PHẦN
THỨ IV
CÁC
BÀI SÁM VĂN KHUYẾN TU CẢNH TỈNH
44.
SÁM THÁI BÌNH
(Cầu
nguyện thái bình I)
Gieo
mình trước tọa liên đài,
Chí
thành đảo cáo bi ai nguyện cầu,
Lòng
vì khắp hết năm châu,
Thay
cho thiên hạ toàn cầu nhơn dân.
Nguyện
mười phương Phật ai lân,
Chín
trời tạo hóa thánh thần oai linh,
Đoái
thương ngũ trược chúng sanh,
Cõi
trần kiếp sát đao binh tai nàn,
Cùng
người ngổ nghịch bạo tàn,
Trái
ngang phép nước gây đàng chiến tranh,
Mưu
sâu chước độc sẵn dành,
Phá
tan bờ cõi cuộc thành thiên công,
Giết
người máu chảy thành sông,
Thây
trôi mặt biển xương chồng khắp nơi,
Uế
oan hơi mịt khắp trời,
Chết
thời tàn tệ sống thời chẳng an,
Tới
đâu cửa nát nhà tan,
Đất
bằng thành thị, gò hoang lầu đài,
Lẫy
lừng đấu trí đua tài,
Của
đời chẳng tiếc đồng loài chẳng thương,
Làm
cho thiên hạ nhiễu nhương,
Đón
ngăn bốn bể tuyệt đường sanh nhai,
Dân
lành giết hại hoài hoài,
Thây
che mặt biển nước phai màu hồng,
Xiết
bao tai nạn chập chồng,
Dưới
sông đã hại trên đồng cũng âu,
Họa
gieo khắp hết hoàn cầu,
Tiếng
than như sấm hơi sầu như mây,
Oán
thay cho đến cỏ cây,
Thảy
đều thọ hại chầy ngày thảm thương,
Thấy
đời tai nạn phi thường,
Phút
liền động niệm cảm thương cho đời.
Lòng
thành chúc tụng hôm mai,
Phần
hương đảo cáo nguyện mười điều ra:
Một
là nguyện đức Di Đà,
Cầu
xin xuống phước an hòa khắp nơi,
Văn
minh bình đẳng độ đời,
Dân
an lạc nghiệp nơi nơi thái hòa,
Hai
là nguyện đức Thích Ca,
Chuyển
đời ly loạn hóa ra thái bình,
Mở
mang vận thái văn minh,
Vật
người thơ thới nhơn tình trung lương,
Ba
là nguyện Chuẩn Đề Vương,
Thần
thông dẹp hết chiến trường bốnphương,
Độ
người ngổ nghịch bạo cường,
Bỏ
tà về chánh một đường thiện tâm.
Bốn
là nguyện đức Quan Âm,
Độ
người oán trọng thù thâm thuận hòa,
Độ
đời tai nạn xảy qua,
Cùng
người tật bịnh đều là an thuyên.
Năm
là nguyện đức Phổ Hiền,
Độ
người chấp chánh giữ quyền an dân,
Bốn
phương tương ái tương thân,
Đồng
tuân phép nước thảo thân kính nhường.
Sáu
là nguyện Địa Tạng Vương,
Độ
người siêu lạc bốn phương đặng về,
Cùng
là người thác tư bề,
Hồn
linh độ hết đồng về Tây phương.
Bảy
là nguyện Tứ Thiên Vương,
Thái
bình đem lại như Đường, Nghiêu xưa.
Bốn
mùa thuận tiết gió mưa,
Nhơn
phong, vật thụ, trẻ già hân hoan,
Tám
là nguyện với Tam Quan,
Khiến
người đạo tặc hung hoang về lành,
Bốn
phương hải yến hà thanh,
Nhà
sanh con thảo nước sanh tôi hiền.
Chín
là nguyện đức Hoàng Thiên,
Hộ
cho thế giới dứt liền đao binh,
Á
Âu như đệ như huynh,
Tương
thân tương ái hòa bình giao liên.
Mười
là nguyện các Thánh Hiền,
Cầm
cân tội phước phân minh chỉ đàng,
Tiêu
trừ tất cả tai nàn,
Dứt
cơn khói lửa độ an dân lành.
Mười
điều phát nguyện chí thành,
Cầu
cho bá tánh tu hành thiện duyên,
Tâm
thành đảo cáo chư Thiên,
Cầu
xin giáng phước xuống miền Nam bang.
Tiêu
trừ tất cả tai nàn,
Quan
hiền, đức chánh, trị an nước nhà,
Bốn
mùa mưa thuận gió hòa,
Dân
an quốc thới trẻ già khương ninh,
Trai
thời học thuật xảo tinh,
Bá
công Bá nghệ văn minh anh hùng,
Gái
thời đức hạnh nữ công,
Tài
năng mỹ thuật sánh đồng trượng phu,
Người
người tâm chánh thân tu,
Hưng
nhơn hưng nhượng đức phù minh tân,
Chánh
chơn bố đức thi ân,
Lập
đời thạnh trị lê dân thái bình,
Rày
mừng gặp hội minh tinh,
Nguyện
cho thiên hạ khương ninh thọ trường.
- Bài
do Tổ Huệ Đăng chùa Thiên Thai - Bà Rịa trước tác khoảng
năm 1930. Trích trong kinh Tam Bảo diễn nghĩa của Tổ đình
Thiên Thai ấn hành 1994.
-
So với bản in trước của tuyển tập, có sửa chữa lại
rất nhiều.
45.
SÁM TỊNH ĐỘ
(Sám
phát nguyện IV)
Qui
mạng lễ Từ Tôn ba cõi,
Thệ
làm Tăng độ giới hữu hình,
Chúng
con nay kính bày trình,
Trải
bao nhiêu kiếp chịu mình trầm luân.
Bởi
tham dục và sân, si ái,
Do
vô minh vọng khởi tưởng mơ,
Lâm
vào địa ngục tam đồ,
Kết
xoay thân thuộc chắc bồ oan gia.
Lòng
chưa tín chưa nghe Phật pháp,
Thánh
Tăng và trí thức khó gần,
Mẹ
cha sư trưởng trọng ân,
Sanh
thành dưỡng dục dạy răn nên người.
Ơn
dưỡng dục, còn thì chưa đáp,
Mang
ơn sâu thế phát qui y,
Từ
bi thọ được thân nay,
Thân
tâm nhuần gội ơn dầy biết bao.
Nay
xét lại hồi nào vô thỉ,
Gốc
tội dầy tự ấy tạo ra,
Trước
ngôi Đại giác ba toà,
Con
nay rũ sạch hết mà trần duyên.
Cầu
tâm địa hốt nhiên khai phát,
Được
phước may, gặp Phật pháp môn,
Minh
sư gặp được sớm hơn,
Khai
thông trí huệ, chướng hôn sạch liền.
Con
chí quyết tham thiền học đạo,
Dùng
giới hạnh, nhuận báo sắc thân,
Mai
chiều công khóa rõ phân,
Thân
tâm chuyên chú trầm luân dứt lìa.
Đời
sau ra những khi sanh lại,
Mỗi
kiếp đều nguyện phải làm người,
Hoặc
làm Tăng lữ mà thôi,
Diễn
bày mở nói khắp nơi Đại thừa.
Trong
khổ hải thuyền từ quyết chống,
Nguyện
vớt lên hết giống hàm linh,
Bao
nhiêu các loại hữu tình,
Con
nguyện độ hết đồng sanh đồng về.
Về
Lạc quốc cực kỳ sung sướng,
Chốn
bảo trì liên thượng hóa sanh,
Đến
nơi bất thối tựu thành,
Phật
ân đền đáp mới đành dạ con.
Nguyện
độ hết đến ngôi chánh giác,
Chủng
trí đồng chứng đắc hoàn toàn,
Chúng
sanh còn hãy chang chang,
Nguyện
con còn hãy chưa hoàn chưa xong.
-
Trích "Kinh Di Đà nghĩa và 36 bài sám hay". Sa môn Thích Thiện
Tâm - Sa đéc 1961.
46.
KỆ VÔ THƯỜNG
(Cảnh
tỉnh vô thường I)
Nhớ
lời Phật Tổ dạy rằng :
Đời
người chớp nhoáng như lằn điển quang,
Thân
người giả hợp rồi tan,
Lao
xao bọt nước mơ màng chiêm bao,
Nặng
mang những nghiệp trần lao,
Loanh
quanh ba cõi lao xao sáu đường.
Đã
sanh trong cõi vô thường,
Thì
ai thoát khỏi con đường tử sanh,
Bầu
trời lồng lộng cao xanh,
Xoay
mưa trở nắng tan tành gió mây,
Mênh
mông đất nước trời dài,
Còn
đâu bể thẳm luân đầy chiều mai.
Kể
từ vô thỉ vị lai,
Đến
đời mạt pháp là ngày nay đây,
Biết
bao tan xác rã thây,
Biết
bao những nấm mả loài mồ hoang.
Phật
xưa trượng sáu mình vàng,
Mãn
viên còn phải Niết bàn báo thân.
Tiên
gia như Lý đại quân,
Đến
ngày vô hóa hình thần cũng tan,
Tam
hoàng Ngũ đế Thánh nhân,
Nào
ai giữ được sắc thân đời đời.
Phật,
Tiên, Hiền, Thánh, vật, người,
Non
sông biến đổi đất trời tiêu tan.
Than
ôi, cuộc thế ngỡ ngàng,
Não
nùng chết khổ, lỡ làng sống vui,
Nếu
ba hơi thở tắt rồi,
Mưa
tuôn, cỏ lợp đất vùi nắng phơi.
Than
ôi giấc mộng muôn đời !
Biết
bao nhiêu khách đọa đày say vui.
Hỡi
vong ơi ! Hỡi hồn ơi !
Bao
nhiêu nợ thế trả rồi thời thôi,
Rửa
lòng cho sạch trần ai,
Rời
câu dục lạc miếng mồi lợi danh,
Tránh
xa cái cửa tử sanh,
Thoát
nơi tham ái khỏi thành sân si,
Bước
vào trong cửa từ bi,
Nương
theo chơn Phật trở về liên bang.
Khỏi
đường sống chết xoay lăn,
Khỏi
đường khổ thống khỏi thân tội tình,
Liên
bang là nước hóa sanh,
Có
ao tám đức có sen năm màu,
Có
giường ngọc có mành châu,
Có
thành thất bảo có lầu thất trân,
Sáu
thời thiên nhạc rền vang,
Màu
sen chói lọi mùi hương nực nồng,
Tốt
thay thế giới vàng ròng,
Bảy
hàng bảo thọ chín trùng liên hoa.
Đạo
sư là Phật Di Đà,
Mình
vàng rực rỡ chói lòa hào quang,
Hằng
ngày thuyết pháp rền vang,
Tiếp
người niệm Phật dẫn đường thiện duyên.
Hỡi
ôi ! Hồn có linh thiêng,
Phát
tâm niệm Phật mà nguyền vãng sanh,
Thành
lòng Phật một nguyện lành,
Hoa
sen rày đã nên danh tánh rồi.
Căn
lành lợi phúc vun bồi,
Nương
thuyền lục độ mà hồi hương qua,
Mãn
duyên sen nở một tòa,
Rước
hồn có Phật Di Đà phóng quang,
Rước
về đến cảnh Lạc bang,
Sống
lâu vô lượng dứt đàng tử sanh.
- Trích
từ "Tuyển tập các bài sám" - Các Ban Hộ Niệm - Bản in lụa,
năm 1989 tại TPHCM.
-
Chưa biết được xuất xứ và trước tác.
47.
SÁM THẢO LƯ
(Sám
hồi tâm I)
Chốn
thảo lư an cư dưỡng tánh,
Dốc
một lòng nhập thánh siêu phàm,
Sắc
tài danh lợi chẳng ham,
Thị
phi phủi sạch, luận đàm mặc ai,
Tuyết
ban mai lâu dài chi đó,
Thân
người đời nào có bao lâu,
Nhộn
nhàng trong cuộc bể dâu,
Xuân
xanh mới đó bạc đầu rồi đây.
Ba
vạn sáu ngàn ngày công khó,
Chia
phần đem cho đó một hòm,
Của
tiền để lại nhi tôn,
Bao
nhiêu tội lỗi phần hồn lãnh riêng.
Chốn
cửu tuyền khác miền dương thế,
Quỉ
ngưu đầu chẳng nể chẳng kiêng,
Tội
hành nghiệp cảm liền liền,
Muôn
phần thảm độc ghê phen đoạn trường.
Rất
thảm thương là đường sanh tử,
Dám
khuyên người ngó thử lại coi,
Thân
như pháo đã châm ngòi,
Nổ
vang một tiếng rồi coi thế nào.
Tiếc
công lao biết bao xiết kể,
Sự
đáo đầu cũng thế mà thôi.
Trăm
năm sự nghiệp phủi rồi,
Minh
minh biển khổ luân hồi cực thân.
Lửa
hồng trần rần cháy dậy,
Người
say mê thấy vậy phải kêu,
Tỉnh
tâm xét lại mấy điều,
Kíp
tu đạo đức sau siêu linh hồn.
Sự
dại khôn chẳng cần khôn dại,
Trước
lỗi lầm sau phải ăn năn,
Biển
sâu nước khỏa cũng bằng,
Mây
tan gió tịnh, bóng trăng sáng lòa.
Cõi
Ta bà có tòa Cực lạc,
Giòng
sông mê, biển giác chẳng xa,
Y
theo giáo pháp Thích Ca,
Tự
nhiên bổn tánh Di Đà phóng quang.
Đã
gặp đàng chưa toan dời bước,
Còn
tiếc chi chơn bước lờ đờ,
Khuyên
đừng đem dạ tưởng mơ,
Trăm
năm cuộc thế như cờ bị vây.
Rút
gươm huệ dứt dây tham ái,
Kíp
tìm thầy cầu phái qui y.
Kiên
trì ngũ giới tam quy,
Mở
lòng từ nhẫn sân si phải chừa.
- Trích
"Kinh Tam Bảo diễn nghĩa" Tổ đình Thiên Thai - Bà Rịa ấn
hành 1967.
-
Bài do Tổ Huệ Đăng, trước tác vào khoảng năm 1930 tại
núi Thiên Thai - Bà Rịa.
-
Bài nầy còn có các tên gọi khác như :
*
Sám Hồi tâm - (Tam Bảo Tôn Kinh - Thích Ca Tự).
*
Sám Hồi tâm Hướng thiện (Kinh Nhựt Tụng - Chùa Đại Giác).
48.
VĂN KHUYẾN TU (I)
Vóc
bào ảnh lắm người yêu tiếc,
Yêu
tiếc thân cho thiệt vì thân,
Cuộc
vui những ước vô ngần,
Nào
hay vui vẫn là nhân chác sầu !
Kiếp
phù thế bóng câu cửa sổ,
Chất
huyễn hư giọt lộ lồng hoa,
Đôi
mươi trẻ, chín mươi già,
Số
phần yểu thọ khó qua vô thường.
Dép
dưới giường, lên giường vội biệt,
Sống
ngày nay, dễ biết ngày mai?
Mạng
người hô hấp kinh thay !
Nghĩ
cơn vĩnh biệt tuyền đài mà đau.
Xót
duyên kiếp vì sao ngắn ngủi?
Chấp
thân chi để tủi cho thân,
Da
bao những thịt xương gân,
Xác
nầy dường thể đống phân sạch gì ?
Tóc,
răng, móng khác chi đất bợn,
Mũi,
dãi, đàm nên tởm xiết bao !
Bên
ngoài rệp đút muỗi đeo,
Bên
trong sán, lãi lẫn vào nhớp chưa ?
Nỗi
nóng bức ngày trưa tiết hạ,
Cơn
lạnh lùng, đêm giá trời đông,
Xét
thân nhơ khổ vô cùng,
Dứt
lòng tham luyến, khởi lòng thoát ly.
Trách
người thế mê chi lắm nhẽ,
Sánh
phong lưu phô vẻ y quan,
Kẻ
khờ cũng học đài trang,
Để
lòng điên đảo theo đàng sắc thanh.
Đầu
xương sọ cài trâm thắt lụa,
Đãy
da hôi ướp xạ xông hương,
Khéo
đòi nhung gấm phô trương,
Chỉ
tuồng che lớp vô thường hôi tanh.
Những
mảng tưởng ngày xanh muôn tuổi,
Lắm
cơ mưu đeo đuổi yên hoa,
Ngờ
đâu tai điếc, mắt lòa,
Diêm
Vương sắp rước đến tòa U minh.
Làn
tóc bạc đưa tin quỉ sứ,
Gốc
răng long điềm chỉ qui âm,
Càng
tài, càng sắc, càng dâm,
Càng
thêm đọa lạc càng lầm mà thôi.
Cuộc
hành lạc một thời thương tiếc,
Nẻo
luân hồi muôn kiếp đắng cay,
Đến
khi sắp xuống diêm đài,
Thịt
xương đau nhức, chân tay rụng rời.
Vợ
lưu luyến đầy vơi giọt lệ,
Con
thảm thương kể lể khóc than,
Dù
cho quyến thuộc trăm ngàn,
Có
ai thay thế cho chàng được chăng ?
Kẻ
sống ở nặng quằn gánh tủi,
Người
chết đi dong ruổi phách hồn,
Đường
âm mờ tựa đêm hôm,
Trông
ra quạnh quẽ bồn chồn thảm thê.
Nại
hà đến lạnh tê gió lốc,
Quỉ
môn sang ghê gốc tiếng thương,
Bảy
ngày lìa quá cõi dương,
Âm
ty đã trải trăm đường hỏi tra.
Tòa
quan xử thét la chẳng vị,
Ngục
tốt hờm tay chủy, tay xoa,
Đài
gương nghiệp cảnh sáng lòa.
Soi
tường thiện ác chối qua được nào.
Người
nhân đức cho vào cửa phước,
Kẻ
hung hoang giải trước hình ty,
Đọa
đày khổ sở xiết chi,
Mới
hay nhân quả mấy khi sai lầm.
Rừng
đao kiếm bao năm hết tội,
Kiếp
sừng lông nhiều nỗi đa mang,
Trả
đền cho dứt nghiệp oan,
Mới
mong thoát khỏi con đàng long đong.
Dù
ai có to lòng, lớn mật,
Mặc
chàng hay báng Phật khinh Tăng,
Chẳng
qua đối trước Diêm quân,
Cúi
đầu co gối chịu phần xử tra.
Hồn
phách đã xa chơi âm giới,
Thi
hài còn ở cõi dương gian,
Có
tiền mua lớp áo quan,
Không
tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng.
Chất
da thịt sẽ cùng tan rã.
Tấm
hình hài lần hóa tanh hôi,
Chỉ
trong chầy sớm mà thôi,
Chầy
năm bảy tháng sớm thời ít hôm.
Nét
kiều diễm chập chờn xuân mộng,
Kiếp
tài hoa hình bóng bạch vân,
Khi
xưa tài sắc mười phân,
Mà
nay một nắm cô phần lạnh tanh.
Thời
oanh liệt hùng anh đâu tá,
Cuộc
ái ân hư giả còn chi,
Phất
phơ cành liễu xanh rì,
Giấy
tiền treo đó dường ghi mối sầu.
Bóng
chiều rũ xuống mầu cỏ biếc,
Bia
mồ trơ một chiếc vắng không,
Nghĩ
thôi rơi lệ chạnh lòng,
Đời
người đến thế là xong một đời !
Ví
chẳng biết tìm nơi giải thoát,
Nương
về ngôi Chánh giác qui y,
Luân
hồi hẳn dứt có khi,
Bên
trời Bát Nhã còn chi lo phiền.
Lối
ma quỉ đừng riêng mưu sống,
Đất
từ bi gieo giống hoa Đàm,
Giữ
lòng thiện, dứt lòng tham,
Gái,
trai, Tăng, tục đều kham tu hành.
Rõ
cảnh mộng chớ quanh đường mộng,
Biết
miền chơn, kíp chóng tu chơn,
Dần
dà tính thiệt so hơn,
Tuổi
xuân qua mất để hờn về sau.
Sáu
chữ Phật cùng nhau gắng niệm,
Chín
phẩm đài sen chiếm ngôi vinh,
Chớ
nên mình phụ lấy mình,
Trách
sao Diêm lão vô tình chẳng dung.
Bỏ
điều ác xin làm theo thiện,
Chừa
lỗi xưa tu tiến đường sau,
Lại
vì quyến thuộc bảo nhau,
Cùng
khuyên già trẻ sớm mau tu trì.
Khiến
mỗi kẻ đồng qui bến giác,
Cho
mọi người đều thoát sông mê,
Dù
trong lao khổ dám nề,
Đài
sen đốt mảnh hương thề nguyền xin...
Nguyền
xin dốc tưởng tin lời Thánh.
Dám
để cho rỗi rảnh ưu du,
Kiếp
nầy chẳng gắng chuyên tu,
Còn
e kiếp khác công phu lỡ làng.
-
Trích "kinh Nhựt Tụng Sen Vàng" ấn bản - Chùa Ấn Quang
1968. Đối chiếu "Liên Hoàn Sám nguyện" Sa Môn Thích Thiện
Tâm - Sa Đéc 1961.
49.
VĂN KHUYẾN TU (II)
Từ
vô thỉ một màu thanh tịnh,
Vẫn
bao la chẳng bến chẳng bờ,
Không,
không, dơ sạch, sạch dơ,
Không
tăng, không giảm hư vô không bằng.
Lạc
một bước sa chân mang hổ,
Phải
vô minh lắm độ truân chuyên,
Vào
ra lục đạo triền miên,
Làm
thân tứ loại thảm phiền biết bao.
Gây
tội ác càng cao càng nặng,
Núi
Thiết vi khó đặng thoát ra,
Ở
trong khắp hết Ta bà,
Mang
thân thọ khổ kể mà sao xong.
Thế
có kẻ theo dòng bể khổ,
Cho
rằng vui mà nỡ đắm say,
Một
mai thân đã đến ngày,
Ôi
thôi ! Hồn biết giờ nầy đi đâu ?
Hoặc
địa ngục, hoặc đầu thai thú,
A
tu la, ngạ quỉ chăng là,
Ngục
hình thọ khổ kêu la,
Súc
sanh đày đọa, Tu la ưu phiền.
Lũ
ngạ quỉ huyên thuyên vô số,
Chịu
đói hoài lửa đỏ tứ tung,
Xung
quanh những cảnh não nùng,
Lâm
ly thống thiết khôn cùng xót xa.
May
gặp lúc người ta để bước,
Chốn
trần gian mà lướt chông gai,
Kẻ
mê đắm đuối hướt hài,
Mãn
rồi thế cuộc hình hài ra tro.
Còn
kẻ trí tò mò xét nghĩ,
Cái
thân nầy có tí nào vui,
Trải
qua một cuộc tới lui,
Lưng
còm gối mỏi xa trời gần hang.
Để
mắt ngó gò hoang nghĩa địa,
Cỏ
xanh rì mai mỉa người đời,
Kẻ
giàu người khó khác thôi,
Mãn
phần rồi cũng về nơi chốn nầy.
Kẻ
sang trọng với người hèn hạ,
Ba
tấc hơi mồ mả chung đây,
Người
già người trẻ bằng nay,
Cũng
đồng gởi xác ra ngoài gò hoang.
Kìa
phụ nữ nọ chàng nam tử,
Lúc
chung qui đều ngự cỏ xanh,
Kẻ
đui người điếc lưu manh,
Hồn
qui dị lộ gởi mình hang sâu.
Kẻ
vương bá công hầu tể tướng;
Lâm
trận đồ cũng mượn gò kia,
Ai
ôi ! Nghĩ kỹ ai bi !
Cái
thân không thiệt, hồn đi nơi nào ?
Sực
tỉnh lại mau mau tu tập,
Kíp
qui y Phật, Pháp cùng Tăng,
Hôm
mai giới luật ân cần,
Chuyên
câu niệm Phật độ thân cho rồi.
Kìa
Cực lạc là nơi an dưỡng,
Đất
lưu ly vô lượng khiết tinh,
Có
ao thất bảo quang minh,
Có
sen chín phẩm lớn kình bánh xe.
Lại
thất bảo ngỏa nguê đẹp đẽ,
Nước
bát công sạch sẽ tinh vi,
Bảy
hàng cây báu lưu ly,
Lan
can bảy lớp ma ni sáng ngời.
Chim
nói pháp hôm mai êm dịu,
Hoa
trên không nhiêu nhiểu khắp cùng,
Khắp
trong một sát độ trung,
Dị
hương thanh nhạc vui mừng thảnh thơi.
Nơi
bảo tọa một tòa vương pháp,
A
Di Đà nói pháp thuyết kinh,
Trang
nghiêm vô lượng quang minh,
Hào
quang sáng chói ba thành mười phương.
Đại
Thế Chí pháp vương chi tử,
Tọa
liên đài một chữ tiếp sanh,
Tay
cầm sen trắng thanh thanh,
Bước
đi thế giới rung rinh ba ngàn.
Quan
Thế Âm nghiêm trang tự tại,
Chấp
tịnh bình tay sái cam lồ,
Hóa
thân khắp cõi hư vô,
Độ
loài tam giới tam đồ vãng sanh.
Kẻ
học Phật hiểu rành chơn lý,
Phật
tức tâm lý sự tỏ tường,
Tâm
là tịnh, khó nghĩ lường,
Di
Đà Cực lạc tìm phương độ rồi.
Khá
suy xét ngộ rồi sẽ thấy,
Rán
công phu chớ cậy tài cao,
Phải
hành lục độ dồi trau,
Nhứt
tâm trì niệm rồi sau đắc thành.
Tín,
hạnh, nguyện thi hành hằng bữa,
Gắng
ghi luôn trau thửa tấc lòng,
Bồ
đề nảy nhánh đơm bông.
Lên
thuyền Bát nhã hội đồng pháp thân.
Khá
ghi lời thuyết chánh chân !
-
Trích đối chiếu bổ sung từ ba bản :
*
Kinh Nhựt Tụng Sen Vàng - Chùa Ấn Quang 1968.
*
Tam Bảo Tôn Kinh - Thích Ca Tự Sàigon 1967.
*
Liên Hoàn Sám nguyện - Sa Đéc 1961.
50.
SÁM HỒNG TRẦN
(Cảnh
tỉnh vô thường II)
Cõi
hồng trần gởi thân trăm tuổi,
Kiếp
phù sanh thay đổi mấy lần,
Có
thân nên khổ vì thân,
Bởi
xưa chơn tánh niệm lần say mê.
Nhơn
vô minh vọng tình nhiễm trước,
Thọ,
tưởng, hành, ý thức nghiệp duyên,
Luân
hồi sanh tử lộn quanh,
Ra
vào ba cõi xuống lên sáu đường.
Đời
dĩ vãng Tam hoàng, Ngũ đế,
Khó
toan phương cõi thế thọ trường,
Những
là diệu dược Thần Nông,
Dễ
đâu cứu hết mạng vong số người.
Thuốc
linh đơn tài y Biển Thước,
Cũng
nan điều hết được bịnh nhơn.
Hữu
hình, hữu hoại là thân,
Có
đâu sống mãi ngàn năm trên đời.
Trường
danh lợi lăng xăng lui tới,
Án
công hầu sớm tối đua chen,
Sang
giàu nghèo khổ lộn xen,
Chung
qui rồi cũng một phen tan tành.
Oai
lẫy lừng vua Tần Hoàng Thủy,
Tiếng
anh hùng cái thế Hạng Vương,
Quyết
lòng thâu đoạt giang sơn,
Dè
đâu ý định sao hơn mạng trời.
Chẳng
lâu đời mạng Tần ngắn ngủi,
Sông
Ô giang Hạng Võ bỏ mình,
Hớn
trào Hàn Tín công nghìn,
Tề
Vương đại ấn dễ mang đặng nào ?
Họ
Thạch giàu của bao xiết kể,
Mà
bây giờ còn để lại đâu ?
Tuổi
Nhan Hồi băm hai yểu số,
Sống
tám trăm Bành Tổ mạng trường,
Xanh
mày với tóc bạc sương,
Sống
lâu thác yểu, một đường khác chi.
Mùi
tục lụy đắng cay mấy nỗi,
Bả
đỉnh chung nhiều nỗi nhọc lòng,
So
tài đấu trí dại khôn,
Công
danh, phú quí mộng hồn hoàn lương.
Cảnh
vô thường tang thương biến đổi.
Người
lẽ đâu sớm tối an nhàn,
Sanh
giả không, tử giả không,
Mấy
ai trăm tuổi uổng công lo đời.
Còn
chút hơi ai ơi nghĩ lại,
Muôn
việc đời cả thảy đừng mong,
Vắng
đi ba tấc hơi lòng,
Bao
nhiêu sự nghiệp còn trông chút gì ?
Dẫu
của tiền vạn thiên chất chứa,
Bực
vương hầu khanh tướng vinh huê,
Ơn
thâm nghĩa trọng tận tình,
Đem
ra chuộc thế mạng mình được chăng ?
Có
chi bằng tầm phương tế độ,
Niệm
Di Đà giác ngộ thiện tâm,
Đạo
là vô thượng thậm thâm,
Nếu
không sớm gặp kiếm tầm dễ chi ?
Xét
thân nầy một khi gặp gỡ,
Để
mất rồi muôn thuở khó toan,
Kiếp
người sanh giữa trần gian,
Nhờ
nơi chưởng đặng thiện căn lâu đời.
Vậy
mấy lời hôm nay tỉnh giấc,
Nguyện
vong hồn khoái lạc siêu sanh,
Bao
nhiêu những việc tiền trình,
Bây
giờ thôi cũng phải đành hoàn không.
Một
khoảnh đồng bặt tăm chôn xác,
Ôi
đành cho đất cát lấp vùi,
Biệt
ly là cảnh ngậm ngùi,
Bi
tâm thán biệt nấm mồ ngàn thu.
Bóng
trăng lu, nhìn đầu ác xế,
Tháng
ngày qua quạnh quẽ mộ phần,
Gió
mưa, nắng tuyết bao lần,
Cổ
kim lai vãng tử sanh một đàng.
Cõi
dinh hoàn, trần gian chung cảnh,
Kiếp
luân hồi không rảnh thoát ly,
Mong
nhờ pháp lực hộ trì,
Xả
mê tùng giác tiêu diêu lạc thành.
Nguyện
vãng sanh về miền Cực lạc,
Dứt
hết liền ác nghiệp trần lao,
Liên
hoa chín phẩm đặng vào,
Trường
xuân tự tại tiêu dao hưởng nhàn.
- Trích
"Kinh Di Đà Nghĩa và 36 bài sám hay" - Sa môn Thich Thiện Tâm
sưu tầm - Sa đéc 1961. Và Kinh Nhựt tụng Sen Vàng, chùa Ấn
Quang 1968.
51.
BÀI TỐNG TÁNG
(Cảnh
tỉnh vô thường III)
Cuộc
hồng trần xoay vần quá ngán,
Kiếp
phù sanh tụ tán mấy lăm hồi,
Người
đời có biết chăng ôi !
Thân
người tuy có, có rồi hoàn không.
Chiêm
bao khéo khuấy lạ lùng,
Mơ
màng trong một giấc nồng mà chi,
Làm
cho buồn bã thế ni,
Hôm
qua còn đó bữa nay đâu rồi.
Khi
nào đứng đứng ngồi ngồi,
Bây
giờ thiêm thiếp như chồi cây khô,
Khi
nào du lịch giang hồ,
Bây
giờ nhắm mắt mà vô quan tài.
Khi
nào lược giắt trâm cài,
Bây
giờ gởi xác ra ngoài gò hoang,
Khi
nào trau ngọc chuốt vàng,
Bây
giờ một nắm xương tàn lạnh tanh,
Khi
nào mắt đẹp mày thanh,
Bây
giờ thấy dạng thấy hình là đâu.
Khi
nào lên các xuống lầu,
Bây
giờ một nắm cỏ sầu xanh xanh,
Khi
nào liệt liệt oanh oanh,
Bây
giờ một trận tan tành gió mưa,
Khi
nào ngựa lọc xe lừa,
Bây
giờ mây rước trăng đưa mơ màng,
Khi
nào ra trướng vào màn,
Bây
giờ nhà cửa xóm làng cách xa,
Khi
nào mẹ mẹ cha cha,
Bây
giờ bóng núi khuất xa muôn trùng,
Khi
nào vợ vợ chồng chồng,
Bây
giờ trăng khuyết còn mong chi tròn,
Khi
nào cháu cháu con con,
Bây
giờ hai ngã nước non xa vời,
Khi
nào cốt nhục vẹn mười,
Bây
giờ lá héo nhành tươi vui gì,
Khi
nào bạn hữu sum vầy,
Bây
giờ chén rượu cuộc kỳ vắng thiu.
Cái
thân như tấc bóng chiều,
Như
chùm bọt nước phập phều ngoài khơi,
Xưa
ông Bành Tổ sống đời,
Tám
trăm tuổi thọ nay thời còn đâu,
Sang
mà đến bực công hầu,
Giàu
mà đến bực mấy lâu Thạch Sùng,
Nghèo
mà đói khát lạnh lùng,
Khổ
mà tóc cháy da phồng trần ai,
Phù
du sớm tối một mai,
Giàu
sang cũng thác xạt xài cũng vong.
Thông
minh tài trí anh hùng,
Ngu
si dại dột cũng chung một gò,
Biển
trần nhiều nỗi gay go,
Mau
mau nhẹ gót qua đò sông mê,
Sự
đời nên chán nên chê,
Tầm
nơi giải thoát mà về mới khôn.
Vong
hồn ơi hỡi vong hồn !
Cuộc
đời nay biển mai cồn tỉnh chưa ?
Tỉnh
rồi một giấc say sưa,
Sẽ
xin niệm Phật mà đưa hồn về.
Hồn
về Cực lạc nước kia,
Cho
xa hang quỉ mà lìa kiếp ma.
Nhờ
ơn đức Phật Di Đà,
Phóng
ra một ngọn chói lòa hào quang,
Trong
khi tiếp dẫn rõ ràng,
Dắt
hồn ra khỏi sáu đàng nghiệp nhân,
Quan
Âm Bồ Tát vui mừng,
Tay
cầm nhành liễu tay bưng kim đài,
Với
cùng Thế Chí các Ngài,
Cũng
đều khuyến thỉnh bên ngai sen vàng.
Có
bảo cái có tràng phan,
Có
mùi hương lạ có đàng ngọc xây,
Có
trời các cõi truy tùy,
Có
đờn, có trống, rước đi một đường,
Rước
về đến cảnh Tây phương,
Có
ao thất bảo có hương ngũ phần,
Lưu
ly có đất sáng ngần,
Ma
ni có nước trong tần chảy quanh,
Thất
trân có bảy lớp thành,
Bảy
hàng cây báu, bảy vành lưới châu,
Có
ngân các, có kim lầu,
Có
chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe
rồi tỏ đạo Bồ đề,
Bao
nhiêu nghiệp chướng hồn mê dứt liền,
Đã
sanh về chín phẩm sen,
Mấy
tai cũng sẩy mấy duyên cũng tròn.
Phật
như thể mẹ tìm con,
Con
mà gặp mẹ lại còn lo chi,
Lầu
vàng đài báu thiếu gì,
Ăn
thì cơm ngọc, mặc thì áo châu,
Không
ơn, không oán, không sầu,
Không
già, không chết có đâu luân hồi.
Tánh
xưa nay đã tỏ rồi,
Gương
xưa nay đã lau chùi trần ô.
Tu
hành phải đợi kiếp mô,
Nguồn
tình biển ái đã khô bao giờ,
Lựa
là phải ngộ thiền cơ,
Mà
đèn trí huệ dễ lờ đi đâu,
Mấy
lời hộ niệm trước sau,
Nguyện
cho thành Phật mau mau nữa mà,
Phân
thân ra khỏi Ta bà,
Từ
bi tiếp độ những là chúng sanh.
-
Trích từ "Liên Hoàn Sám Nguyện" - Sa môn Thích Thiện Tâm sưu
tầm - Sa đéc 1961.
-
Đối chiếu lại và sửa chữa từ "Tam Bảo Tôn Kinh" Thích
Ca Tự Sàigòn 1967.
52.
ĐƯỜNG VỀ TỊNH ĐỘ
(Khuyến
tu III)
Dật
dờ trong cảnh phong ba,
Canh
già vừa trổi, tỉnh ra giấc nồng,
Chợt
nhìn Nam, Bắc, Tây, Đông,
Ngẩn
ngơ cuộc thế, đau lòng thiết tha,
Nguyện
cùng Phật tử chúng ta,
Kết
tình liên lạc thuận hòa với nhau,
Muốn
cho đoàn thể thanh cao,
Một
lòng thù tạc, trước sau trọn niềm.
Thôi
đừng đem dạ kỵ hiềm,
Chớ
phân giai cấp, để tìm đường chơn,
Cũng
đừng tính thiệt so hơn,
Giúp
nhau tận lực trong cơn tai nàn.
Như
là tuần tự, khổ tang,
Cùng
là bịnh hoạn, thuốc thang nuôi giùm.
Đó
là như mở gông cùm,
Trên
đời chưa có cái giùm nào hơn.
Tùy
theo phương tiện làm ơn,
Chẳng
nên thái quá, e lờn mối tâm,
Chẳng
cần tiền chục bạc trăm,
Chị
em dư dả đậu năm ba tiền,
Nghèo
thì công cán thay phiên,
Giúp
nhau giữa lúc cảnh duyên âu sầu.
Tu
hành lấy đó làm đầu,
Muốn
lên đường cả, bước đầu từ đây,
Giàu
nghèo đừng vị đừng tây,
Tập
lòng bình đẳng sớm chầy phải nên,
Biết
nhau đạo lý đừng quên,
Con
đường chánh đại dẫn lên một lần,
Công
tâm một mực phải cần,
Đừng
riêng tâm niệm kẻ gần, người xa.
Chị
em tỷ ở trong nhà,
Nhìn
nhau như một mẹ cha đó mà,
Thương
nhau như tấm ruột rà,
Buông
lòng chấp nhứt dung tha lỗi lầm.
Đừng
xen cái nét tư tâm,
Tránh
đường tam độc, để tầm cửa không.
Quét
lần lòng sạch bụi hồng,
Sát
con ma nghiệp, nuôi lòng từ bi,
Quày
đầu tỉnh giấc vô tri,
Mới
hay thế sự cái gì cũng sai,
Lẽ
thì nuôi sống qua ngày,
Của
tiền thân thể đoái hòa làm chi?
Biết
rằng : "Sanh ký tử qui",
Cái
thân hưởng tạm thác thì phủi trơn,
Bình
sanh luống tính thiệt hơn,
Mãn
danh rồi lợi, quên cơn đọa đày,
Tội
căn có trả bởi vay,
Lòng
thương tự nghĩ, để xoay vần hoài.
Từ
đời vô thỉ đến nay,
Tâm
hồn mê lạc, đắm say lờ đờ,
Như
con chích mẹ bơ vơ,
Lạc
căn mất bổn thẩn thơ cõi trần,
Cũng
vì mê chấp căn thân,
Quên
nơi bổn tánh lần lần tới nay,
Không
hay đây cảnh đọa đày,
Chim
lồng cá chậu có ai biết là,
Tưởng
cho thong thả Ta bà,
Nay
hay bị khép dưới đà hỏa khanh,
Luống
theo ả lợi chàng danh,
Làm
cho chìm nổi lẫn quanh sáu đường.
Than
ôi ! nhiều kiếp khôn lường,
Thay
hình đổi xác trong trường tử sanh.
Khiến
nên vùi lấp căn lành,
Hết
chìm rồi nổi đã đành lội bơi,
Trông
nhìn biển khổ vơi vơi,
Ngán
ôi cái bước của đời trần hiêu.
Chừng
nào tội nghiệp được tiêu,
Thấy
trong cảnh vật lắm điều bi ai,
Có
chi gái sắc trai tài,
Đến
ngày rồi cũng ra ngoài gò hoang,
Anh
hùng tài trí khôn ngoan,
Vô
thường đến dắt khó gàn khó ngăn,
Trâm
cài lượt giắt lăng xăng,
Hết
ba hơi thở cũng phăng xuống mồ.
Áo
quần thân thể điểm tô,
Khuất
ba tấc đất thấy mồ cỏ xanh,
Lời
khôn tiếng khéo dẫu lanh,
Dứt
rồi hơi nóng chẳng thành là ai.
Huyễn
thân giả dối không sai,
Tang
điền thương hải, mấy ai xét cùng,
Từ
đây nghe trống đại hùng,
Trời
Nam inh ỏi tiếng thùng dội vang.
Chúng
ta tỉnh giấc mơ màng,
Thấy
đường Tịnh độ rõ ràng bổn nguyên,
Cùng
nhau muốn trổ bông duyên,
Mau
gieo trái phước cho liền hôm nay,
Vun
bồi căn tánh tháng ngày,
Dưỡng
lòng thanh tịnh, dẹp loài vọng ma.
Dốc
lòng niệm Phật Di Đà,
Pháp
môn Tịnh độ Thích Ca chỉ rành,
Các
loài muốn được vãng sanh,
A
Di Đà Phật niệm rành đừng xao,
Người
đời vô hạn thấp cao,
Bực
nào niệm Phật trước sau cũng thành.
Miễn
là cải dữ theo lành,
Lấp
ngơ miệng thế, thả quanh tiếng phàm.
Hỉ,
nộ, ái, ố đừng cam,
Chánh,
tà phải xét, thánh, phàm phân minh,
Dư
công lễ Phật tụng kinh,
Lập
bàn thờ Phật, kỉnh tin mỗi nhà,
Bằng
không cứ niệm Di Đà,
Nằm,
ngồi, đi, đứng, miễn là đừng phai.
Bao
nhiêu tội nghiệp từ ngày,
Hội
này cứ niệm Phật hoài phải tiêu;
Lập
công bồi đức ít nhiều,
Tùy
theo phương tiện phải chìu sức nhau,
Lòng
thành ý tịnh một màu,
A
DI ĐÀ PHẬT làu làu trong tâm,
Pháp
môn Tịnh độ thậm thâm,
Tín
tâm phải liệu, đừng lầm không nên.
Liên
đài cửu phẩm muốn lên,
Bao
nhiêu Phật dạy lòng bền thì xong.
Đừng
nghe nhiều phái nhiều tông,
Rày
đây mai đó, khó mong đến bờ.
Nếu
là còn bước sơ cơ,
Cứ
nương thiện hữu, trước lờ sau minh,
Một
đường chánh niệm thinh thinh,
Con
ma nghiệp chướng khó rình bên ta.
Dày
công niệm Phật Di Đà,
Đến
ngày rồi sẽ liên hoa hóa hình,
Vậy
thì lớn nhỏ bạn mình,
Đem
thân cầu đạo, mặc tình thị phi.
Cùng
nhau thủ phận tam qui,
Thế
gian mặc kẻ chẳng bì nữa chi,
Để
mình nương bóng A Di,
Xuống
thuyền đại nguyện kịp thì bạn ta.
Tu
hành giữ đạo tại gia,
Uống
ăn đạm bạc, miễn qua tháng ngày,
Che
thân quần áo bề ngoài,
Miễn
cho lành lẽ, sơ xài cũng xong.
Để
mà cầu đạo ở trong,
Ngoài
thân ngoài cảnh đèo bồng lắm chi,
Gát
ngoài hai chữ thị phi,
Nhuộm
tâm đạo đức cho y một màu,
Xét
trước rồi lại xem sau,
Lỡ
nhau lầm lạc hồi nào thì thôi,
Biết
mình cải ác đã rồi.
Hễ
là tùng thiện cứ bồi đạo tâm,
Đạo
tâm muốn giữ cho nhằm,
Giàu
nghèo tự lẽ, đừng tham leo chuyền,
Yên
tâm thủ phận tùy duyên,
Nhơn
nào quả nấy, tiền khiên tự mình,
Phải
cần tham học cho minh,
Đừng
vì nghèo khó bất bình không nên.
Còn
như giàu có bực trên,
Cũng
đừng vì đó mà quên đạo hằng.
Một
lòng như sợi chỉ giăng, ngời,
Thương
nhau dìu dắt đừng rời,
Theo
ra cho khỏi cửa đời thế gian,
Sau
rồi đến cảnh Lạc bang,
Chị
em lớn nhỏ bạn vàng đủ nhau.
Nam
mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.
-
Trích từ "Liên Hoàn Sám Nguyện" - Sa môn Thích Thiện Tâm sưu
tầm - Sa đéc 1961.
53.
SÁM TU LÀ CỘI PHÚC
(Khuyến
tu IV)
Chữ
rằng công đức vô lường,
Thập
phương chư Phật thường thường độ sanh,
Ai
ơi gắng chí tu hành,
Để
sau đến bực vô sanh mà nhờ,
Người
đời sớm biết tri cơ,
Gương
lu vì bụi, trăng lờ vì mây,
Chở
che nhờ đức cao dày,
Dẫu
tu cho mấy chẳng tày tu tâm.
Đường
mê xin chớ bước lầm,
Não
phiền cũng bởi thân tâm của mình
Chớ
nên hại vật sát sanh,
Tu
nhơn tích đức mới thành phẩm cao,
Cuộc
đời như giấc chiêm bao,
Công
danh phú quý khác nào lửa diêm,
Phật
Tiên xưa cũng người phàm,
Tỉnh
thời làm Phật, mê làm chúng sanh,
Nhớ
xưa Vương Khải, Thạch Sùng,
Dẫu
cho ngàn tứ muôn chung một thời,
Của
đời trả lại cho đời,
Giàu
sang mà khỏi luân hồi đặng chăng ?
Đổi
thay máy tạo không ngừng,
Bức
tranh vân cẩu mấy từng xa xa,
Khuyên
đừng trách lẫn trời già,
Đáo
đầu thiện ác chánh tà khác nhau,
Quả
nhơn chẳng trước thời sau,
Gẫm
cơn báo ứng chậm mau mấy hồi,
Người
đời nghĩ đó mà coi,
Giờ
không toan liệu sau rồi làm sao ?
Khuyên
đừng nại chút công lao,
Nhắm
chừng bờ giác tầm vào tận nơi,
Tâm
minh vốn đã sẵn rồi,
Ở
trong mình có, há ngoài đâu xa.
Trừ
nghiệp chướng giải oan gia,
Trì
trai niệm Phật ấy là công phu,
Tháng
ngày thấm thoát phù du,
Bóng
qua cửa sổ dễ hầu trở lui.
Thiện
căn trước đã tài bồi,
Đèn
khêu mới sáng, ngọc dồi mới xinh,
Tránh
vòng lục dục thất tình,
Ấy
là khỏi lưới vô minh vướng nhầm.
Rõ
ràng phước tội tại tâm,
Mình
là m