PHẦN
II
XƯNG
TÁN — KỶ NIỆM
234.
Văn tán dương Tam Bảo (Sám tán Bổn Sư 4)
235.
Sám văn Phổ Hiền đại nguyện (Sám tụng chư Bồ tát 7)
236.
Sám Phổ Đà (Sám tụng chư Bồ tát 8)
237.
Sám Địa Tạng (Sám tụng chư Bồ tát 9)
238.
Sám thập bát Quan Âm (Sám tụng chư Bồ tát 10)
239.
Sám Già Lam (Sám tụng chư Bồ tát 11)
240.
Sám văn Kỷ niệm Phật xuất gia (Sám tụng Phật xuất gia
2)
241.
Sám văn Kỷ niệm Phật thành đạo (Sám tụng Phật xuất gia
3)
242.
Sám Tòng lâm (sách tấn tu tập 11)
243.
Sám Khể thủ quy y Phổ Am sư (Sám tụng chư Bồ tát 12)
244.
Sám văn thí phát xuất gia II (Sám phát nguyện 29)
245.
Uy nghi tại gia (Sách tấn tu tập 12)
234.
VĂN TÁN DƯƠNG TAM BẢO
(Sám
tán Bổn Sư 4)
Hòa
Thượng Trí Hải
Đấng
Như Lai vẹn đầy phúc tuệ,
Đức
mênh mông như bể khôn lường,
Độ
cho khắp cả mười phương,
Thoát
vòng khổ não lên đường tiêu dao.
Đạo
mầu nhiệm núi cao khôn sánh,
Khắp
muôn đời phàm Thánh qui y,
Lòng
đầy hỷ xả, từ bi,
Lấp
bằng bể khổ sông mê chẳng còn.
Thành
phiền não cùng non ngã mạn,
Phá
tan tành từ ngọn đến chân,
Lòng
không vướng chút bụi trần,
Pháp
thân tự tại muôn phần yên vui.
Báo
thân hưởng đời đời sung túc,
Hóa
thân ra muôn ức nhẹ nhàng,
Hào
quang soi khắp mười phương,
Phá
tan tành hết mọi đường tối tăm.
Dung
nhan đẹp đủ băm hai tướng,
Sức
oai thiêng vô lượng vô biên,
Cho
bao loài được như nguyền,
Một
lòng bình đẳng chẳng thiên vị gì.
Coi
kẻ oán cũng như ruột thịt,
Thả
bè từ vớt hết trầm luân,
Chúng
con mừng có thiện nhân,
Được
làm người lại được gần Như Lai.
Dốc
lòng lạy xin ngài soi xét,
Nguyện
đời đời sạch hết nghiệp duyên.
Chẳng
còn vướng chút lo phiền,
Tiêu
dao tự tại chứng lên Bồ đề.
Án phạ nhật ra vật (3 lần)
——————————
—
Trích trong “Nghi thức tụng niệm hằng ngày toàn tiếng Việt”
, Sa môn Thích Trí Hải diễn nghĩa , Chùa Quán Sứ, Hà Nội,
1958.
235.
SÁM VĂN PHỔ HIỀN ĐẠI NGUYỆN
(Sám
tụng chư Bồ Tát 7)
Hòa
Thượng Huệ Đăng
Như
vậy thảy toàn cầu chư Phật,
Cõi
phàm trần thường trụ độ sanh,
Các
ngôi Phật ấy chí linh,
Xét
soi rõ thấu tánh tình chúng con.
Hoặc
đời này hoặc hồi tiền thế,
Cùng
vị lai vô thủy tử sanh,
Tự
mình làm việc chẳng lành,
Hoặc
là xúi giục, thấy mình hân hoan.
Hoặc
của chùa hoặc phần Tăng chúng,
Của
tứ phương phụng cúng chư Tăng,
Mình
tham hoặc xúi người gian,
Hoặc
là thấy lấy mà hoan hỷ tình.
Năm
tội trọng tự mình tạo lấy,
Hoặc
biểu người, hoặc thấy vui mừng,
Mười
điều ác nghiệp tự hành,
Hoặc
mình sai khiến, thấy mình hân hoan.
Tạo
tội chướng hoặc toan muốn giấu,
Hoặc
cung trần sự xấu ấy ra,
Ứng
đày địa ngục xấu xa,
Hoặc
đày ngạ quỷ, cùng là súc sanh.
Hoặc
phải đọa sài lang ác thú,
Hạ
tiện nhơn cư trú biên quan,
Hoặc
đày vào chỗ uế hoang,
Hoặc
là vào chốn mọi đàng hiểm nguy.
Những
tội chướng trước khi lầm lỗi,
Nay
con nguyền sám hối ăn năn,
Ngày
nay chư Phật mười phương,
Chứng
tri ghi nhớ tỏ tường việc con.
Trước
Phật đài cho con trần thuyết,
Hoặc
đời này hoặc kiếp đã qua,
Thương
người thường bố thí ra,
Hoặc
gìn giới cấm hoặc là trì trai.
Dẫu
cho đến cơm ăn một vắt,
Chẩn
cấp cho những các súc sanh,
Hoặc
nhờ thiện nghiệp tu hành,
Chúng
sanh thành tựu căn lành tạo nhơn.
Bồ
đề đạo thiện căn sở hữu,
Trí
vô thượng đầy đủ hoàn toàn,
Căn
lành trước đặng đoan trang,
Nay
dồn nhau lại đo cân tính lường.
Xin
hồi hướng đến đường chánh giác,
Đạo
Bồ đề chứng quả viên dung,
Y
theo tam thế, Thế Tôn,
Cách
nào hồi hướng con đồng noi theo.
Các
tội lỗi thảy đều sám hối,
Các
phước lành tùy hỷ khâm tuân,
Thỉnh
Phật công đức huy hoàng,
Nguyện
thành thượng trí hoàn toàn chẳng sai.
Ba
đời Phật, khứ, lai, hiện tại,
Gốc
chúng sanh tu tập thành công,
Công
đức như biển vô cùng,
Chúng
con qui mạng một lòng tán dương.
Trong
thế giới mười phương sẵn có,
Các
đức Phật ở đó ba đời,
Thân
con và ý và lời,
Giữ
gìn thành tín lễ mười phương Thiên.
Oai
thần lực Phổ Hiền hạnh nguyện,
Hiện
khắp ra nhứt thiết năng nhơn,
Một
thân hóa hiện nhiều thân,
Phân
thân khắp lạy các trần Như Lai.
Số
chư Phật sánh tày số cát,
Hiệp
các hàng Bồ Tát rất đông,
Mảy
trần pháp giới vô cùng,
Tín
thâm chư Phật đủ dùng ở trong.
Vọng
âm thanh trầm trầm như biển,
Tiếng
dịu dàng thuyết biện pháp mầu,
Đến
cùng cả thảy kiếp sau,
Khen
công đức Phật thâm sâu khôn lường.
Tràng
hoa Mạn, tỏ tường quí trọng,
Kỹ
nhạc cùng dù lọng đồ hương,
Trang
nghiêm tốt đẹp phi thường,
Con
xin trân trọng cúng dường Thế Tôn.
Y
phục tốt, hoa thơm cũng tốt,
Hương
đốt nghiền, đèn đốt sáng trưng,
Chất
chồng món món cổ từng,
Con
xin trân trọng cúng dường Thế Tôn.
Tâm
quảng đại của con chơn thật,
Tin
ba đời có Phật tự nhiên,
Thảy
đem hạnh nguyện Phổ Hiền,
Khắp
duyên cúng đủ các duyên Phật đà.
Từ
vô thủy tạo ra ác nghiệp,
Bởi
tại vì tam độc sân si,
Gốc
do thân ngữ ý này,
Nay
con sám hối bất kỳ trọng khinh.
Mười
phương có chúng sanh cư trú,
Với
Nhị thừa, phải học cùng không,
Như
Lai Bồ Tát thảy đồng,
Đủ
phần công đức, dày công tu hành.
Khắp
mười phương hiện đèn soi thấu,
Độ
sơ cơ thành tựu Bồ đề,
Nay
con kính thỉnh quí vì,
Chuyển
pháp vô thượng độ bầy chúng sanh.
Như
chư Phật, Niết bàn dục nhập,
Con
chí thành cần cấp thỉnh khuyên,
Cầu
xin cửu trụ trần duyên,
An
vui cho cả Nhơn Thiên mọi đường.
Đủ
lễ nghi cúng dường nghiêm chỉnh,
Thỉnh
Thế Tôn trụ chuyển pháp luân,
Tùy
hỉ sám hối thiện căn,
Chúng
sanh hồi hướng đến chơn Bồ đề.
Công
đức trọng đem về một mối,
Nguyện
xoay về pháp giới viên dung,
Tánh
tình Tam Bảo khôn cùng,
Ấn
Tam muội đủ thông dùng tục, chơn.
Công
đức này vô lượng như biển,
Nay
con nguyền phụng hiến trọn phần.
Nghiệp
thân khẩu ý chúng sanh,
Cùng
là thấy pháp, oai thần nhạo chê.
Và
cả thảy tiền khiên nghiệp chướng,
Nguyện
tiêu trừ không vướng món chi.
Tứ
không pháp giới năng tri,
Độ
toàn quần chúng, chẳng hề trở ngăn.
Chốn
hư không thế gian kia hết,
Nghiệp
não phiền muôn việc đều tiêu,
Mênh
mông bốn pháp bao nhiêu,
Con
xin hồi hướng cũng đều như nhau.
Nam
Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.
———————————
—
Trích xuất từ “Kinh Tam Bảo diễn nghĩa” do Tổ Huệ Đăng
diễn nghĩa – Tổ đình Thiên Thai Bà Rịa ấn hành –Thành
Hội Phật Giáo TP HCM xuất bản , 1994
—
Thể loại Sám tụng – Dùng trong nghi Sám Hối hồng danh mỗi
kỳ sóc vọng – Tụng sau khi lễ sám lạy Phật. Đây là bài
diễn nghĩa rất hay, có thể thay thế bài âm Hán.
236.
SÁM PHỔ ĐÀ
(Sám
tụng chư Bồ Tát 8)
Phụng
Tây Trúc, Phổ Đà lạc đạo,
Ngự
non châu, cửu khúc trùng trùng,
Thủy
giang tân, cúc nở nhụy bông,
Ve
réo rắt, đàn ngâm suối đá.
Quan
Âm Phật ngự non cung giá,
Động
Phổ Đà hữu cảnh vô biên,
Trên
thông reo gió mát tự nhiên,
Dưới
khe nước rồng chầu phụng múa.
Am
mây ửng áng hồng lồ lộ,
Mấy
thứ lá, nhụy nở hây hây,
Đào
đơm bông, cúc trổ thơm cây,
Nghe
văng vẳng tiếng người qua lại.
Trên
đức Phật từ bi quảng đại,
Dưới
rồng chầu phụng múa tiêu thiều,
Non
thiên thai, vàng chuộng báu yêu,
Cõi
Tây Trúc, Long ly chầu chực.
Lấy
san hô làm cột,
Dựng
hổ phách làm sườn,
Lược
đồi mồi làm ngói che sương,
Bông
sen nở làm thuyền Bát nhã.
Kết
hoa nọ xây cầu bỉ ngạn,
Bình
tịnh thủy rưới hoa Tây Hớn,
Nước
cam lồ dùng để cứu dân,
Máy
thiên địa giao lân,
Trời
có sanh có dưỡng.
Chuông
Linh Sơn, khai ngục thành Tây.
Trống
Bát Nhã, tựu đề phóng xả,
Điểm
thất tinh như Càn Long mã,
Hỗn
độn khai nhị thất tam cung,
Phân
Bát quái, lập đàn tứ trụ.
Án
Dà Ra Đế Hồng Rị toá ha.
Thỉnh
đức Quan Âm, đức Phật Thích Ca
Án
hồng rị thông hành tóa ha.
Nam
Mô Cứu khổ cứu nạn Linh cảm Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát
Ma Ha Tát.
———————————
—
Bản chép năm Kỷ Dậu (1969) của chùa Nhất Nguyên Bửu Tự
(Lái Thiêu) và Long Sơn Tự (Tân Ban, Tân Uyên) của bà Nguyễn
Thị Ní, PD Diệu Tâm lưu giữ. Tủ sách Giáo Đạo Như Tâm
tàng bản , Sài Gòn , 1996
—
Đối chiếu bổ sung với bản in trong “Kinh Nhật Tụng”
Chùa Đại Giác ấn hành, Sài Gòn , 1974
—
Chưa biết rõ xuất xứ.
237.
SÁM ĐỊA TẠNG
(Sám
tụng chư Bồ Tát 9)
Chúng
con nay dốc lòng thiền,
Lễ
ngài Địa Tạng hóa duyên Diêm phù.
Trung
Ngươn tháng bảy mùa thu,
Chúng
con nam nữ đồng tu cúng dường.
Cầu
ngài Địa Tạng Minh Vương,
Cứu
độ đệ tử xót thương cửu huyền.
Cùng
là phụ mẫu hiện tiền,
Sống
đặng khỏe mạnh, thác liền liên sanh.
Chúng
con một dạ chí thành,
Tụng
kinh lễ Phật, niệm danh hiệu ngài.
Nguyện
khi bỏ báo thân này,
Chẳng
sa ác đạo, bản lai tỏ tường.
Nam
Mô Địa Tạng Minh Vương,
Đại
nguyện Bồ Tát xót thương tam đồ.
Chúng
sanh chìm đắm huyết hồ,
Xin
ngài cứu độ, phát lồ ăn năn.
Xả
trừ nghiệp ác tiền căn,
Minh
châu, tích trượng phá tan ngục hình.
Độ
ra khỏi chốn u minh,
Khuyên
hồn niệm Phật tử sinh khỏi nàn.
Khỏi
nơi địa ngục khóc than,
Về
nơi Cực lạc sen vàng hóa thân.
Chúng
con sớm tối ân cần,
Lo
tu đền đáp bốn ân hiện tiền.
Ngày
đêm niệm Phật kết duyên,
Cầu
cho Thất tổ, cửu huyền siêu thăng.
Nguyện
cầu Địa Tạng phóng quang,
Từ
tâm dẫn lối cứu đoàn tội nhân.
Thoát
ra xa lánh dương trần,
Quy
y đầu Phật chuyên cần kệ kinh.
Tiêu
tan nghiệp chướng tiền khiên,
Hóa
sanh nước Phật nhơn thiên vui vầy.
Từ
bi đức quảng cao dày,
Tam
đồ bát nạn cầu ngài cứu cho.
Hễ
còn điạ ngục, còn lo,
Tội
nhơn chưa hết còn đò trợ duyên.
Đại
nguyện Bồ tát vô biên,
Tam
đồ chưa hết chưa riêng Niết bàn.
Nhân
mùa xá tội vong nhân,
Chúng
con cầu nguyện lục thân trượng thừa.
Oai
thần Địa Tạng dẫn đưa,
Về
nơi nẻo đạo sớm trưa tu hành.
Con
nay đảnh lễ chí thành,
Ngưỡng
mong Địa Tạng lòng lành chứng minh.
Cúi
xin Đại Thánh oai linh,
Hộ
trì đệ tử tâm bình an vui.
———————————
—
Bài soạn lại trong bài “Cầu siêu độ tháng bảy” của
phẩm 13 Kinh Địa Tạng diễn nghĩa – Kinh Nhật Tụng chùa
Đại Giác ấn hành , Sài Gòn , 1974
238.
SÁM THẬP BÁT QUAN ÂM
(Sám
tụng chư Bồ Tát 10)
Quan
Âm Bồ Tát đại từ bi,
Cứu
độ chúng sanh vô thượng kỳ,
Tả
thủ đề hồ cam lồ thủy,
Hữu
thủ cử thanh dương liễu chi.
Đảnh
thượng tải my Mâu Ni Phật,
Khẩu
trung thường niệm Đà La Ni,
Hữu
nhơn niệm đắc Quan Âm chú,
Hỏa
khanh hóa khán thanh lương trì.
Triêu
niệm Quan Thế Âm,
Mộ
niệm Quan Thế Âm,
Niệm
niệm tùng tâm khởi,
Niệm
Phật bất ly tâm.
Thiên
Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm,
Hương
Sơn Hội Thượng Quan Thế Âm,
Thiên
Trúc Linh Sơn Quan Thế Âm,
Phổ
Đà Sơn Thượng Quan Thế Âm,
Triều
Vân Động Lý Quan Thế Âm,
Nam
Hải Ngạn Biên Quan Thế Âm,
Bắc
Hải Hà Đầu Quan Thế Âm,
Tọa
Liên Tương Tử Quan Thế Âm,
Phong
Ba Lãng Tử Quan Thế Âm,
Bổn
Thảo Linh Sơn Quan Thế Âm,
Hoa
Hóa Ngư Long Quan Thế Âm,
Bạch
Y Tố Hiện Quan Thế Âm,
Tăng
Phước Minh Vương Quan Thế Âm,
Ngũ
Luân Pháp Thủy Quan Thế Âm,
Ngũ
Thập Tam Tham Quan Thế Âm,
Thất
Thập Nhị Nguyện Quan Thế Âm,
Tam
Thập Lục Nguyện Quan Thế Âm,
Tằêng
Tằêng Đạm Đạm Quan Thế Âm.
Hoặc
thị hạ giới cứu lương dân,
Hoặc
thị hư không vân lý hiện,
Hoặc
thị ngục trung cứu tội nhơn,
Hoặc
thị giang hà cứu tai nạn,
Hoặc
thị âm ty độ quỷ hồn,
Hoặc
thị phòng trung cứu sanh sản.
Tam
tai bát nạn câu ly khổ,
Tứ
sanh lục độ tức siêu sanh,
Thiên
La Thần, Địa La Thần,
Nhơn
ly nạn, nạn ly thân,
Nhứt
thiết tai ương hóa vi trần.
Hỏa
lâm thân, hỏa bất năng thiêu,
Thủy
lâm thân, thủy bất năng tiêu,
Hữu
nhơn đọc tụng Quan Âm chú,
Giáng
phước Diên thọ vĩnh mật miên.
–
Tam tai bát nạn nhứt tề tiêu,
Đại
Bi phổ thí, hóa thành vô lượng số,
Thất
liệp biến hà sa, tề biến mãn địa,
Phổ
thí thượng sơn, kỉnh đại bi đô cầu ẩm.
–
Ngã Phật khởi lai phát Quan Âm,
Thiên
ngôn vạn ngữ khuyến nhơn tâm,
Nhơn
tâm khuyến thượng thông thiên bửu.
Tiền
thế oan nghiệp tốc hội vô.
Chúng
sanh chỉ vọng thanh vân lộ,
Tiếp
dẫn chúng sanh xuất thế trần.
–
Niệm Phật tảo trần ai,
Tâm
hoa tự nhiên thai,
Bạch
vân phân tán tân,
Nhật
nguyệt chiếu trung đài.
Nam
Mô Thập Bát Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
———————————
—
Trích trong “Nghi thức tụng niệm” Chùa Đại Giác ấn hành
– Sài Gòn, 1974
—
Không rõ trước tác.
239.
SÁM GIÀ LAM
(Sám
tụng chư Bồ Tát 11)
Đức
Già Lam đắc thành chánh quả,
Tiếng
trung cang thấu cả tam thiên,
Làm
người trung nghĩa nhân hiền,
Gồm
đủ trí dũng tự nhiên tánh trời.
Ngài
sanh ra nhằm đời Tam Quốc,
Ngụy,
Thục, Ngô phân cuộc tranh hùng,
Quyết
lòng dẹp kẻ bất trung,
Lưu,
Trương kết nghĩa tại trong vườn đào.
Tôn
Lưu Bị đứng vào huynh trưởng,
Trương
Phi ba thứ nhượng cho ngài,
Lòng
trung nghĩa có một không hai,
Tánh
danh Quan Võ, tự khai Vân Trường.
Dẹp
Huỳnh Cân, thần thương hiển lộng,
Oai
tam anh chấn động biên cương,
Trải
bao năm tháng chiến trường,
Một
lòng trung nghĩa vấn vương Lưu Hoàng.
Phò
nhị tẩu chạy sang nước Ngụy,
Tào
A Man lập trí thử ngài,
Ngày
thường ba bữa yến bày,
Đêm
thời để ở cùng hai chị hiền.
Khí
trung nghĩa kiền khôn bao khắp,
Cứ
mỗi đêm ngài thắp đại đăng,
Trước
sân thường giữ nghĩa hằng,
Quì
hầu hai chị nói năng đàng hoàng.
Biết
lòng ngài đoan trang đáng quí,
Nên
Tào Man trọng ý, phục ngài,
Nghe
tin Hoàng Thúc an bài,
Không
kịp từ giã, thưa hai chị tường.
Phò
nhị tẩu lên đường theo chúa,
Quá
ngũ quan giết thửa tướng Tào,
Sáu
viên đại tướng anh hào,
Long
đao thử sức máu trào hồn qui.
Tiếng
anh hùng truyền đi khắp xứ,
Hớn
Đình Hầu dũng tựa thiên thần,
Lập
đoan trấn giữ Hoa Dung,
Liều
thân trả nghĩa Tào Công những ngày.
Lúc
ở Ngụy, Tháo bày ân trọng,
Khi
ra đi chẳng động, bào dâng,
Trọn
đời trung nghĩa chánh chơn,
Tới
khi mạt vận, công phần Lữ Mông.
Ngài
hiển thần thong dong khắp chốn,
Kêu
hoàn đầu thương tổn lại ta,
Gặp
Sư Phổ Tịnh phân hòa,
Đem
thuyết nhân quả giải qua cho ngài.
Khuyên
mau mau kim giai quy Phật,
Về
Niết bàn mới thật thảnh thơi,
Tỉnh
tâm ngài liền nghe lời,
Ở
luôn trên núi quyết thời lo tu.
Chẳng
bao lâu công phu viên mãn,
Đức
Ngọc Hoàng truyền phán phong ngài,
Quan
Thánh Đế Quân thiên nhai,
Già
Lam Thánh chúng phẩm bài Phật gia.
Trung
nghĩa vốn sẵn là bổn tánh,
Thường
thẳng ngay phò chánh diệt tà,
Vân
du khắp cõi Ta bà,
Ai
hành Thập thiện tức là độ ngay.
Cứu
chúng sanh hằng ngày tu tập,
Hộ
Già Lam độ khắp chùa chiền,
Công
đầy, quả đủ nhơn duyên,
Phò
trì chánh pháp cửa thiền Già Lam.
Nam
Mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát.
—————————————
—
Trích từ “Nghi Thức Tụng Niệm” , Tr. 360-362 , Niết
Bàn Tịnh Xá ấn hành , Vũng Tàu , 1974
—
Đây chỉ là một trong những thuyết về các vị Hộ Pháp
Già Lam. Bài đây ứng dụng cho những người có thờ thêm
Quan Thánh Đế Quân lẫn thờ Phật, theo Tam Giáo của Trung
Quốc đọc tụng chúc tán mỗi nửa tháng theo nghi thức chúc
Thánh.
—
Có nơi thờ Già Lam Hộ Pháp là ngài Vi Công hay Vi Đà Thiên,
ở miền Bắc Việt Nam thì lại thờ Hộ Pháp là Chúa Trịnh
Sâm (chú thích của người biên soạn).
240.
SÁM VĂN KỶ NIỆM PHẬT XUẤT GIA
(Sám
tụng Phật xuất gia II)
Chiêu
Đề
Đêm
nay mồng tám tháng hai,
Chúng
con kính nguyện trước đài Liên hoa.
Nhớ
về ngày Phật xuất gia,
Bước
chân thoát tục thăng hoa cõi trần.
Thuở
còn Thái tử cung son,
Bốn
mùa hoa đẹp quả ngon quanh mình.
Nhưng
vì muốn hiểu sự tình,
Ngài
cùng Xa Nặc dạo nhìn thế gian.
Thì
ra muôn khổ ngập tràn,
Ngoại
thành bốn cửa bàng hoàng tâm tư.
Kiếp
người lão bệnh nào từ,
Tử
sanh nào thoát, huyễn hư cuộc đời.
Thấy
người đạo sĩ thảnh thơi,
Ngài
nhìn phong cách thoát đời hiện ra.
Chợt
trong tiềm thức sâu xa,
Nở
bừng ý nghĩ xuất gia học cầu.
Quay
về trầm mặc canh thâu,
Cảm
thương nhân thế khổ sầu trầm luân.
Bèn
đem chí nguyện xuất trần,
Tâu
cùng vương phụ con đường quyết đi.
Phụ
hoàng nào nỡ chia ly,
Giang
sơn cung các ai thì nối ngôi?
Ép
ngài cưới vợ thuận đời,
Gia
Du công chúa vẹn mười sắc son,
Những
đem hạnh phúc vuông tròn,
Mong
cho Thái tử không còn sầu ưu.
Nghĩ
câu hiếu thuận làm đầu,
Thế
tình sinh hạ La Hầu giữ ngôi.
Quyết
lòng giác ngộ mà thôi,
Chờ
nhân duyên đủ đến hồi ra đi.
Một
đêm trăng khuyết canh nhì,
Quan
quân say giấc thành trì vắng im.
Vợ
con mê ngủ đắm chìm,
Lặng
nhìn từ giã im lìm ra đi.
Lên
đường với vó ngựa phi,
Vượt
thành, Kiền Trắc xá chi đêm trường.
Chư
Thiên dẫn lối cầm cương,
Quốc
thành dần khuất chẳng vương vấn lòng.
Ánh
trăng vằng vặc trên không,
Soi
hình Thái tử băng sông vượt ngàn.
A
Nô Ma sóng cuộn tràn,
Tiễn
chân Thái tử xuất trần đi tu.
Bình
minh còn đẫm sương mù,
Dừng
chân xuống ngựa bên bờ suối quanh.
Rút
gươm cắt mái tóc xanh,
Trao
cho Xa Nặc dặn rành tâu vua.
Ta
xin lỗi đạo kế thừa,
Đi
tìm chân lý gió mưa không sờn.
Rừng
sâu chiếc bóng đơn phương,
Thợ
săn đổi áo, con đường viễn du.
Học
cầu bao bạn đồng tu,
Hành
thân ép xác dãi dầu tháng năm.
Vẫn
không sáng tỏ mê lầm,
Làm
sao giải thoát thăng trầm chúng sanh?
Ngài
bèn bỏ hạnh khổ mình,
Giã
từ năm bạn đồng hành đi riêng.
Đến
sông tên gọi Ni Liên,
Tắm
xong, thọ bát sữa chiên mục đồng.
Sắc
thân trí lực sáng bừng,
Bồ
đề trải cỏ bên sông phát thề.
Nếu
không chứng đạo giác mê,
Sẽ
không rời gốc Bồ đề một phân !
Chúng
con Phật tử trong trần,
Hôm
nay nhắc tích bội phần cảm cung.
Xuất
gia sử Phật bi hùng,
Đã
là con Phật phải cùng nhớ ghi
Học
đòi giác ngộ từ bi,
Để
mong giải thoát tham si não phiền.
Trước
đài kính tỏ niềm riêng,
Tinh
cần niệm Phật, tham thiền, tụng kinh.
Ước
mong nguyện lực độ sinh,
Gia
trì đệ tử vô minh sớm trừ.
Noi
theo pháp hạnh Phật từ,
Đời
đời nguyện lấy chân như làm nhà.
Nhớ
ngày vía Phật xuất gia,
Chúng
con đảnh lễ Thích Ca cha lành.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(10
lần).
———————————
—
Bài do Chiêu Đề Tăng biên soạn nhân ngày kỷ niệm Phật
xuất gia PL 2541 , chùa Xá Lợi , Tp. HCM , 1998
241.
SÁM VĂN KỶ NIỆM PHẬT THÀNH ĐẠO
(Sám
tụng Phật thành đạo 3)
Thấu
chân tướng huyền vi tạo hóa,
Ngộ
lẽ đời đắc quả đạo vàng,
Bừng
lên ánh sáng dương quang,
Đuổi
mây sinh tử, vẹt màn vô minh.
Thuyền
đại ngộ cứu tinh phàm tục,
Đưa
nhơn sanh khỏi khúc sông mê,
Hôm
nay kỷ niệm nhớ về,
Mừng
ngày Thành Đạo Bồ Đề nhớ ơn.
Người
Đại Sĩ Tuyết Sơn khai sáng,
Đạo
chân như chói rạng độ đời,
Rừng
già tu luyện làm nơi,
Sáu
năm tìm đạo lắm hồi gian truân.
Sương
tuyết gội lạnh lùng lao khổ,
Mè
bắp ăn tạm đỡ nuôi thân,
Ngày
kia sức lực suy dần,
Nghĩ
rằng ta phải uống ăn đủ đầy.
Và
bỗng thấy có người thí chủ,
Su
Già Ta dâng sữa cúng dường,
Ngài
liền thọ dụng đỡ lòng,
Rồi
ra tắm gội nơi sông Liên Thiền.
Nhờ
thọ thực Ngài liền hồi sức,
Cội
Bồ đề thệ quyết khắc ghi,
Nếu
không đắc đạo thời này,
Nơi
đây ta nguyện chẳng khi nào rời.
Bồ
đề tòa là nơi nhập định,
Suốt
thời gian bốn chín ngày đêm,
Giặc
đâu đủ thứ tràn lên,
Nội
tâm phiền não, tham, sân khôn lường.
Ngoại
cảnh có ma vương quấy nhiễu,
Ma
nữ bày vũ điệu nguyệt hoa,
Ngài
dùng định huệ bao la,
Đánh
tan các giặc ác tà khen thay!
Rồi
tháng chạp rạng ngày mồng tám,
Khi
nền trời ló rạng sao mai,
Tam
minh pháp tánh hiện bày,
Lạ
thay Phật tại tâm đây rành rành!
Bậc
chánh giác quần sanh độ khắp,
Thương
muôn loài diệu pháp truyền ban,
Sáu
đường ba cõi thoát nàn,
Nhờ
từ quang Phật huy hoàng khắp nơi.
Thích
Ca Thành Đạo độ đời,
Chúng
con kỷ niệm một thời sám văn.
———————————
—
Trích soạn lại từ bài “Ánh Quang Minh ngày Thành Đạo”,
tác giả Diệu Tâm, đăng trong Đặêc San Hoằng Pháp số 6,
tr.82, PL 2518-1974 do Tổng vụ Hoằng Pháp chùa Ấn Quang ấn
hành.
242.
SÁM TÒNG LÂM
(Sách
tấn tu tập 11)
Trước
Tam Bảo cúi đầu khẩn nguyện,
Mộng
tòng lâm nung luyện mơ màng,
Chúng
con trì giới tịnh an,
Nương
nhờ công đức đạo tràng chỉnh tu.
Khắp
một vòng ngao du cõi Thánh,
Nét
đơn thành như sách như in,
Tòng
lâm cảnh giới đẹp xinh,
Hợp
thành một vẻ lung linh nhiệm mầu.
Giọng
thanh âm mấy câu vận chuyển,
Tiếng
chuông vàng như nguyện như thâu,
Đưa
người vượt cảnh khổ sầu,
Thẳng
lên bờ giác qua cầu tịnh thanh.
Mong
ơn Phật lòng lành tiếp độ,
Khiến
lòng con giác ngộ uyên thâm,
Rừng
thiền cổ thụ ngàn năm,
Cội
to, tán rộng, bóng thâm đượm nhuần.
Hoa
trái nọ tượng trưng nhơn quả,
Nghiệp
duyên kia vay trả khôn lường,
Tòng
Lâm một cảnh chủ trương,
Nhân
tài lão luyện cùng đường thanh tu.
Theo
thứ bậc, cần cù luân chuyển,
Thẳng
qua đò tiến triển nhiều năm,
Lần
lên cảnh giới thậm thâm,
Chúng
con một dạ một tâm chí thành.
Dầu
bao độ biến sanh chơn vọng,
Mầm
Bồ đề hạt giống còn tươi,
Vẹn
tròn đạo quả mấy mươi,
Chúng
con hết nghiệp, mỉm cười thảnh thơi.
Thung
dung chí cả độ đời,
Tòng
lâm ban rãi cho người tình thương.
Nguyện
cùng chư Phật mười phương,
Chứng
minh đệ tử thừa đương hành trì.
Trải
lòng mở đạo từ bi,
Chỉ
cho nhân thế đường đi về nguồn.
———————————
—
Trích soạn theo bài sám cùng tên của Sa Môn Thích Thiện Huê
, chùa Đại Giác ấn hành , Sài Gòn , 1974
243.
SÁM KHỂ THỦ QUI Y PHỔ AM SƯ
(Sám
tụng chư Bồ Tát 12)
Nam
Hải Quan Âm hóa hiện thân,
Long
Thọ đắc đạo truyền chánh pháp,
Thiên
Long nham nội giảng Hoa Nghiêm,
Định
quan sát tiên truyền mật ngữ.
Từ
hóa khai sơn cứu độ nhơn,
Khẩn
Na La vương hiện thần thông,
Hổ
Giá La vương trấn oai linh,
Ngũ
thông đắc đạo thần tiên chúng.
Thích
Chi, La Hớn tổng lai lâm,
Thiên
Bồng, Thiên Hiến đại nguyên soái,
Tâm
Đàn hốt hoả đại tướng quân,
Tứ
thiên môn vương, tứ yết đế.
Nhị
thập tứ vị chư thiên binh,
Vô
số Thiên Long, Bát bộ chúng,
Bá
vạn quá thử Kim Cang thần,
Đô
Thiên lục tý Tôn vương Phật.
An
ninh Đức thắng đại chơn quân,
Hộ
Pháp, Quan Thánh đại thiền sư,
Long
Hổ nhị thiên tả hữu phân,
Lăng
Nghiêm hội thượng Phật Bồ Tát.
Đại
bi, Lăng Nghiêm, Dược xoa thần,
Phục
quỉ thâu ma chư thiên tướng,
Tác
hải vi sơn tứ mục quan,
Tiên
truyền hậu giáo chư Phật Tổ.
Điển
mẫu, Lôi công thích lịch thần,
Thiên,
Long nham nội hàng ma tướng,
Tế
thế tham trì nhứt bộ hành,
Trì
xa kình sử đà thiết tả.
Tràng
phan sanh tuyết chỉnh như vân.
Động
diệu, Kim Linh sơn nhạc chấn,
Tận
giai vân tập sào yên khí,
Chư
quỉ hiện hình đầu phấn tý.
Hắc
thinh biến hóa nhập vi trần,
Chư
thượng thiện nhơn cư vân tập,
Tiên
truyền hậu quá cập tiền thân,
Văn
kinh phúng tụng thích đàmchương.
Vũ
ủng Vân phi giáng đạo trường,
Chí
tâm xưng niệm vô tà tưởng,
Thiên
hạ tà thân bất cảm đương,
Hoặc
dạ hành hề, hoặc tảo khứ.
Sơn
Lâm vọng lượng hữu tinh mị,
Chí
tâm qui y Phổ Am sư,
Tứ
hải Long thần lai hộ vệ,
Hổ
lang văn tri bôn cao sơn.
Long
ngư, thính trước qui hải thủy,
Phá
tháp miễu đàn vô đạo nhơn,
Khê
động nham thai thạch ải quỉ,
Xà
thương hổ giảo trùng độc hại.
Lạc
thủy đọa thai tinh tự ái,
Ỷ
thảo phụ thọ mộc thạch tinh,
Bất
chánh tà thần nan hồi tỵ,
Nhược
bất thuận ngộ đại đạo tâm.
Thiên
Long Thích Lịch dữ phấn tý,
Năng
cứu nhơn gian bát nạn khổ,
Năng
giải nhơn gian sanh tử uế,
Thập
sanh cửu hữu bệnh nhơn hôn.
Năng
niệm chơn ngôn trì tịnh thủy,
Đà
La Ni chú giải oan gia,
Đại
bi thần chú năng an húy,
Thành
Hoàng xả lịnh Thổ địa thần.
Ủng
hộ tham trì thính như sử,
Ngũ
phương tà khí tận tiêu trừ,
Tử
giả hoàn hồn tăng phước huệ,
Thần
hôn phúng tụng thích đàm chương.
Phật
đạo quan việt an thần vị,
Gia
đường trừ táo tất an ninh,
Thổ
địa Long thần vô cấm kỵ,
Tổ
tiên tam đại cập nhơn thân.
Văn
thinh tân đắc siêu thăng lộ,
Thiên
tinh địa vị các hội cung,
Tiêu
tai giáng phước bất tư nghì,
Duy
nguyện Cổ Phật giáng lai lâm.
Tức
thuyết thích đàm chơn cứu khổ,
Phổ
Am Đại đức Thiền sư chơn chú.
Nam
Mô Phổ Am Tổ Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.
———————————
—
Trích xuất từ “Nghi Thức Tụng Niệm” tr.334-338 , chùa Niệm
Phật , Bình Dương , 1974
—
Đây là bài sám tụng tán thán chú Phổ Am, tụng trước khi
vào chú, giống như chú Lăng Nghiêm, cũng có bài sám thỉnh
và năm đệ chú, ít phổ biến trong Phật tử. Bài nầy chỉ
dùng cho các đàn tràng, lễ hội trai đàn có lễ sái đàn,
do các chư Tăng chuyên gia trì, hoặc các vị bên ứng phú đạo
tràng (thầy cúng) dùng làm nghi sái đàn cho thanh tịnh trước
khi gia trì tụng niệm.
—
Đây là bài theo thể loại sám tụng và sám tán, vì khi sử
dụng có cả lễ nhạc hòa theo. Nếu là ở đàn tràng bình
thường không có lễ nhạc thì sám tụng chậm rãi theo nhịp
mõ hòa chúng.
—
Sao lục bài sám này, người biên tập chỉ có mục đích làm
tư liệu tham khảo trong nhóm sám văn âm chữ Hán. Vì bài chỉ
sử dụng cho những vị hành nghi mà thôi, không phải là bài
sám phổ biến rộng rãi cho cư sĩ Phật tử đọc tụng.
—
Nguyên tác của Ngài Phổ Am Tổ sư, một vị Mật Giáo Bồ
Tát ở Tây Tạng hay Trung Quốc chưa rõ xuất xứ. Chú Phổ
Am theo chân các vị sư Trung Quốc du nhập vào Việt Nam khoảng
thế kỷ XVI.
244.
SÁM VĂN THÍ PHÁT XUẤT GIA (II)
(Sám
phát nguyện 29)
Lễ
thí phát xuất gia cắt tóc,
Ra
khỏi vòng lăn lóc trần gian,
Nương
về theo ánh đạo vàng,
Lo
tu giải thoát khỏi đàng trần ai.
Cảnh
trần thế hết vay rồi trả,
Trả
rồi vay nhân quả luân hồi,
Bánh
xe cứ mãi lăn nhồi,
Trầm
luân biển nghiệp hụp trồi khổ đau.
Nay
thức tỉnh mau mau trở lại,
Tìm
con đường chánh đại mà đi,
Noi
gương các đấng Từ bi,
Xả
thân cầu đạo chẳng vì tiếc tham.
Tóc
phủi sạch không làm ác nữa,
Bợn
nhơ lòng quyết rửa từ nay,
Tam
tâm, tứ tướng diệt ngay,
Thất
tình, lục dục hôm nay quyết chừa.
Ngày
một ngọ muối dưa đạm bạc,
Chỉ
tam y nhứt bát tuỳ thân,
Đói
no, cực khổ chẳng cần,
Miễn
sao tâm trí được phần cao siêu.
Tóc
đoạn phủi dứt tiêu oan nghiệp,
Kể
từ nay thoát kiếp đoạ đày,
Nương
về cõi Phật cao ngai,
Noi
theo đuốc tuệ của ngài Thích Ca.
Gương
thuở trước ngài ra tầm đạo,
Tự
cầm gươm phủi cạo tóc xanh,
Con
thơ vợ đẹp cam đành,
Đại
hùng gươm tuệ tơ mành đoạn xong.
Cắt
tóc rồi hư không nhắm liệng,
Ngài
phát lời thệ nguyện như vầy :
“Dầu
cho rã nát thân này,
Nếu
chưa thành đạo chưa quay trở về !”
Tâm
đại lực Bồ đề kiên cố,
Chí
đại hùng nguyện độ chúng sanh,
Sáu
năm khổ hạnh tu hành,
Thoát
ra khỏi chốn tử sanh luân hồi.
Tu
đắc quả vào ngôi chánh giác,
Chỉ
con đường giải thoát cho ta,
Noi
gương hạnh nguyện Thích Ca,
Dầu
cho gặp phải oan gia chớ sờn.
Thà
chết sạch còn hơn sống đục,
Mê
mết chi chui rúc trong trần,
Làm
sao tránh khỏi tử thần,
Làm
sao tránh khỏi xoay vần oan khiên.
Nay
hữu phước đa duyên hội ngộ,
Gặp
thuyền từ tế độ đưa sang,
Lên
bờ bỉ ngạn Tây phang,
Tiêu
diêu tự tại thanh nhàn vĩnh miên.
Nay
giới tử Phật tiền thí phát,
Nguyện
một lòng dầu thác chẳng phai.
Đời
đời kiếp kiếp hậu lai,
Noi
gương theo dấu của ngài Thích Ca.
Tu
giải thoát xa lìa cảnh tục,
Diệt
hết tiêu lòng dục, tánh phàm,
Những
điều ưa chuộng mến ham,
Thân
tâm rửa sạch, già lam dựa kề.
Tu
chứng đắc Bồ đề Phật quả,
Y
theo đà đức cả Như Lai,
Hôm
nay thiết lập đàn trai,
Lễ
nầy thí phát cũng ngày ly thân,
Nhờ
Tam Bảo ban ân nhỏ phúc,
Những
người tu thoát tục ly trần,
Tu
cho trọn vẻ muôn phần,
Tây
phương cõi Phật kề gần Thích Ca.
———————————
—
Trích “Kinh Nhật Tụng” Hệ phái Khất sĩ , Thành Hội Phật
Giáo Tp. HCM ấn hành , 1984
—
Bài sử dụng cho lễ thí phát của người xuất gia tu hành
dứt khoát không để tóc lại.
245.
UY NGHI TẠI GIA
(Sách
tấn tu tập 12)
Tổ
Tuệ Tạng
Uy
nghi phép dạy nhiệm mầu,
Trong
kinh lược chép mấy câu để truyền.
Tại
gia những bậc người hiền,
Đã
quy Tam Bảo phải chuyên giữ mà.
Một
là hiếu thuận ở nhà,
Tổ
tiên, cha mẹ, ông bà mọi ngôi.
Hiện
còn hiếu thảo dưỡng nuôi,
Sáng
thăm tối định, vâng lời thừa hoan.
Ở
sao đạo hiếu hoàn toàn,
Ấy
là chư Phật hỷ hoan hộ trì.
Hoặc
khi người đã mất đi,
Dốc
thành tôn kính tụng trì kệ kinh.
Mong
cho sớm được siêu sinh,
Báo
đền tính chút công trình dưỡng nuôi.
Kìa
ai sẵn có hai ngôi,
Ở
nhà cha mẹ đôi người rất thân.
Đấy
là vị Phật riêng phần,
Ai
mà thờ được ắt gần Như Lai.
Đây
là lời Phật dạy đời,
Trong
nhà sẵn có hai ngôi Phật đà.
Ai
hay thờ đó được a,
Cũng
là Di Lặc, Thích Ca khác nào !
Đi
về kính cẩn hỏi chào,
Của
ngon vật lạ tơ hào dâng thân.
Phải
coi hơn bậc Thánh Thần,
Mới
là trọn đạo nhân luân ở đời.
Cô,
dì, bác, chú mọi người,
Chồng
cô, cậu, mợ cùng nơi chồng dì.
Cũng
đều tôn trọnh kính vì,
Không
nên sếch mếch thất nghi kia mà.
Anh,
em, trai rể một nhà,
Gái,
dâu, em, chị cùng là họ đương.
Phải
nên trên kính dưới nhường,
Lại
còn con cháu thương yêu chẳng nề.
Cho
ăn cho mặc vỗ về,
Bảo
ban dạy dỗ mọi nghề cho hay.
Lại
còn tin kính bạn thầy,
Láng
giềng, làng nước hết nay trung thành.
Ruộng
làm bờ phải nhượng canh,
Đường
đi tránh bước để dành người đi.
Ấy
là cõi tục uy nghi,
Thứ
hai lại tỏ phụng trì Tam tôn.
Ở
nhà chu đáo mọi môn,
Chánh
tín Tam Bảo để vun gốc lành.
Tới
chùa lễ Phật nghe kinh,
Chào
Sư hỏi bạn để sinh phúc dầy.
Hương
hoa nến sáp dâng nay,
Cùng
là quả phẩm kính bầy trang nghiêm.
Còn
như vàng mã đừng đem,
Các
đồ rượu thịt chớ kèm lẫn đưa.
Tỏi
hành kia cũng phải chừa,
Thức
gì Hiền Thánh không ưa chớ dùng.
Áo
xiêm nghiêm chỉnh thung dung,
Dép
giày không sạch chớ xông bước vào.
Lễ
thời nên tránh tòa cao,
Những
nơi Tăng lễ đừng trèo lễ chung.
Thắp
hương đừng có quá xông,
Một
ba năm nén đủ dùng tôn nghiêm.
Lễ
là trọng đức Thánh hiền,
Lễ
xa thêm phúc đừng nên chen người.
Nón
gậy xe đạp mọi loài,
Tường
chùa điện Phật chớ bầy dựa kia.
Tinh
thành lòng giữ chớ lìa,
Chuyện
trò nhảm nhí mọi bề phải im.
Chu
chuân thành kính một niềm,
Ăn
trầu nhổ bã phải tìm nơi xa.
Không
nên vứt bỏ rác ra,
Kẻo
mà tổn phúc nữa đà người chê.
Lại
còn lễ bái một khi,
Chiếu
mình tự trải, chớ hề sai ai.
Lễ
xong thu cất hẳn hoi,
Đấy
là công đức trau giồi phần ta.
Những
người đệ tử Phật đà,
Tăng
Ni khi gặp trước ta phải chào.
A
Di Đà Phật một điều,
Chắp
tay một vái tỏ nêu kính thành.
Hoặc
khi hỏi đạo tu hành,
Cúi
đầu một lễ tùy tình chiềng thưa.
Rạch
ròi bầy tỏ mối ngờ,
Hễ
người chỉ bảo lặng tờ lòng nghe.
Phép
mầu ghi nhớ mọi bề,
Nghe
xong niệm Phật chào về đoan trang.
Hoặc
khi xin lễ cầu an,
Hay
là siêu tiến trai đàn mọi nghi.
Tùy
tình lượng sức của gì
Không
nên đo đắn như nghề bán buôn.
Lại
thêm gây mối tội nguồn,
Phúc
kia đâu hưởng vạ luôn chịu liền.
Chỉ
nên thành kính một nguyền,
Lượng
nghi lễ đó bao tiền đủ xong.
Kính
tin Tam Bảo một lòng,
Phóng
sanh, bố thí bao dong việc lành.
Của
dâng Phật, cúng vong linh,
Trai
nghi lễ phẩm tinh thành mới hay.
Đã
vì vong giả làm chay,
Đừng
dùng rượu thịt thức này thức kia.
Kẻo
mà tội lỗi khó lìa,
Lại
thêm bận đến vong kia đó mà.
Lại
còn cúng thí Tăng già,
Phải
nên định trước của là bao nhiêu.
Tùy
lòng cúng được ít nhiều,
Không
nên xong việc tạ theo lối đời.
Rành
rành Phật đã dạy lời,
Vì
người thuyết pháp sau rồi mới cho.
Không
nên nhận của đó ư,
Nhận
là bán Phật tội trừ được đâu.
Người
cho người lấy của nhau,
Của
kia tà mệnh lại hầu lỗi thêm.
Chỉ
nên chánh tín một niềm,
Đều
vì vong giả làm duyên phúc lành.
Lại
còn những sự phải minh,
Ta
là đệ tử trung thành Phật gia.
Phải
là cẩn thận nết na,
Đem
gương năm giới để mà noi theo.
Không
nên tin nhảm những điều,
Ông
đồng bà cốt nói liều nói quanh.
Lại
còn kẻ giả tu hành,
Mượn
mầu Phật pháp mưu sinh đó mà.
Người
kia ta phải tránh xa,
Đừng
nên thân cận nữa đà uổng công.
Còn
người rượu thịt nói dông,
Thuốc
phiện, cờ bạc, đắm vòng trần duyên.
Làm
cho nhục nhã cửa thuyền,
Thấy
ai ta phải can liền mới hay.
Đã
là chung học một thầy ;
Người
kia đã dở ta nay vui nào ?
Đừng
nên theo ý xui vào,
Đừng
nên cho của thêm trao tội tình.
Đừng
nên thấy sự làm thinh,
Phải
đem chân chính lòng thành khuyên ngăn.
Để
chung hưởng phúc biền-trăn,
Khắp
nguyền ai cũng thiện căn dồi dào.
Cùng
lên chính giác ngàn cao,
Cùng
thành Phật đạo cùng vào chân như.
———————————
—
Bài sám tụng này của Tổ Tuệ Tạng, Chùa Vọng Cung soạn
năm Quí Tỵ 1958–PL.2497. In trong quyển “Phật tử tại gia
tu hành thường thức” – Nhà in Đuốc Tuệ. Hà Nội, 1958.