PHẦN
THỨ III
CÁC
BÀI SÁM VĂN CẦU AN, CẦU SIÊU VÀ TỊNH ĐỘ
28.
SÁM CẦU AN (I)
Con
quỳ lạy Phật chứng minh,
Hai
hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền,
Cầu
cho thí chủ hiện tiền,
Nội
gia quyến thuộc bình yên điều hòa,
Thọ
trường hưởng phước nhàn ca,
Phổ
Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi.
Quan
Âm phò hộ vui chơi,
Mười
hai câu nguyện độ đời nên danh,
Thiện
nam tín nữ lòng thành,
Ăn
chay niệm Phật làm lành vái van.
Quan
Âm xem xét thế gian, trầm,
Mau
mau niệm Phật Quan Âm,
Tai
qua nạn khỏi định tâm sáng lòa,
Đương
cơn lửa cháy đốt ta,
Niệm
danh Bồ Tát hóa ra sen vàng.
Gió
Đông đi biển chìm thuyền,
Niệm
danh Bồ Tát sóng tan hết liền.
Tà
ma quỉ báo khùng điên,
Niệm
danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan.
Vào
rừng cọp rắn nghinh ngang,
Niệm
danh Bồ Tát nó càng chạy xa.
Tội
tù ngục tối khảo tra,
Quan
Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng.
Bị
trù bị ếm mê mang,
Quan
Âm niệm niệm vái van tịnh bình.
Quan
Âm thọ ký làm tin,
Tùy
duyên thuyết pháp độ mình hết mê.
Nương
theo Bồ Tát trở về,
Thấy
mình ngồi gốc Bồ đề giống in,
Tay
cầm bầu nước tịnh bình,
Tay
cầm nhành liễu quang minh thân vàng,
Cam
lồ rưới khắp thế gian,
Tốt
tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn.
Quan
Âm cứu hết tai nàn,
Độ
đời an lạc mười phương thái bình,
Quan
Âm điểm đạo độ mình,
Quan
Âm Bồ Tát chứng minh độ đời.
- Trích
từ "Kinh Nhựt Tụng" Nhà in Sen Vàng - Sài gòn 1970 và "39 bài
sám nghĩa " của Thích Thiện Tâm - Sađéc 1961.
29.
SÁM CẦU SIÊU (I)
Trên
bảo tọa khói hương nghi ngút,
Tấm
lòng thành nhiệt huyết từ đây,
Mây
lành năm sắc phủ vây,
Chở
che nhơn loại lắm thay oan hồn.
Vẫn
biết chữ “tử qui, sanh ký”,
Người
trần ai, ai dễ sống lâu,
Nhưng
vì nghĩa nặng ơn sâu,
Thương
tình đồng loại với nhau một giòng.
Bất
cứ là kẻ Âu người Á,
Giống
da nào cũng loại sanh linh,
Đạn
rơi súng nổ thình lình,
Nỡ
đem toàn thể tan tành thịt xương.
Đệ
tử tôi hết lòng cầu khẩn,
Xin
Phật từ cứu độ vong linh,
Ngưỡng
nhờ lượng Thánh cao minh,
Xót
thương đoái tưởng phù sanh khốn nàn.
Sanh
bất hạnh nhằm thời mạt pháp,
Chịu
trăm bề khốn khổ xiết bao,
Sống
thời vất vả lao đao,
Thác
không toàn thể thây giao tử thần.
Bơm
rơi xuống tan xương nát thịt,
Đạn
bay ngang phách lạc hồn kinh,
Sẵn
lòng khấn vái đinh ninh,
Hồn
nương mây bạc linh đinh cõi ngoài.
Xin
kíp đến qui y Tam Bảo,
Nước
nhành dương rửa sạch lòng trần,
Gội
nhuần đức Phật thâm ân,
Bao
nhiêu tội chướng cũng lần đặng tiêu.
Dạ
chí thiết cúi đầu bệ ngọc,
Chí
ân cần siêu độ vong linh,
Trời
cao bể rộng mông mênh,
Bao
la vạn tượng hồn linh an nhàn.
Nay
hết lúc lầm than khổ sở,
Kíp
trở về Cực lạc Tây phương,
Ta
nay hưởng phước Lạc bang,
Tiêu
diêu cực điểm ngày ngàn thảnh thơi.
Xin
nhắc nhở ai ơi nghe lấy,
Ráng
gìn lòng giữ vững đạo tâm,
Đức
nhuần mầu nhiệm huyền thâm,
Mặc
dù sanh tử thân tâm lẽ thường.
Kiếp
nhân sanh là đường tạo hóa,
Nẻo
luân hồi khứ khứ lai lai,
Hữu
tình hữu hoại đổi thay,
Sắc
không không sắc mới hay vô thường.
Dầu
tài sắc trăm năm cũng thế,
Kiếp
phù sanh há dễ sống lâu,
Vong
hồn ơi hỡi lo âu,
Rán
lo kinh kệ ngõ hầu siêu thăng.
Trích
và đối chiếu từ hai bản "39 bài Sám nghĩa" và "Tam Bảo
Tôn Kinh " (Sđd). Có sửa chữa lại cho đúng hơn lần in trước.
30.
SÁM CẦU SIÊU (II)
Xây
mặt đến Tây phương Cực lạc,
Lạy
đức Thầy tiếp bạt chúng sanh,
Mong
Thầy thương đến vong linh,
Độ
về Cực lạc nên danh sen vàng.
Ví
dầu vong lắm nghiệp oan,
Nhờ
ơn đức Phật thoát nàn thọ sanh,
Bởi
hồn nghiệp trọng phước khinh,
Chướng
đầy huệ mỏng, phàm tình tối tăm.
Chết
đi sống lại xoay vần,
Ở
trong nhà lửa lắm lần đổi thay,
Chấp
thân chấp ngã thiệt dày,
Tham,
sân, si muội hằng ngày chẳng lơi.
Sát
sanh hại vật giết người,
Tà
dâm, trộm cắp, lời sai, rượu ghiền.
Gièm
pha, thêu dệt, đảo điên,
Kiêu
căng, tật đố lại thêm kiến tà,
Khinh
khi Tam Bảo người ta,
Lờn
thầy, cãi mẹ, nghịch cha, bất bình.
Dấn
thân vào chốn lợi danh,
Tạo
nhơn kết quả gây thành oan gia,
Nay
dầu hồn có xuất ra,
Nghiệp
nào báo nấy chịu qua cực hình.
Nay
tôi phát nguyện chí thành,
Trước
ngôi Tam Bảo gieo bền lòng ngay,
Mở
gan trải dạ tỏ bày,
Hết
lòng sám hối hồn rày nhờ nương.
Nguyện
hồn giải hết oan ương,
Từ
đời kiếp trước không lường đến nay,
Hết
cơn mê tối dại ngây,
Sân,
si cũng dứt, nhớ lời dạy khuyên.
Tịnh
thanh ba nghiệp thuần nhiên,
Nước
cam lồ sái sạch liền còn đâu,
Ví
dầu tội nghiệp chất đầu,
Nguồn
ân bể ái thảm sầu cạn không.
Ngửa
trông đức Phật bao dung,
Tội
mòn nghiệp hết thoát vòng khổ ba,
Nguyện
cầu Từ phụ Di Đà.
Đem
lòng quảng đại độ mà hồn lên,
Hồn
đà dứt hết nghiệp duyên,
Phát
ra chánh niệm tinh chuyên vững vàng,
Hồn
huờn giác tánh rõ ràng,
Thấy
Di Đà Phật hào quang rạng mình.
Cầu
hồn sắc tướng quang minh,
Thấy
Di Đà Phật tâm tình vui an,
Nguyện
hồn về cảnh Lạc bang,
Thấy
Di Đà Phật tòa vàng nói kinh.
Hào
quang Phật chiếu thanh minh,
Tay
vàng rờ đảnh, nước lành thanh lương,
Tánh
linh mầu nhiệm tỏ tường,
Mau
nghe chánh pháp dứt đường trần lao.
Tòa
sen rực rỡ trong ao,
Đỏ,
vàng, xanh, trắng tuôn hào quang ra,
Hồn
ngồi chểm chệ xem hoa,
Phật
cùng Bồ Tát hằng hà nhóm đông.
Hồn
nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Chứng
vô sanh nhẫn chơn tông thượng thiền,
Chỉ
trong giây phút thành duyên,
Tam
thân, tứ trí tánh thiêng nhớ hoài.
Sáu
thông, năm mắt, hiện lai,
Bao
nhiêu công đức đủ đầy huyên thuyên,
Hồn
về cõi Phật ở yên,
Cũng
nên để bước độ duyên Ta bà,
Thần
thông biến hóa phân ra,
Mười
phương độ hết người mà trầm luân.
Trích
từ "Kinh Di Đà Nghĩa và 36 bài sám hay" đối chiếu lại với
"Liên Hoàn sám nguyện " Thích Thiện Tâm - Sađéc 1961.
31.
SÁM CẦU SIÊU (III)
Đạo
tràng nghi ngút khói hương,
Mười
phương chư Phật xót thương muônngàn,
Phật
đài cao tột nghiêm trang,
Chúng
con Phật tử hai hàng cầu siêu.
Cầu
cho vong giả nghiệp tiêu,
Dứt
điều oan báo, đủ điều phước duyên.
Cầu
trên chư Phật hiện tiền,
Độ
cho vong giả về miền Lạc bang.
Ví
dầu vong lắm nghiệp oan,
Nhờ
ơn chư Phật dứt đàng tử sinh,
Vô
thường chi phối thình lình,
Làm
cho người thế hồn kinh phách tà.
Mong
cầu đức Phật Di Đà,
Phóng
ra một ngọn chói lòa hào quang.
Trong
khi tiếp dẫn rõ ràng,
Dắt
hồn ra khỏi sáu đường nghiệp nhân.
Quán
Âm Bồ Tát hóa thân,
Tay
cầm nhành liễu tay bưng kim đài,
Theo
cùng Thế Chí các Ngài,
Thảy
đều tiếp độ lên ngai sen vàng.
Sẵn
sàng bảo cái tràng phan,
Có
mùi hương lạ có đàng ngọc xây,
Các
trời đứng sẵn trên mây,
Nghe
rền thiên nhạc đi ngay một đường.
Hồn
về đến cõi Tây phương,
Thấy
ao thất bảo với hương ngũ phần,
Lưu
ly quả đất sáng ngần,
Nước
ao bát đức xoay vần chảy quanh.
Thất
trân có bảy lớp thành,
Bảy
hàng cây báu bảy vành lưới châu,
Nào
là ngân các kim lâu,
Có
chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe
rồi tỏ đạo Bồ đề,
Bao
nhiêu nghiệp chướng hồn mê hết liền.
Được
sanh về chín phẩm sen,
Nghiệp
oan dứt sạch, nhơn duyên sẵn tròn.
Di
Đà thương xót độ con,
Con
đà gặp mẹ chẳng còn lo chi,
Thất
trân báu vật thiếu gì,
Dùng
cơm hương tích, mặc thì áo châu,
An
vui giải thoát không sầu,
Không
già, không chết có đâu luân hồi.
Tánh
xưa nay đã tỏ rồi,
Gương
xưa cũng đã hết hồi trần ô,
Tu
hành chẳng đợi kiếp mô,
Bỏ
tà theo chánh dứt đồ quỷ ma.
Hồn
về Cực lạc liên hoa,
Phật
cùng Bồ Tát hằng hà quá đông.
Hồn
nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Ngộ
luôn sáu pháp thần thông nhớ hoài.
Lòng
trong trí sáng ai ai,
Phước
duyên công đức phép tài tự nhiên.
Hồn
về Cực lạc ở yên,
Sau
rồi trở lại hóa duyên Ta bà.
Thần
thông biến hóa hiện ra,
Mười
phương cứu độ, trẻ già vãng sanh.
Nguyện
hồn về cõi Lạc thành,
Hoa
sen chín phẩm nêu danh tỏ tường,
Trọn
lành hưởng cảnh Tây phương,
Tội
tiêu nghiệp dứt kiết tường thanh lương.
Di
Đà giáo chủ Tây phương,
Độ
vong hồn đặng lên đường Lạc bang.
- Trích
từ "39 Bài sám nghĩa" và đối chiếu sửa chữa bổ sung từ
"Kinh Nhựt Tụng" chùa Đại Giác - Sài gòn 1974.
32.
SÁM PHẬT TỔ
(Sám
tán Di Đà II)
Cúi
đầu làm lễ Tây phương,
Cha
lành bốn bể dẫn đường cho con,
Một
lòng gìn giữ vuông tròn,
Sân,
si nghiệp chướng nay con nguyện chừa.
Rèn
lòng kinh kệ sớm trưa,
Nguyện
con ra khỏi nắng mưa cõi trần,
Ngưỡng
cầu đức Phật thi ân,
Đoái
thương đệ tử trong trần sớm lên.
Nay
con trai giới giữ bền,
Nguyện
về Cực lạc làm nên độ người.
Từ
đời vô thỉ mấy mươi,
Bởi
chưng mê muội lánh mười việc nhơn.
Muôn
trông đức Phật điểm đơn,
Thọ
truyền đệ tử dứt cơn não phiền,
Bền
lòng tới chốn Tây thiên,
Cầu
về Cực lạc thanh liên đời đời,
Quyết
lòng mỏi mệt chẳng rời,
Giữ
gìn đạo đức việc đời bỏ đi.
Cúi
xin Phật Tổ từ bi,
Dắt
dìu con trẻ liên trì thẳng qua,
Bởi
vì mê muội sai ngoa,
Quên
trong chơn tánh vào ra luân hồi.
Quyết
lòng học tập trau dồi,
Nguyện
làm nên đạo đền bồi bốn ơn,
Dốc
lòng niệm Phật chẳng sờn,
Về
nơi Tịnh độ chỉ đờn làm nên.
Con
nay tình nguyện xông lên,
Cúi
gieo năm vóc dạ bền thiết tha,
Ngưỡng
cầu đức Phật Di Đà,
Dắt
dìu đệ tử vượt qua cõi trần.
Từ
rày khuya sớm ân cần,
Chướng
dày thệ dứt lánh lần đường xưa.
Cho
dầu nghiệp cũ dây dưa,
Nguyện
con ra khỏi nắng mưa cõi đời.
Thệ
con nên Phật mới thôi,
Cứu
vòng đọa lạc mới hồi tịnh bang,
Nguyện
lên chín phẩm sen vàng,
Độ
loài mọt mạy muôn ngàn thảnh thơi.
Như
con gần có qua đời,
Nguyện
cầu Phật Tổ tới nơi tiếp về,
Ở
trong ba cõi đắm mê,
Lộn
vào nhiều kiếp chớ hề thở than.
Ngưỡng
trông đức Phật mở mang,
Đoái
thương đệ tử muôn ngàn xuống lên,
Nguyện
về Cực lạc vững bền,
Liên
hoa phụ mẫu cõi trên thanh nhàn.
-
Trích đối chiếu sửa chữa bổ sung từ ba bản in : Tam Bảo
Tôn Kinh, Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác, Liên Hoàn Sám nguyện
(sđd).
-
Chưa biết xuất xứ trước tác.
33.
SÁM NIỆM PHẬT
(Sám
tán Di Đà III)
Một
lòng giữ niệm Di Đà,
Hồng
danh sáu chữ thật là rất cao,
Năng
trừ tám vạn trần lao,
Người
đời nên sớm hồi đầu mới hay.
Khuyên
ai xin chớ mê say,
Tịnh
tâm niệm Phật việc gì cũng an,
Niệm
Phật tội nghiệp tiêu tan,
Muôn
tai ngàn họa khỏi mang vào mình.
Niệm
Phật mở trí cao minh,
Bao
nhiêu hôn chướng chẳng sinh vào lòng.
Niệm
Phật cứu đặng tổ tông,
Khỏi
nơi biển khổ thoát vòng sông mê.
Niệm
Phật thân tộc đề huề
Một
nhà sum hợp chẳng hề ghét nhau.
Niệm
Phật khỏi khổ khỏi đau,
Bao
nhiêu tật bịnh mau mau hết liền.
Niệm
Phật có phước có duyên,
Tấn
tài tấn lợi bình yên cửa nhà.
Niệm
Phật trừ đặng tà ma,
Yêu
tinh quỉ quái lánh xa ngàn trùng.
Niệm
Phật năng khử độc trùng,
Các
loài ác thú hóa hung làm hiền.
Niệm
Phật hết khùng hết điên.
Có
gương trí huệ có đàng quang minh.
Niệm
Phật khỏi sự bất bình,
Sự
người chẳng nhớ sự tình chẳng ưa.
Niệm
Phật cứu số long đong,
No
cơm ấm áo thung dung mãn đời.
Niệm
Phật cảm động khắp nơi,
Ai
ai cũng mến người người đều thương.
Niệm
Phật sanh dạ hiền lương,
Từ
bi thì có, bạo cường thì không.
Niệm
Phật trời cũng thương lòng,
Thường
thường ủng hộ cả trong đêm ngày.
Niệm
Phật thần cũng kính vì,
Thường
hay trợ niệm trong khi đứng ngồi.
Niệm
Phật lòng chẳng bồi hồi,
Như
cây không gió nhánh chồi chẳng rung.
Niệm
Phật khỏi sự hãi hùng,
Gian
tà đạo tặc chẳng chung tới nhà.
Niệm
Phật giấc ngủ an hòa,
Chiêm
bao không có niệm tà đều không.
Niệm
Phật oan trái trả xong,
Nợ
trần kiếp trước hết mong hết đòi.
Niệm
Phật trăm việc xong xuôi,
Dầu
sanh dầu tử cũng vui tấm lòng.
Niệm
Phật hết sự đèo bồng,
Chẳng
ham tài lợi bỏ vòng công danh.
Niệm
Phật uế nhiễm chẳng sanh,
Cái
gương tâm tánh như vành trăng thu.
Niệm
Phật lòng có sở cầu,
Muốn
tu thời đặng dễ đâu sai lầm.
Niệm
Phật huờn đặng chơn tâm,
Bao
nhiêu nghiệp cảm tiêu trầm biển khơi.
Niệm
Phật chắc sống trọn đời,
Khỏi
vòng nước lửa khỏi nơi hung tàn.
Niệm
Phật thân thể bình an,
Khỏi
vương ách nạn chết oan trên đời.
Niệm
Phật bổ đức các nơi,
Phá
tan địa ngục rã rời ma quân.
Niệm
Phật, Phật phóng hào quang,
Các
ông hóa Phật ngồi ngang trên đầu.
Niệm
Phật, Phật chẳng bỏ đâu,
Niệm
đâu Phật đó phải cầu chi xa.
Niệm
Phật chắc Phật rước ta,
Tây
phương đã sẵn một tòa bông sen.
Niệm
Phật phải niệm cho chuyên,
Thì
bông sen ấy liền liền tốt tươi.
Niệm
Phật niệm niệm không rời,
Tinh
thần đã sớm dạo chơi liên trì.
Niệm
Phật lơ láo ích chi,
Sen
kia khô héo khó mà tốt tươi.
Niệm
Phật cần phải kỉnh thành,
Giữ
cho thanh tịnh trong mình lục căn.
Niệm
Phật như nước với trăng,
Nước
trong trăng tỏ, nước nhăn trăng lờ.
Niệm
Phật có lắm huyền cơ,
Miễn
đừng đem dạ nghi ngờ là xong.
Niệm
Phật giữ một tấm lòng,
Di
Đà oai đức minh mông biển trời.
Đức
Phật biến hóa khắp nơi,
Thương
người cứu vớt những người trầm luân.
Chí
tâm niệm Phật tinh cần,
Lâm
chung hậu nhựt trọn phần vãng sanh.
- Trích
đối chiếu, sửa chữa lại từ bốn bản in : Kinh Nhựt Tụng
chùa Đại Giác, Tam Bảo Tôn Kinh, 39 bài sám nghĩa, Liên Hoàn
Sám nguyện (sđd ) - Chưa rõ xuất xứ của người trước tác.
34.
SÁM ĐẠI TỪ
(Thập
phương diễn nghĩa I)
Mười
phương cõi Phật hằng sa,
Pháp
vương thứ nhứt Di Đà lớn thay,
Cảm
oai đức Phật cao dày,
Ao
sen chím phẩm độ nay phàm tình.
Tôi
tin có Phật gởi mình,
Một
bề lánh dữ theo lành mà thôi,
Phước
lành bằng chút mảy chồi,
Gắng
làm cho trọn lòng tôi không rời.
Nguyện
đồng niệm Phật mỗi người,
Cầu
cho cảm ứng theo thời hiện ra,
Mãn
duyên thấy Phật Di Đà,
Tây
phương chói rạng sáng lòa mắt tôi.
Kẻ
nghe người thấy tiếc ôi,
Rủ
nhau tin tưởng lần hồi tu theo,
Tỏ
đường sanh tử các điều,
Y
như Phật dạy, dắt dìu chúng sanh.
Dứt
lòng phiền não mê tình,
Không
lường pháp nhiệm nguyện hành học tu,
Thệ
nguyện độ hết phàm phu,
Đều
nên đạo Phật ngao du độ đời.
Lòng
này chẳng dám lộng khơi.
Hư
không mòn hết nguyện tôi còn hoài,
Nguyện
cho cây, cỏ, đá, chai,
Bò,
bay, máy, cựa, các loài thung dung,
MỘT
là nguyện Phật thần thông,
Chứng
minh đệ tử thành công lâu dài.
HAI
là nguyện lạy Như Lai,
Cầu
cho già trẻ gái trai làm lành.
BA
là phát nguyện chí thành,
Cúng
dường Tam Bảo tứ sanh khỏi nàn.
BỐN
là nguyện dứt nghiệp oan,
Vượt
qua biển khổ ba đường thoát qua,
NĂM
là nguyện học Thiền na,
Bạn
lành nương cậy thầy tà lánh xa.
SÁU
là nguyện Phật nói ra,
Xoay
vần chánh pháp khắp tòa đặng nghe.
BẢY
là nguyện Phật chở che,
Ở
lâu dạy bảo người nghe tỏ lòng.
TÁM
là nguyện bạn ở chung,
Những
lời Phật dạy học cùng với nhau.
CHÍN
là nguyện trước nhớ sau,
Thuận
theo thế tục dám đâu trái lời.
MƯỜI
là nguyện khắp trong đời,
Quay
mình bước tới thẳng dời Lạc bang.
Tôn
sư diễn nghĩa ít hàng,
Cầu
cho bá tánh Tây phương mau về.
- Bài
sám của Tổ Đại Từ trước tác- Chưa rõ xuất xứ của
Tổ - Được in trong hầu hết các kinh Nhựt Tụng từ xưa
đến nay - Là bài sám Thập phương nghĩa, biên giả đặt cho
mã số thống kê trong các dị bản là I.
35.
SÁM TỪ VÂN
(Sám
Nhứt tâm nghĩa I)
Một
lòng mỏi mệt không nài,
Cầu
về Cực lạc ngồi đài liên hoa,
Cha
lành vốn thiệt Di Đà,
Soi
hào quang tịnh chói lòa thân con.
Thẩm
sâu ơn Phật hằng còn,
Con
nay chánh niệm lòng son một bề,
Nguyện
làm nên đạo Bồ đề, phương.
Phật
xưa lời thệ tỏ tường,
Bốn
mươi tám nguyện dẫn đường chúng sanh,
Thề
rằng ai phát lòng lành,
Nước
ta báu vật để dành các ngươi.
Thiện
nam tín nữ mỗi người,
Chí
thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra,
Ta
không rước ở nước ta,
Thệ
không làm Phật chắc là không sai.
Bởi
vì tin tưởng Như Lai,
Có
duyên tưởng Phật sống dai vô cùng.
Lời
thề biển rộng mênh mông,
Nhờ
nương đức Phật thoát vòng trần lao.
Tội
mòn như đá mài dao,
Phước
lành thêm lớn càng cao càng dày.
Cầu
cho con thác biết ngày,
Biết
giờ, biết khắc biết rày tánh linh.
Cầu
cho bịnh khổ khỏi mình,
Lòng
không tríu mến chuyện tình thế gian.
Cầu
cho thần thức nhẹ nhàng,
In
như thiền định họ Bàng thuở xưa.
Đài
vàng tay Phật bưng chờ,
Các
ông Bồ Tát bây giờ đứng trông.
Rước
con thiệt đã nên đông,
Nội
trong giây phút thảy đồng về Tây.
Xem
trong cõi Phật tốt thay,
Hoa
sen đua nở tánh nay sạch trần.
Hội
nầy thấy Phật chơn thân,
Đặng
nghe pháp nhiệm tâm thần sáng trưng.
Quyết
tu độ chúng phàm nhân,
Đủ
lời thệ nguyện Phật ân rộng dài,
Phật
thệ chắc thật không sai.
Cầu
về Tịnh độ ai ai tin lòng,
Nguyện
về Tịnh độ một nhà,
Hoa
sen chín phẩm là cha mẹ mình.
Hoa
nở rồi biết tánh linh,
Các
ông Bồ Tát bạn lành với ta.
- Bài
sám này của Tổ Từ Vân ở Cao Lãnh, trước tác, nên có tên
gọi là Sám Từ Vân.
-
Bài được sử dụng ở hầu hết các kinh sách - Là bài Sám
Nhứt tâm nghĩa. Biên giả cho mã số thống kê là I.
36.
SÁM THẬP PHƯƠNG (II)
Mười
phương chư Phật ba đời,
Di
Đà bực nhứt chẳng rời quần sanh,
Sen
vàng chín phẩm sẵn dành,
Oai
linh đức cả đã đành vô biên.
Nay
con dưng tấm lòng thiền,
Qui
y với Phật sám liền tội căn,
Phước
lành con có chi chăng,
Ít
nhiều quyết cũng nguyện rằng về Tây.
Nguyện
cùng với bạn tu đây,
Tùy
thời cảm ứng hiện nay điềm lành.
Biết
giờ biết khắc rõ rành,
Lâm
chung tận mặt cảnh lành Tây phương.
Thấy
nghe chánh niệm hơn thường,
Vãng
sanh lạc quốc đồng nương hoa vàng,
Hoa
nở thấy Phật rõ ràng,
Thoát
vòng sanh tử độ an muôn loài.
Phiền
não vô biên thệ dứt trừ,
Pháp
môn tu học chẳng còn dư,
Chúng
sanh nguyện độ bờ kia đến,
Phật
đạo cùng nhau chứng trí như.
Hư
không cõi nọ dẫu cùng,
Nguyện
trên còn mãi chẳng cùn, chẳng thiên.
Không
tình cùng với đồng nguyền,
Trí
mầu của Phật đồng viên đồng thành.
Nay
con lại nguyện tu hành,
Phổ
Hiền nguyện lớn sẵn dành mười môn.
Một
là nguyện lạy Thế Tôn,
Hiện
thân trước Phật hết lòng kính tin.
Hai
khen Phật đức rộng thinh,
Lời
hay tiếng tốt tận tình ngợi ca,
Ba
thời sắm đủ hương hoa,
Tràng
phan bảo cái dâng ra cúng dường.
Bốn
vì mê chấp lầm đường,
Tham
sân nghiệp chướng con thường sám luôn.
Năm
suy công đức vàn muôn,
Của
phàm của thánh con đồng vui ưa.
Sáu
khi Phật chứng thượng thừa,
Pháp
mầu con thỉnh đã vừa truyền trao.
Bảy
lòng chẳng chút lãng xao,
Cầu
xin chư Phật chớ vào Vô dư.
Tám
thường tu học Đại thừa,
Bao
giờ bằng Phật mới vừa lòng con.
Chín
thề chẳng dám mỏi mòn,
Dắt
dìu muôn loại đều tròn pháp thân.
Mười
đem tất cả công huân,
Mọi
loài cùng hưởng khắp trần cùng vui.
Mười
điều nguyện lớn nguyện rồi,
Nguyện
về Cực lạc nguyện ngồi tòa sen.
- Bài
sám Thập phương diễn nghĩa này chưa rõ xuất xứ - chỉ biết
được sử dụng trong hầu hết kinh Nhật Tụng miền Trung
và miền Nam. Có thể do hai Ngài : Tổ Bích Liên hoặc Tổ Huệ
Đăng trước tác?
-
Theo thứ lớp sắp đặt, Biên giả cho mã số diễn nghĩa là
II.
37.
SÁM THẬP PHƯƠNG (III)
Thập
phương diễn nghĩa một trương,
Ai
dùng thời chép để thường tụng kinh.
Tụng
rồi quỳ trước Phật đình,
Âm
thanh tán thán độ mình nhiều phương,
Phật
truyền khắp hết mười phương,
Thấy
trong ba cõi cảm thương vô cùng.
Chín
từng hoa nở đơm bông,
Các
hàng Phật tử phụng rồng xung quanh.
Con
nay sám tán hiệu danh,
Mãn
duyên thời đặng chẳng thành lẽ đâu,
Tấm
lòng chí quyết kính cầu,
Trước
thời tưởng Phật sau hầu về Tây.
Muốn
cho trả đặng ơn dày,
Phải
toan thẳng đến tầm Thầy cầu duyên.
Bổn
sư là Phật hiện tiền,
Đạo
làm đệ tử cầu nguyền hỏi han,
Nhờ
Thầy chỉ dẫn Tây phang.
Thành
công đắc quả biết đàng mà đi,
Bồ
đề là đạo từ bi.
Liễu
đường sanh tử hết nghi tấm lòng,
Chớ
đừng trễ nải long đong,
Dứt
tâm phiền não chứa lòng pháp môn.
Di
Đà đức Phật Thế Tôn,
Từ
bi độ chúng không môn thẳng vào.
Lời
Phật như thể non cao,
Ai
mà theo Phật khỏi vào Diêm La.
Trời
cao đất rộng hằng sa,
Hư
không mòn hết nguyện ta còn hoài.
Một
là lạy Phật hôm nay,
Các
vì chư Phật kim đài chứng tri.
Hai
là thọ phái quy y,
Thích
Ca Văn Phật Mâu Ni độ đời.
Ba
là tín nhiệm Phật trời,
Chúa
tôi phải đạo đáng nơi cúng dường.
Bốn
là lạy Phật mười phương,
Xin
cho nghiệp chướng tai ương lánh mình.
Năm
là các vị thần linh,
Vui
cười cả thảy quỉ tinh yêu tà.
Sáu
là với huyễn thân ta,
Linh
hồn theo Phật liên hoa hiền tiền.
Bảy
là lạy Phật ở yên,
Dứt
đường sanh tử lưu truyền hưng long.
Tám
là Phật ở nơi trong,
Phàm
tình chẳng thấy, dẫy đầy Phật đâu.
Chín
là tỏ đặng pháp mầu,
Trường
sanh bất tử độ đời chúng sanh.
Mười
là bỏ dữ làm lành,
Khắp
trong sa giới quốc thành đặng an.
Tôn
sư diễn nghĩa ít hàng,
Cầu
cho bá tánh Tây phương mau về.
- Bài
sám Thập phương diễn nghĩa nầy do Tổ Huệ Đăng trước
tác - Theo lời xác nhận của Hòa thượng Pháp Lan chùa Khánh
Hưng TPHCM. Vào khoảng năm - 1930 tại chùa Thiên Thai - Bà Rịa.
-
Biên giả cho mã số diễn nghĩa là III.
38.
SÁM CHÂU HOẰNG
(Sám
Tán Di Đà IV)
Châu
Hoằng thầy hiệu Liên Trì,
Làm
văn phát nguyện chỉ qui một đường.
Cúi
đầu làm lễ Tây phương,
Tịnh
bang giáo chủ pháp vương Di Đà.
Độ
người vượt khỏi ái hà,
Dắt
ra hầm lửa nhảy ra nghi thành.
Tôi
nay phát nguyện vãng sanh,
Nguyện
về Cực lạc nêu danh sen vàng.
Ngưỡng
trông vòi vọi đạo tràng,
Dủ
lòng thương xót mà mang tôi về.
Tôi
thường ba cõi đắm mê,
Bốn
ơn càng trọng lo bề cứu nhau,
Tưởng
gì đời lắm thảm sầu,
Quyết
lòng nên đạo, độ sau luân hồi.
Không
trên một bực mà thôi,
Sáng
trưng đường lối không nơi nào bì.
Nên
tôi lòng gắn dạ ghi,
Chuyên
cần niệm Phật không khi nào rời.
Phật
là bực cả khắp trời,
Cứu
người thoát tử độ đời vô sanh.
Còn
lo nghiệp trọng phước khinh,
Phước
dầy huệ mỏng phàm tình tối tăm.
Còn
lo lòng nhiễm dễ lầm,
Duyên
trên chưa sạch tánh thần khó nên.
Tôi
nay tình nguyện khởi lên,
Cúi
gieo năm vóc thiệt bền lòng ngay,
Mở
gan trải dạ tỏ bày,
Chí
thành sám hối trong ngày Phật thương.
Chúng
tôi nhiều kiếp oan ương,
Từ
đời thuở trước không lường đến nay.
Bởi
vì mê tối dại ngây,
Sân
si quen nết cãi thầy dạy khuyên.
Ví
như ba nghiệp đảo điên,
Dầu
cho nước biển rửa liền sạch đâu.
Than
ôi tội nghiệp lấp đầu,
Nguồn
ân biển ái thẳm sâu vô cùng.
Ngửa
trông đức Phật bao dung,
Tội
mòn nghiệp hết sạch không buổi nầy.
Quyết
lòng niệm Phật ăn chay,
Chí
tâm thề nguyện từ rày đến sau.
Ví
dầu tôi có ở đâu,
Lánh
xa bạn dữ chẳng hầu tựa nương,
Gắng
tu đạo Phật giữ thường,
Thề
không thối chuyển mắc đường thai sanh,
Nguyện
sao tu luyện mau thành,
Đặng
mà cứu độ phàm tình thoát ra.
Cha
lành là Phật Di Đà,
Đem
lòng quảng đại để mà độ tôi.
Đoái
thương mấy đoạn khúc nôi,
Chứng
tri đệ tử luân hồi oan khiên,
Cầu
cho giấc ngủ rõ ràng.
Thấy
Di Đà Phật hào quang rạng mình,
Cầu
cho sắc tướng quang minh.
Thấy
Di Đà Phật tâm tình đặng an,
Nguyện
cầu lên cảnh Lạc bang,
Thấy
Di Đà Phật trên đàn giảng kinh,
Cam
lồ Phật rưới đầy mình,
Hào
quang Phật chiếu thanh minh tâm thần,
Cầu
cho y Phật đắp thân.
Tay
vàng Phật đỡ thoa lần đầu tôi,
Cầu
cho chướng trước dứt chồi.
Gốc
lành thêm lớn vun bồi tốt tươi,
Cho
tôi sạch hết việc đời,
Trong
lòng thanh tịnh như người Tây phương.
Tánh
linh mầu nhiệm tỏ tường,
Mau
nghe chánh pháp như gương trên đài,
Mầu
huyền thanh tịnh khoan thai,
Tịnh
quang cõi Phật thấy hoài không ngơi.
Như
tôi gần có qua đời,
Khiến
cho linh tánh đặng tôi biết liền,
Đừng
cho bịnh khổ vào thân,
Tử
an sanh thuận như thần bao xưa,
Đừng
cho trìu mến dây dưa,
Đừng
cho Thánh Phật long thơ Tống trào.
Sáu
căn đừng có lao xao,
Rõ
ràng chánh niệm như sao bắc thần,
Hết
rồi một đoạn báo thân,
Vào
trong thiền định xuất thần Tây qui,
Ngó
gần thấy Phật A Di,
Quan
Âm, Thế Chí trụ trì trước ta,
Các
ông Thánh chúng hằng sa,
Tuôn
hào quang xuống chói lòa rước tôi,
Duỗi
tay xuống tiếp một hồi.
Lầu
đài cờ phướn đông thôi quá chừng,
Nhạc
trời tấu trổi vang lừng,
Mùi
nhang thơm ngát vui ưng tấm lòng,
Tây
phương cõi Phật thung dung,
Rõ
ràng trước mắt hiện ra cõi này,
Kẻ
nghe người thấy vui thay,
Khiến
cho ai nấy liền ngày phát tâm.
Tưởng
người chánh tín tưởng thầm
Bước
vô đạo Phật khỏi hầm lửa thiêu,
Vui
thay cõi Phật tiêu diêu,
Ai
theo Phật rước cao siêu liên đài.
Vung
tay về chốn kim giai,
Trong
hồ thất bảo hiện ngay liên bào,
Tòa
sen rực rỡ trong ao
Đỏ,
xanh, vàng, trắng tuôn hào quang ra,
Tôi
ngồi chểm chệ trong hoa,
Phật
cùng Bồ Tát hằng hà nhóm đông,
Tôi
nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Chứng
vô sanh nhẫn chơn tông thượng thiền,
Chỉ
trong giây phút thành duyên,
Vẳng
nghe chư Phật dạy truyền pháp âm,
Đặng
nhờ thọ ký ấn tâm,
Dạy
rồi linh tánh bao năm nhớ hoài,
Ba
thân bốn trí lâu dài,
Sáu
thông năm mắt chuyện ai cũng tường,
Đà
la thần chú nhiều phương,
Pháp
nào cũng biết như gương soi lành,
Bao
nhiêu công đức chứng minh,
Nhớ
ghi gồm đủ như kinh Phật truyền,
Mình
đã cõi Phật ở yên,
Nhớ
lời thệ trước độ duyên Ta bà,
Thần
thông biến hóa thân ta,
Khắp
mười phương thảy hiện ra phép mầu,
Từ
bi phước đức thâm sâu,
Có
duyên hóa độ đâu đâu vâng lời,
Khắp
trong cả thảy nhiều nơi,
Cũng
đều độ hết người đời trầm luân
Khiến
cho lòng tịnh quen lân,
Dứt
tình ái dục lưu phần thiện lương.
Dắt
người về đến Tây phương,
Vào
hàng bất thối náu nương bạn lành,
Lòng
tôi thệ độ chúng sanh,
Rộng
như biển cả cũng dường hư không,
Hằng
hà thế giới đều thông,
Chúng
sanh phiền não độ đồng sạch trơn,
Nếu
mà còn để nhơn nhơn,
Nguyện
tôi không hết như đờn dứt dây,
Phật
thường chứng lễ nguyện nầy,
Tu
trì công đức độ ngay hữu tình,
Bốn
ơn đền đáp phân minh,
Ba
đường cứu vớt siêu sanh cõi mầu,
Nguyện
chung thế giới ba ngàn,
Vẹn
tràn một trí vào ban Phật đài.
Nguyện
về Cực lạc một nhà,
Hoa
sen chín phẩm là cha mẹ mình,
Hoa
nở rồi biết tánh linh,
Các
ông Bồ Tát bạn lành với ta,
Huệ
Lưu diễn nghĩa chép ra,
Ai
tu Tịnh độ học mà sám chung.
- Trích
từ "Kinh Di Đà nghĩa và 36 sám hay" và đối chiếu với kinh
Tam Bảo của Thích Ca tự - Sàigon 1967.
-
Có đối chiiếu với các dị bản khác- Nguyên tác của Tổ
Châu Hoằng - Liên Trì Đại sư - Tổ Huệ Lưu chùa Huê
Nghiêm Thủ Đức diễn nghĩa.
39.
SÁM HỒI ĐẦU
(Sám
phát nguyện IV)
Cúi
đầu làm lễ Chí Tôn,
Quì
trước Phật điện thần hôn mỗi ngày,
Chúng
con xin chút tỏ bày,
Nguyện
làm Phật tử đời này tu thân,
Khắp
trong sáu thú xoay vần,
Luân
hồi mãi mãi nhiều lần khốn thay,
Con
nay quyết chí tìm thầy,
Tầm
phương giải thoát buổi này đặng an,
Tây
phương Phật phóng hào quang,
Chứng
minh đệ tử ba ngàn đại thiên,
Tinh
thần một đấng thiêng liêng,
Vì
chúng ngũ trược liên miên cõi trần,
Sanh
sanh tử tử mấy lần,
Quyết
lòng theo Phật phải cần sửa sang.
Tam
qui ngũ giới rõ ràng,
Sa
di thập giới buộc ràng cho tinh,
Cầu
xin Phật Tổ chứng minh,
Ngưỡng
trên lượng cả cúi xin hộ trì,
Lòng
an thành thật chỉ qui,
Quyết
về Cực lạc liên trì tịnh bang.
Thân
người vì khổ buộc ràng,
Sanh
lão bịnh tử mơ màng chiêm bao,
Hy
sinh nhứt thiết sang giàu,
Náu
nương Phật pháp đặng vào phẩm cao,
Cuộc
đời nhiều nổi lao đao,
Nếu
lầm hoàn cảnh càng đau tấc lòng,
Sanh
không hề tử dã không,
Gian
tâm xâu xé lòng mong sống đời,
Có
khi vật đổi sao dời,
Ngọc
vàng châu báu để đời người sau,
Ai
ơi thức tỉnh cho mau,
Kíp
mong giải thoát khỏi vào trầm luân.
Phù
sanh lắm nổi gian truân,
Có
thân phải lụy vì chưng sắc tài,
Từ
đây kinh kệ hôm mai,
Dứt
lòng phiền não dồi mài thân tâm,
Cầu
xin hiểu lý thậm thâm,
Pháp
môn vô lượng khó lầm sai ngoa,
Chúng
con ngưỡng vọng Thích Ca,
Cha
lành ba cõi Ta bà độ sinh,
Cầu
xin tế độ viên thành,
Thuyền
từ bửu phiệt tu hành đặng lên.
Ngưỡng
nhờ lượng thánh ơn trên,
Quần
sanh thống khổ sanh nên đạo mầu,
Con
nay hết dạ khẩn cầu,
Di
Đà tiếp dẫn ngõ hầu siêu thăng.
Từ
nay kíp phải ăn năn,
Tội
đời vô thỉ cũng hằng đặng tiêu,
Sen
vàng chín phẩm tiêu diêu,
Bảo
y ngọc thực mỹ miều thiếu chi.
Sanh
linh từ dục hành vi,
Chiến
tranh tràn sát thây thi ngất trời,
Tham
sân ích kỷ suốt đời,
Gây
nên thảm họa thây phơi dinh hoàn,
Cực
điểm thống khổ lầm than,
Vì
chưng ngũ trược cưu mang tấc lòng.
Hy
vọng thế giới tây đông,
Tu
nhơn tích đức hầu mong thái bình,
Cầu
cho nhơn loại an ninh,
Nghiêu
thiên Thuấn nhựt thái hòa vạn an.
Ta
bà Tịnh độ nhứt bang,
Nhơn
sanh hạnh phúc hoàn toàn hưởng chung,
Tinh
thần vật chất thung dung,
Thoát
ra khổ hải đặng vào Lạc bang,
Chúng
con chúc nguyện ít hàng,
Cầu
cho toàn thể Tây phương mau về.
-
Trích từ "Tam Bảo Tôn Kinh" (sđd) đối chiếu sửa chữa
lại qua "Liên Hoàn Sám Nguyện" và kinh Nhựt Tụng chùa Đại
Giác (sđd).
-
Có tên tựa khác là Sám cúi đầu (Tam Bảo Tôn Kinh).
40.
SÁM THỌ KÝ
(Sám
tán Di Đà V)
Một
lòng niệm Phật Di Đà,
Kinh
tâm bạch tự mở ra độ đời,
Ấn
tâm thọ ký hiện thời,
Kim
ngôn phú chúc khắp nơi đắc thành,
Ăn
chay niệm Phật làm lành,
Từ
bi hỉ xả tu hành gắng công,
Nghe
danh thấy tánh tỏ thông,
Bổn
lai diện mục Phật lòng chẳng xa,
Định
tâm thấy Phật lòng ta,
Tây
phương cõi Phật Di Đà phân minh,
Quan
Âm thần lực oai linh,
Hóa
thân thọ ký cầm bình nước bông,
Cam
lồ rưới khắp giáp vòng,
Chúng
sanh mát mẻ vui lòng hiền lương,
Mở
khai tâm pháp tỏ tường,
Tịnh
lòng thấy Phật mười phương độ mình,
Chơn
truyền bổn thể tánh linh,
Tam
thân vô tướng vô hình sống lâu,
Không
thương không ghét không sầu
Không
tham không giận có đâu luân hồi,
Việc
đời muôn việc thôi thôi,
Sắc
tài danh lợi phủi rồi không không,
Các
hàng chư Phật không lòng,
Con
nay đệ tử cũng đồng quy y,
Nương
theo đức Phật từ bi,
Mãn
duyên theo Phật tức thì phóng quang,
Về
nơi Cực lạc Tây phương
Hoa
khai kiến Phật hào quang sáng lòa.
Thường
thường thấy đức Di Đà,
Hai
hàng tứ chúng lục hòa sáng trong,
Thấy
ông Bồ Tát quá đông,
Lóng
nghe Phật thuyết vui lòng mở khai,
Minh
tâm kiến tánh Như Lai,
Pháp
thân thanh tịnh sống dai đời đời.
Tiêu
diêu tự tại thảnh thơi,
Bình
an vô sự vui chơi thanh nhàn,
Tốt
thay cõi Phật nghiêm trang,
Nhà
lầu bằng ngọc đất vàng khắp nơi,
Đêm
ngày nghe pháp sáu thời,
Chim
linh thuyết pháp đúng giờ siêng năng,
Người
nghe tỏ ngộ siêu thăng,
An
lòng niệm Phật, Pháp, Tăng tịnh bình,
Thích
Ca giảng đạo độ mình,
Thích
Ca từ phụ chứng minh độ đời.
- Trích
từ "Kinh Di Đà nghĩa và 36 bài sám hay" (sđd) và đối chiếu
lại với "Liên Hoàn Sám nguyện" (sđd).
41.
SÁM CẦU SIÊU CÚNG MẸ
(Sám
báo hiếu I)
Mẹ
ôi con rất đau lòng,
Nhớ
thương từ mẫu bế bồng nuôi con,
Công
lao khó nhọc mỏi mòn,
Tanh
hôi giặt rửa vì con ốm gầy,
Con
đau mẹ chạy thuốc thầy,
Vái
van chùa miếu đủ đầy cầu xin,
Than
ôi cốt nhục thâm tình,
Biết
sao trả đặng mẹ mình dày công.
Bây
giờ nhìn cảnh đau lòng,
Mẹ
đã về chốn non bồng xa chơi,
Bỏ
con lặn hụp biển khơi,
Sống
trong khổ não lụy rơi chan hòa,
Biết
đâu tìm kiếm mẹ già,
Nhìn
lên hương án trong nhà quạnh hiu,
Cháu
con thơ dại chít chiu,
Như
gà mất mẹ chạy kêu lạc đàn,
Lòng
con thương nhớ thở than,
Cơm
dưng ba bát vái van mẹ về,
Cổ
bàn dọn cúng ê chề,