PHẦN
V
CÁC
BÀI SÁM VĂN CẢNH TỈNH - KHUYẾN TU
209.
Sám Vô Thường
210.
Văn Tế Liệt Sĩ
211.
Văn Tế Cô Hồn
212.
Hồi Hướng Tế Văn
213.
Kệ Khuyên Đừng Sát Sanh
214.
Sám Văn Sự Tích Hi Thị - Chí Công
215.
Thiền Cơ Yếu Ngữ Văn
216.
Giới Hành Đồng Tử Văn
217.
Hoán Tỉnh Trần Tâm Khuyến Tu Tịnh Độ Văn
218.
Sám Hối Tâm Hướng Thiện
219.
Tiêu Tự Thần Chung
220.
Bát Nhã Tâm Kinh (IV)
209.
SÁM VÔ THƯỜNG (II)
(Cảnh
tỉnh vô thường 8)
Thế
gian giả tạm bến mê
Thành
tâm hướng tới nẻo về đường chơn
Cuộc
đời cõi mộng chi hơn
Người
trong nhân thế oán hờn tranh nhau
Dòng
đời lắm nỗi lao xao
Đâu
là bền chắc, có nào chi đâu ?
Sống
thì ngụp lặn vọng cầu
Tâm
kia điên đảo, mối đầu trầm luân
Tham
sân si nặng vác khuân
Thế
nên tâm tánh trôi lăn đêm ngày !
Từ
thương đến giận ai hay
Từ
yêu đến ghét tháng ngày đa mang
Từ
buồn đến muốn lầm than
Đeo
mang cho lắm con đàng sầu thương !
Đấy
là tâm vọng đâu thường
Tâm
duyên trần cảnh là đường khổ đau
Tâm
nầy không thật mảy hào
Cho
nên biến đổi khi nào dứt đâu ?
Thân
ta ví một con tàu
Luôn
thay đổi bến chẳng lâu ở thường
Khi
thì nóng sốt khổ vương
Khi
thì lạnh rét tai ương đeo hoài !
Lão
sanh tử bệnh đổi thay
Thọ
thân là khổ nơi này trần gian
Có
đâu bền chắc mà màng
Se
sua thân xác theo đàng lụy thôi !
Trau
tria cho lắm để rồi
Vô
thường chợt đến mà lôi ra gò !
Vô
thường hai chữ nhớ cho
Có
chi bền chắc mà đo với lường
Cảnh
đời cũng phải vô thường
Mọi
loài mọi vật có dường bền lâu ?
Thế
nên phải dứt vọng cầu
Gắng
lòng tụng niệm đạo mầu bước lên
Để
tạo phước báo thiện duyên
Ngày
sau sẽ hưởng vượt lên cõi trần
Đừng
say ngũ dục ấm thân
Lầm
mê trần thế, đắc phần tội mang
Ai
ai thức tỉnh thế gian
Vô
thường quỉ bắt, biết đàng nào đi ?
Thân
tâm hoàn cảnh bủa vây
Nghiệp
mang lửa đốt, do đầy lầm mê
Ai
ơi lòng hướng cầu về
Nương
theo chánh đạo một bề tu thân
Tử
sanh khổ ải muôn phần
Vô thường phải sợ chuyên cần tu tâm
Khổ
công giáo lý nghiêm tầm
Tâm
kia bền vững đừng lầm đường mê
Đó
là giác ngộ đường về
Ai
ơi nhớ lấy chớ mê cảnh trần.
- Trích
soạn lại theo "Phật học sám kệ" - Thiích Tâm Minh - Bản
in lụa Sàigòn 1994.
210.
VĂN TẾ LIỆT SĨ
(Thí
thực cô hồn 10)
Hỡi
chư Liệt sĩ ôi !
Họa
đao binh từng đốt nung đất Việt
Nạn
xâm lăng đã giày xéo trời Nam
Phận
làm trai, đành gánh vác nợ non sông
Người
chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt
Nhớ
những anh hùng xưa !
Vì
chánh nghĩa, mất còn nào tiếc
Rửa
nhục chung, sống chết đâu màng
Chốn
sa tràng, trải mật phơi gan
Nơi
chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết
Gió
đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết
Núi
xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương
Màn
trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương
Vó
ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt
Vì
nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến
Thương
nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng
Đạn
nổ súng rền, gió hơi bom,
long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .
Cờ
phất còi reo, tiếng trống dục,
chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.
Dưới
làn bom, thịt nát xương tan,
Đành ngã gục không hề khuất tiếc.
Trước
mũi súng, ruột tuông máu đổ,
cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.
Người
chiến sĩ, đền xong nợ nước,
trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.
Đấng
anh hùng, rửa sạch nhục chung,
đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.
Than
ôi !
Vì
nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.
Xả
thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang
Cảm
thương người, tai nạn tràn lan
Thương
xót kẻ, uổng oan mất tích
Nhờ
đức Phật độ về cõi tịnh
Nương
tiếng Kinh thoát kiếp đao binh
Nơi
dạ đài, người tử si có linh
Nương
thể phách, về trai đàn chứng giám
Hỡi
ơi ! Thương thay !
Có
linh xin chứng ! Có linh xin chứng !
- Trích
soạn "Kinh Nhựt tụng" - Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.
211.
VĂN TẾ CÔ HỒN (II)
(Thí
thực cô hồn 11)
Từng
nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê
Cõi
nhơn gian thủy lục ê chề
Nỗi
hồn phách tử vong ngao ngán
Trên
đến bực vương hầu khanh tướng
Dưới
đến người sĩ cổ nông công
Nào
kẻ ty, nào người tôn
Nào
là nam, nào là nữ
Hoặc
có kẻ buộc mình trong linh ngữ
Hoặc
có người sẩy bước chốn sa tràng
Hoặc
sa hầm sa hang
Hoặc
trúng thang trúng dược
Đau
ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn
Hoặc
nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm
Phép
vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều
Nhiều
đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết
Kìa
nương dựa, mả mồ đà mất biệt,
Nào
từ đường, nơi chỗ có chi chi
Bơ
vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển
Khổ
nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,
Biết
mấy thu lạnh nắng đổi thay
Chẳng
bốn mùa nào kẻ lạc trai
Mãn
tám tiết vắng người đơm quảy
Rầu
rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu
Mù
mù mịch mịch, đường xuất lý mảng đợi trông ngày tháng
Hội
vô giá may vừa gặp khoản,
Nương
theo công bí mật hôm nay
Này
hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh
Nọ
lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần
Chiến
sĩ ôi ! Cô hồn ôi !
Ngôi
liên đài quanh quất bên thân
Miền
tịnh độ chán chường gần trước mặt
Ngón
tay búng chẳng phiền nhọc sức
Đã
chứng vào trong bực vô sanh
Lòng
hởi lòng, lòng vốn hư minh
Ấy
rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.
Nam
Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Trích
soạn theo Kinh Nhật Tụng - Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện
Huê - Chùa Niệm Phật - Bình Dương 1974.
212.
HỒI HƯỚNG TẾ VĂN
(Thí
thực cô hồn 12)
Kiến
văn như huyển ế
Tam
giới nhược không hoa
Văn
phục, ế căn trừ
Trần
tiêu, giác viên tịnh
Phục
dĩ,
Nguyên
chơn như thanh tịnh
Tội
tánh vốn là không
Biển
khổ rộng mênh mông
Sóng
quanh theo đuổi mãi
Bởi
nghiệp cảm chúng sanh mang phải
Khiến
trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày
Địa
ngục đà thọ báo đắng cay
Ngạ
quỉ lại chuyển sanh đói khát
Đã
chẳng có ngày giải thoát
Ắt
là không chỗ đặng siêu thăng
Ví
chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân
Để
mở đặng đảo huyền dây ác thú
Chơn
thuyên ấy, niệm đôi câu chú
Thí
ra trên tiệc cam lồ
Bảo
cự kia, thắp một ngọn đèn
Soi
khắp trong đường minh giới
Nào
những mấy dòng mê cả thảy
Khiến
đều về cực lạc phương tây
Buổi
đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực
Đem
công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi
Diệm
nhiên Đại sĩ một tay
Thống
lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng
Ngạ
quỉ hằng hà sa số
Vô
lượng vô biên xiết kể biết bao
Cúi
xin từ kiếp bỏ liền
Cho
đến ngày tái thế
Tiêu
nghiệp chướng chẳng còn chút để
Rửa
tội khiên phút đã sạch rồi
Vạc
nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức
Lò
hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân
Kìa
mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ
Nọ
con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn
Khắp
nơi bủa chật thiết sàng
Hiện
pháp tòa Bồ đề là đó
Với
chảo đựng đầy đồng trấp đỏ
Sái
đề hồ cam lộ vào đây
Gặp
người trái chủ hôm nay
Buổi
đó hết đòi hết hỏi
Nhóm
kiếp oan gia buổi trước,
Cùng
nhau thôi vấn thôi vương
Dạ
hưng từ ngục chủ yêu thương
Lòng
từ thiện minh quang bảo hộ
Thân
phụ mẫu đa sanh kim với cổ
Nay
thời nhập Thánh siêu phàm
Nợ
nhơn thân lụy thế hết còn
Rày
đã thừa ân giải thoát
Cõi
thiên thượng ngũ si chẳng hiện
Miền
nhơn gian tứ tướng có chi
Tu
la đà bỏ cả sân si
Địa
ngục lại hết điều khổ não
Hồn
ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo
Hứng
gió thanh khỏi chốn lửa hồng
Giống
làm sanh chật nức mười loài
Lên
bờ giác lánh nơi đường tối
Khắp
xin cả hữu tình một nỗi
Quốc
độ này, quốc độ nọ
Và
vô lượng các quốc độ thảy
Cùng
nhau chung chứng chơn thường
Lại
nguyện cùng hàm thức mấy loài
Thế
giới đó, thế giới đây
Và
vô lượng các thế giới nào
Buổi
đó đều nên Phật đạo
Tứ
ân khắp báo
Tam
hữu đều nhờ
Người
trong pháp giới bao giờ
Ai
ai cũng đồng nên chưởng trí.
- Trích
soạn "Kinh Nhựt Tụng " Chùa Niệm Phật - Bình Dương 1974.
213.
KỆ KHUYÊN ĐỪNG SÁT SANH
(Văn
khuyến tu 10)
Muôn
loài nào khác chi ta
Cũng
tìm sự sống lánh xa tai nàn
Có
cha mẹ, có họ hàng
Kết
bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương siêng năng
Ta
đừng giết nó mà ăn
Cũng
đừng bắt nó trối trăng giam cầm
Bẫy
câu, chước độc, mưu ngầm
Làm
cho chúng nó âm thầm đớn đau
Lạc
bầy dớn dác xôn xao
Lại
e cái nạn thớt, dao hầu gần
Mình
có thân, nó cũng có thân
Nuôi
mình, giết nó trái cân công bằng
Lâm
mình cảnh ấy khổ chăng ?
Giả
như có kẻ bắt phăng chúng mình
Mẹ
cha cô bác thảm tình
Xót
xa đã lắm, bất bình biết bao
Ruột
rà ai cắt chẳng đau
Thương
tình ai dứt, chẳng đau gan vàng
Nếu
ta suy nghĩ kỹ càng
Tình
này, cảnh ấy rõ ràng tương thân
Làm
người ta có lòng nhân
Hãy
khơi tánh Phật, lần lần sáng ra
Người
cùng muôn vật một nhà
Ta
là anh chị, chúng là đàn em
Khôn
hơn ta phải xét xem
Trông
nom giúp đỡ đàn em dại khờ
Khi
lâm nạn chúng bơ vơ
Mau
tay tiếp cứu chớ ngơ mắt nhìn
Thấy
ai giết thác sanh linh
Lấy
lời khuyên giải, dụng tình cản ngăn
Thú
kia nó cũng là thân
Cũng
xương cũng thịt cũng phần như ta
Đánh
đau chúng nó kêu la
Tiếng
rên đứt ruột, tiếng la xé lòng
Tánh
linh người vật cũng đồng
Xuống
tay bao nỡ, cầm lòng sao đang
Thân
ta thì muốn cho an
Mà
thân kẻ khác lại toan xéo giày
Lòng
ta muốn tránh nạn tai
Sao
cùng kẻ yếu ra oai dữ dằn
Nếu
ta biết lẽ công bằng
Biết
câu phước tội, biết căn luân hồi
Chớ
nên giết nó đành rồi
Cũng
đừng hành hạ, tỏ lời dễ khinh
Chớ
cho chúng khổ vì mình
Mở
lòng thương xót tấm hình hài kia
Đừng
làm chúng nó chia lìa
Con
nầy xa mẹ, con kia cách chồng
Đừng
bày cắt cổ, nhổ lông
Việc
làm cũng phải dự phòng về sau
Dây
oan ai lại buộc vào
Kiếp
nầy gây nợ, kiếp nào trả xong
Muốn
cho mình được thong dong
Đừng
làm kẻ khác khổ lòng làm chi
Chớ
vì một chút sân si
Mà
bao oan trái kéo trì cuốn lôi
Muốn
ra khỏi biển luân hồi
Quả
kia phải hái cho rồi đừng gieo
Dừng
chân là bóng chẳng theo
Nhơn
tay thì nghiệp chẳng đeo bên mình
Ai
ơi ! Nên khá giữ gìn.
- Trích
Kinh Nhật tụng - Tịnh xá Trung Tâm - Sàigòn 1974.
214.
SÁM VĂN SỰ TÍCH HI THỊ, CHÍ CÔNG
(Văn
khuyên tu 11)
Tích
xưa nhân quả một đường
Có
Bà Hi thị, xà vương biến hình
Bởi
gieo nhân dữ sát sanh
Khiến
cho Tam bảo điêu linh một thời,
Mới
hay oan báo chẳng rời
Nếu
không cắt đứt đời đời tiếng chê
Xem
gương Hi thị gớm ghê
Phá
Tăng hủy Phật nặng nề oan khiên
Sát
sanh mất hết phước duyên
Làm
bánh nhưn thịt cúng liền Chí Công
Nào
hay ngài đã tỏ thông
Tráo
bánh nhưn đậu ăn không tội gì
Tánh
tình Hi thị ngu si
Xé
kinh, đập tượng mắng thì chúng Tăng
Bởi
vì nghiệp báo tiền căn
Hại
người, người hại lẽ hằng xưa nay
Tu
hành giữ giới trì trai
Bốn
giờ Lương gáy dậy mà tụng kinh( )
Cớ
nào đem dạ bất bình
Hòa
thượng đi khỏi tự mình giết Lương
Cho
nên sái đạo chơn thường
Khiến
ra Hi thị nhiều đường tai ương
Mãng
xà thân rắn thảm thương
Ở
ngoài rừng nội tuyết sương lạnh lùng
Hi
thị nhớ nghĩ hãi hùng
Xảo
ta sao chẳng chịu dùng tu thân
Để
làm chi việc sát nhân
Nay
ta phải bị khổ thân chốn nầy
Phổ
Môn thuyền báu là đây
Tỏ
thông nghĩa lý nhờ Thầy giải phân
Quan
Âm xưa cũng thường nhân
Phát
lòng thệ nguyện chí chơn tu hành
Hôm
nay Ngài đã viên thành
Tầm
thinh cứu khổ chúng sanh đời đời
Hi
thị bà mới mở lời
Phát
tâm thiện niệm vậy thời Nam mô
Quan
Âm Bồ Tát Như Lai
Từ
bi cứu khổ muôn loài chúng sanh
Con
nay thệ nguyện tu hành
Giải
thoát thân rắn vãng sanh thiên đường
Quan
Âm cảm động lòng thương
Phóng
quang hiện tướng tỏ tường kim thân
Chói
lòa khắp hết hồng trần
Quan
Âm bèn dụng phép thần phóng ra
Ma
ni châu bửu đây mà
Để
vô trong miệng nói ra tiếng người
Cầu
Lương Võ Đế giúp ngươi
Rước
Thầy sám hối đàn trời tụng kinh
Mãng
xà Hi thị chớ khinh
Trở
về cung viện sự tình tỏ phân
Nhắc
qua Võ Đế lâm trào
Chúa
tôi Ngài mới bước vào Ngân An
Nhìn
xem thấy rắn kinh hoàng
Mãng
xà cất tiếng vang kêu nài
Thiếp
là Hi thị về đây
Cầu
xin Thánh thượng rước Thầy sám văn
Bởi
vì tại kiếp tiền căn
Phá
hủy kinh tượng đánh Tăng đốt chùa
Nhân
xưa đâu phải chuyện đùa
Quả
nay làm rắn bốn mùa tuyết sương
Cúi
xin Thánh thượng lòng thương
Trai
đàn thiết lập cúng dường chư Tăng
Từ
nay thiếp nguyện ăn năn
Giải
thoát thân rắn siêu thăng thiên đường
Chí
Công Hòa thượng đoái thương
Nhập
định cầu khắp mười phương Thánh hiền
Đêm
ngày lễ sám kiền thiền
Bốn
mươi chín buổi tự nhiên an hòa
Hi
thị cổi lốt mãng xà
Hiện
thân tiên nữ đứng mà trên mây
Cúi
đầu làm lễ lạy Thầy
Giã
từ Võ Đế cõi tây đặng về
Thiện
ác nhân quả bảng đề
Làm
lành đặng phước chớ hề bỏ qua
Xem
gương Võ Đế vậy mà
Làm
dữ mắc họa như bà chánh cung
Ai
ai nghe đến cũng run
Tránh
xa sát nghiệp thung dung tu hành
Kíp
mau bỏ dữ làm lành
Ngày
sau mới đặng vãng sanh liên tòa
Lương
hoàng bửu sám tụng qua
Ngày
đêm lễ lạy Phật Đà mười phương
Chí
Công Hòa thượng lòng thương
Soạn
ra Bửu sám làm gương tu hiền
Bao
nhiêu tội nặng dứt liền
Tạ
ơn sám chủ đàn tiền chứng tri.
Nguyện
trì ngũ giới tam quy
Nguyện
tu thiện nghiệp nguyện ly luân hồi.
- Trích
soạn theo bài "Nguyên Thông Học tập Tam Quy Ngũ Giới " Của
Thiền sư Thích Chơn Thường - Trường Quang Tự Mỹ Tho 1952.
-
Chiêu Đề trích soạn - Xắ lợi tự - TPHCM 1997.
215.
THIỀN CƠ YẾU NGỮ VĂN
(Sám
hồi tâm 6)
Lánh
phồn hoa thanh nhàn dưỡng tánh
Sửa
tấm lòng thủng thỉnh hôm mai
Xét
mình kém đức sơ tài
Kính
tin đã có Phật trời chứng minh
Thuở
phù sinh gẫm mình thiếu phước
Ngỡ
tình cờ gặp được chánh tôn
Cảm ơn đức lớn rộng dung
Thâm
ân đều gởi về dòng Phật gia
Lòng
thiết tha bốn ân hằng đội
Phải
toan phương tìm dõi minh sư
Tập
rèn lựa lọc kinh thư
Chí
lăm vượt tới vô dư cõi ngoài
Thường
đêm ngày dồi mài lòng cũ
Cá
hóa rồng chờ có thuở nên
Ân
sâu ghi dạ lo đền
Vun
trồng cội đức, giữ gìn chi sai
Trọng
hiền tài kỉnh tin tri thức
Kết
bạn lành nhờ đức hôm mai
Ngọc
lành sao chẳng dồi mài
Gương
xưa nỡ để trần ai lâu ngày
Rất
chóng thay tháng ngày dường gió
Tới
non vàng dễ bỏ về không
Ngựa
qua cửa sổ kịp dong
Vui
chi cá chậu chim lồng chẳng lo
Đã
xét soi dốc theo thiền giáo
Vật
phi tài vô đạo chẳng tham
Ruộng
người năm mẫu hằng làm ( )
Lọ
là ruổi bắc tìm nam nhọc nhằn
Nhà
sáu căn che thân ngày tháng ( )
Một
ngọn đèn rọi sáng mười phương
Hương
phần ngũ phận danh hương
Dâng
lên thượng điện cúng dường pháp thân
Tu
cho cần thoát ba đường khổ ( )
Dựa
thuyền từ tìm ngõ tây phương
Hôm
mai lễ niệm không vương
Chúng
sanh mê muội lòng thương nỡ nào
Cháy
hồng hào rần rần lửa dục
Nước
ái hà rục rục dầu sôi
Gương
xưa trí tuệ trau dồi
Dùng
thanh lương thủy mà rươi lửa phiền
Hãy
tùng quyền nương thuyền vô để ( )
Vượt
ái hà nào kể phong ba
Dạo
chơi thế giới Ta bà
Đâu
đâu là chẳng cửa nhà bần tăng
Xem
giàu sang ví bằng mây nổi
Gẫm
lợi danh dường đỗi mưa dông
Vì
tham tài sắc huyễn không
Nên
nỗi mê lòng sanh tử bèn quên
Đạo
làm người ân trên phải nhớ
Gắng
công phu bồi nghĩa bồi nhân
Mười
phân chưa đặng một phần
Lấy
đâu ngay thảo xứng cân cho tày
Dễ
dám quên ơn thầy nghĩa bạn
Chút
lòng đan muốn cạn hiếu trung
Một
nồi hương tuệ đốt xông
Ba
biến kinh lòng thường niệm hôm mai
Chữ
sắc tài mặc ai đua sánh
Giữ
phận hèn nương cảnh thiền Tăng
Mây
che nên nỗi mờ trăng
Huệ
nhựt thăng đằêng sương tuyết mới tiêu
Thuốc
hay chữa đặng bệnh nghèo
Vâng
lời Phật dạy tội tiêu phước dày
Như
nhau dọc mũi ngang mày
Lòng
phàm lòng Thánh cách thay ngàn trùng
Hãy
dồi lòng “sắc không không sắc”
Lo
chi đường ruổi bắc tìm đông
Nhớ
câu ma Phật hỗn đồng
Vằng
vặc đèn lòng soi xét chẳng sai
Sự
sắc tài hay dời lòng đá
Hằng
lánh xa chớ bá chớ chen
Cung
dâu khéo bắn thì lên
Chuyên
chí giữ gìn đạo cả ắt nên
Hãy
chăm lòng vun cây tưới nước
Quả
Bồ đề chắc được chẳng sai
Bỏ
về thì thiệt mặc ai
Chớ
khá chê cười mà tổn phước ta
Tảo
tự gia môn tiền chi tuyết ( ).
Hơi
nào mà đàm thuyết sự ai
Mực
vào son thắm ắt phai
Gần
đấng hiền tài, người dữ xa trông
Tính
chuốt trong, vì không nhân ngã
Tợ
trăng rằm chẳng bá chút mây
Bã
bôi liền cật chẵng nài
Thảo
lư am tiện tháng ngày dựa nương
Cũng
đã từng trải đường danh lợi
Uổng
nhọc mình thấy vậy lại không
Sửa
chí dùng, an lòng phân khổ
Tháng
ngày thường vui thú Phật tiền
Giàu
sang là áng ưu phiền
Gây
đường nghiệp chướng cần quyền làm chi
Lời
thị phi khen chê mặc thế
Hơi
nào mà cấm chợ ngăn sông
Tơ
kia ra mối ắt xong
Máy
thiền ngộ đặng tấm lòng bằng an
Lửa
cháy tàn lò than rời rạc
Tưởng
người đời há được bao lâu
Mấy
ai cho biết mà cầu
Ngàn
vàng dễ đặng lời mầu không trao
Đạo
đức cao nên người kính mến
Quyết
một lòng vượt đến Linh sơn
Cho
hay túi rách có vàng
Đêm
tối lạc đường, nhờ đuốc người ngay
Vun
lấy cây chờ ngày ăn trái
Chữ
cạn cùng, nghĩa lý thấm sâu
Đất
liền ai mượn bắc cầu
Bệnh
lành phải dụng thuốc mầu làm chi
Sự
u mê khác chi tằm kén
Mình
buộc mình ai khiến đó sao
Thuyền
đưa xảy gặp ba đào
Chóng
chèo gắng sức tiêu dao có ngày
Nom
dưới ngòi ngậm ngùi bóng thỏ
Thấy
trăng tròn tay vỗ ca xang
Bởi
mình vụng liệu chẳng toan
Chân
không bước ngược lên ngàn đặng đâu
Tuổi
bạc đầu độc sâu không giản ( )
Tham
giàu sang biển cạn không phải
Thân
người như tuyết ban mai
Bề
ngoài sắc tướng dồi mài làm chi
Vàng
mạ xi trau chi vật ấy
Sao
chẳng tìm cho thấy chân kim
Đèn
kia sáng bởi vì tim
Đốt
thì thấy tỏ lọ tìm đâu xa
Phật
trong nhà thật là rất báu
Biết
tu trì đại đạo ắt nên
Kẻ
khó hèn tu hành chớ nệ
Cây
một mình chớ kể rằng cây
Quản
bao lưng gió xông mây
Nhọc
nhằn chớ nại quả rày mới cao
Mật
ngọt kia dính dao mấy chút
Phỉnh
hài đồng liếm mút đứt môi
Ngao
cò vô ý chẳng coi
Mỡ
dính miệng rồi được mấy mà ham
Ngụ
thảo am luận đàm đạo lý
Chữ
lợi danh, phú quý chẳng tham
Đạo
lành phải gắng mà làm
Máy
thiền ngộ đặng mới cam tấm lòng
Thuyền
giữa dòng chí mong tới bến
Dễ
lòng còn tham mến chi sao
Mình
bia sá nại tên lao
Cây
kia đúng sức, đẽo bào mặc ai
Chốn
Chiên già khoan thai dưỡng tánh
Đượm
màu thiền tịch mịch sớm trưa
Bữa
dùng rau cháo tương dưa
Ý
quen đã hiệp, miệng vừa thời thôi
Nước
chảy xuôi thuyền kia chống ngược
Chốn
phàm trần tu được mới ngoan
Chí
công mài sắt cũng mòn
Đường
trường chớ ngại lòng son cho bền
Kinh
thánh hiền cho chuyên tập đọc
Sự
chửa từng chẳng học sao nên
Chưa
nên chớ khá xa thầy
Bệnh
già dễ dám buông hài đi không
Còn
cách sông nương thuyền Bát nhã
Đến
bờ rồi mới thỏa chí mong
Sự
ở lòng tỏ thông thì được
Phật
hiện tiền phải kiếm đâu xa
Nên
hư cũng ở lòng ta
Chẵng
chánh thì tà, chẳng ngộ thì mê
Quả
Bồ đề một mai có chín
Hoa
Ưu đàm hóa hiện mấy thu
Tam
thừa diệc trí dữ ngu ( )
Dứt
trừ vọng niệm công phu mới thuần
Có
bi có lực có hùng
Mới
đủ sức dùng vượt biển trèo non
Một
bầu nhiệm giữ càn khôn
Tùy
duyên hóa độ ai còn dám chê
Ngày
xuân thong thả tay đề
Bút
hoa thảo thảo chép ghi để truyền.
- Thiền
sư Toàn Nhựt 1754-1832 - Sao từ bản in Thạnh Mậu 1960 (mất
nhiều đoạn).
Đối
chiếu bổ sung đầy đủ từ Lịch Sử Phật Giáo đàng trong
- Nguyễn Hiền Đức - NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1995.
216.
GIỚI HÀNH ĐỒNG TỬ VĂN
(Sám
hối tâm 7)
Tiết
đông thiên đài đêm lâu khắc
Một
mình ngồi tịch mịch mao lư
Đã
thương hậu học sơ cơ
Chưa
thông kinh luật còn lờ tánh linh
Lại
lo mình chuyên phương niệm Phật
Đâu
dám cho thẳng giấc Trang Chu ( )
Đạo
này rộng nhiệm cao sâu
Trẻ
nay biếng học già sau biết gì
Lóng
tai nghe các liêu vãi đạo ( )
Lâng
lâng chìm sâu giấc như nhau
Đặt
mình những thuở canh đầu
Cho
liền một giấc trống lầu điểm năm
Hãy
còn nằm pho pho mà ngáy
Phải
như Thầy để dậy sáng ra
Tớ
Thầy cũng thể con, cha
Đem
phần dạy dỗ rằng mà sao nên
Phải
răn khuyên chúng suy xét tỏ
Tua
nhớ lời hối ngộ lo thân
Tổ
xưa đã để lời răn ( )
Sửa
mình tấn đạo, giảm ăn ít nằm
Lại
chí lăm thoát vòng sinh tử
Ắt
sớm toan noi giữ lời xưa
Kìa
như lớp trước Nho gia
Ông
thì treo tóc người hằng gối cây ( )
Hội
rồng mây vận sau phát đạt
Hưởng
vinh hoa danh tạc sử xanh
Để
rồi cũng chịu gia hình
Tôn
thân lửa chói triều đình trọng thương
Vả
thế gian lo phương no ấm
Các
nghề đều dậy sớm thức khuya
Huống
chi đại đạo từ bi
Tục
ăn mê ngủ việc gì cho nên
Ông
Cao Phong ba năm lập nguyện
Không
gần giường chõng đến một giây( )
Ông
thì thiền định trên cây ( )
Đặng
mau thấy Phật dẹp bầy thùy ma( )
Nay
chúng ta sinh đời ngũ trược
Gắng
học theo lớp trước mới hay
Khuyên
cùng vãi đạo chúng bay
Muốn
mau chứng đạo thuở nay cầm quyền
Chịu
lao phiền ở trong ba cõi
Phật
nói rằng vì cái thùy ma
Nó
làm khốn khổ chúng ta
Mắc
thân hữu lậu ở nhà vô minh
Việc
tử sinh vô thường tấn tốc( )
Kíp
lo toan tu học cho chuyên
Muốn
sau nhiều phước cả duyên
Chói
nêu Phật pháp chớ quên lời thầy
Thương
chúng bay gắng công răn dạy
Dễ
muốn chi làm vậy mệt ta
Hễ
người cho biết lo xa
Bé
thì làm tớ lớn ra làm Thầy
Nếu
lúc này luật kinh chẳng rõ
Biết
lấy chi tiếp độ hậu côn
Phước
đà vào chốn Phật môn
Tua
trừ tham trược chớ còn sân si
Học
từ bi cùng là hỉ xả
Lại
nhớ câu Bát nhã Ba la
Gắng
công hàng phục quần ma
Thoát
vòng hắc ám lên nhà quang minh
Ngộ
vô sinh, pháp thân tự tại
Mặc
tùy duyên ba cõi ra vào
Ân
sâu nghĩa nặng mẹ cha
Cù
lao cúc dục chúng ta nên hình
Đạo
sinh thành ví như trời đất
Lại
cho đi đầu Phật xuất gia
Tưởng
nên đạo cả nghiệp nhà
Tiếng
mình rạng chói mẹ cha cậy nhờ
Nếu
lơ mơ tu không đắc đạo
Biết
lấy chi trả thảo đền ơn
Một
mai phút đến vô thường
Làm
sao cho khỏi Diêm vương gia hình
Làm
súc sinh cùng loài ngạ quỉ
Đến
bây giờ năn nỉ kịp đâu
Thầy
đà tỏ bảo trước sau
Khá
điều tạc dạ, mựa hầu lãng xao
Nguyện
xuất gia vượt qua biển khổ
Để
thân nầy ở chỗ am tranh
Vậy
nên lánh trược tìm thanh
Theo
Thầy học đạo tu hành giới trai
Cơ
hàn tân khổ chi nài
Lóng
trong tánh nước, dồi mài lòng gương.
- Nguyên
bản của Ngài Toàn Nhựt Thiền sư (1754-1832) - Đối chiếu
từ hai bản đánh máy lưu trữ của tủ sách Giác Đạo Như
Tâm cung cấp và bản in "Lịch sử Phật Giáo đàng trong" của
Nguyễn Hiền Đức - NXB Thành Phố HCM 1995.
-
Nguyên văn thiếu mất một câu, Chiêu Đề soạn bổ sung câu
thứ 27 - Khi nào tìm được nguyên bản, sẽ đính chính lại.
(Người soạn.)
217.
HOÁN TỈNH TRẦN TÂM KHUYẾN TU TỊNH ĐỘ VĂN
(Văn
khuyến tu 12)
Chữ
rằng : “Thiên cửu địa trường” ( )
Phật
Vô lượng thọ người thường hóa sanh
Ai
ơi gắng lấy tu hành
Để
sau tới bực vô sanh mới nhờ
Tử
sanh hai chữ hững hờ
Sớm
còn tối mất tựa hồ chiêm bao
Ai
mà biết đặng phẩm cao
Công
danh phú quý ngó vào hư không
Thạch
Sùng tiếng nổi non sông
Sang
giàu gẫm lại cũng không mấy hồi
Nghĩ
đời mà lại sợ đời
Khôn
ngoan mà khỏi luân hồi được chăng ?
Trách
thân rồi lại than rằng
Tử
sanh phú quý như từng mây che
Lợi
danh ai thấy chẳng ưa
Vinh
hoa biết mấy cho vừa lòng ai
Gẫm
thân nào có lâu dài
Chữ
rằng “nhựt vãng nguyệt lai” mấy hồi( )
Sự
đời biết nghĩ thì thôi
Giờ
không toan liệu sau rồi làm sao ?
Thân
này lấp lửng trên cao
Cây
bờ dây giếng có bao lâu dài
Đội
trời đạp đất khoe tài
Vênh
vang mà có đời đời đặng không ?
Tử
sanh hai chữ chẳng đồng
Chết
thì muôn kiếp, sống không mấy hồi
Nhân
sinh ai cũng thế này
Cuộc
vui ai thấy chẳng say sưa lòng
Chữ
rằng “Sắc tức thị không”
Ví
trong giấc mộng gẫm trong người đời
Cõi
trần mấy chút thảnh thơi
Vênh
vang cho mấy sau rồi làm sao
Nhớ
xưa Hàn Tín tài cao
Ra
tay giúp Hán biết bao công trình
Làm
cho Tần, Sở thất kinh
Quyền
cao chức trọng hiển vinh ai bì
Chẳng
may gặp lúc hiểm nguy
Công
trăm năm cũng bỏ đi một hồi
Làm
người như thế thì thôi
Khác
chi cát bụi mà chơi sự thường
Sao
bằng hai chữ trung bình
Vui
chi cho quá thất thường cực thân
Chữ
rằng : "Lạc thị khổ thân"
Mê
đường danh lợi, bỏ thân tồi tàn
Có
vinh hiển, có gian nan
Không
tu sao biết an nhàn tấm thân
Chữ
rằng “Nhất nhật tu nhân” ( )
Bao
nhiêu tội chướng khỏa lần sạch không
Vượn
còn biết mến rừng trong
Người
sa vào chốn bụi hồng làm chi
Chim
còn biết chốn ẩn vi
Người
không biết chỗ để khi mà về
Sự
đời gẫm lại mà ghê
Sanh
lai tử khứ nhiều bề đắng cay ( )
Chết
thì đã chắc trong tay
Sống
thì thấp thoáng biết ngày nào đây
Than
rằng biển lớn non dài
Trời
cao đất rộng thân nầy bao hơi
Những
là vật sắc dò chơi
Công
danh cát bụi đua bơi làm gì
Chi
bằng hai chữ từ bi
Không
trông danh lợi bận gì gian nan
Chữ
tu là chữ an nhàn
Tham
tài tắc tử, thế gian vô thường
Nhớ
xưa Hạng Võ tranh cường
Làm
cho thiên hạ tứ phương hãi hùng
Ra
tài ra tướng anh hùng
Quân
ba mươi vạn đối cùng ai hơn
Một
mình cứ đỉnh bạc sơn
Nhà
Hán cũng sợ nhà Tần cũng kinh
Ở
đời vinh đã nên vinh
Cũng
không khỏi chết bỏ mình Ô giang
Hết
tài trí, hết khôn ngoan
Hết
danh, hết lợi, hết sang, hết cường
Cho
hay hoa nở cũng tàn
Pháo
mà kêu lắm càng tan xác nhiều
Làm
người chớ nghĩ thấp cao
Chớ
so hơn thiệt mà xao xác lòng
Làm
thân chi giống gà lồng
Sao
bằng hạc nội muôn trùng cao bay
Khuyên
người giữ giới ăn chay
Chí
tâm niệm Phật có ngày thảnh thơi
Thuở
xưa Phật cũng ra đời
Lánh
vòng danh lợi ra ngoài càn khôn
Mới
hay Phật đạo chí tôn
Làm
người trước biết thiền môn tu trì
Ai
ơi lòng thật chớ nghi
Tu
hành dốc chí liễu kỳ tử sanh
Tuy
rằng vạn quyển thiên kinh
Chẳng
qua sáu chữ hồng danh rất mầu
Vui
lòng một chuỗi giới châu ( )
Sớm
khuya tưởng niệm công phu mà lần
Đã
tu thì phải ân cần
Đừng
còn luyến ngó bụi hồng làm chi
Sau
về Tịnh độ một khi
Thiếu
chi châu báu, thiếu gì kim sa
Giữa
không thường rải thiên hoa
Xuống
hồ thơm nức chín tòa kim liên
Phật
cùng Thánh chúng hiện tiền
Hào
quang chói rạng bến biên bảo đài
Lời
quê khuyên mấy ai ai
Gắng
tu đến đó đặng đài châu ngân
May
mà chứng đặng kim thân
Đời
đời thường ở chín từng phẩm cao.
- Bài
do Ngài Toàn Nhật Thiền sư trước tác - (sđd)
218.
SÁM HỐI TÂM HƯỚNG THIỆN
(Sám
hối tâm 8)
Trong
tám vạn bốn ngàn cửa Pháp
Nói
không cùng lý đạt khó thông
Y
theo Tịnh độ thiền môn
Mở
ra một cửa chánh tông chân truyền
Tiếp
khách thiền có duyên thời gặp
Dễ
tu hành mà chắc nên công
Như
thuyền ra đến giòng sông
Nước
xuôi gió thuận khỏi công chống chèo
Đường
ngàn dặm một lèo thẳng tới
Khỏi
quanh co biển ái sông mê
Khuyên
đừng thấy dễ mà chê
Chớ
trong sự dễ nhiều bề chẳng thông
Câu
vô niệm ẩn trong hữu niệm
Có
hữu vi mới nhiễm vô vi
Thử
coi hoa trái vật chi
Lộ
ngoài mới thấy có khi trong nhành
Có
cội nhành mới sanh hoa trái
Không
cội nhành hoa trái do đâu
Tụng
kinh niệm Phật làm đầu
Cứ
theo qui tắc chớ hầu sai ngoa
Tín
hạnh nguyện giữa ba điều ấy
Trọn
một đời như vậy cho y
Tín
là tin chắc không nghi
Niệm
Phật tưởng Phật đến kỳ vãng sanh
Chữ
hành là làm lành một mối
Giữ
thường thường chẳng đổi chẳng sai
Nguyện
là muốn thấy Như Lai
Cầu
về Tịnh độ liên đài phẩm cao
Do
chữ Tín nhiễm vào chơn lý
Hữu
sở hành, năng trí kỳ tri
Nguyện
là chung hữu sở qui
Lòng
thường tư tưởng cho y như lời
Ba
căn ấy thấu trời tịnh độ
Thất
bửu trì, hoa nở chờ ta
Báo
thân để lại Ta bà
Tánh
linh về yết Di Đà pháp vương
Ra
lửa vườn hết đường sanh tử
Quả
Bồ đề bổ xứ siêu phương
Xưa
nay giáo pháp chiêu chương
Rõ
ràng Tịnh độ là đường vãng sanh
Dễ
tu hành mau thành chánh quả
Các
nẻo đường xa lạ hiểm nguy
Khuyên
đừng thủ dị cầu kỳ
Nghe
lời tà kiến mà đi sai lầm
Phật
tức tâm thậm thâm tưởng niệm
Niệm
thường thường công chuyện chẳng can
Trong
nhà thiết lập một bàn
Đến
thời tu niệm sửa sang đàng hoàng
Mặc
áo tràng thắp nhang cắm thẳng
Xướng
hiệu rồi thoảng thoảng lạy ngay
Lạy
rồi quì gối chấp tay
Tự
trần tên họ sám bài nguyện sanh
Khi
sám rành lạy ba lạy nữa
Ngồi
bán già mình sửa cho ngay
Trừng
tâm bế mục chấp tay
Lóng
thần mật niệm hết bài xưng dương
Niệm
thường thường tâm vương chủ một
Chuỗi
tay lần mỗi hột mỗi câu
Niệm
rồi chấp chuỗi khấu đầu
Niệm
ba câu nữa mỗi câu mười lần ( )
Mỗi
mười lần chuyên thân khể thủ ( )
Hồi
hướng văn sám đủ kiền thiền ( )
Khởi
thân chiêm ngưỡng án tiền ( )
Tạ
đàn ba lạy hữu biên thoái hồi
Nghi
Tịnh độ dọn rồi rất chắc
Lóng
tâm thần sắp đặt chẳng sai
Y
theo giáo pháp Như Lai
Chánh
tông truyền kế chẳng sai chẳng lầm
Đạo
thậm thâm khó tầm khó kiếm
Sẵn
sàng đây dễ niệm dễ tu
Kính
khuyên nam nữ trượng phu
Biết
thương bổn tánh phải tu kịp thời
Chớ
buông lời nay mai sẽ tính
Cơn
vô thường biết định bao lâu
Cõi
trần trăm thảm ngàn sầu
Chưa
toan dời bước còn cầu việc chi
Một
câu niệm A Di Đà Phật
Tiêu
tội nhiều, phước thật vô biên
Căn
lành trước có nhân duyên
Ngày
nay gặp Phật phải chuyên tu hành
Nguyện
chúng sanh đồng thành chánh giác
Chứng
hưởng phần khoái lạc tiêu diêu
Cần
tu tịnh độ bao nhiêu
Đồng
về cực lạc cao siêu liên đài
Văn
tịnh độ một bài chỉ tắt
Nghi
tu hành sắp đặt trước sau
Muốn
tu phải học cho làu
Đến
khi hành sự mới mau việc làm
Khuyên
đừng thế sự luận đàm
Tránh
đường danh lợi để ham tu hành
Nguyện
sanh về cõi lạc thành
Lâm
chung gặp Phật vãng sanh sen vàng
Nam
mô Tịnh độ Lạc bang
Chứng
minh đệ tử Tây phang mau về.
- Trích
"Pháp Môn Tịnh Độ" - Chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành
1974.
219.
TIÊU TỰ THẦN CHUNG
(Chuông sớm chùa Tiêu)
(Văn khuyên tu 13)