V
CÁC
BÀI SÁM VĂN
CẢNH
SÁCH – VĂN TẾ
104.
SÁM VÔ THƯỜNG
(Cảnh
tỉnh vô thường 4)
Biển
trần khổ sóng bồng lai láng,
Kiếp
phù sanh đáng chán biết bao,
Tấm
thân chìm đắm dạt dào,
Mịt
mờ chưa biết đời nào thoát ly.
Cõi
giả tạm ích gì sự thế,
Uổng
tâm tư tìm kể miên trường,
Trần
hoàn vạn vật vô thường,
Khổ
não, vô ngã đầy đường chông gai.
Do
nghiệp báo lưu lại từ trước,
Các
pháp hành, tạo được thân duyên,
Pháp
hành kế tục nhau liền,
Diệt
sanh, sanh diệt triền miên không ngừng.
Người
hay thú đồng chung số phận,
Hễ
có thân ngũ uẩn không bền,
Chịu
điều biến đổi đảo điên,
Sanh,
già, đau, chết không yên lúc nào.
Thể
vật chất không sao giữ nỗi,
Sức
vô thường phá mỗi sát na,
Xét
cùng đâu phải thân ta,
Khó
ngăn tóc bạc không cầm răng long.
Lửa
ái dục đốt lòng từ phút,
Vấy
ưu phiền, chẳng chút nào nguôi,
Dễ
chi đặng tạm an vui,
Suy
mòn vì nhuộm nặng mùi trần ai.
Chứng
thân chết nảy hơi hôi hám,
Người,
ai ai chẳng dám lại gần,
Gớm
ghê, dầu bậc chí thân,
Đều
sợ xui lụy vương lân, cửa nhà.
Chọn
một chốn rừng già thanh vắng,
Đem
thây thi an táng cho xong,
Địa
táng, hỏa táng chẳng đồng,
Tùy
duyên, tùy lực, vẫn không quản gì.
Đưa
xác chết, người đi đông đúc,
Kẻ
thân nhân uất ức, khóc than,
Hình
hài ba khúc rã tan,
Thinh
danh tiêu diệt họ hàng cách xa.
Khổ
tử biệt thiết tha nung nấu,
Biệt
gia tài, của báu, tình yêu,
Tấm
thân ngũ uẩn đã tiêu,
Đất,
nước, gió, lửa, về nhiều căn nguyên.
Thân
đã chẳng thiêng liêng ngày tháng,
Buổi
chia lìa ngao ngán đau thương,
Chúng
sinh, ba cõi vô thường,
Nên
vun cội phước, tìm đường siêu sanh.
Lựa
các thứ nhân lành gieo giống,
Quả
kết trong kiếp sống về sau,
Mở
lòng bố thí dồi dào,
Học
kinh, trì giới, khá mau tu hành.
Kẻo
rồi phải điêu linh sa đọa,
Vào
bốn đường ác đạo khó khăn,
Vô
cùng khốn khổ thân tâm,
Đời
đời kiếp kiếp trầm luân không về.
Thân
khẩu ý giữ gìn trong sạch,
Dẫn
trên đường thanh bạch mà đi,
Dầu
cho chuyển kiếp đến kỳ,
Cũng
còn trông ngóng thoát ly khổ sầu.
Rán
hối quá quay đầu hướng thiện,
Ác
nghiệp trần, đoạn tuyệt chớ gieo,
Tâm
đừng xu hướng, vui theo,
Thiện
duyên gầy dựng, trần lao dứt lần.
Các
phương pháp, yên tâm định trí,
Chúng
sinh cần tìm kiếm học hành,
Cho
lòng bi mẫn phát sanh,
Dứt
nguồn khổ não biến thành an vui.
---------------
-Trích
Nhựt Hành của Người Tại Gia Tu Phật. THPG Tp. HCM, 1991
105.
SÁM HỒNG TRẦN
(Cảnh
tỉnh vô thường 5)
Cõi
trần thế sắc thân trôi nổi,
Mấy
ai từng trăm tuổi được đâu;
Đời
là bể khổ bấy lâu,
Chỉ
vì mê muội ăn sâu khôn rời.
Bởi
vô minh tự thời vô thủy,
Thọ,
tưởng, hành, thức khởi nhân duyên;
Luân
hồi sinh tử liên miên,
Ra
vào ba cõi, xuống lên sáu đường.
Lê
Long Đỉnh khôn lường hoang đạo,
Giết
dân lành, dâm bạo vô lương;
Nhãn
tiền nghiệp báo liệt giường,
Hờn
chồng oán chất, cùng đường bỏ thân.
Lý
Thái Tổ xuất thân học đạo,
Lấy
đức lành dạy bảo dân yên,
Lẫy
lừng phạt Tống bình Chiêm,
Mấy
trăm năm Lý, văn minh rạng ngời.
Trần
Thái Tôn dựa nơi Phật pháp,
Lấy
tu hành trị nước an dân;
Mấy
lần đuổi giặc ngoại xâm,
Truyền
ngôi kế vị mấy trăm năm liền.
Hãy
nhìn lại tôi hiền Nguyền Trãi,
Tận
trung mà vẫn phải oan gia;
Vì
sao tru diệt cả nhà?
Vì
sao ba họ rồi ra bỏ đời?
Về
sao được phục hồi chức tước,
Có
phải vì nghiệp trước hay không?
Anh
hùng cái thế Quang Trung,
Vì
sao mạng yểu não nùng non sông?
Nhìn
những cảnh vô thường khôn xiết,
Tử
sinh mà ai biết ra sao?
Đời
này đời trước đời sau,
Người
hiền tự thuở trông vào đức nhân.
Hãy
nhìn lại Lý, Trần, Lê, Nguyễn,
Người
hiếu hiền thể hiện đức nhân,
Dù
cho danh lợi muôn phần,
Bất
nhân thất đức xa gần ai khen?
Giữa
trần tục bon chen danh lợi,
Mùi
thế trần sao vội cho thơm;
Vinh
hoa phú quý chập chờn,
Như
là bọt nước trong cơn sóng cồn.
Thuốc
tiên của Lãn Ông Hải Thượng,
Đã
bao giờ cứu mạng mình đâu;
Sinh
già bệnh chết bấy lâu,
Đã
thành qui luật gây bao khổ sầu.
Dù
vua chúa công hầu khanh tướng,
Hay
nghèo hèn vất vưởng thương đau;
Cuối
cùng ba tấc đất sâu,
Yên
mình một nấm cỏ khâu xanh rì.
Đã
biết vậy đừng mê muội nữa,
Kiếp
nổi chìm lần lựa trôi qua;
Thành
tâm niệm Phật Di Đà,
Làm
lành, gây phước để mà tu tâm.
Đã
biết cảnh hồng trần trôi nổi,
Một
ngày nào cát bụi buông xuôi;
Vô
thường muôn sự rõ rồi,
Hoa
sen chín phẩm là nơi an bình.
Đã
qui luật tử sinh không khỏi,
Sống
cũng đừng nông nổi gian tham,
Chỉ
vì nghiệp ác đã làm,
Chuốc
vào quả báo lại càng đau thương.
Quyền
chức trọng đường đường tự đắc,
Chỉ
một cơn gió lốc tiêu điều!
Của
tiền tranh đoạt bao nhiêu,
Rồi
hai thước đất ai nhiều hơn ai?
Hãy
về trước Phật đài sám hối,
Biết
bao điều tội lỗi xưa nay;
Nhất
tâm niệm Phật đêm ngày,
Nguyện
về Cực lạc ngồi đài hoa sen.
-------------------
-Trích
Kinh Báo Hiếu và Vu Lan, chùa Giác Ngộ ấn hành nội bộ, Sàigòn,
1994
106.
KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN
(Thí
thực cô hồn I)
Trước
cửa Phật lập đàn phổ thí,
Cho
trọn đều quân lợi âm dương,
Quang
minh tỏ khắp mười phương,
Kính
dâng một nén tâm hương ngạt ngào.
Cơn
mưa tuệ dồi dào tưới khắp,
Bóng
mây từ che rợp mọi nơi,
Lọt
đâu dưới đất trên trời,
Từ
bi tế độ muôn đời viên thông.
Trên
đức Phật rất công rất chính,
Dạy
cho đời luyện tính tu tâm,
Thương
người đọa kiếp tối tăm,
Giáo
Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.
Lòng
từ mẫn mọi bề thương hết,
Nay
gặp ngày Đản tiết nên quy,
Trước
Đàn tề chỉnh oai nghi,
Tuyên
dương để chứng quy y thực hành.
Hạnh
giải thoát chúng sinh khổ não,
Cõi
Ta bà sáu đạo loanh quanh,
Âm
ty địa ngục đã đành,
Dương
gian địa ngục nỗi tình thêm thương.
Nói
không xiết trăm đường đày đọa,
Rồi
mang tai trát họa vào thân,
Không
sao khỏi nghiệp tham sân,
Ăn
quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.
Nào
những hạnh ranh ma quỉ quái,
Dối
lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?
Bo
bo giữ thói ở xằng,
Cái
dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.
Nào
những hạng lòng chim dạ thú,
Ghét
ghen nhau làm đủ tội tình,
Khư
khư quen thói chẳng lành,
Cái
vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.
Nào
những kẻ yếu đau què quặt,
Phận
hẩm hiu trời bắt chịu đày,
Thật
là khổ ách không may,
Nào
ai có muốn thân này thế đâu!
Nào
những kẻ âu sầu lòa lẫm,
Số
cưu mang câm điếc phải đành,
Thực
là khốn khổ thương tình,
Ý
ai chẳng muốn thân mình phong quang?
Vì
túc trái ngỡ ngàng sao đó,
Hoặc
tiền nhân nghiệp thọ thế nào,
Thực
lòng luống những lao đao,
Cửa
từ bi nỡ để ngơ sao đành.
Thầy
nay dạy thực hành chánh đạo.
Dòng
Thiền học Phật giáo chủ trương,
Quang
minh quảng đại vô lường,
Ba
thừa giáo hóa mọi phương thi hành.
Giữ
một mực chí thành tinh tiến,
Dập
các duyên hư huyễn hão huyền,
Những
môn tà đạo lưu truyền,
Nay
quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.
Trước
Đàn ngoại lễ nghi các thức,
Trên
đài sen tỏ đức huyên minh,
Thầy
đây lập nguyện chí thành,
Tuyên
dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.
Hiện
nay có chư Thiên hậu thổ,
Cửa
từ bi tế độ không cùng,
Đạo
tràng Thiền học lưu thông,
Tu
hành chân thật thủy chung một lòng.
Đàn
phổ thí phẩm vật nghi tiết,
Thầy
dạy thêm cho biết công duyên,
Những
người quỳ trước Phật tiền,
Đem
câu nhân quả phổ truyền rộng ra.
Dặn
hết thảy gần xa thiện tín,
Nên
thành tâm phát nguyện quy y,
Nương
nhờ Tam bảo hộ trì,
Ăn
chay niệm Phật mà quy cho tròn.
Xem
nhân thế càn khôn che chở,
Nhứt
hoàn hương duyên nợ phong trần,
Hỡi
ai kết quả tạo nhân,
Xem
cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.
Muốn
xét lại cho hay nghiệp trước,
Hiện
thọ đây thấy được tỏ tường,
Muốn
mong kiếp nữa vẻ vang,
Sự
hành trì phải sửa sang tự giờ.
Nhân
mấy quả trong cơ chuyển hóa,
Nhân
có đầy thì quả mới nên,
Thầy
nay chỉ dẫn căn nguyên,
Cõi
dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.
Ơn
đức Phật lời vàng khuyên nhủ,
Dạy
chúng sinh tín thụ cho hay,
Phúc
thời vui vẻ như đây,
Họa
thời khổ não đọa đầy như trên.
Nam
Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.
-----------------
-Trích
Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971
107.
SÁM TRIỆU CÔ HỒN
(Thí
thực cô hồn 2)
Hỡi
linh hồn trước sau tề tựu,
Nghe
lời khuyên để rũ tội mình,
Quan
Âm Địa Tạng oai linh,
Thích
Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.
Hỡi
uổng tử hồn oan phưởng phất!
Noi
tâm lành của Phật làm gương,
Diêm
La cực khổ trăm đường,
Mau
tu thì đặng Tây phương thâu về.
Hỡi
linh hồn chết chìm đáy biển,
Và
bao người độc dược bỏ thân!
Tiếng
chuông tỉnh thức dần dần,
Đừng
ham cõi tục trầm luân luân hồi.
Hỡi
các hồn chết thiêu chết chém,
Hổ
giảo thân bị yểm bị trù!
Kíp
tìm kinh kệ sớm tu,
Khỏi
vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.
Hỡi
hồn thác trong cơn binh lửa,
Chết
phong ba chết giữa núi non!
Nếu
nghe chuông dục bon bon,
Mùi
hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.
Hỡi
hồn ơi! Vì tình chư Phật,
Ta
khuyên hồn đất Phật là nơi,
Các
hồn sẽ đặng thảnh thơi,
Hưởng
mùi hương Phật suốt đời đặng an.
Hỡi
hồn đã lỡ làng trót dại,
Theo
đàng tà quỉ quái yêu tinh,
Nay
đây khẩn nguyện chân kinh,
Khuyên
hồn phải rán sửa mình cho tinh.
Hỡi
hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,
Nương
gió mây thừa thải từ xưa!
Hồn
ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,
Những
người gian ác dối lừa Phật tiên.
Hỡi
hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,
Ngài
ra ơn gột khổ sanh linh.
Hỡi
hồn bị bịnh bỏ mình,
Và
hồn dậy phá chân kinh loạn trần.
Nghe
ta kinh kệ giải phân,
Cầu
cho hồn đặng muôn phần yên vui.
Hỡi
hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,
Ta
khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,
Mùi
hương lư ngọc bổng trầm
Khéo
tu hồn sẽ an tâm giữa trời.
Các
hồn bị cá xơi, rắn cắn,
Cùng
những hồn số vắn vô danh,
Hãy
nghe kinh kệ ăn năn,
Rồi
đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.
Hỡi
những hồn vì lời gièm xiểm,
Nên
hủy mình chết lụn căm gan,
Sớm
nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,
Phật
kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.
Nam
mô độ hộ muôn hồn,
Vì
hồn trót dại quáng mù từ xưa.
Kinh
là phước, cầu đưa tội lỗi,
Tu
là lành, sám hối ngàn năm.
Lạy
cầu chư Phật từ tâm,
Khẩn
van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.
Tiếng
chuông ngân hương thơm giải thoát.
Nước
nhành dương rảy mát xác phàm,
Hỡi
hồn cư ngụ muôn am!
Về
đây hưởng thực cầu van sửa mình.
Nam
Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)
----------------------
-Trích
Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974
-Bài
dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.
108.
SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA
(Thí
thực cô hồn VI)
NGUYỄN
DU
Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát
hơi may lạnh ngắt xương khô;
Não
người thay buổi chiều thu!
Ngàn
lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,
Đường
bạch dương bóng chiều man mát,
Ngọn
đường lê lác đác mưa sa,
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha?
Cõi
dương còn thế huống là cõi âm.
Trong
trường dạ tối tăm trời đất,
Xót
khôn thiêng phảng phất u minh!
Thương
thay thập loại chúng sinh,
Phách
đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.
Hương
khói đã không nơi nương tựa,
Phận
mồ côi lần lữa đêm đêm;
Còn
chi ai khá ai hèn,
Còn
chi mà nói kẻ hiền người ngu!
Tiết
đầu thu dựng Đàn giải thoát,
Nước
tịnh bình rưới hạt dương chi.
Muôn
nhờ Phật lực từ bi,
Giải
oan cứu khổ hồn về Tây phương.
Nào
những kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí
những lăm cướp gánh non sông;
Nói
chi đương thuở thị hùng,
Tưởng
khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng
phút đâu mưa bay, ngói lở,
Khôn
đem mình làm đứa sất phu;
Giàu
sang càng nặng oán thù,
Máu
tươi lai láng, xương khô rã rời.
Đoàn
vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ
không đầu van khóc đêm mưa;
Đã
hay thành bại là cơ,
Mà
u hồn biết bao giờ cho tan!
Nào
những kẻ màn loan, trướng huệ,
Những
cậy mình cung quế Hằng nga;
Một
phen thay đổi sơn hà
Mảnh
thân chiếc lá biết là làm sao?
Trên
lầu cao dưới dòng nước chảy,
Phận
đã đành trâm gãy bình rơi;
Khi
sao đông đúc vui cười,
Mà
khi nhắm mắt không người nhặt xương!
Thảm
thiết nhẽ không hương, không khói,
Hồn
ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;
Thương
thay chân yếu tay mềm,
Càng
năm càng héo, càng đêm càng rầu.
Nào
những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngòi
bút son thác sống ở đây;
Kinh
luân chất một túi đầy,
Đã
đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.
Thịnh
mãn lắm oán thù càng lắm,
Trăm
loài ma mồ nấm chung quanh;
Nghìn
vàng không đổi được mình,
Lầu
ca, viện xướng, tan tành còn đâu?
Kẻ
thân thích vắng sau vắng trước,
Biết
lấy ai bát nước nén nhang?
Cô
hồn thất thểu dọc ngang,
Mạng
oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.
Nào
những kẻ bày binh bố trận,
Đem
mình vào cướp ấn Nguyên nhung.
Gió
mưa sấm sét đùng đùng,
Rải
thây trăm họ, làm công một người.
Khi
thất thế cung rơi, tên lạc,
Bãi
sa trường, thịt nát máu rơi;
Bơ
vơ góc biển chân trời,
Nắm
xương vô chủ biết vùi nơi nao?
Trời
thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí
âm huyền mờ mịt trước sau;
Ngàn
cây nội cỏ rầu rầu,
Nào
đâu điếu tế nào đâu chưng thường?
Cũng
có kẻ tính đường trí phú,
Làm
tội mình nhịn ngủ bớt ăn;
Ruột
rà không kẻ chí thân,
Dẫu
làm nên nữa dành phần cho ai?
Khi
nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của
phù vân dù có như không;
Sống
thời tiền chảy bạc ròng,
Thác
không đem được một đồng nào đi.
Khóc
ma mướn thương gì hàng xóm,
Hòm
gỗ đa, bó đóm đưa đêm;
Ngẩn
ngơ nội lộc đồng chiêm,
Tàn
hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?
Cũng
có kẻ rắp cầu chữ quí,
Dấn
mình vào thành thị lân la;
Mấy
thu lìa cửa, lìa nhà,
Văn
chương đã chắc đâu mà chí thân?
Dọc
hàng quán phải tuần mưa nắng,
Vợ
con nào nuôi nấng khem kiêng?
Vội
vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh
em thiên hạ láng giềng người dưng.
Bóng
phần tử xa chừng hương khúc,
Bãi
tha ma kẻ dọc người ngang;
Cô
hồn nhờ gởi tha hương,
Gió
trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.
Cũng
có kẻ vào sông ra bể,
Cánh
buồm mây chạy xế gió đông;
Gặp
cơn giông tố giữa dòng,
Đem
thân chôn giấp vào lòng kình nghê.
Cũng
có kẻ đi về buôn bán,
Đòn
gánh tra chín dạn hai vai;
Gặp
cơn mưa nắng giữa trời,
Hồn
đường phách sá lạc loài nơi nao?
Cũng
có kẻ mắc vào khóa lính,
Bỏ
cửa nhà gồng gánh việc quan;
Nước
khe cơm vắt gian nan,
Dãi
dầu nghìn dặm, lầm than một đời.
Buổi
chiến trận mạng người như rác,
Phận
đã đành đạn lạc tên rơi;
Lập
lòe ngọn lửa ma chơi,
Tiếng
oan văng vẳng tối trời càng thương.
Cũng
có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,
Liều
tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;
Ngẩn
ngơ khi trở về già,
Ai
chồng con tá biết mà cậy ai?
Sống
đã chịu một đời phiền não,
Thác
lại nhờ hớp cháo lá đa;
Đau
đớn thay phận đàn bà,
Kiếp
sinh ra thế biết là tại đâu?
Cũng
có kẻ nằm cầu gối đất,
Rồi
tháng ngày hành khất ngược xuôi;
Thương
thay cũng một kiếp người,
Sống
nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.
Cũng
có kẻ mắc đoàn tù rạc,
Gởi
mình vào chiếu rách một manh;
Nấm
xương chôn rấp góc thành,
Kiếp
nào cởi được oan tình ấy đi.
Kìa
những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi
giờ sinh lìa mẹ lìa cha;
Lấy
ai bồng bế xót xa.
U
ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.
Kìa
những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng
có người sẩy cỗi sa cây;
Có
người gieo giếng thắt dây,
Ngược
trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,
Người
thì mắc sơn tinh thủy quái,
Người
thì sa nanh sói ngà voi;
Có
người hay đẻ không nuôi,
Có
người sa sẩy, có người khốn thương.
Gặp
phải lúc đi đường nhỡ bước,
Cầu
Nại hà kẻ trước người sau;
Mỗi
người một kiếp khác nhau,
Hồn
xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?
Hoặc
là ẩn ngang bờ, dọc bụi,
Hoặc
là nương ngọn suối chân mây;
Hoặc
là điếm cỏ bóng cây,
Hoặc
là quán nọ, cầu này bơ vơ.
Hoặc
là nương thần từ Phật tự,
Hoặc
là nhờ đầu chợ, cuối sông;
Hoặc
là trong quảng đồng không,
Hoặc
nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.
Sống
đã chịu mọi bề thảm thiết,
Ruột
héo khô, dạ rét căm căm;
Dãi
dầu trong mấy mươi năm,
Thở
than dưới đất, ăn nằm trên sương;
Nghe
gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Lặn
mặt trời lẩn thẩn tìm ra;
Lôi
thôi bồng trẻ dắt già,
Có
khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.
Nhờ
pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,
Bóng
hào quang cứu khổ độ ưu;
Rắp
hòa tứ hải quần chu,
Não
phiền trút sạch, oán thù rửa không.
Nhờ
đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển
pháp luân tam giới thập phương,
Nhởn
nhơ Tiêu Diện đại vương,
Linh
kỳ một lá dẫn đường độ sinh.
Nhờ
Phật lực uy linh dũng mãnh,
Trong
giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;
Mười
loài là những loài nào,
Gái
trai, già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp
phù sinh như bào như ảnh,
Có
chữ rằng: vạn cảnh giai không;
Ai
ơi lấy Phật làm lòng,
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn
chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của
có chi bát nước nén nhang;
Gọi
là manh áo thoi vàng,
Giúp
cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai
đến đấy dưới trên ngồi lại,
Của
làm duyên chớ ngại bao nhiêu:
Phép
thiêng biến ít thành nhiều,
Trên
nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.
Phật
hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ
ngại rằng có có không không;
Nam
mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
Nam
mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.
---------------
-Trích
Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn,
1973
109.
VĂN TẾ CÔ HỒN
(Thí
thực cô hồn 4)
TRA
AM VIÊN THÀNH
Tượng
nghe đại địa sơn hà,
Luống
trong sinh tử cửa nhà vốn không.
Cô
hồn hoạnh tử yểu vong,
Nương
thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.
Trên
thì tướng tướng, vương công,
Dưới
thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.
Gái
trai những kẻ tôn ti,
Hoặc
là tử trận, có khi oan tình.
Hoặc
là vương pháp gia hình,
Uống
trúng độc dược hại mình tự nhiên.
Sa
cơ sống gió chìm thuyền,
Lỡ
làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.
Xà
thương hổ đả hải hùng,
Huyết
hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!
Hoặc
là mắc phải thiên lôi,
Vong
thân chú trớ bồi hồi mạng chung.
Hoặc
là đường sá lỡ làng,
Mắc
phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.
Hà
sa phẩm loại khôn cùng,
Lòng
thành tín chủ mời chung các loài.
Từ
rằng theo bóng Như lai,
Đã
không cứu vớt lấy ai nương nhờ.
Từ
đường đâu có phụng thờ,
Cô
đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.
Thảm
thương mặt nước cung mây,
Rả
rời xương thịt, hồn bay lạc loài.
Chẳng
hay thử vãng hàn lai,
Bốn
mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.
Thân
bằng ít kẻ tri âm,
Lấy
ai cứu vớt mà hòng thoát ly!
Thảm
thương về chốn thổ ty,
Luôn
trong diểu diểu lấy gì mà ra!
Nương
nhờ tín chủ toàn gia,
Thọ
tài hưởng thực mà qua Liên trì.
Từ
rằng vâng phép từ bi,
Siêu
phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.
Sớm
khuya cửa Phật ân cần.
Phù
trì gia chủ thừa ân những ngày.
Đừng
còn theo thói mê say,
Tham
lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.
Nam
mô đức Phật Di Đà,
Phóng
quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.
*
Trước
triệu thỉnh lủy triều đế chủ,
Trên
ngai vàng trải nối hầu vương.
Chín
tầng điện các đài gương,
Nước
non muôn dặm, mười phương cầm
quyền.
Nghìn
năm vương khí danh truyền.
Xe
loan để tiếng oán phiền chưa thôi!
Tiếng
quyên kêu nguyệt bồi hồi,
Gành
đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.
Tiền
vương hậu bá khôn lường,
Nghe
lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.
*
Lại
thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,
Đấng
hiền lương trí dũng khôn ngoan.
Giá
trong tiết trắng làm quan,
Một
lòng báo quốc nên trang đan thành.
Nam
châu bắc huyện thơm danh,
Theo
nơi tang thác bỏ đành quê hương.
Thiên
nhai hải giác khôn lường,
Sa
cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.
Than
ôi! Những đấng anh tài,
Theo
dòng thệ thủy cách đài dương quan.
*
Lại
thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,
Chức
phong hầu đứng trước muôn dân.
Sức
dời bảo đỉnh nghìn cân,
Trường
thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.
Trước
hùm sương nhiễm, ghê thay!
Sa
cơ một phút đổi thay công hầu.
Thương
ôi người ngựa ở đâu,
Xui
nên họa cả thảm sầu khôn dung.
Xiết
bao tướng súy anh hùng,
Lánh
nơi vinh hiển theo cùng âm ty.
Những
người sa trụy bất kỳ,
Nghe
lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.
*
Lại
thỉnh kẻ văn nhân tài tử,
Chốn
thư phòng cửa Khổng vào ra,
Bút
nghiên kinh sử ngâm nga,
Văn
chương tu luyện đợi khoa nương mình.
Mơ
màng lấp lóa đèn huỳnh,
Công
phu khổ dụng đăng trình gặp khi.
Mười
năm tân khổ mong thi,
Nào
hay một phút xa kỳ công danh!
Hồng
lô tính tự rành rành,
Đất
vàng một nấm lấp thành văn chương.
Văn
nhân tài tử không lường,
Nghe
lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.
*
Lại
thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,
Nương
rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.
Cao
Tăng quyết chí tinh tu,
Trăm
năm giới luật công phu dùi mài.
Giữ
gìn phạm hạnh hôm mai,
Tỳ-kheo
Ni chúng khác người thế gian.
Hoàng
hoa, thủy trúc luận bàn,
Không
đàm bí mật nên mang thế tình.
Bóng
đèn lấp lóa hư minh,
Than
ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.
Nghe
lời Bát nhã, Phạm âm,
Truy
y Thích tử lại lâm đáo đàn.
*
Lại
thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,
Chốn
Bồng lai sớm luyện đan tiên.
Nương
theo thạch động đào nguyên,
Tu
tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.
Danh
thơm chưa nức trong đời.
Vô
thường khi đã đổi dời công phu.
Thương
ôi! Sương tuyết dãi dầu,
Tiêu
điều gió thảm hoa sầu hơi sương.
Huyền
môn đạo sĩ khôn lường,
Nghe
lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.
*
Lại
thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,
Với
những kẻ lâm trận kiện nhi.
Cầm
bạch tiết, vác hồng kỳ,
Tức
gan quyết chí trận kỳ hơn thua.
Trung
thành hết sức phò vua,
Nào
hay một phút xa đưa dặm trường.
Thương
ôi! Huyết lụy sa trường,
Thà
ôm xương trắng để đường cho ai!
Trận
vong binh sĩ an tài,
Nghe
lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.
*
Lại
thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,
Chốn
lâu đài khuê các vào ra.
Ướp
xông hương xạ diềm dà,
Phấn
thoa sáp đánh màu da khác người.
Mặt
hoa mày liễu tốt tươi,
Hình
dung yểu điệu, miệng cười như hoa,
Hồn
tiên kim ốc vào ra,
Hoa
tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!
Thương
ôi! Ngọn gió thổi sầu,
Đống
xương khô héo dãi dầu cỏ sương.
Quần
thoa phụ nữ khôn lường,
Nghe
lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.
*
Lại
thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,
Trải
tháng ngày mua bán tranh đua.
Đổi
dời lừa tráo hơn thua,
Đào
công nối nghiệp bán mua so lường.
Chẳng
ngờ nổi trận phong sương,
Mình
vào ngư phúc dương trường, khốn thay!
Hồn
dời bể bắc dặm dài,
Phách
về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.
Tha
hương lữ khách lỡ thời,
Nghe
lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.
*
Lại
thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,
Chịu
đắng cay tọa thảo tam triêu;
Bằng
khi loan phụng hòa yêu,
Hùng
bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.
Gái
trai còn hãy chưa hay,
Đêm
trường mẫu tử, phút này giai quy.
Thương
ôi! Hoa nở chính kỳ,
Nào
hay một phút gặp khi mưa dầm.
Huyết
hồ sản nạn lỗi lầm,
Nghe
lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.
*
Lại
thỉnh kẻ nhung di man địch,
Tiếng
chẳng thuần ngọng lịu như câm.
Lại
còn trong dạ hiểm thâm,
Cưu
điều hung dữ lưu tâm hại người.
Khinh
khi Tam bảo chê cười,
Tội
khiên chất để bằng mười hà sa.
Ngổ
ngang mắng mẹ khinh cha,
Ác
cao như núi chết mà không tha.
Chẳng
may hồn phách la đà,
Mịt
mờ vũ trụ bao là đớn đau!
Thương
ôi! Ẩn ẩn phương nào,
Ngày
xuân chẳng thấy ra vào u quan!
Hỡi
người bội nghịch si ngoan,
Nghe
lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.
*
Lại
thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,
Bị
lao tù mắc phải gia hình.
Gặp
cơn thủy hỏa bất bình,
Một
đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.
Nghìn
năm oan khí chưa xong,
Linh
hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.
Trời
xanh tiếng hạc rộn ràng,
Gió
lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!
Mấy
người hoạnh tử xưa nay,
Nghe
lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.
--------------------
-Trích
Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha
Trang, 1972
110.
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH (II)
Đức
Bồ-tát hiệu Quan Tự Tại,
Dầy
công tu huệ mới mở mang,
Chơn
như một ánh linh quang,
Chiếu
soi năm uẩn đều không có gì.
Bát
nhã huệ soi đi khắp chốn,
Dứt
mọi đường khổ khốn tai nàn,
Xá
Lợi tâm chớ nghi nan,
Sắc
kia nào khác cái không đâu mà.
Cái
không nọ nào xa cái sắc,
Sắc
là không, không sắc như nhau,
Thọ,
tưởng, hành, thức khác đâu,
Chơn
không xét cũng một màu thế thôi.
Này
Xá Lợi nghĩ coi có phải,
Những
pháp không xét lại thực là,
Chẳng
danh chẳng dứt đó mà,
Sạch
dơ thêm bớt cũng là chơn không.
Ấy
vậy phải xét thông mọi lẽ,
Như
hư không có vẻ gì đâu,
Thọ,
tưởng, hành, thức sạch lầu,
Nhãn,
nhĩ, tỹ, thiệt còn đâu nương nhờ.
Thân,
ý cũng hững hờ như thế,
Lục
trần kia cũng kể là không,
Đã
không nhãn giới suốt thông,
Đến
ý, thức, giới cũng không thấy gì.
Vô
vô minh nương chi mà có,
Bổn
tánh Ngài soi nó phải tiêu,
Đã
không lão tử hiểm nghèo,
Còn
đâu già chết hòng theo quấy rầy.
Khổ
tập, diệt đạo không thay,
Trí
còn chẳng có đắc đầy được đâu,
Vô
sở đắc là câu tuyệt diệu,
Bồ-tát
xưa khéo liệu đường tu.
Chơn
không bổn tánh như như,
Nhờ
huệ Bát nhã thiệt hư soi lầu,
Không
ngăn ngại còn đâu lo sợ,
Mộng
tưởng không tâm chẳng đảo điên.
Chơn
như bổn tánh thiên nhiên,
Niết-bàn
cõi ấy chứng lên đạo mầu.
Tam
thế Phật ngôi cao chứng quả,
Thảy
đều nhờ Bát nhã tu nên,
Bát
nhã này rất thiêng liêng,
Ấy
đại thần chú giúp nên đạo thiền.
Ấy
thần chú đại miêng sáng chói,
Chú
vô thượng vòi vọi cao xa,
Vô
đẳng đẳng chú ấy mà,
Gồm
đủ thần lực thiệt là tối linh,
Những
khổ não thênh thênh trừ hết,
Lời
nói này chơn thiệt chẳng ngoa,
Vậy
nên Bát nhã thuyết qua,
Này
câu thần chú niệm ra như vầy:
Yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la Tăng yết đế, Bồ-đề
tát bà ha (3 lần)
--------------------
-Trích
Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1971
