V
CÁC
BÀI VĂN TẾ - CẢNH SÁCH
156
- VĂN CẢNH SÁCH BUỔI SÁNG
Bài
cảnh sách trong nhà tịnh nghiệp,
Tuân
lời vàng cổ triết Thiền tông,
Muốn
tu Tịnh độ thành công,
Cốt
sao ba nghiệp sạch không làu làu.
Thân
khẩu ý trước sau tinh khiết,
Thời
hiện tiền tịnh nghiệp mới nên,
Trau
dồi ba nghiệp cho chuyên,
Vãng
sinh Tịnh độ nhân duyên lu mờ.
Ngày
đến phải sáu thời tinh tiến,
Ý
miệng thân ba nghiệp cần chuyên,
Thân
cần lễ bái tọa thiền,
Miệng
cần phúng tụng lặng yên ít lời.
Ý
cần chuyên không rời tịnh niệm,
Đêm
và ngày kế tiếp không ngơi,
Mới
hay Tịnh độ hiện thời,
Rõ
ràng tam muội sáng ngời tự tâm.
Ngoài
sáu thời chuyên tâm tu tập,
Không
chuyện trò đón tiếp vãng lai,
Nếu
còn giao thiệp bề ngoài,
Chỉ
e tịnh niệm phí hoài công phu.
Quy
ước ấy ai dù không giữ,
Ngôi
chủ đường xét xử phạt ngay,
Ba
lần can gián cố chày,
Thời
mời ra khỏi nhà này không dung.*
157
- VĂN CẢNH SÁCH PHÂN CÔNG
Đây
bài cảnh sách phân công,
Đảm
đang chức sự trong tùng lâm ta,
Cúng
dàng Phật Pháp Tăng già,
Làm
trong nghĩa vụ lợi ta lợi người.
Nên
chẳng quản hao hơi nhọc sức,
Cố
gắng làm công đức vẹn tuyền,
Lẽ
đâu ngại khó ngại phiền,
Mượn
điều lẫn tránh ngồi yên sao đành ?
Lỡ
ra khuyết điểm phát sinh,
Công
việc chung cũng trở thành dở dang.
Nên
suy xét đảm đang nghiêm túc,
Phục
vụ người tức phục vụ mình,
Chăm
lo củi nước hoàn thành,
Cũng
là đường lối tu hành cần chuyên.
Giúp
ta giác ngộ cơ huyền,
So
đo hơn thiệt não phiền càng tăng.
Tổ
Tào Khê siêng năng giã gạo,
Tổ
Tuyết Phong tần tảo làm cơm,
Qui
Sơn bếp nước chăm nom,
Kính
Sơn quét tước thường làm vệ sinh,
Tổ
Bách Trượng thanh minh trong chúng,
Ngày
không làm thời cũng không ăn,
Thọ
Xương cầy cấy chung thân,
Đều
là những bậc vĩ nhân cửa Thiền.
Gương
xưa mãi mãi còn truyền,
Cần
lao phục vụ lực điền tận tâm.
Nay
đại chúng tùng lâm cộng sư,ï
Chức
vụ thường thiếu sự gắng công,
Ai
đủ sức nên xung phong,
Rụt
rè khoán phế việc chung sao đành,
Có
công Phật Tổ mới thành,
Không
thời biển khổ lênh đênh đời đời.*
158
- VĂN CẢNH SÁCH THẢO ĐƯỜNG
Bài
cảnh sách Thảo Đường phúng tụng,
Xin
bạch cùng thất chúng Thiền gia,
Thế
giới nào khác không hoa,
Thân
người huyễn hóa như là chiêm bao.
Mọi
sự vật trước sau đều thế,
Là
vô thường không thể cậy trông,
Nhân
tu nếu chẳng sớm trồng,
Thời
theo cảnh huyễn mãi trong luân hồi.
Cũng
vì vậy Như Lai thương xót,
Hiện
ra đời thuyết pháp dạy khuyên,
Khiến
cho tắt lửa não phiền,
Cạn
dòng ái dục thoát miền hôn mê.
Hết
sinh tử xa lìa phiền não,
Chứng
Niết bàn vui đạo nhiệm mầu,
Phép
tu giải thoát có nhiều,
Tóm
tắt thì có ba điều như sau :
Tham
thiền tu quán làm đầu,
Với
môn niệm Phật để cầu vãng sinh,
Phép
tham thiền không thành không lập,
Phải
tự mình khế hợp chân như,
Túc
căn nếu chẳng trồng sâu,
Đường
đi lắm ngã dễ hầu tới nơi,
Huống
đời mạt pháp lòng người,
Kém
phần phúc tuệ trây lười ngả nghiêng.
Phép
tu quán thâm huyền mầu nhiệm,
Xét
cho cùng tâm niệm sát na,
Hữu
vô hai chữ đều xa,
Nếu
không trí huệ khó mà thành công.
Môn
niệm Phật phổ thông đệ nhất,
Thực
rõ ràng đường tắt không hai,
Kể
từ cổ vãng kim lai,
Hiền
ngu già trẻ gái trai đều thành.
Tứ
liệu giản rành rành kể rõ,
Tu
môn nào dễ khó phân minh,
Cốt
sao chuyên nhất cho tinh,
Chớ
ngờ rằng Phật với mình cách xa
Đem
sáu chữ Di Đà đối tượng,
Tâm
tưởng đều không vướng tạp duyên,
Tai
nghe bụng nghĩ mắt nhìn,
Rõ
ràng như Phật hiện tiền trước ta.
Ví
phút chốc lơ là tản mạn,
Thời
hôn trầm tán loạn hiện ngay,
Phát
tâm tinh tiến cao dày,
Nối
liền tịnh niệm đêm ngày chớ ngơi.
Dù
tịnh niệm còn chưa kế tiếp,
Cứ
giữ gìn tịnh nghiệp cho chuyên,
Tâm
tầm Tịnh độ tưởng liền,
Dốc
lòng cứ niệm thường xuyên Di Đà.
Thời
hiện tại không xa gang tấc,
Ngay
chốn này Cực lạc rồi đây,
Không
cần đợi đến sau này,
Thân
về an dưỡng tháng ngày thanh cao.
Được
thắng lợi dồi dào đến thế,
Há
lại không quyết chí tu trì,
Đem
thân giả tạm suy nghi,
Sinh
già bệnh chết thọ kỳ bấp bênh,
Mà
đổi lấy thân vô lượng thọ,
Là
pháp thân không có động dao,
Vui
này há chẳng vui sao,
Vãng
sinh Tịnh độ vui nào còn hơn.
Tụng
rằng :
Trong
ba cõi lửa phiền nóng bức,
Nước
tám dòng công đức thanh lương,
Muốn
xa cõi uế vô thường,
Đem
thân an trụ Lạc bang quê nhà.
Thời
sáu chữ Di Đà kế niệm,
Như
bánh xe liên tiếp quay hoài,
Di
Đà Phật chẳng riêng ai,
Trí
nhân ngày tháng hôm mai tự cường.
Kìa
tám vạn bốn ngàn hảo tướng,
Vốn
không ngoài tâm tưởng người ta,
Há
phiền đức Phật Thích Ca,
Ấn
chân biến cõi Sa Bà trang nghiêm.*
159
- VĂN CẢNH TỈNH THẾ NHÂN
Hỡi
ôi !
Ta
nên hiểu rằng :
Quang
cảnh trăm năm,
Chỉ
trong giây phút,
Huyễn
thân tứ đại,
Há
được lâu dài.
Tháng
ngày vất vả lắm thay,
Một
sớm nghiệp duyên nặng chĩu,
Không
biết viên minh nhất tính,
Chỉ
ham tham dục sáu căn.
Công
danh lừng lẫy,
Đều
là đại mộng, một trang;
Phú
quý vinh hoa,
Khó
tránh vô thường hai chữ.
Tranh
nhân tranh ngã,
Rốt
cuộc thành không.
Khoe
giỏi khoe tài,
Cuối
cùng chẳng thực.
Lửa
phun, gió thổi,
Khi
thiêu không kể trẻ già;
Hốc
núi, khe sâu,
Vùi
xác anh hùng không ít !
Tóc
xanh chưa được mấy,
Mà
tóc trắng đã đầy đầu,
Việc
mừng vừa tới nơi,
Mà
việc buồn đã xâm đến;
Một
bao máu đặc,
Quanh
năm ngậm đắng nuốt cay,
Bảy
thước thân còm,
Nảy
ý tham tiền tiếc của.
Hơi
thở ra, khó đã hít được vào,
Nay
còn đây, ngày mai khôn giữ được.
Sóng
ái hà, chìm nổi nổi chìm,
Lửa
hỏa trạch, nấu nung nung nấu,
Chẳng
muốn xa rời lưới nghiệp.
Chỉ
rằng : Chưa có công phu,
Lệnh
vua Diêm la đã sai đòi bắt.
Thì
Thôi tướng công đâu dám dung tha,
Ngoảnh
cổ lại thân nhân đều chẳng thấy.
Chung
quy tạo nghiệp,
Báo
sự mình mang;
Quỷ
vương ngục tốt,
Coi
thường xâu xé.
Rừng
kiếm núi đao,
Khổ
sở không cùng.
Hoặc
vào Thiết tiêu ngục thẳm,
Hoặc
ở băng giá núi cao,
Bị
nấu nung muôn tử ngàn sinh,
Chịu
kìm cặp một dao hai đoạn.
Đói
ăn sắt nóng,
Khát
uống đồng sôi,
Mười
hai giờ cam chịu đắng cay,
Năm
trăm kiếp bóng hình chẳng thấy !
Chịu
đủ tội nghiệp,
Lại
vào luân hồi,
Thân
này từ trước mất đi,
Đổi
lấy túi cơm giá áo,
Hàm
sắt đóng yên,
Mang
lông mang vẩy.
Đem
thịt dâng người,
Dùng
thân trả nợ.
Sống
bị búa rìu,
Cay
đắng lửa bỏng nước sôi.
Chết
đi oan khiên,
Chồng
chất hối sao cho kịp.
Chi
bằng thẳng tới kêu van,
Chớ
đợi muôn vàn tội lỗi.
Trộm
nghĩ :
Người
sinh cõi thế,
Cũng
như cánh bướm bông hoa,
Vận
hạn tới nơi,
Nào
khác móc chiều sương sớm.
Đức
Phật mình cao trượng sáu,
Cũng
còn tịch diệt chốn Song Lâm.
Lão
Quân thuốc luyện chín viên,
Trót
hết, hồn quy nơi Thệ Thủy.
Thương
thay ! Bành Tổ,
Sống
tám trăm năm;
Xót
vậy ! Nhan Hồi,
Tuổi
hơn ba chục;
Trẻ
già dẫu khác,
Sống
chết hơn chi !
Lại
như : Tam Hoàng tuổi thọ,
Chẳng
khỏi luân hồi,
Ngũ
Đế sống lâu,
Chưa
là bất tử.
Thần
Nông thuốc giỏi,
Chữa
sao cho lại số trời;
Biển
Thước tài hay,
Khôn
cứu người về cõi đất.
Tần
Thủy Hoàng dời non lấp biển,
Rồi
ra mệnh táng đất Sa Khâu;
Sở
Bá Vương sức lực bạt sơn,
Cũng
đến phải Ô Giang tự vẫn.
Tề
Cảnh Công nuôi chín nghìn ngựa Tứ,
Cũng
thành công cốc hơn chi !
Hán
Hàn Tín mười việc công lao,
Há
có được còn mãi mãi ?
Mạnh
Thường Quân ba nghìn kiếm khách,
Cũng
chết dần mòn;
Khổng
Phu Tử trò giỏi bảy hai,
Nay
ai sống nữa ?
Ngao
ngán nhẽ ! Chu, Tần, Hán, Ngụy, Chốn lâu đài này hóa chốn
hoang vu :
Tiếc
thương thay ! Tấn, Tống, Tề, Lương,
Nơi
thành quách cũng là nơi quạnh quẽ.
Nào
những bậc Tiền Hiền Cổ Thánh !
Ai
đã từng chất ngọc chứa vàng ?
Ai
đã từng lưng đai áo tía ?
Ai
đã từng đoạt lợi tranh danh ?
Ai
đã từng khoe văn diễu võ ?...
Hỡi
ôi !
Đời
người ví tựa nước trôi xuôi,
Trí
dậy anh hùng ở khắp nơi,
Hơi
thở lúc còn lừng lẫy lắm,
Vô
thường hạn đến việc buông trôi !
Vậy
nên có bài kệ rằng :
Tất
cả núi non đều tan vỡ hết,
Tất
cả biển sông đều sẽ khô kiệt,
Tất
cả cỏ cây đều sẽ tàn lụi,
Tất
cả muôn vật đều sẽ bại hoại,
Mọi
sự ái ân rồi sẽ ly biệt,
Mọi
sự phiền não cũng dần tan hết,
Tình
thân gia đình,
Một
sớm đoạn tuyệt,
Duy
có Pháp thân,
Thường
còn chẳng diệt.
Than
hỡi !
Đời
người trăm tuổi,
Mau
như việc gảy móng tay.
Có
khác gì chiếc bách trôi xuôi,
Hay
tương tự trời Tây thỏ lặn.
Đập
hòn đá mong tìm ánh lửa,
Bóng
ngựa câu bên cửa sổ thoáng qua,
Ngọn
đèn lu trước trận phong ba
Hạt
móc sớm treo trên đầu ngọn cỏ.
Thuyền
đã tới bờ,
Cây
vừa độ mục,
Chớp
mắt ôi thôi !
Chỉ
thấy sáng loè.
Sao
tình nghĩa còn nhiều vương vít,
Mà
ý hoài rối rít tơi bời ?
Lưới
trần gian khin khít muôn trùng,
Trí
vẫn để trong vòng lăn lộn !
Cảnh
ái thằng nút thắt nghìn khoanh,
Tình
vẫn hướng vào nơi trói buộc.
Núi
Mạn chất chồng,
Gò
đống chỗ chỗ trưng bày;
Lòng
tham sâu thẳm,
Biển
khơi dòng dòng cuộn đến.
Chỉ
còn cách sớm hôm niệm Phật,
Mới
mong về cõi Tịnh yên vui.*
160
- KHUYẾN TU TỊNH ĐỘ
Tu
hành phương tiện nhiều đường,
Niệm
Phật một pháp lạ thường dễ thay.
Gọi
là cầu sinh Tây phương,
Cực
lạc thế giới ta nay nương về.
Gọi
là Tịnh độ tu trì,
Nghĩa
là thanh tịnh tội thì không sinh.
Ba
tạng mười hai bộ kinh,
Kinh
nào cũng nói phân minh pháp này.
Tám
muôn bốn ngàn môn nay,
Môn
nào cũng khuyến vãng rày Tây phương.
Niệm
Phật một pháp rõ ràng,
Hơn
cả mọi pháp chẳng đường nào hơn.
Cổ
đức bàn rằng các môn,
Học
đạo như kiến lên non bao giờ.
Niệm
Phật tu hạnh nhất thừa,
Chóng
như gió thổi buồm nhờ nước xuôi.
Tây
phương mà đã sinh rồi,
Chỉ
phần lên chẳng phần lui sau này.
Thượng
phẩm Phật quả chứng ngay,
Hạ
phẩm thì cũng hơn dầy Thiên cung.
Công
đức lớn rộng chẳng cùng,
Tu
thời dễ vậy nào chưng khổ gì.
Gái
trai già trẻ mới khi,
Sang
hèn Tăng tục cũng thì mặn chay.
Ai
ai tu cũng được dầy,
Ngày
mười câu niệm công nay cũng thành.
Niệm
rồi khấn nguyện phân minh,
Sau
này đến lúc Phật nghinh tiếp về.
Xin
người niệm Phật với tôi,
Cùng
sinh nước Phật rất vui thay là.
Thấy
Phật rồi khỏi luân hồi,
Cùng
như đức Phật độ loài quần sinh.
Thấy
đời mà tiếc cho đời,
Có
thân bất hoại mà người chẳng tu.
Trải
trong thế giới Diêm Phù,
Dưới
trời mấy kẻ thoát lò hoá thi,
Chỉ
có đạo Phật từ bi,
Muốn
qua đường khổ tu trì lấy thân.
Tụng
kinh niệm Phật chủng nhân,
Tam
quy ngũ giới giữ phần quả sau.
Muôn
ngàn ức kiếp vui lâu,
Khỏi
vòng quanh lại được mầu kim thân,
Tu
Tịnh độ cứ một bề,
Chăm
chăm lòng chỉ cầu về Tây phương.
Công
phu một chốc ngày thường,
Sau
rồi ức kiếp rộng trường được lâu.
Ví
người buôn bán mãi đâu,
Một
quan lợi hoá ra hầu làm hai.
Trong
lòng mừng rỡ chẳng thôi,
Ấy
là lợi nhỏ lòng thì hỷ hoan.
Hay
là mất vốn một quan.
Trong
lòng cũng tiếc lo toan ngại ngần,
Ấy
là vật ở ngoài thân,
Được
nhỏ mất nhỏ thường thần lo toan.
Bụng
sáng ta chẳng nghe bàn,
Lặn
lội mất lớn chẳng toan lo gì.
Pháp
tu nay khó gặp kỳ,
May
mà biết được lớn khi thế nào.
Mừng
nay lại biết là bao,
Thế
gian như mộng chiêm bao ra gì.
Phật
nói kinh Di Đà khi,
Ta
thấy thế lợi ta thì nói ra,
Sáu
phương chư Phật đều là,
Bảo
rằng thành Phật nên mà tín khen.
Phật
bảo ta ở thế gian,
Nói
pháp xa rộng khó bàn khó tin.
Pháp
này phúc lớn nhân duyên,
Ai
mà gặp được quả nhiên thoát trần.
Người
thế gian tiểu khí thân,
Thấy
lời kinh giáo phân vân hững hờ.
Ấy
là bụng dạ hèn sơ,
Còn
nhiều tội chướng bơ vơ trong lòng.*
161
- VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG
CHƯ
LƯƠNG DÂN TỬ NẠN
Hỡi
chư chiến sĩ trận vong !
Hỡi
chư lương dân tử nạn !
Nhơn
sanh tự cổ thùy vô tử,
Lưu
thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Người
sanh trên thế ai không chết,
Để
tấm lòng son rạng sử xanh.
Ngọc
tuy nát vẫn còn trong sạch,
Tre
cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.
Chí
trung cang nghĩa khí sắc son,
Gương
Thánh Đế nay còn nêu đó !
Nợ
nước non ai ai cũng có,
Phận
công dân giao phó phải mang.
Hễ
đứng làm nghĩa sĩ anh trang,
Phải
đáng bực trung thần liệt nữ.
Chí
Quang Trung đâu màng sanh tử,
Chuyện
Trưng Vương thanh sử còn ghi.
Nay
tuy là u hiển biệt ly,
Lòng
tưởng nhớ các vì tha thiết,
Tưởng
là tưởng đức dày oanh liệt,
Chốn
chiến trường sương tuyết hy sinh.
Nhưng
chẳng may vì nước bỏ mình,
Ấy
cũng bởi trọn gìn trung đạo.
Thôi
nợ nước nay đà tận báo,
Xin
hồi đầu chánh đạo tu thân.
Nương
cửa thiền phủi sạch trược trần,
Sớm
kinh kệ chiều lần chuỗi hột,
Lấy
cam lộ nhành dương nước Phật,
Rửa
cừu oan diệt tất não phiền.
Khá
nguyện về Cực lạc Tây thiên,
Mà
an dưỡng thiêng liêng Bổn giác
Sen
chín phẩm nở ra trước mắt,
Hết
tử sanh quả Phật thấy liền.
Hỡi
các vì hồn có linh thiên,
Nơi
chín suối khá liền sám hối,
Cầu
Trời Phật xá tha tội lỗi,
Dắt
dìu ra khỏi lối u minh.
Một
lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,
Hộ
thí chủ khương ninh phước thọ.
Giúp
lê thứ, trợ an quốc tộ,
Lập
đức công báo bổ tứ ân,
Lời
thiết tha đạo đức phân trần,
Xin
liệt vị hiển linh chứng chiếu.*
Nam
Mô A Di Đà Phật.
162
- VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG
ĐỒNG
BÀO TỬ NẠN.
Hỡi
ôi !
Cơn
tạo hóa xoay vần khó tránh,
Cuộc
trần gian hết thạnh đến suy,
Chúng
sanh phải chịu khổ nguy,
Sanh
già bịnh tử biệt ly thảm sầu.
Việc
may rủi biết đâu chọn lánh,
Nhận
làm người mang gánh sự trần,
Tam
cang mới nặng muôn cân,
Ngũ
thường xử vẹn là phần tu mi.
Lẽ
sống thác là tùy số phận,
Nghĩa
vụ tròn đâu quản gì thân,
Mình
là bổn phận con dâu,
Quốc
gia hữu sự báo ân đã đành.
Vì
tổ quốc lợi quyền chủng tộc,
Giận
quân thù chí dốc tòng quân,
Ra
đi dạ luống bâng khuâng,
Màn
sương gối tuyết vô chừng gian nan.
Khi
lặn suối trèo non vượt bể,
Khi
lên truông qua ải xuống đèo,
Đai
cơm, bầu nước, gươm đeo,
Chút
thân sống thác do theo số trời.
Ra
nhập ngũ thân thời chẳng kể,
Khổ
thay vì cha mẹ ở nhà,
Nhớ
con thổn thức canh gà,
Thương
con dựa cửa trông mà sầu đau.
Khi
sớm tối ai vào thăm viếng,
Lúc
ốm đau lo chuyện thuốc thang ?
Đêm
ngày giọt lệ chứa chan,
Cầu
trời con đặng thoát nàn đao binh.
Chữ
trung đặng, mất tình hiếu thảo,
Đánh
liều theo máy tạo vần xoay,
Trước
cờ da ngựa bọc thây,
Tiếng
kêu cứu nước làm khuây sao đành!
Còn
thương hỡi gia đình thảm cảnh,
Vợ
cùng con hiu quạnh trước sau,
Con
thơ vợ yếu lao nhao,
Lấy
ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?
Đêm
tủi phận dở dang duyên nợ,
Ngày
gượng vui qua đỡ thời gian,
Trông
cho chiến thắng khải hoàn,
Dưỡng
nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.
Nhớ
đến cảnh ủ ê tấc dạ,
Cùng
anh em chung chạ một nhà,
Xóm
làng cô bác ông bà,
Nguyện
cầu binh cách hết mà về quê.
Người
muốn vậy không hề được vậy,
Bãi
trường sa thịt nát máu tơi,
Tên
rơi đạn lạc hết đời,
Nắm
xương vô chủ lạc nơi chiến trường!
Người
nằm chết ngổn ngang bờ bụi,
Dưới
hố hầm chân núi cội cây,
Kẻ
thời ngọn lửa thiêu thây,
Người
thời trôi lấp sông nầy rạch kia.
Ai
có phước thi hài chôn lấp,
Kẻ
nợ phần phó mặc cá chim,
Hỡi
ơi ! Nợ nước trọn niềm,
Đến
ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?
Vợ
con với mẹ cha đâu biết,
Chừng
hay tin thì việc đã rồi,
Nợ
trần phủi sạch ai ôi,
Ghi
vào lịch sử muôn đời ngợi khen !
Khen
anh dũng xông pha tên đạn,
Liều
thân sinh cứu nạn quốc dân,
Sống
làm Tướng, thác làm Thần,
Non
sông gánh vác tử phần đao binh.
Chùa
thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,
Tụng
cầu siêu cáo lễ Phật trời,
Trận
vong chiến sĩ vì đời,
Thoát
vòng lục đạo về nơi trai đàn.
Nén
hương đốt gội nhuần trước án,
Tế
anh linh tỏ rạng danh thơm,
Ít
nhiều hoa quả kỉnh đơm,
Gọi
là tưởng nhớ người ơn giúp đời.
Dạ
thương tiếc anh hùng dũng cảm,
Nguyện
vong hồn sinh ký tử qui,
Hồi
đầu nương cửa từ bi
Về
miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.
Chúng
tôi đã lòng thành khấn vái,
Phật
mười phương quảng đại độ siêu,
Nương
đàn chẩn tế tiêu dao,
Chư
vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.*
*
163
- MÔNG SƠN THÍ THỰC DIỄN NGHĨA
Trên
kính thỉnh thập phương chư Phật,
Tận
hư không pháp giới mười phương ;
Kim
cương Hộ pháp thần vương,
Thiên
long bát bộ dẫn đường chúng sinh.
Nhớ
Địa Tạng u minh giáo chủ,
Phóng
hào quang cứu khổ độ mê;
Từ
bi bản nguyện lời thề,
Chúng
sinh độ tận Bồ đề chứng nên.
Xin
Đại thánh Át Nan Tôn giả,
Dẫn
cô hồn sáu ngả chúng sinh ;
Mười
phương thập loại hữu tình,
Bảo
nhau cùng đến nghe Kinh kệ vàng.
Cam
lộ hiến hai hàng nam nữ,
Lễ
vật bày các thứ đầy mâm ;
Hôm
nay trai chủ thành tâm,
Thỉnh
chư Hiền Thánh giáng lâm đàn tràng.
Nhờ
phép mầu tựa nương chư Phật,
Tụng
chân ngôn bí mật tối linh ;
Cô
hồn mười loại chúng sinh,
Về
đây thụ hưởng cơm canh cúng dàng.
Không
hóa có sẵn sàng ăn uống.
Ít
biến nhiều nhờ lượng phép mầu;
Cô
hồn già trẻ cùng nhau,
Hãy
nghe sự tích trước sau mấy lời.
1.
Thiết trai hội do ai mà có ?
Lập
đàn tràng bá thí vì đâu ?
Tự
Ngài Khánh Hỷ khởi đầu,
Quan
Âm cứu khổ phép mầu hiện ra.
Tiêu
Diện quỷ đấy là Bồ Tát,
Hóa
thân ra cứu vớt chúng sanh ;
Khuyên
nên niệm Phật tụng kinh,
Nhờ
câu Thần chú oai linh nhiệm mầu.
Cô
hồn đâu đấy tới mau,
Thụ
Cam lộ vị còn đâu hơn này.
Đao
binh kệ tán sau đây :
2.
Những ai vua chúa xưa nay,
Phân
chia biên giới tháng ngày giữ nhau;
Võ
văn các bậc anh hào,
Vì
dân vì nước cùng nhau giữ gìn.
Cành
vàng lá ngọc bao phen,
Ngựa
xe rong ruổi trận tiền tử sinh.
Ai
thay sống chết cho mình,
Số
chung hạn tận u minh rước mời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị đêm dài còn lâu !
3.
Những ai khanh tướng công hầu,
Nhà
cao cửa rộng biết bao công trình ;
Kinh
luân chất chứa bên mình,
Trí
nhân lễ nghĩa tuyển sinh thí trường.
Văn
chương lỡ bước lầm đường,
Học
tài thi phận nhỡ nhàng công danh.
Thiệt
mình riêng chịu đã đành,
Khó
khăn nhà cửa tan tành đôi nơi.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời nên thơ !
4.
Những ai mưu lược binh cơ,
An
bang định quốc cõi bờ chí cao ;
Đánh
đông dẹp bắc anh hào,
Tướng
binh thống lĩnh ra vào trong tay.
Tiểu
trừ giặc cướp tan ngay,
Quên
nhà bỏ mạng kế hay cứu đời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị của người cúng dâng.
5.
Những ai cậy thế binh hùng,
Sa
cơ thất thế bên sông thiệt đời.
Hiền
ngu già trẻ gái trai,
Số
cùng mệnh tận quê người bơ vơ.
Không
quen đất nước bao giờ,
Cho
nên đói khát bên bờ lả lơi.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời quang vinh !
6.
Những ai uổng tử trong thành,
Gió
mưa sấm chớp hoành hành thảm thê ;
Ma
kêu quỷ rú bốn bề,
Khóc
than dậy đất ủ ê oán hờn.
Biết
ai danh phận kém hơn,
Thương
thay mười loại cô hồn là ai ?
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị tuyệt vời thơm ngon !
7.
Những ai binh tướng kinh hồn,
Hai
bên chiến trận mưa tuôn mây sầu ;
Âm
vang chiêng trống hồi lâu,
Xé
gan vỡ mật khí hào bốc lên.
Rợp
trời cờ kiệu hai bên,
Chúng
sinh nghiệp chướng não phiền thở than.
8.
Trận tiền thành đống tro tàn,
Tướng
không chỗ trốn nguy nan bỏ đời.
Ngựa
xe tên đạn bời bời,
Đội
binh tán loạn khắp nơi tan tành.
Lại
còn gươm giáo vây quanh,
Đạn
tên bắn xé thân hình đôi nơi.
Khổ
đau lắm cô hồn ơi !
Lại
đây sám hối tội thời tan ngay.
9.
Sa vào trận địa nguy thay,
Chiến
trường bỏ mạng ai hay thế nào.
Xe
đè ngựa kéo lộn nhào,
Máu
trôi thịt nát chó vào tha xương.
Đoạt
mồi hổ đói đón đường,
Tranh
nhau cắn xé thảm thương mạng người.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời giải oan !
10.
Những ai sinh chỗ vua quan,
Trung
tâm văn hoá mãi ham quê người.
Trai
lành gái tốt những ai,
Bán
làm tôi tớ cho người phương xa.
Họ
hàng tìm kiếm chẳng ra,
Chết
nơi đất khách xót xa ngậm ngùi.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lồ vị ngọt bùi mới cam !
11.
Những ai con Bắc cha Nam,
Ngựa
xe tan vỡ biết làm sao đây ?
Nhà
tan nước mất khổ thay,
Đường
đi cách trở đắng cay muôn phần.
Họ
hàng thân thích xa gần,
Biết
ngày nào được quây quần gặp nhau.
Cô
hồn thủy lục những đâu ?
Mau
về truy điếu nguyện cầu sạch trong.
12.
Tuyệt đường lương thực tay không,
Lại
còn chết đói ngoài đồng tha ma.
Bị
quân cướp giật không tha,
Giết
người cướp của cùng là tranh nhau.
Thương
thay ác nghiệp cơ cầu,
Một
khi đã đến tránh đâu tội trời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời ung dung !
13.
Những ai đói rét lạnh lùng,
Mùa
đông tháng giá hãi hùng gớm ghê !
Tên
rơi đạn lạc tứ bề,
Đầy
trời mưa tuyết đi về khó khăn.
Áo
quần che chẳng kín thân,
Rét
run cầm cập tử thần đến nơi.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời ấm no !
14.
Những ai rắn cắn hổ vồ,
Thiên
lôi dịch lệ cơ đồ nát tan.
Tường
siêu nhà đổ ngập tràn,
Trôi
sông thắt cổ chết oan đầy đường.
Ai
người thân thích xót thương,
Gọi
là cúng tiến nắm xương rã rời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị thảnh thơi lắm mà !
15.
Những ai cướp của đất nhà,
Lại
còn sát hại chẳng tha mạng người.
Kẻ
này hung ác nhất đời,
Phép
vua luật nước chẳng coi ra gì.
Bắt
giam vào ngục một khi,
Gậy
roi đánh đập thân thì nát tan.
Lại
còn cắt thịt moi gan,
Để
đền tội ác hết van lạy trời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời tỉnh ra !
16.
Những ai hiếu thuận mẹ cha,
Cưu
mang chín tháng khó mà báo ân.
Công
lao cúc dục ân cần,
Tu
trì hiếu đễ được phần nào chăng.
Oan
gia ngỗ nghịch hung hăng,
Rồi
ra mệnh táng hết đường nào đi.
Một
mai về cõi âm ty,
Tội
kia phúc nọ biết gì đúng sai.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị cho đời thanh cao !
17.
Những ai mang nặng đẻ đau,
Lâm
bồn một sớm ai vào thăm nom.
Tấm
thân sinh nở gầy còm,
Đau
như dao cắt sớm hôm hãi hùng.
Sinh
không tử lại hoàn không,
Thương
thay số phận mảnh mongmột đời.
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị sau đời dài lâu !
18.
Những ai buôn quán bán cầu,
Sông
Ngô bể Sở gặp đâu là nhà.
Tham
tài bỏ mạng phương xa,
Hồn
đường phách sá biết là cậy ai.
Vợ
con vái đất kêu trời,
Cũng
đành vĩnh biệt ngậm ngùi mà thôi !
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị tuyệt vời ngon ghê !
19.
Những ai sông nước đi về,
Lênh
đênh sóng gió thuyền bè ngả nghiêng.
Đắm
chìm trôi giạt một phen,
Còn
đâu xuôi ngược xuống lên nữa mà.
Xác
trôi chim mổ quạ tha,
Thương
thay chôn cất biết là cậy ai ?
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị tuyệt vời cao sang !
20.
Những ai là kẻ lang thang,
Cửa
nhà chẳng đoái xóm làng chẳng trông.
Sinh
nhai nghề nghiệp cũng không,
Vui
chơi ca hát lầu hồng sớm khuya.
Xóm
đào ngõ hạnh đi về,
Đêm
trường mờ mịt say mê nói cười.
Bơ
vơ góc bể chân trời,
Bạn
bè dư đãng biết người là ai ?
Cô
hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ
Cam lộ vị tuyệt vời biết bao !
21.
Những ai cạo bỏ tóc râu,
Tìm
thầy để học đạo mầu từ bi.
Dù
gặp phải gian nguy hiểm trở,
Vẫn
một lòng quyết chí theo thầy ;
Chân
không chưa ngộ lý hay,
Vô
thường hai chữ thoát ngay khó mà.
Nguyện
giác linh Phật Đà tiếp dẫn,
Chứng
vô sinh pháp nhẫn cao siêu.
22.
Khoa nghi diễn đọc mấy điều,
Gọi
là hồi hướng ít nhiều chúng sinh.
Nay
trai soạn lòng thành cúng tiến,
Cùng
hương hoa phẩm vật kính dâng ;
Cầu
cho vong giả siêu thăng,
Phúc
lưu tín chủ số hằng hà sa.
Xin
kính tạ các tòa chư vị,
Cùng
Thiên Long hoan hỷ hộ trì ;
Cát
tường như ý từ bi,
Nhân
duyên công đức độ trì chúng sinh.
A
Di Đà chứng minh,
Cùng
thành Phật đạo cùng sinh liên đài.*
164
- VĂN TẾ CÔ HỒN
Hỡi
ôi !
Miền
U cảnh lạnh lùng tăm tối,
Chốn
Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.
Ẩn
dạ đài đợi dứt kiếp căn,
Cõi
Tịnh độ siêu thăng chưa được.
Ấy
bởi tội lỗi gây kiếp trước,
Nhiều
nghiệt oan, ít phước đức công.
Nên
phải mang phiền não dập dồn,
Chịu
thống khổ, phách hồn xiêu lạc.
Cầu
chư Phật oai thần tế bạt,
Lên
Thiên đàng, siêu thoát trần ai.
Nay
trai diên đạm bạc kỉnh bày,
Xin
chư vị tề lai thọ hưởng.
Giúp
lê thứ quốc gia thạnh vọng,
Hộ
đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,
Độ
mười phương sanh chúng bình yên,
Cùng
thí chủ diên niên hạnh phúc.
Lụy
trào đế hầu vương đáng kính,
Vận
nước vong khó tính mưu thành.
Xưa
cửu trùng điện các liệt oanh,
Rủi
một phút tan tành cơ nghiệp.
Chư
tướng soái binh cơ quyền nhiếp,
Chốn
chiến trường nhiều dịp tận trung.
Vì
sa cơ hồn xuống Diêm cung,
Nơi
dương thế âm dung đà khuất.
Tài
bút nghiên văn thần báo quốc,
Tấm
lòng son công chất nhà vàng.
Nào
hay đâu dị lộ tìm đàng,
Rồi
một thuở danh vang tể tướng.
Nhà
cơ cẩn thấy trời bốn hướng,
Lo
bút nghiên vụ tưởng công danh.
Mười
năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,
Ba
thước đất vùi danh tài tử.
Nhàm
cuộc thế lánh thân am tự,
Nương
Phật đường gắng giữ kệ kinh.
Đèn
tắt khuya Thiền thất hư minh,
Hồn
theo gió đăng trình âm cảnh.
Thảm
cho đấng tu chơn dưỡng tánh,
Chốn
lâm tòng đói lạnh không màng.
Lòng
dốc trông nhập đặng Tiên bang,
Chí
chưa toại tầm đàng Địa phủ.
Những
sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,
Tại
trận tiền củ củ oai hùng.
Chịu
tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,
Lằn
tên đạn không dung tánh mạng.
Lo
đồ lợi thương hồ buôn bán,
Nương
thủy triều ngày tháng kinh thương.
Sóng
ba đào phong võ khó lường,
Thân
trôi nổi gởi xương bụng cá.
Mười
tháng chẵn mang con trong dạ,
Lúc
lầm bồn mạng đã tìm Tiên.
Thị
huyết hồ nạn sản chi khiên,
Hoa
mới nở vội liền mưa gió.
Tánh
ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,
Công
sanh thành chưa rõ cao dày.
Hoặc
huyền lương độc dược ra tay,
Bị
lôi chấn đọa đày ngục thất.
Người
bóng quáng thêm mang bịnh tật,
Thác
giữa đàng không đất gởi thây.
Hồn
dật dờ theo gió theo mây,
Thành
Uổng tử đêm ngày đói lạnh.
Người
nghèo khó đốn cây non lãnh,
Chịu
nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.
Bị
độc trùng ác thú hổ lang,
Hoặc
hỏa thán tầm phong dị lộ.
Người
lương thiện tao phùng tật đố,
Bị
ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.
Oan
hồn tìm đến chốn u thâm,
Còn
mắc phải gian cầm gìn giữ.
Gái
khuê các giai nhơn mỹ nữ,
Chẳng
trọn tình cư xử nợ khiên.
Xưa
hương xông phấn ướp phấn duyên,
Nay
đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.
Kẻ
tù tội mắc vòng lao lý,
Chúng
tôi đoài nô tỷ khổ thân.
Thêm
phạt hành độc thủ bất nhân,
Hồn
lìa cách dương trần rất thảm.
Bị
hỏa hoạn tâm hồn mê ám,
Lúc
kinh hoàng khổ thảm biết bao !
Tìm
đường ra khỏi ngọn lửa cao,
Rủi
một phút thân thiêu tro bụi.
Cơn
thủy nạn hoảng kinh bối rối,
Họa
lụt tràn trôi nổi cửa nhà.
Mạng
số suy, thần tử chẳng tha,
Theo
dòng nước hồn ma vĩnh biệt.
Khi
bão tố đá cây ngã liệt,
Sập
cửa nhà đè chết nào hay.
Hồn
dật dờ theo cảnh gió mây,
Chịu
đau đớn đọa đày nẻo tối.
Cuộc
tang thương tuần hoàn thay đổi,
Chấn
động miền non núi đất liền.
Bị
lấp chôn hồn phách đảo điên,
Chịu
muôn nỗi não phiền đau đớn.
Bị
xe cán nát thây rùng rợn,
Vận
kiếp xui họa lớn nào hay.
Bà
con trông than khóc thảm thay,
Cơn
hoảng hốt hồn lai uổng tử.
Vì
ái dục si tình tự tử,
Cơn
đắm mê nào sợ tội mang.
Gieo
mình nơi biển nghiệp sông oan,
Hồn
phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.
Ít
phước đức họa tai lôi kéo,
Đời
lao công nhiều nẻo hiểm nguy,
Trên
giàn cao ngã té bất kỳ,
Thân
tan nát hồn phi phách tán.
Nơi
chiến địa lâm cơn tạc đạn,
Thi
hài tiêu tứ tán khó nhìn.
Thảm
thương cho hồn phách linh đinh,
Miền
âm cảnh muôn nghìn khổ não.
Người
lương thiện chết oan điên đảo,
Vì
đạn tên lạc náo xóm làng.
Oan
hồn cam vào chốn nguy nan,
Chịu
u ám, xa đàng giải thoát.
Bị
khổ bức vì tình đen bạc,
Tự
hủy mình cam chác nghiệp sâu.
Mũi
đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,
Hồn
phưởng phất biết đâu nương dựa !
Bị
cướp giặc lòng tham hung dữ,
Đoạt
của rồi giết chủ thác oan.
Hồn
dật dờ thảm khổ muôn đàng,
Kết
thù oán khôn toan siêu độ.
Đời
mạc kiếp loạn ly tội lỗi,
Bị
hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.
Phách
hồn oan lạc lối u minh.
Lòng
khổ bức muôn nghìn oán hận.
Đời
giặc giã nghịch thù vô tận,
Chôn
sống người giữa đám đồng hoang.
Tiếng
khóc la oán khí đầy tràn,
Trong
giây phút dương gian cách biệt.
Giặc
bất lương giết người chẳng tiếc,
Trói
lương dân thù ghét quăng sông.
Lặn
hụp nơi nước cuốn giữa dòng,
Thân
trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.
Bị
oán chạ chém đâm tàn nhẫn,