III
CÁC
BÀI SÁM VĂN
TÁN
DƯƠNG – KỶ NIỆM PHẬT – BỒ TÁT
84.
SÁM THÍCH CA
(Sám
tán Bổn sư II)
Nam
mô Phật Tổ Thích Ca,
Ta
bà Giáo chủ liên tòa ngự an.
Hào
quang chiếu diệu huy hoàng,
Mười
phương ứng hóa muôn vàn kim thân.
Thương
đời xưa giáng trược trần,
Tuyết
sơn tìm đạo khổ tân muôn phần.
Đạo
thành phổ độ chúng dân,
Muôn
loài nhuần gọi oai ân đức Ngài.
Vô
thượng Chánh giác đạo khai,
Pháp
luân thường chuyển khắp rày bốn châu.
Nhân
duyên thập nhị cao sâu,
Tứ
đế Bát chánh đạo mầu diệu dương.
Cùng
là Lục độ chơn thường,
Muôn
vàn diệu hạnh, giới hương diễn toàn.
Luân
hồi quả báo nghiệt oan,
Nhiệm
mầu giáo lý, đạo tràng mở mang.
Tam
thừa phương tiện dẫn đàng,
Tùy
duyên độ chúng mười phuong khỏi nàn.
Đồng
nương Bát Nhã từ thoàn,
Vượt
qua biển khổ đặng an Niết bàn.
Cao
Tăng đệ tử muôn ngàn.
Bồ-tát,
Duyên giác cùng hàng Thanh văn.
Tam
thân, Tứ trí, huệ căn,
Đạo
hạnh viên mãn đồng đăng Phật tòa.
Pháp
truyền tự giác giác tha,
Độ
mình độ thế rất là từ bi.
Linh
Sơn thuyết pháp cao kỳ,
Chánh
pháp Nhãn tạng chơn vi đạo thiền.
Chơn
như Diệu giác tâm nguyên,
Thật
là Chánh pháp Phật truyền muôn năm.
Kim
Cang Bát Nhã chơn tâm.
Vô
thượng công đức thậm thâm diệu huyền.
Phaùp
moân phöông tieän voâ bieân,
Trong
Kinh, Luật, Luận chép biên rõ bày.
Cúi
xin đức cả Như lai,
Độ
trong thế giới hiện nay hòa bình.
Khiến
cho thủy hỏa đao binh,
Tam
tai bát nạn khổ hình giải tiêu.
Hằng
năm võ thuận phong điều,
Nhà
an nước trị tiêu diêu lạc nhàn.
Nguyền
trong ba cõi trần gian.
Chúng
sinh đồng đặng siêu thăng Niết-bàn.
Lại
nguyền Tam bảo đạo tràng.
Nhờ
ân Phật Tổ điểm ban diệu huyền.
Đạo
mầu Chánh giác hoằng tuyên.
Pháp
môn vĩnh viễn rộng truyền khắp nơi,
Độ
người biển khổ lưng vơi,
Lên
thuyền Bát Nhã về nơi thanh nhàn.
Nam
mô Ta Bà Giáo chủ, đại từ đại bi, Bổn sư Thích Ca Mâu
Ni Phật.
--------------------
-Trích
Thiền Môn Nhựt Tụng, HT Minh Trực, Phật Bửu Tự xb,
Sàigòn, 1992
85.
SÁM DI LẶC (II)
Cúi
đầu làm lễ Từ Bi,
Di
Lặc Tôn Phật giải ly khổ nàn.
Thiên
cung Đâu Suất ngự an,
Đương
lai xuất hiện thế gian Ta bà.
Nối
ngôi Phật Tổ Thích Ca,
Long
Hoa đại hội diễn ra phép thiền.
Độ
trong khắp cả tam thiên,
Chúng
sinh nhuần gội vô biên đức Ngài.
Từ
quang rọi khắp trần ai,
Giải
trừ nghiệp chướng tam tai bát nàn.
Tôn
Phật hải hội l?nh ban,
Các
vì Bồ-tát mở mang đạo tràng.
Vân
du khắp cả mười phuong,
Cứu
người mê muội theo đu?ng giác minh.
Làm
lành, lánh dữ, háo sinh,
Khỏi
vương khổ não, tâm tình lạc an.
Tôn
Phật diệu tướng nghiêm trang.
Từ
bi tịnh lạc đức tàng viên dung.
Tử
kim ánh rạng đại hùng,
Diệt
tan tà quái, bố cùng phép linh.
Thiện
nam, tín nữ kỉnh tin,
Lòng
hằng chiêm ngưỡng Thánh minh phò trì.
Hồng
danh thường niệm kỉnh vì,
Di
Lặc Tôn Phật quảng thi ân lành.
Giải
tan ác niệm nghiệp sanh.
Bồ-đề
tăng trưởng, tín thành Kim cang.
Niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Vô
thượng Chánh giác đạo căn vững bền.
Sen
vàng chín phẩm bước lên.
Đạo
thành chứng quả, bồi đền tứ ân.
Ngưỡng
trông Tôn Phật từ nhân,
Tam
kỳ mạt kiếp hóa thân độ đời.
Đao
binh thủy hỏa khắp nơi,
Cơ
hàn b?nh tật hại thời vạn linh.
Cúi
xin dức Phật háo sinh,
Từ
bi phổ tế quần linh khỏi nàn,
Mong
nhờ phước huệ rải ban,
Khắp
nơi tam giới đạo tràng mở mang.
Độ
cho quốc thái dân an.
Chúng
sinh tỉnh ngộ theo đàng chánh minh.
Nguyện
đời tái tạo quang vinh,
Đạo
khai đức hóa, thái bình vạn bang.
Lại
nguyền Tam bảo đạo tràng,
Nhờ
ân Tôn Phật điểm ban diệu huyền.
Đạo
mầu Chánh giác hoằng tuyên,
Pháp
môn vĩnh viễn rộng truyền khắp nơi.
Độ
người biển khổ lưng vơi,
Lên
thuyền Bát Nhã về nơi thanh nhàn.
Nam
mô Ta bà thế giới
Đương
lai Giáo chủ,
Đại
từ đai bi,
Di
Lặc Tôn Phật.
---------------------
-Trích
Thiền Môn Nhựt Tụng, HT Minh Trực, Phật Bửu Tự xb, Sàigòn,
1992
86.
SÁM ĐỊA TẠNG
(Sám
tụng chư Bồ-tát IV)
Nam
mô Đại Thánh Từ Vương
Địa
Tạng Bồ-tát xót thương độ người.
Kiếp
xưa thệ có mấy lời,
Nguyện
lành độ thế muôn đời nêu cao.
“Nếu
Ta địa ngục chẳng vào,
Thì
ai chịu khổ mà vào cõi ni?”
Lớn
thay hạnh nguyện từ bi,
Đức
ân Địa Tạng chơn vi hải hà,
Cứu
nàn giải khổ hằng sa,
U
minh thị hiện Ta bà độ an.
Phóng
ra muôn trượng từ quang,
Khắp
soi địa ngục mọi đàng trần ai.
Chúng
sinh nghiệp ác sâu dày,
Ba
đường thọ hại, nạn tai khôn lường.
Mong
nhờ Đại Thánh diệu phương
Thần
thông độ chúng khỏi đường khổ nguy.
Khắp
trong Địa ngục Thiết Vi,
Phạt
hình Vô gián, âm ty các miền.
Lực,
hùng, bi, trí vô biên,
Địa
Tạng Bồ-tát hiện tiền hóa thân.
Hoằng
thi võ lộ đức ân.
Cứu
hồn khổ não, tâm thần đặng yên.
U
minh thọ tội triền miên,
Lửa
thiêu giá lấp, tỏa xiềng phủ bao.
Oan
hồ uổng tử lạc vào,
Nghiệt
thành thọ quả khổ đau muôn phần.
Bởi
vì tham, ái, si, sân,
Nhơn
nào quả nấy trầm luân biển nàn,
Âm
tào nạn ách đa mang,
Chúng
sinh rên siết khóc than li bì.
Tâm
hồn bức rức sầu bi,
Giờ
giờ khắc khắc chẳng ly mảy hào.
Não
phiền thảm khổ biết bao,
Trăm
bề hình phạt khác nào lửa thiêu.
Ngưỡng
trông Bồ-tát dắt dìu,
Từ
Vương Thập Điện thứ nhiêu giải nàn.
Độ
hồn lìa cõi trần gian,
Ăn
năn các tội, tâm toàn liễu tri.
Thần
thông Đại Thánh quảng thi,
Từ
bi bố thí diệu vi phép mầu.
Rải
ban phương tiện cao sâu,
Độ
trong vạn loại khỏi âu tội hình.
Tỉnh
h?n giác ngộ tánh linh,
Dứt
trừ nghiệp chướng, biết gìn bổn chơn.
Nương
về Tịnh độ Tây phương,
Một
lòng tín ngưỡng chơn thường pháp minh.
Cúi
nguyền Giáo chủ U Minh,
Oai
linh Địa Tạng háo sinh phò trì.
Độ
hồn thoát nghiệp âm ty,
Siêu
thăng Cực lạc Liên trì Tịnh bang.
Di
Đà Phật niệm vững vàng,
Quy
y Tam bảo thoát đàng trầm luân.
Niệm
niệm hối ngộ tự tân,
Minh
tâm kiến tánh, hưởng phần tiêu diêu.
Lòng
thành nguyện có mấy điều,
Thánh
Minh chứng chiếu độ siêu các loài.
Bước
lên Cửu phẩm Liên đài,
Căn
lành chứng quả Như lai Niết-bàn.
Nam
Mô U Minh Giáo Chủ, Đại Từ Đại Bi Bổn Tôn Địa Tạng
Vương Bồ-tát Ma ha tát.
----------------------
-Trích
Thiền Môn Nhựt Tụng, HT Minh Trực, Phật Bửu Tự xb, Sàigòn,
1992
87.
SÁM BỒ TÁT
(Sám
tụng chư Bồ-tát V)
Cúi
đầu trước mười phương chư Phật,
Chúng
con nguyền chân thật kính tin,
Phát
lời thệ nguyện độ sinh,
Y
theo giáo pháp, luật, kinh chỉ bày.
Ngày
nào cũng lắm thay công việc,
Vì
ngu mê mải miết ân cần,
Ngày
đêm lo tảo bán tần,
Trăm
mưu ngàn kế, vô ngần thảm thương.
Lạc
một bước sa đường xuống hố,
Bị
vô minh lắm độ truân chuyên,
Vào
ra sáu cõi triền miên,
Mang
thân tứ đại thảm phiền biết bao!
Vậy
nhân thế hãy mau xét kỹ,
Kiếp
phù sinh chớ nghĩ lẳng lơ,
Khuyên
đừng đem dạ tưởng mơ,
Trăm
năm cuộc thế như cờ bị vây.
Rút
gươm huệ dứt dây tham ái,
Kíp
tìm thầy thọ phái quy y,
Giữ
gìn ngũ giới tam quy,
Mở
lòng từ mẫn, sân si quyết chừa.
Rèn
lòng kinh kệ sớm trưa,
Nguyện
con ra khỏi nắng mưa cõi trần.
Ngưỡng
cầu chư Phật thi ân,
Đệ
tử phát nguyện ân cần thiết tha.
Một
là: Nguyện đức Di Đà
Cầu
xin bá tánh trẻ già khắp nơi.
Làm
lành lánh dữ kịp thời,
Nhà
nhà an lạc, nơi nơi thái hòa.
Hai
là: Nguyện đức Thích Ca,
Trở
đời ly loạn hóa ra thái bình.
Mở
mang vận hội văn minh,
Tâm
thần thơ thới, nhơn tình trung lương.
Ba
là: Nguyện Chuẩn Đề Vương,
Thần
thông dẹp hết bốn phương chiến trường.
Độ
người ngỗ nghịch bạo cường,
Bỏ
tà quy chánh, theo đường thiện tâm.
Bốn
là: Nguyện đức Quán Âm,
Độ
người thù oán cừu thâm thuận hòa.
Giúp
bao tai nạn xảy ra,
Cùng
người tật bịnh điều hòa an thuyên.
Năm
là: Nguyện đức Phổ Hiền,
Độ
người chân chánh, giữ quyền an dân
Bốn
phương tương ái tương thân,
Đồng
tuân pháp nước, nhân dân kính nhường.
Sáu
là: Nguyện Địa Tạng Vương,
Độ
người xiêu lạc bốn phương được về.
Cùng
là người chết thảm thê,
Hồn
linh độ hết đưa về Tây phương.
Kìa,
Cực lạc là nơi an dưỡng,
Đất
lưu ly vô lượng khiết tinh,
Có
ao thất bảo quang minh,
Có
sen chín phẩm như hình bánh xe.
Ao
thất bảo ngỏa nguê đẹp đẽ,
Nước
bát công sạch sẽ tinh vi,
Bảy
hàng cây báu lưu ly,
Lan
can bảy lớp ma ni sáng ngời.
Chim
nói pháp hôm mai êm dịu,
Hoa
trên không lểu nhểu cúng dường.
Bồ-đề
nảy búp ngát hương,
Cúi
xin chư Phật, đoái thương cứu độ.
-----------------
-Trích
Nghi Thức Tụng Niệm Hàng Ngày, HT Thích Thiện Thanh, THPG Tp.
HCM xb, 1994
88.
SÁM KHỂ THỦ QUAN ÂM NGHĨA
(Sám
tụng Quan Âm III)
Cúi
đầu đảnh lễ đức Quan Âm,
Tướng
tốt quang minh nguyện lực thâm.
Nghìn
mắt sáng soi đường tăm tối,
Nghìn
tay dìu dắt kẻ mê lầm
Vô
vi phát khởi Từ bi nguyện,
Chơn
thật tuyên dương bí mật âm.
Thỏa
mãn mọi người lòng ước nguyện,
Tiêu
trừ tội chướng hết lâm trầm.
Long
Thiên các Thánh đồng gia hộ,
Trăm
nghìn tam muội nguyện tu tâm.
Thân
được quang minh tâm trí tuệ,
Thọ
trì công đức thật cao thâm,
Trần
lao biển cả thề qua lại,
Siêu
chứng Bồ-đề hết lỗi lầm.
Con
nay xưng tụng nguyện qui y,
Các
nguyện tùy tâm đều viên mãn.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con biết tất cả pháp.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con được mắt trí tuệ.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con được nhiều phương tiện.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con lên thuyền Bát Nhã.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con vượt qua biển khổ.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con được Giới Định Huệ.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con lên núi Niết-bàn.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con vào vô vi thất.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm,
Xin
cho con được thân pháp tánh.
Nếu
con đến núi dao,
Núi
dao tự đổ vỡ,
Nếu
con đến lửa nóng,
Lửa
nóng tự tàn rụi.
Nếu
con đến địa ngục,
Ðịa
ngục tự khô diệt.
Nếu
con đến ngạ quỉ,
Ngạ
quỉ tự no đủ.
Nếu
con đến tu la,
Tu
la được điều phục.
Nếu
con đến chúng sanh
Chúng
sanh được trí tuệ.
Nam
Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ-tát
------------------
-Trích
Pháp Sự Khoa Nghi Việt Ngữ, HT. Thích Hiển Tu, chùa Xá Lợi
ấn hành nội bộ, Tp. HCM, 1989
89.
VĂN TÁN DƯƠNG
PHỔ
MÔN 12 ĐẠI NGUYỆN
(Sám
tụng Quan Âm 4)
Phổ
Môn một phẩm khen Ngài,
Quan
Âm Bồ-tát chẳng nài công lao.
Thị
hiện phép Phật tối cao,
Nghe
lời khấn nguyện tìm vào độ nguy.
Phương
tiện thuyết pháp từ bi,
Bến
mê biển khổ tức thì cứu lên.
Tùy
duyên cảm ứng tới liền,
Dắt
dìu sanh chúng về miền Lạc bang.
Bốn
biển êm lặng bình an,
Ba
đường tám nạn vững vàng lánh xa.
1.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Công
tu đầy đủ hiệu ngài Viên Thông.
Tâm
Ngài vắng lặng sạch trong,
Nêu
danh Tự Tại đầy lòng từ bi.
Liền
phát đại nguyện một khi,
Lời
lời rộng lớn đều vì chúng sinh.
2.
Nam mô Quan Âm Như lai,
Tâm
lành thường niệm chẳng sai chút nào.
Trong
đục thêm bớt lao xao,
Chẳng
hề tưởng tới đức cao tột vời.
Còn
chi ngăn ngại chơi vơi,
Nguyện
ở Nam Hải là nơi thanh nhàn.
3.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Ta
Bà dạo khắp chẳng nài công lao.
U
minh cõi ấy thường vào,
Xét
soi lời nói kẻ nào hồi tâm.
Tùy
duyên ngôn hạnh ân cần,
Nguyện
đều cứu khổ người trần kẻ âm.
4.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Hàng
ma trừ quái phép Ngài tối cao.
Trần
gian như có người nào,
Yêu
tà phá quấy lâm vào cảnh nguy.
Chí
thành cầu khẩn một khi,
Nguyện
giải tai ách tức thì hết ngay.
5.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Nhành
dương bình tịnh của Ngài rất hay.
Tu
hành muốn kiếm đường ngay,
Tâm
còn xao xuyến hằng ngày chưa yên.
Cam
lồ hay hóa phép Tiên,
Nguyện
rửa cho sạch tâm phiền trần gian.
6.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Từ
bi quảng đại tâm Ngài rộng thông.
Hỷ
xả hết tội lập công,
Ăn
năn sám hối quyết lòng lo tu.
Nhân
lành tự tạo đền bù,
Nguyện
đều độ khắp chẳng từ phân chia.
7.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Ngày
đêm tuần khắp xét soi lòng người.
Tu
hành chẳng có biếng lười,
Chuyên
cần Chánh pháp vẹn mười điều hay.
Ủng
hộ tinh tấn hằng ngày,
Thệ
nguyện dứt hết trả vay ba đường.
8.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Hướng
về Nam Hải cầu Ngài độ cho.
Chuyên
cần niệm nguyện nhỏ to,
Thường
hành Chánh pháp nương đò từ bi.
Nghiệp
duyên cho dứt một khi,
Nguyện
đều giải thoát tức thì thênh thang.
9.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Pháp
thuyền đóng sẵn đợi ngoài biển khơi.
Mê
tân khổ hải dạo chơi,
Cứu
vớt muôn loại khỏi nơi sóng trần.
Ai
người tu niệm ân cần,
Nguyện
độ hết thảy một lần chúng sinh.
10.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Tràng
phan dẫn lộ tuyền đài thẳng dong.
Bảo
cái kế tiếp song song,
Kim
Đồng, Ngọc Nữ đã mong lệnh truyền.
Nguyện
tiếp những kẻ hữu duyên,
Đưa
về Cực lạc ở miền Tây phương.
11.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Tây
phương Cực lạc cõi ngài Thọ Vương.
Hoa
sen chín phẩm biểu dương,
Lầu
châu các ngọc lót đường pha lê.
Di
Đà, Thánh chúng đề huề,
Nguyện
nhờ thọ ký rước về tòa sen.
12.
Nam Mô Quan Âm Như lai,
Pháp
thân thanh tịnh Liên đài trang nghiêm.
Pháp
mầu vô lượng vô biên,
Không
thêm không bớt tự nhiên an nhàn.
Khắp
nơi vui vẻ phong quang,
Hoàn
mười hai nguyện rõ ràng như trên.
-----------------
-Trích
Kinh Nhật Tụng, Chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971
90.
SÁM NGHĨA CỦA LỤC TỰ DI ĐÀ
(Sám
tụng Di Đà I)
NAM
thứ nhứt lòng nhân bất Sát,
Khắp
chúng sinh bác ái từ bi.
Chữ
MÔ bỏ hết ái si,
Chớ
tham dâm dục mà suy đọa hoài.
A,
tam thứ bỏ ngoài Thâu đạo,
Của
cải người chớ háo chớ tham.
Chữ
Di nên dứt nói sàm,
Bốn
điều Vọng ngữ chớ găm trong lòng.
ĐA,Ø
đệ ngũ sáng trong soi trí,
Tránh
ma men thì ý bình an.
Qui
y Tam bảo vẹn toàn,
Nhớ
lời Phật dạy rõ ràng sáu âm.
Kẻ
học đạo chuyên tâm nghe rõ,
Cứ
xuất gia thì tỏ ngộ ngay.
Rán
lần sáu chữ từ đây,
Xét
suy cạn lý ngộ rày chân tâm.
*
NAM
về Nhãn sắc trần đều diệt,
Chớ
đê mê mài miệt trần ai.
Chữ
MÔ thuộc Nhĩ thinh hai,
Phải
đều dẹp tắt thanh bai bước đường.
A
là Tỵ mùi hương xa lánh,
Thích
làm chi bịn rịn ái tình.
Chữ
DI là Thiệt khiết tinh,
Vị
trần chẳng mến, sóng tình khỏi chao.
ĐÀ
sáng suốt chiếu vào Thân uẩn,
Đồ
vô thường đừng bận Xúc duyên.
PHẬT
khuyên ý niệm chánh chuyên,
Pháp
mầu giả dối chẳng bền chẳng lâu.
Này
Phật tử thẩm sâu mấy chữ,
Cứu
độ người sanh tử luân hồi,
Cố
công trì niệm trau giồi,
An
nhiên tự tại khỏi thời trầm luân.
*
NAM
quyết chí dứt Sân hối ngộ,
Địa
ngục kia thoát lộ siêu thăng.
MÔ
lìa tham dục tánh xằng,
Khỏi
đường Ngạ quỉ được thăng cảnh trời.
A,
khá nhớ lo rời Si muội,
Cảnh
Bàng sanh được khỏi tam tai.
DI,
khuyên dứt tánh nghi hoài,
Khỏi
làm Thần dị đọa đày bấy lâu.
ĐÀ,
vi diệu gắn câu phước thiện,
Khỏi
thân người ứng hiện tự do
PHẬT,
nay tạo sẵn chiếc đò,
Rán
chèo qua bể đến bờ an vui.
Muốn
được vậy chớ lui một bước,
Rán
công phu không trước thì sau,
Chăm
hành hạnh nguyện dồi dào,
Chúng
sinh độ tận bậc nào lại hơn.
*
NAM
cố gắng đem ra Bố Thí,
Pháp
lẫn tài vô úy chớ quên,
Đức
từ mở rộng khắp miền,
Nhỏ
như hột cát không riêng chút lòng.
MÔ
tịnh hạnh người trong Trì Giới
Chớ
ố hoen mà phải hư hèn.
Lòng
bi nào kể xuống lên,
Một
câu thanh bạch cũng nên đạo mầu.
A
vô lượng chớ âu Nhẫn Nhục,
Hãy
nhu hòa hun đúc chân nguyên.
Không
màng những chuyện não phiền,
Đớn
đau tủi hổ dữ hiền cần chi.
DI
tiến bước hằng khi Tinh Tấn,
Chớ
kêu nài mỏi cẳng mệt hơi
Khá
xem các Phật rạng ngời,
Danh
truyền thiên cổ cũng thời tinh chuyên.
ĐÀ
quang đãng soi miền Chánh Định,
Vẫn
an nhiên thanh tịnh bình thường.
Keo
sơn gắn bó luôn luôn,
Một
mai giác ngộ mười phương tỏ tường.
PHẬT
toàn giác khai hương Bát Nhã
Án
nguyệt quang buông tỏa chín từng
Rõ
thông diệu lý siêu quần,
Hoàn
toàn thiện ý tâm trưng Niết-bàn.
Hành
Lục độ lo toan bữa bữa,
Chớ
tham van kéo nhựa kéo giây.
Hiểu
rằng cõi Phật gần đây,
Di
Đà, Thế Chí với rày Quan Âm.
*
NAM
đo đắn định tâm nghe kỹ,
Nghĩa
lý kinh trí huệ soi thông,
Ấy
là ngộ đặng Nhân ông,
Lo
gì không đến thềm rồng Lạc bang.
MÔ
học hỏi cho toàn bản giác,
Nghĩa
hành kinh chớ lạc tín thâm.
Nguyện
hành cho thiết một tầm,
Lên
đường giải thoát chân tâm an nhàn.
A
thành tựu rõ ràng kinh giác,
Ngộ
tánh rồi thân pháp hiện ra.
Ba
tòa qua lại lại qua,
Đã
nên ba đức liên hoa đủ màu.
DI
thanh tịnh Tỳ lư pháp ngộ,
Thân
Giá Na hoàn độ mười phương.
Thật
là bí tạng không lường,
Di
Đà thân pháp, hiện thường cảnh chân.
ĐÀ
vô tận báo thân viên mãn,
Lư
Xá Na oai dạng trang nghiêm.
Khắp
trong tam giới đắm chìm,
Thích
Ca ứng hiện bể trần tiêu tan.
Phật
vô lượng hóa thân thiên ức,
Đủ
muôn hình tùy bực độ sanh.
Vượt
lên hết lũ hàm linh,
Long
Hoa Di Lặc viên minh tánh này.
Này
Phật tử nhớ ngay Lục tự
Chỉ
bấy nhiêu hãy cứ hành đi.
Gắng
công niệm niệm thọ trì
Bước
lên Bản giác mà đi về thành.
Di
Đà Cực lạc bên mình.
---------------
-Trích
Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974
91.
BỐN MƯƠI TÁM LỜI NGUYỆN DI ĐÀ
(Sám
tụng Di Đà 2)
Nguyện
thứ nhất: Tôi thành Phật được,
Thì
nước tôi là nước tịnh thanh,
Ngục
hình, ngạ quỉ, súc sinh,
Thảy
đều chẳng có sanh thành nơi đây.
Nguyện
thứ hai: Nước này tịnh giới,
Đàn
bà cùng con gái tịch nhiên,
Những
người trong cõi Nhơn, Thiên,
Cùng
loài cầm thú cần chuyên tu hành.
Thảy
đều đặng hóa sinh thọ cảm,
Thất
bảo trì, Cửu phẩm liên hoa.
Nguyện
thứ ba: Dân chúng Phật đà,
Khi
cần ăn uống, hóa ra sẵn sàng.
Bát
thất bảo, bỉ bàng đựng lắm,
Trăm
món ngon, khỏi sắm ở đâu,
Ăn
rồi, khí dụng liền thâu,
Không
cần phải rửa, phải lau nhọc nhằn.
Nguyện
thứ tư: Nhơn dân trong nước,
Muốn
áo quần, khăn, lược, mão, giày,
Thảy
đều hóa đủ sẵn bày,
Khỏi
mua, khỏi giặt, khỏi may cực lòng.
Nguyện
thứ năm: Giáp vòng địa lợi,
Từ
đất bằng lên tới hư không,
Thảy
đều lầu các, điện, cung,
Cùng
là cây trái, ao, sông, cửa nhà.
Các
thứ ấy đều là trân bảo,
Cùng
bá thiên hoa báu, hương thơm.
Hiệp
nhau thành tạo kết đơm,
Trau
giồi trang sức, cho làm phồn ba,
Mùi
hương ấy xông ra khắp đủ,
Cả
mười phương hưởng thụ cấp kỳ.
Chúng
sinh hạnh nguyện chuyên trì,
Tin
và tưởng Phật, đến thì vãng sinh.
Nguyện
thứ sáu: Dân lành quốc độ,
Thương
kỉnh nhau, ví tợ ruột rà,
Không
lời qua lại bất hòa,
Không
ganh không ghét, sinh ra tranh giành.
Nguyện
thứ bảy: Dân sinh trong nước,
Không
có lòng uế trược, dâm ô,
Cũng
không có tánh tục thô,
Cùng
là nóng giận hồ đồ ngu si.
Nguyện
thứ tám: Chuyên trì thiện niệm,
Cứ
đường ngay tiệm tiệm lướt đi,
Nếu
ai muốn nói chuyện gì,
Người
kia hiểu ý tức thì khỏi phân.
Nguyện
thứ chín: Chúng dân từ thiện,
Tai
chẳng nghe những chuyện không lành,
Có
đâu sự ác sự hành,
Mấy
điều nghiệp chướng đã thành vô danh.
Nguyện
thứ mười: chúng sinh đều ví,
Huyễn
thân là mộng mỵ mà thôi,
Vậy
nên lòng chẳng nhiễm đời,
Tánh
không tham muốn, khắp nơi vui cười.
Nguyện
mười một: Tiên, người tùy khác,
Hình
dung đồng một sắc vàng y,
Mặt
mày nghiêm chỉnh phương phi,
Trong
ngần đẹp đẽ, không chi ví bằng.
Nguyện
mười hai: Mười phương thế giới,
Thiên,
Nhơn cùng các loại súc sinh,
Hóa
thân về cõi Lạc thành,
Chứng
ngôi Duyên giác, Thinh văn trùng trùng.
Ngồi
thiền tọa, tấm lòng tịch tịnh,
Hiệp
cùng nhau tính tuổi ít nhiều,
Chẳng
hề biết đặng bao nhiêu.
Ngàn,
muôn, ức kiếp số nhiều khó phân.
Nguyện
mười ba: Thiên, Nhơn trên giải,
Hiệp
cùng nhau đếm mãi dân cư,
Không
hề rõ biết số dư,
Tại
An dưỡng quốc nhiều như cát Hằng.
Nguyện
mười bốn: Dân trong quốc độ,
Thảy
thảy đồng trường thọ miên miên.
Không
sao biết đặng số niên,
Sống
lâu vô lượng, vô biên kiếp đời.
Nguyện
mười lăm: Dân thời thanh tịnh,
Trụ
vào nơi thật tính trạm nhiên,
Ly
chư loạn tưởng đảo điên,
Đắc
vô phân biệt, mãn viên Niết-bàn.
Nguyện
mười sáu: Lạc bang dân chúng,
Vui
vẻ mà thọ dụng đủ điều,
Thảy
đồng với các Tỷ-kheo,
Chứng
phần “Vô lậu” hết theo sự đời.
Nguyện
mười bảy: khi tôi thành Phật,
Sẽ
giảng kinh, thuyết pháp độ sanh.
Làm
cho sở nguyện đắc thành,
Công
tôi giảng đạo trọn lành hơn ai.
Nguyện
mười tám: Hóa thai khỏi dục,
Người
người đều đắc “Túc mạng thông”.
Rõ
điều tiền kiếp xa trông,
Hằng
hà sa số như đồng kim sinh.
Nguyện
mười chín: chúng sinh ức vạn,
Đắc
thần thông “Thiên nhãn tịnh quang”.
Thấy
toàn vũ trụ mười phương,
Trùng
trùng duyên khởi thế gian tỏ tường.
Nguyện
hai mươi: Tây phương dân chúng,
“Thiên
nhĩ thông”, đắc dụng nghe xa,
Những
lời thuyết pháp bủa ra
Của
trăm ngàn ức Phật Đà khẩu tuyên.
Nguyện
hăm mốt: Nhơn, Thiên trong nước,
“Tha
tâm thông” biết được chẳng sai,
Những
điều tâm niệm mỗi loài,
Thập
phương thế giới không ngoài tánh linh.
Nguyện
hăm hai: chúng sinh quốc độ,
“Thần
túc thông” đắc ngộ rong chơi,
Bao
hàm thế giới nơi nơi,
Vượt
qua một mạch, mau thời hơn bay.
Nguyện
hăm ba: Khi tôi thành Phật,
Danh
hiệu tôi vang dội mười phương.
Phật
và đại chúng tán dương,
Còn
dân trong nước lai Vương(1) tôi hoài.
Thiên,
Nhơn với các loài thú vật,
Niệm
danh tôi cho thật chí thành,
Sinh
lòng vui vẻ, hiền lành,
Lâm
chung sẽ đặng hóa sinh sen vàng.
Nguyện
hăm bốn: Ánh quang minh chiếu,
Nơi
đầu tôi, tuyệt diệu rỡ ràng,
Mặt
trời cùng ánh mặt trăng,
Tuy
là sáng tỏ chẳng bằng Phật quang,
Nguyện
hăm lăm: Hào quang tôi chói,
Khắp
cùng nơi chỗ tối khúc quanh,
Thiên,
Nhơn cùng các súc sinh;
Thấy
liền đặng khởi lòng thành quy y.
Nguyện
hăm sáu: Bất kỳ nhơn, thú,
Trong
thập phương vũ trụ vân vân,
Nhờ
hào quang chiếu đến thân,
Từ
hòa tâm tánh hơn dân cõi trời.
Nguyện
hăm bảy: Tiên, Người phát ý,
Tâm
Bồ-đề, trì chí giới trai,
Lục
Ba-la-mật quảng khai,
Làm
nhiều công đức, chẳng sai một thì.
Khi
thọ mạng tới kỳ viên mãn;
Có
tôi và các hạng Tăng lành,
Phóng
quang tiếp dẫn vãng sinh,
Đặng
làm Bồ-tát tại thành Lạc bang.
Nguyện
hăm tám: Thiên, Nhơn vũ trụ.
Nghe
danh tôi sắm đủ bỉ bàng,
Hương,
hoa, đăng, chúc huy hoàng,
Tràng
phan, bảo cái cúng dường Như lai.
Tạo
tháp, tự, trì trai, thanh tịnh,
Làm
việc lành tâm định tưởng tôi,
Tưởng
luôn trọn một ngày thôi,
Chắc
là sẽ đặng nước tôi về liền.
Nguyện
hăm chín: Nhơn, Thiên mười cõi,
Nếu
dốc lòng ra khỏi bến mê,
Hiệu
tôi thập niệm chuyên bề,
Lâm
chung sẽ đặng sinh về Lạc bang.
Trừ
những kẻ hung tàn hỗn tạp,
Cùng
những người Phật pháp dễ khinh,
Ai
mang tội ấy vào mình,
A
tỳ địa ngục thọ hình chung thân.
Nguyện
ba mươi: Thiên, Nhơn, cầm, thú,
Trong
thập phương vũ trụ khôn lường,
Trước
đà tạo tội thường thường,
Sau
nghe danh Phật, tỏ tường cung khai,
Cầu
sám hối, trì trai, giới sát,
Nguyện
làm lành, nước Phật mong sinh,
Lâm
chung sẽ đặng công lành,
Khỏi
tam đồ khổ, hóa sinh liên đài.
Nguyện
băm mốt: Tiên, Người mười cảnh,
Nghe
danh tôi, lễ đảnh theo về,
Vui
mà tu hạnh Bồ-đề,
Người
người cung kỉnh, một bề tán dương.
Nguyện
băm hai: Thập phương thế giới,
Những
đàn bà con gái chán đời,
Phát
tâm tín niệm danh tôi,
Thân
sau tránh khỏi phục hồi nữ nhơn.
Nguyện
băm ba: Chúng dân mới tới,
Quả
vô sinh bất thối chứng liền.
Lại
thêm quả Phật siêu nhiên,
Ngoại
trừ những vị bổn nguyền độ sinh.
Tôi
sẽ giúp cho thành sở mộ,
Tới
tha phương tế độ hàm linh,
Hạnh
tu Bồ-tát rất tinh,
Lại
còn lấy sức oai linh hộ truyền.
Cho
người ấy tinh chuyên tấn bộ,
Cùng
chúng sinh tín thọ pháp huyền,
“Bồ-đề”,
“Tịch diệt”, “Phổ Hiền”,
Tấn
thêm “Tối thắng”, cần chuyên thi hành.
Nguyện
băm bốn: Dân lành trong nước,
Độ
chúng sinh, dùng đủ mọi phương,
Ước
nguyền sẽ đặng như lòng,
Bao
nhiêu nghiệp ác, ba đường khỏi mang.
Nguyện
băm lăm: Các hàng Bồ-tát,
Muốn
cúng dường chư Phật đâu đâu,
Hoa
hương, anh lạc, trân châu,
Liền
đi khắp đủ, vừa hầu bữa ăn.
Nguyện
băm sáu: Muôn ngàn báu vật,
Muốn
cúng dường chư Phật, Thánh Hiền,
Ước
ra thì có đủ liền,
Cúng
dâng khắp cả về miền chưa trưa.
Nguyện
băm bảy: Ai vừa đọc tụng,
Hoặc
thọ trì, phụng cúng chư kinh,
Đặng
tài biện luận thông minh,
Lại
thêm Bát nhã, trí lành cao siêu.
Nguyện
băm tám: Giảng điều pháp lý,
Đủ
viên thông, đầy trí tuệ tâm,
Nghĩa
kinh cùng với pháp âm,
Dầu
rằng vi diệu cao thâm đều cùng.
Nguyện
băm chín: Quốc trung Bồ-tát,
Thảy
thảy đồng dõng bạt kiên cần,
Mỗi
người đều đặng kim thân,
Băm
hai tướng tốt, mười phân sắc màu.
Thuyết
các pháp gồm thâu đạo Phật,
Cũng
in như chư Phật đương thời.
Bốn
mươi nguyện: Nước của tôi,
Hoàn
toàn tinh sạch, chiếu soi một màu.
Chư
Bồ-tát ví như muốn thấy,
Cõi
Phật nào là thấy chẳng ngoa,
Dòm
trong “bảo thọ” hiện ra,
Cảnh
nào Phật nấy như là soi gương.
Nguyện
bốn mốt: Mọi đường công đức,
Bồ-tát
nào chưa được hoàn toàn,
Đặng
nghe, đặng thấy “Đạo tràng”,
Bề
cao cho đến bốn ngàn na do.
Nguyện
bốn hai: Các đồ nhật dụng,
Quốc
độ tôi thiệt đúng tinh minh,
Chói
ngời hình sắc đẹp xinh,
Dầu
Thiên nhãn chẳng nhìn hình đặng đâu.
Nguyện
bốn ba: Ai ai trong nước,
Chỉ
mong cầu nghe được pháp kinh,
Tự
nhiên sở nguyện đắc thành,
Không
chờ mời thỉnh, thường tình thế gian.
Nguyện
bốn bốn: Thanh văn, Duyên Giác,
Trong
nước tôi đều đắc oai thần,
Hào
quang tỏ rạng vô ngần,
Biện
tài thuyết pháp ngang phần Pháp vương.
Nguyện
bốn lăm: Tha phương Bồ-tát,
Nghe
danh tôi, tấn phát phụng hành,
Thảy
đều đặng phép “Tịnh thanh”,
Định
thần, giải thoát, phước lành thưởng ban.
Như
ai muốn cúng dường Phật pháp,
Trong
một giờ đi khắp hà sa,
Tuy
là đường sá rất xa,
Định
thần không lạc, Thiền na chẳng lìa.
Nguyện
bốn sáu: Chư tôn Bồ-tát,
Ở
tha phương nghe đạt danh tôi,
Quy
y tinh tấn vừa rồi,
“Định
thiền bình đẳng” phục hồi bổn nguyên.
Đắc
pháp Nhẫn lên ngôi Chánh giác,
Đặng
thấy thường các bậc Như lai.
Lời
nguyện bốn bảy như vầy:
Tha
phương Bồ-tát về đầy nước tôi.
Hướng
đạo cả tâm hồi bất nhị,
Chẳng
thối lui địa vị cao sâu,
Lời
nguyện bốn tám báu mầu :
Tha
phương Bồ-tát khấu đầu quy y.
Chư
vị ấy đắc kỳ sở nguyện,
Nhứt,
nhị, tam “Nhẫn thiện” Pháp vương,
Pháp
môn của Phật khôn lường,
Thập
phương vững trụ dẫn đường chúng sinh.
Khi
Pháp Tạng nguyện xong bốn tám
Cõi
Tam thiên sáu món rung rinh,
Hương
hoa đổ xuống đầy thành,
Hư
không phát tiếng “Chắc thành Như Lai”.
------------------
-Trích
Nghi Thức Tụng Niệm chữ Việt, Chùa Xá Lợi, Sàigòn, 1992
92.
BÀI TỤNG VÍA DI LẶC (III)
Đêm
nay ngày lành Nguyên đán,
Giờ
này phút thiêng Giao thừa;
Tuân
lệ cổ tục ngày xưa,
Mở
cửa nghinh xuân tiếp phước.
Truyền
thừa di phong thuở trước,
Lên
chùa lễ Phật dâng hương;
Cầu
minh niên vạn sự cát tường,
Nguyện
Xuân nhựt tam nguyên như ý.
Cũng
trong lễ hôm nay:
Nhớ
xưa có Đại sĩ,
Đức
Di lặc hóa sanh,
Huyện
Phụng Hóa Châu Minh,
Thuộc
đời Lương, Trung Quốc.
Tin
vui của trời đất,
Ân
huệ của nhơn sinh,
Ngài
có một thân hình,
Đầy
từ bi hoan hỷ.
Người
có nhiều thần bí,
Rất
khó nghĩ khôn lường,
Và
không ít dị thường,
Thật
ngờ phàm ngại Thánh.
Người
có nhiều kỳ hạnh,
Nói
năng không định lời,
Xôn
xao trong một thời,
Không
ai biết sự thật.
Có
người bảo là Phật,
Có
kẻ gọi là Thầy.
Đi
khất thực đó đây,
Ai
cúng gì cũng lấy.
Bị
vải treo đầu gậy,
Vật
phẩm chứa không đầy,
Có
lúc thấy ở đây,
Có
khi gặp nơi khác.
Khuyên
người chớ làm ác,
Dạy
người nên làm lành,
Không
ai biết tánh danh,
Gọi
Bố đại Hòa thượng.
Một
hôm Ngài dựng trượng (gậy),
Tại
núi chùa Nhạc Lâm,
Ngồi
trên đá định tâm,
Nói
bài kệ vắn tắt:
“Rằng
ta chơn Di Lặc,
Phân
thân ngàn muôn ức,
Thường
hiện trước mọi người,
Mọi
người tự không biết”.
Nói
xong Ngài nhập diệt,
Diệt
đông lại sinh Tây,
Ứng
hóa khắp đó đây,
Vận
thần thông diệu dụng.
Và
trong một dịp khác,
Trước
một số dân chúng,
Ngài
tuyên bố như vầy:
“Ta
có một vị Thầy (Phật),
Mọi
người đều không biết.
Không
tô vẽ son thếp,
Không
chạm trổ điêu khắc,
Không
một chút thể sắc,
Không
một chút cát bụi.
Sạch
sẽ không lau chùi,
Người
vẽ vẽ không thành,
Kẻ
trộm lấy không được,
Thành
tánh vốn tự nhiên.
Tuy
là có một thể,
Phân
thân ngàn muôn ức,
Ngài
sử dụng thần lực,
Hóa
hiện khắp nhơn thiên.
Dạy
vẽ kẻ hữu duyên,
Dắt
dìu người vô phúc,
Xa
lánh đời trần tục,
Đưa
vào cõi Thiên cung.
Hẹn
Long Hoa tam hội tương phùng,
Nguyện
Suất Đà nhất sanh thân cận,
Giờ
này mọi nhà kính cẩn,
Xưng
dương tán lễ Hồng danh,
Đêm
nay trăm họ chí thành,
Trân
trọng cúng dường vía Thánh.
Trăm
hoa hân hạnh,
Mừng
Hóa Phật giáng sinh,
Muôn
vật nghiêng mình,
Đón
Xuân thiên khai thái.
Đến
đây tất cả chúng con:
-
Cúi đầu lễ bái,
Cầu
gia đình hạnh phúc an khang,
Ngửa
mặt dâng hương,
Nguyện
đất nước hòa bình hưng thịnh.
Năm
châu an định,
Bốn
bể thanh bình,
Tình
với vô tình,
Đồng
thành Phật đạo.
Nam
mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Tôn Phật.
-----------------
-Trích
Pháp Sự Khoa Nghi Việt Ngữ, HT. Thích Hiển Tu, chùa Xà Lợi
ấn hành nội bộ, Sàigòn 1989
93.
BÀI TỤNG NGÀY PHẬT ĐẢN (II)
Chúng
con cung kính nghe rằng:
Nhớ
lại thuở xa xưa,
Đấng
đại bi cứu thế.
Đức
Bồ-tát Thiện Huệ,
Bổ
xứ tại Ta bà
Từ
cõi trời Suất Đa,
Quán
nhân duyên thời tiết.
Tịnh
Phạn Vương cung khuyết,
Ứng
mộng bà Ma Gia.
Cưỡi
voi trắng sáu ngà,
Mang
Thánh thai Bồ-tát.
Trong
vườn hoa thơm ngát,
Một
buổi sáng tinh sương,
Hoàng
hậu đi dạo vườn,
Bỗng
hạ sanh Thái tử.
Tin
lan truyền khắp xứ,
Rằng
Hoàng hậu sanh con,
Mừng
vui cả nước non,
Hân
hoan cùng vũ trụ.
Hàng
Thiên Long ca vũ,
Các
tầng trời rải bông,
Tắm thân có nước chín rồng,
Đỡ
gót có hoa bảy đóa.
Ứng
thân mở đường giáo hóa,
Linh
tích báo việc độ sanh,
Ít
có mộng đẹp điềm lành,
Chẳng
không tình thương đạo đức.
Trong
ngoài thế gian đệ nhứt,
Trên
dưới trời đất độc tôn!
Từ đó: cỏ cây chờ thánh gọi hồn,
Người
vật đợi thầy truyền đạo.
Nhơn
gian có thêm tôn giáo,
Thiên
hạ không thiếu Thánh Hiền,
Kiếp
sống giảm bớt não phiền,
Cuộc
đời tăng thêm lợi lạc.
Phật Đản hôm nay khai mạc,
Trăng
tròn mùa Hạ tháng tư,
Hương
thơm phụng hiến một lư,
Hoa
quý cúng dường mấy phẩm.
Trước
điện cúi đầu suy ngẫm,
Công
ơn giáo hóa cao dầy,
Dưới
tọa ngửa mặt tỏ bày,
Hạnh
nguyện tín tâm kiên cố.