ngày định tỉnh,
Mười
điều lành lo tính cần chuyên,
Là
Trời, là Phật, là Tiên,
Là
“Chân Như Tính” ấy miền tiêu dao.
————————————
—
Bài do cố Sư Bà Đàm Tuệ – Chùa Hòa Bình soạn, có tên
là “Bước Quan Hoài.” Người soạn xin sửa lại tựa để
hợp với Sám Văn. Bài được soạn năm Quý Mão, 1964. In trong
Thi tập kỷ niệm tuần chung thất, Tp, HCM , 1997.
268.
THẬP NHỊ THI TỤNG DIỄN ÂM
(Văn
khuyến tu 16)
Xưa
Quốc Triều ở phường Phú Sĩ,
Mười
hai giờ thành ý tụng kinh,
Chữ
Nho xem cũng khó rành,
Diễn
Nôm ra để cho minh những lời.
Giờ
Dần ấy, khi trời vừa sáng,
Dạ
thường thì lúc sớm nên chăm,
Tụng
giờ mười lượt thanh âm,
Hay
siêu sanh tử thoát trầm luân sâu.
Phép
hiếm có nhiệm mầu khôn nói,
Lấy
lòng
tin làm lối vãng sanh,
Tai
nghe bụng chẳng nghi tình,
Ấy
người thọ ký là mình lọ ai ?
Đến
giờ Mão mặt trời mới mọc,
Xương
chóng khô, người tục chóng già.
Thực
nên ta nghĩ bạn ta,
Biết
bao trước mắt cỏ hoa trên mồ.
Phải
ngoảnh lại mà tu cho chóng,
Tấc
quang âm báu trọng bao la,
Lúc
nhàn chẳng niệm Di Đà,
Đến
khi thác xuống xót-xa não nùng.
Giờ
Thìn đã bóng hồng cao lói,
Người
thiện cư chọn hỏi nơi hiền,
Chẳng
cần phúc báo Nhân Thiên,
Chết
đi cũng khó khỏi miền trầm luân.
Lên
Đao Lợi dự phần luân chuyển,
Lúc
tạm thời câu chuyện chửa hay,
Khuyên
người niệm Phật phương Tây,
Làm
người tự tại đêm ngày tiêu dao.
Giờ
Tỵ mặt trời cao gần giữa,
Các
nơi đều nấu bữa cơm trưa,
Cơm
ăn no bụng muối dưa,
Muốn
qua sanh tử bây giờ phải tu.
Trẻ
nhớ mẹ, mẹ âu nhớ trẻ,
Ấy
công phu đáo để tự mình,
Xả
tấm thân thấy Phật sinh,
Xa
mười muôn dặm gần hình gang tay.
Bóng
chiều Nam đã xoay giờ Ngọ,
Phật
trên không mắt ngó chẳng hay,
Ít
người đi ở đường ngay,
Sô
đường dậm chịu đắng cay bao chừng.
Chẳng
đạm thiền, chẳng hưng khởi đạo,
Phải
chủ trương niệm tấu Di Đà,
Tuy
thân ở cõi Ta bà,
Tinh
thần đã ở trên tòa hoa sen.
Giờ
Mùi đã hơi thiên bóng ngấn,
Cảnh
một nhà sáu giắn ghê thay!
Diêm
phù ai gặp cảnh này,
Đã
sinh lại chẳng chia bày đục trong.
Mau
ngoảnh lại rửa lòng trần lụy,
Mệnh
vô thường bất úy là đây,
Đem
treo chữ Tử ngang mày,
Mới
tường tư vị phương Tây lạ lùng.
Đến
giờ Thân vừng hồng gần tối,
Than
thân người như lối xe lăn,
Kiếp
này nếu chẳng độ thân,
Thân
này muốn độ, chờ luân kiếp nào ?
Chớ
qua quýt tiêu hao lần lữa,
Kìa
bao loài vảy chứa sừng đeo,
Phật
thương chẳng cứu được nào,
Biết
bao kiếp số mắc vào trầm luân.
Tới
giờ Dậu về phần trời tối,
Bóng
dư quang khuất núi chẳng lâu,
Nực
cười lũ dại đua nhau,
Tử
sinh, sự lớn người hầu biết chưa ?
Ham
tiền của say sưa chè rượu,
Lừa
phàm phu dong dẻo trọn ngày,
Chẳng
rồi niệm đức Như Lai,
Đến
ngày đến tháng bó tay chịu đành.
Đến
giờ Tuất, sơ canh buổi tối,
Một
ngọn đèn lòi lọi nhà đêm,
Rút
giày, giường đã nằm êm,
Hồn
đương đêm tối, lại thêm mơ màng.
Than
thân mình, dễ nhường sai lối,
Niệm
Phật đi mới khỏi luân hồi,
Tội
kia tiêu hết một thời,
Phật
soi ngàn bóng, mặt trời trên không.
Tới
giờ Hợi, nhân công đã định,
Bỏ
giàu sang, chẳng sính công danh,
U
ơ trên gối đêm thanh,
Lòng
si còn vẫn lo mình ngàn năm !
Cứ
lần lữa nên tâm trễ nải,
Tắt
thở thời luống mãi ăn năn,
Phụ
tình Phật tổ cứu dân,
Khôn
đem nước bể, ví ân đức Ngài.
Đến
giờ Tí đêm thời vừa nửa,
Bụng
thanh ô, chan chứa chia đôi,
Cõi
trần nếu chẳng khổ rồi,
Tử
sinh ai đã khứng ngui bụng thường.
Đã
chán phải biết đường chung thủy,
Đất
hoàn kim khôn ví cảnh vui,
Nhãn
tiền phước báu vì ai ?
Chỉ
là dục chúng quy hồi Tây phương.
Tới
giờ Sửu gà đương gáy giục,
Muốn
vãng sinh ai thúc tay mình,
Trong
phiền não cố tu hành,
Phải
luôn niệm Phật miệng dành như tâm.
Ai
khen vụng chê thầm cũng mặc,
Cứ
tùy duyên chẳng nhác lòng mình,
Hoa
sen tuy chửa nẩy sinh,
Bản
căn đã hết ngó sanh trong bùn.
Ấy
là phép thiền môn trì tụng,
Cốt
sao cho trong bụng kính thành,
Những
lời Phật dạy phân minh,
Phải
tường nghĩa lý xét mình để tu.
Ai
mà cố công phu như vậy,
Báo
sau này hẳn thấy chẳng sai,
Nam
mô Tam Bảo Như Lai.
————————————
—
Trích Tâm Pháp Kinh Thiết Yếu , trong tạp chí Từ Quang. Số
86, ra tháng 3/1959 , chùa Xá Lợi , Sài Gòn , 1969
269.
SÁM TINH TẤN
(Sách
tấn tu tập 14)
Như
Thanh
Bậc
Bồ Tát trên đường tinh tấn,
Biết
rằng tùy duyên pháp triển hạnh lành.
Biết
trau tâm sửa tánh tinh chuyên,
Biết
lập hạnh cao kiên bất thối.
Chí
tinh tấn lòng đơn chẳng đổi,
Nương
hạnh lành tùy lối tiến lên,
Thương
muôn sanh lầm lỗi nhiều bề,
Phát
đại nguyện chẳng hề chê chán.
Lòng
từ bi đứng lên mạnh dạn,
Nương
đức lành, hoạn nạn đành cam,
Quyết
lập nên công hạnh luận đàm,
Vì
đời đạo, lòng kham gánh chịu.
Giữa
bể khổ gian nan lịu địu,
Cũng
quyết tâm chuyền níu vớt đưa,
Bờ
giác kia đâu dám lần lừa,
Chí
dõng mãnh lưa thưa đâu thể !
Nguyện
đức Phật từ bi cứu tế,
Độ
chúng sanh khỏi bể trầm luân,
Khiến
lòng con bớt nỗi bâng khuâng,
Khiến
muôn loại gian truân nhẹ nhõm.
Biển
sầu khổ đâu còn lõm bõm,
Cảnh
lầm mê luộm thuộm nhẹ yên,
Bờ
giác kia vượt thẳng đến liền,
Cảnh
tự tại vô biên hỷ lạc.
Nước
bát đức, lợi tha bát ngát,
Cảnh
Tây phương ngào ngạt hương sen,
Nguyện
Phật ân thắp đuốc rọi đèn,
Giúp
muôn loại trắng đen hiện rõ.
Nương
đại nguyện, lòng con sáng tỏ,
Rước
chúng sanh nào bỏ một ai,
Quyết
cùng nhau đến trước Liên đài,
Hầu
đức Phật hôm mai an lạc.
Hoa
tinh tấn hương bay thơm ngát,
Đạo
từ bi ấm mát muôn sanh,
Phật
thương con, đường lối chỉ rành,
Con
kính Phật, lòng thành tinh tấn.
Nương
ân Phật từ bi chỉ dẫn,
Con
kính tin, lận đận đâu còn !
Ngày
lẫn đêm trau luyện lòng son,
Lập
đại nguyện cho tròn chí cả.
Cõi
tục lụy con mong thí xả,
Nguyện
lòng con chí cả giai bền,
Noi
gương lành vững bước tiến lên,
Độ
muôn loại vững bền bất thoái.
Nương
đức Phật, lòng con chẳng đổi,
Đường
thẳng đi một lối tới nơi,
Dìu
dẫn nhau chẳng chút rạc rời,
Cảnh
vô thượng một nơi thẳng tiến.
————————————
—
Bài do Ni Trưởng Như Thanh chùa Huệ Lâm soạn. Đăng trong “Phật
pháp giáo lý” tập V, Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM, XB, 1997.
—
Nguyên tác là một thi phẩm, tựa là “Đức Tinh Tấn”. Biên
giả nhận thấy phù hợp thể loại sám văn cảnh tỉnh sách
tấn, nên biên tập lại tựa để trở thành một bài sám
văn.
270.
SÁM TỪ BI
(Sách
tấn tu tập 15)
Huỳnh
Liên
Người
khôn có đủ đức tài,
Hằng
tìm lợi ích tương lai cho mình.
Dọn
lòng an tịnh thanh bình,
Tiến
vào Cực lạc vô sinh Niết bàn.
Giữ
lòng chánh trực đoan trang,
Nhu
hòa lương thiện chẳng màng phô trương.
Thanh
bần an phận thủ thường,
Không
cam thế sự vấn vương cõi lòng.
Lục
căn chế ngự nghiêm phòng,
Không
cho liều lĩnh luyến mong dục trần.
Không
làm nhơ bẩn tinh thần,
Tránh
lời chê trách Thánh nhân phê bình.
Mong
cầu tất cả chúng sanh,
Dồi
dào hạnh phúc, hòa bình sinh nhai.
Cầu
cho ba giới, bốn loài,
Chúng
sanh yếu mạnh, vắn, dài, bình, trung.
Béo,
gầy, nhỏ, lớn khôn cùng,
Hữu
hình vô tướng muôn trùng gần xa.
Chưa
sanh hoặc đã sanh ra,
Thảy
đều thọ hưởng hà sa phước lành.
Nguyện
không lừa gạt dối manh,
Khinh
người, miệt chúng hư danh trang hiền.
Dầu
cho thân thuộc xóm giềng,
Người
dưng kẻ lạ các miền xa xăm.
Trong
cơn phẫn nộ giận thầm,
Cũng
không lo nghĩ mưu thâm hại người.
Như
lòng từ mẫu thanh tươi,
Trăm
cay nghìn đắng vui cười vì con.
Dẫu
cho một mất một còn,
Bảo
tồn con trẻ vuông tròn ăn chơi.
Tình
thương ghi tạc đời đời,
Từ
bi rộng lớn bầu trời thênh thang.
Học
đòi từ mẫu gương vàng,
Mở
lòng thương xót bủa tràn gần xa.
Chúng
sinh trong cõi Ta bà,
Thoát
vòng khổ não vượt qua luân hồi.
Hằng
ngày rải khắp nơi nơi,
Bốn
phương tám hướng gầm trời bao la.
Tấm
lòng bác ái vị tha,
Gội
nhuần tư tưởng đậm đà tình thương.
Lòng
từ trong sạch như gương,
Không
pha ác cảm không vương tư thù.
Chí
tâm trì niệm công phu,
Khi
đi khi đứng chuyên tu tham thiền.
Nằm
ngồi mặc niệm thường xuyên,
Sưu
tầm đạo quả gieo duyên Niết bàn.
Đó
là phương pháp thế gian,
Đó
là hạnh kiểm đưa đàng vô sanh.
Thánh
nhân ca tụng tán thành,
Xuôi
dòng thánh vức lữ hành nhập lưu.
Vượt
lên đến mức thắng ưu,
Khai
thông tuệ nhãn tầm sưu đỉnh đầu.
A
Hàm đạo tuệ gươm mầu,
Tuyệt
đường tà kiến xả câu dục tình.
Bất
lai cảnh giới hữu hình,
Phạm
Thiên tạm ngự nghiêm minh Niết bàn.
————————————
—
Trích “Kinh Xưng Tụng Tam Bảo” – Ni Trưởng Huỳnh Liên
– Thành Hội Phật giáo TP HCM ấn hành, 1987.
271.
ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
(Sám
hồi tâm 9)
Chí
Kiên
Đường
giải thoát thênh thang cao đẹp,
Ngát
hương thiền tỏa khói lam chiều,
Khách
nhàn vui cảnh tịch liêu,
Lòng
thanh thoát rũ sạch điều thế duyên.
Đường
giải thoát tầm nghiên đạo lý,
Phá
ưu phiền, ganh tỵ, hận thù,
Thế
gian danh lợi ngục tù,
Rõ
đời giả tạm, kẻ mù xưa nay.
Đường
giải thoát xây đài thiện cảm,
Không
hơn thua va chạm giựt giành,
Vị
tha bỏ thói cạnh tranh,
Đời
nhiều đau khổ sao đành riêng vui!
Đường
giải thoát không lùi giông tố,
Lái
thuyền từ tế độ trầm mê,
Thương
người nghiệp chướng nặng nề,
Ra
tay cứu vớt đưa về vô sinh.
Đường
giải thoát tâm hồn chân chính,
Không
dối lừa bướng bỉnh gạt lường,
Lợi
tha hạnh nguyện tình thương,
Thi
ân bình đẳng noi gương Thánh Hiền.
Đường
giải thoát bao la như biển,
Tấm
lòng trần vĩnh viễn xuất ly,
Học
đòi trí tuệ từ bi,
Lời
vàng pháp Phật khắc ghi bên lòng.
Đường
giải thoát xa vòng lẩn quẩn,
Bụi
trần ai chẳng bận mảy hào,
Bát
phong chẳng động chẳng xao,
Chơn
như tánh hải làu làu trăng soi.
Đường
giải thoát đâu cần mời gọi,
Đến
với đi từ nội tâm ta,
Sơn
hà bạn với cỏ hoa,
Trúc
xanh tùng biếc ta đà tháng năm.
Đường
giải thoát đâu tầm giải thoát,
Đâu
mất, còn, thêm, bớt vốn không,
Chúng
sanh, tâm, Phật vốn đồng,
Xưa
nay ẩn hiện sắc không chơn thường.
Đường
giải thoát con đường tu học,
Vẫn
kệ kinh, vẫn nhọc công phu,
Bởi
còn ta, vẫn còn ngu,
Trải
thân hành đạo xuân thu dần dà.
Đường
giải thoát riêng ta dấn bước,
Mong
bao người kẻ trước người sau,
Hãy
cùng giác ngộ mau mau,
Chân
trời giải thoát ngôi cao Phật đài.
————————————
—
Phỏng soạn lại thành sám văn từ bài thơ 8 chữ cùng tên
của Ni Trưởng Chí Kiên, Như Chí. Đăng trong “Đặc San Hoằng
Pháp” số 6. Chùa Ấn Quang ấn hành, 1974.
—
Chiêu Đề soạn thành thể song thất lục bát , chùa Xá Lợi
Tp. HCM, 1998.
272.
HẠ THỪA BÁT NHÃ
NGỘ
ĐẠO QUỐC ÂM
(Văn
khuyến tu 17)
Toàn
Nhật Thiền Sư
Sinh
gặp dòng Bát Nhã,
Thì
noi quả Bồ đề.
Học
từ bi chẳng dạ sát sinh,
Noi
cổ thánh không lòng hại vật.
Xưa
tam giáo tâm truyền dĩ thất,
Nay
trung dung – nhứt quán hãy còn.