Phần
thứ II
CÁC
BÀI SÁM VĂN TÁN THÁN PHẬT
THÁNH
HIỀN TĂNG
14.
SÁM TỤNG PHẬT XUẤT GIA (I)
(Mùng
tám tháng hai)
Kính
lạy Bồ Tát Tất Đạt Đa,
Tánh
đức từ bi hằng biểu lộ,
Trải
bao cuộc du hành mục đỗ, ( )
Xót
sinh linh kiếp số trầm luân,
Cảnh
sinh, già, đau, chết, gian truân,
Luống
chịu khổ không ngừng gây khổ.
Mê
chấp tánh tham, si, tật đố,
Mãi
cùng nhau vầy ổ oan gia,
Nợ
tuần hoàn vay trả không xa,
Trong
sáu đạo trùng phùng quanh quẩn.
Bồ
Tát dũ Bà tâm lân mẫn ( ),
Quyết
hy sinh độ tận hữu tình,
Đoạn
ái ân phú quí riêng mình,
Chọn
điệu sống quang minh vô trụ ( ),
Tìm
hạnh phúc lâu dài đầy đủ,
Cùng
quần sinh hưởng thú yên lành,
Gặp
tuần trăng giữa lúc đêm thanh,
Rời
cung cấm băng thành tìm đạo.
Hiếu
tình đặt ra ngoài quyền sáo ( ),
Mở
lòng thương đại tạo bao la ( ),
Chiếc
thân vui bạn với yên hà ( ),
Theo
tiếng gọi lòng từ giục nhắc.
Lên
yên ngựa cùng tôi Xa Nặc,
Lướt
bụi hồng hướng nẻo rừng xanh,
Non
sông gấm vóc thiên thành,
Cỏ
hoa hớn hở bao quanh đón chào.
A
Nô Ma sóng vỗ rạt rào,
Hy
Mã Lạp tuyết ngời lóng lánh,
Nơi
đánh dấu bước đường lên Thánh,
Dừng
vó câu thả gánh tang bồng ( ),
Gởi
lời về tâu trước bệ rồng,
Cầu
vương phụ giải lòng trông đợi.
Rừng
khổ hạnh lần dò bước tới,
Xét
hành nhơn lầm lỗi nhiều phương,
Bởi
người chưa rõ lý chơn thường,
Hạnh
kỳ đặc hồi đầu vô ích ( ).
Tạm
dời gót trên đường điểu tích ( ),
Tìm
tận nơi tịch mịch thiên nhiên,
Trọn
sáu năm núi Tuyết tham thiền,
Kham
chịu cảnh màn trời chiếu đất ;
Đầy
ba đức cõi lòng chơn tịnh( ),
Không
ngại ngùng thú dữ ma thiêng.
Công
đức vừa đầy đủ nhơn duyên,
Trên
Pháp tọa Bồ đề chứng quả.
Hóa
độ khắp đại thiên thiên hạ,
Muôn
loài đều một dạ ghi ơn.
Chúng
con nay phát nguyện tu nhơn,
Nhờ
tắm gội từ vân pháp vũ.
Trước
bảo điện trì kinh niệm chú,
Kỷ
niệm ngày lịch sử thiêng liêng,
Cúi
xin Phật, Pháp, Thánh, Hiền,
Gia
hộ chóng tiêu trừ nghiêp chướng.
Ngưỡng
mộ đấng Pháp vương vô thượng,
Nhứt
tâm đồng đảnh lễ quy y.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)
Nam
mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)
Nam
mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.(3 lần)
Nam
Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
-
Trích bản in trong “Nghi thức tụng niệm” chùa Xá Lợi ấn
hành 1993.
-
Có một dị bản khác và hơn 3 câu trong “Nghi thức tụng
niệm” chùa Đại Giác ấn hành 1974.
15.
SÁM TỤNG PHẬT KHÁNH ĐẢN (I)
(Rằm
tháng tư)
Đệ
tử hôm nay,
Gặp
ngày Khánh đản,
Một
dạ vui mừng,
Cúi
đầu đảnh lễ
Thập
phương Tam thế,
Điều
Ngự Như Lai,
Cùng
Thánh, Hiền, Tăng.
Chúng
con cùng pháp giới chúng sanh
Bởi
thiếu nhơn lành,
Thảy
đều sa đọa;
Tham
sân chấp ngã,
Quên
hẳn đường về,
Tình
ái si mê,
Tù
trong lục đạo,
Trăm
dây phiền não,
Nghiệp
báo không cùng,
Nay
nhờ Phật Tổ Năng Nhân,
Dủ
lòng lân mẫn,
Không
nỡ sinh linh thiếu phước,
Nặng
kiếp luân hồi,
Đêm
dài tăm tối,
Đuốc
tuệ rạng soi.
Nguyện
cứu muôn loài,
Pháp
dùng phương tiện.
Ta
bà thị hiện.
Thích
chủng thọ sinh.
Thánh
Ma Gia mộng ứng điềm lành,
Vua
Tịnh Phạn phước sinh con thảo.
Ba
mươi hai tướng tốt,
Vừa
mười chín tuổi xuân,
Lòng
từ ái cực thuần,
Chí
xuất trần quá mạnh.
Ngai
vàng quyết tránh,
Tìm
lối xuất gia,
Sáu
năm khổ hạnh rừng già,
Bảy
thất nghiêm tinh thiền tọa.
Chứng
thành đạo quả,
Hàng
phục ma binh,
Ba
cõi đều dậy tiếng hoan nghênh,
Muôn
vật thảy nhờ ơn tế độ.
Chúng
con nguyền,
Dứt
bỏ dục tình ngoan cố,
Học
đòi đức tánh quang minh.
Cúi
xin Phật Tổ giám thành,
Từ
bi gia hộ.
Chúng
con cùng pháp giới chúng sanh
Chóng
thành đạo cả.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(30 lần)
Nam
mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)
Nam
mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)
Nam
mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.(3 lần)
Nam
mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
- Bài
in trong “Kinh Nhựt Tụng”. Sen vàng xuất bản - Thành Hội
Phật giáo TP. HCM tái bản 1994.
-
Đối chiếu trong "Nghi thức tụng niêm” chùa Xá Lợi Thành
Hội Phật Giáo TP. HCM ấn hành 1993.
16.
SÁM TỤNG VU LAN (I)
(Rằm
tháng bảy )
Đệ
tử chúng con,
Vâng
lời Phật dạy,
Ngày
rằm tháng bảy,
Gặp
hội Vu Lan,
Phạm
vũ huy hoàng,
Đốt
hương đảnh lễ.
Mười
phương Tam thế,
Phật,
Pháp, Thánh Hiền,
Noi
gương đức Mục Kiền Liên,
Nguyện
làm con thảo.
Lòng
càng áo não,
Nhớ
nghĩa thân sinh,
Con
đến trưởng thành,
Mẹ
dày gian khổ,
Ba
năm nhũ bộ,
Chín
tháng cưu mang.
Không
ngớt lo toan,
Quên
ăn bỏ ngủ,
Ấm
no đầy đủ,
Cậy
có công cha,
Chẳng
quản yếu già,
Sanh
nhai lam lũ.
Quyết
cùng hoàn vũ,
Phấn
đấu nuôi con,
Giáo
dục vuông tròn,
Đem
đường học đạo.
Đệ
tử ơn sâu chưa báo,
Hổ
phận kém hèn,
Giờ
này quỳ trước đài sen,
Chí
thành cung kính,
Đạo
tràng thanh tịnh,
Tăng
bảo trang nghiêm.
Hoặc
thừa tự tứ,
Hoặc
hiện tham thiền,
Đầy
đủ thiện duyên,
Dủ
lòng lân mẫn,
Hộ
niệm cho :
Bảy
kiếp cha mẹ chúng con,
Đượm
nhuần mưa pháp.
Còn
tại thế :
Thân
tâm yên ổn,
Phát
nguyện tu trì.
Đã
qua đời :
Ác
đạo xa lìa,
Chóng
thành Phật quả.
Ngửa
trông các đức Như Lai,
Khắp
cõi hư không,
Từ
bi gia hộ.
Nam
mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
(3 lần)
- Bài
in trong hầu hết kinh Nhựt tụng và Nghi thức tụng niệm ở
miền Trung và miền Nam. Được Giáo Hội công nhận là bài
tụng chính thức trong Lễ Vu Lan và trong nghi thức Gia đình
Phật tử (1964).
-
Trích từ Kinh Diễn nghĩa của Tổ Huệ Đăng soạn. Tổ đình
Thiên Thai Bà Rịa ấn hành 1967.
17.
SÁM TỤNG PHẬT THÀNH ĐẠO (I)
(Mùng
tám tháng chạp)
Hào
quang chiếu diệu.
Sáng
tỏ mười phương,
Ngộ
lý chơn thường,
Phá
màn hôn ám.
Đệ
tử lòng thành bài sám,
Trước
điện dâng hoa,
Cúng
dường Phật Tổ Thích Ca,
Ba
ngôi thường trú.
Đệ
tử chúng con,
Nhân
lành chưa đủ,
Nghiệp
báo theo hoài.
Nay
nhờ Văn Phật Như Lai,
Giáng
trần cứu độ,
Sáu
năm khổ hạnh,
Bảy
thất tham thiền,
Ma
oán dẹp yên,
Thần
long che chở,
Tâm
quang rực rỡ.
Chứng
lục thần thông.
Lộ
chiếu minh tinh,
Đạo
thành Chánh giác,
Trời,
người hoan lạc,
Dậy
tiếng hoan hô.
Năm
mươi năm hóa độ,
Ba
trăm hội đàm kinh,
Cứu
phàm ngu thoát khỏi mê đồ,
Tiếp
Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ
Muôn
đời xưng tán,
Vạn
đức hồng danh,
Đệ
tử chí thành,
Lễ
bày kỷ niệm.
Tâm
hương phụng hiến,
Gọi
chút báo ân,
Ngửa
trông Vô thượng Pháp vương
Từ
bi gia hộ.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(30 lần)
Nam
mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.(3 lần)
Nam
mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.(3 lần)
Nam
mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.(3 lần)
Nam
mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát.(3 lần)
- Trích
trong "Nghi thức tụng niệm" Chùa Xá lợi Thành hội Phật giáo
TPHCM ấn hành 1994, và trong "Liên Hoàn sám nguyện " của Thích
Thiện Tâm. Sađéc 1961.
18.
SÁM TỤNG PHẬT NIẾT BÀN (I)
(Rằm
tháng hai)
Đệ
tử nay một lòng thành kính,
Giờ
phút này quì giữa Đạo tràng.
Kỷ
niệm ngày Phật Bát Niết Bàn,
Trên
đất Ấn thành Câu Thi cũ.
Bốn
bộ chúng tổ thành đầy đủ,
Khắp
Nhân Thiên hóa độ chu chuân.
Chấp
thuận lời cầu thỉnh Ba Tuần,
Xả
tuổi thọ trước kỳ ba tháng,
Thần
thông tạm trụ nơi thân mạng,
Pháp
yếu cần Di giáo Tôn đồ,
Đại
Tập đường hội họp Bí sô,
Nhắc
nhở lại các phần đạo phẩm,
Khuyên
tinh tấn thời thường suy gẫm,
Chớ
mảy may lười biếng buông lung,
Liền
phóng quang chiếu diệu lạ lùng,
Khai
thị trước nhân duyên diệt độ.
Đều
ba cõi Nhân Thiên thống khổ,
Tiếc
thương tràn huyết lệ thành mưa,
Sự
tình hai nghìn rưỡi năm xưa,
Giở
Di giáo Niết bàn đọc lại.
Cảm
động quá, lòng con tê tái,
Tưởng
tượng nhìn trạng thái Sa la,
Giữa
hàng cây Song thọ Diêm đà.
Trên
ngọn tháp nghiêng mình Từ Phụ.
Khắp
đại chúng mặt mày ủ rủ,
Khóc
than vật vã cực bi ai,
Thế
Tôn khuyên nén bớt tình hoài,
Nhìn
đạo lý vô thường sự vật,
Đừng
chấp trước huyễn thân còn mất,
Hãy
nương theo giới luật tu trì,
Phật
diệt còn Pháp đó quy y,
Tinh
nhất hẳn tới kỳ giải thoát.
Kiến
giải có gì chưa dứt khoát,
Chóng
nêu lên, cầu quyết tân nghi,
Nhập
Niết bàn đã sắp tới thì,
Thời
khắc đúng như khi thành Đạo.
Nghe
phó chúc lòng càng áo não,
Trăm
mắt nhìn thấu đạo Kim Thân,
Chi
tiết ngưng giao động lần lần,
Như
Lai đã chứng vui tịch diệt.
Bốn
chúng thảy nghẹn ngào mến tiếc,
Khác
nào đàn con mất mẹ hiền,
Thụy
linh ứng khắp Đại thiên,
Tu
Di nghiêng ngã đất liền động rung !
Phạm
Vương, Đế Thích, Thiên Cung,
Tung
hoa trổi nhạc không trung cúng dường.
Chúng
con phúc bạc vận ương,
Sinh
xa đời Phật, thiếu phương tiện lành,
Thiết
tha cầu chứng vô sanh,
Giới
hương biểu lộ, tấc thành cúng dâng,
Cúi
xin Vô Thượng Năng Nhân.
Từ
bi gia hộ.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(3 lần )
-
Trích từ "Liên Hoàn sám nguyện" trang 196-199 - Thích Thiện
Tâm - Sa đéc 1961, và trong kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác Saigòn
1974.
19.
SÁM DI LẶC (I)
Đức
Di Lặc ứng vào hiền kiếp,
Phật
thứ năm kế tiếp ra đời ( ),
Thích
Ca Phật Tổ nối ngôi,
Thay
quyền giáo hóa về thời đương lai.
Chưa
tới kỳ nên Ngài còn ở,
Đâu
Suất cung rực rỡ huy hoàng,
Hóa
thân trong khắp mười phương,
Phương
tiện thuyết pháp chỉ đàng chúng sanh.
Nếu
ai sẵn niệm lành tưởng Phật,
Ngài
tùy duyên tới mật độ cho,
Từ
bi Ngài vẫn hằng lo,
Chúng
sanh mê muội bởi do si lầm.
Nên
ứng tích Song lâm một kiếp,
Phó
Đại Sĩ ấy biệt hiệu Ngài,
Đem
toàn chánh pháp an bày,
Quyền
xảo phương tiện, thuyết khai độ đời.
Lương
Võ Đế nhằm thời trị quốc,
Ngài
nhiều phen rời bước tới thăm,
Giải
đáp chánh pháp diệu âm,
Khiến
được toàn quốc ân cần lo tu.
Ngài
từ bi chẳng từ lao khổ,
Thường
chuyển sanh, hóa độ chúng sanh,
Nhà
Lương, Phụng hóa, châu Minh,
Bố
Đại Hòa thượng ứng hình nhơn gian.
Trán
đã nhăn, lại mang bụng lớn,
Thân
no tròn, miệng chớm cười hoài,
Thường
ngày dạo bước khoan thai,
Mang
theo túi vải vừa dài vừa to.
Nếu
ai tưởng dâng cho một vật,
Mở
túi ra Ngài cất vào trong,
An
nhàn tự tại thong dong,
Châu
du khắp chốn một lòng độ sanh.
Trong
tịnh trí hiện hình lục tặc,
Cứ
đeo theo níu chọc ghẹo Ngài,
Từ
bi phổ cập muôn loài,
Như
tình phụ tử chẳng sai chút nào.
Công
đức ấy thật cao vòi vọi,
Mong
độ sanh thoát khỏi nhơn thiên,
Người
nào ăn ở nhơn hiền,
Tu
hành chơn chánh, Ngài liền độ cho.
Độ
đời sau chót hằng lo
Dắt
dìu mạt pháp qua đò sông mê,
Chúng
sanh nam nữ đồng về,
Long
Hoa hội thượng giác mê chỉ rành.
Chúng
con niệm đức Hồng danh,
Di
Lặc tôn Phật, chí thành kỉnh dâng.
Nam
mô Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. (3 lần)
- Trích
Kinh Nhựt Tụng - Chùa Đại Giác ấn hành - Sài gòn 1974.
-
Ở bản cũ thiếu mất 6 câu chót, nay bổ sung lại cho đầy
đủ. (Biên giả)
20.
SÁM THÍCH CA
(Sám
tán Bổn sư I)
Cúi
đầu làm lễ Bổn Sư,
Thập
phương Điều Ngự điển từ lưu danh,
Lòng
thành thương xót chúng sanh,
Trầm
luân khổ hải chẳng đành ngó lơ.
Phương
tiện Ngài mới tùy cơ,
Giáng
sanh trần thế một giờ chẳng sai,
Cung
vua Tịnh Phạn đầu thai,
Xuống
làm Thái Tử mượn hài hóa thân.
Sĩ
Đạt Ta hiệu thánh nhân,
Nối
dòng họ Thích an dân trị vì,
Ma
Gia hoàng mẫu tới kỳ,
Sanh
Ngài bảy bữa liền đi chầu trời.
Dưỡng
dục ủy thác có nơi,
Cho
bà Di Mẫu thường thời trông nom,
Thiều
quang thắm thoát tiêu mòn,
Năm
mười chín tuổi vợ con đàng hoàng.
Lầu
son gác tía cao sang,
Thế
mà Ngài chẳng có màng chút chi,
Một
hôm bốn cửa dạo đi,
Xem
thấy tứ khổ lòng thì hoang mang,
Lui
gót trở lại đền vàng,
Xin
cùng Hoàng phụ tầm đàng xuất gia.
Thương
con chẳng nỡ rời xa,
Dỗ
khuyên ngăn đón ở nhà mà tu,
Ngài
tính không nên chù chừ,
Một
đêm lén trốn giã từ vợ con,
Đi
thẳng một mạch lên non,
Sáu
năm khổ hạnh thân mòn biết bao.
Trí
huệ sáng suốt thâm cao,
Nhưng
hình thể yếu tài nào đứng đi,
Suy
nghĩ rốt ráo một khi,
Ngài
liền xuất định tức thì đi ra.
Xóm
làng khất thực dạo qua,
Bồi
thân dưỡng thể nương mà công phu,
Bồ
đề tại gốc ngồi tu,
Đại
định bốn chín ngày thu nhứt thời,
Đạo
mầu liễu ngộ tuyệt vời,
Quyết
lòng độ chúng luân hồi thoát ra.
Bốn
chín năm ở Ta bà,
Đem
toàn chánh pháp nói ra độ đời,
Đi
cùng khắp thảy nơi nơi,
Tùy
duyên hóa độ đầy vơi chẳng màng,
Thường
dân tới bực quan sang,
Cũng
đều độ hết, sẵn sàng như nhau.
Dắt
dìu kẻ trước người sau,
Tu
theo Tịnh độ ngõ hầu rước qua,
Cực
lạc cõi ấy cao xa,
Mười
muôn ức cảnh Di Đà pháp vương.
Từ
bi đã sẵn lòng thương,
Tiếp
dẫn về đấy chỉ đường tu thêm,
Sen
vàng chín phẩm ở trên.
Hào
quang rực rỡ tứ biên sáng lòa.
Nhắc
khi truyền giáo Ta bà,
Ngài
hằng thệ nguyện thiết tha những lời:
Ta
nay phát nguyện độ đời,
Chẳng
cầu phước báu cùng thời chi riêng,
Thương
vì sanh chúng vô biên,
Trầm
luân khổ hải, đảo điên nhiều bề.
Phát
tâm tối thượng Bồ đề,
Nguyện
cùng muôn loại, đề huề một khi,
Giác
ngộ thành Phật oai nghi,
Khắp
trong pháp giới tức thì trang nghiêm.
Như
được trọn vẹn lời nguyền,
Niết
bàn tịch diệt bình yên ta về,
Xét
suy cũng một lời thề,
Từ
bi bác ái mọi bề cao sâu.
Tức
tâm tức Phật nhiệm mầu,
Muốn
được giải thoát lời cầu đâu xa,
Tìm
ngay trong tánh của ta,
Hành
theo hạnh nguyện Thích Ca chalành.
Cúi
xin Giáo chủ hồng danh
Từ
bi chứng giám tâm thành ngưỡng mong.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Ở
bản in lần thứ nhứt và thứ hai, bài sám Thích Ca nguyên
trong quyển "Tam Bảo Tôn Kinh" của Thích Ca Tự ấn hành, Gia
Định 1968. Đoạn cuối bài sám gồm cả thảy 14 câu có lẽ
không phải nguyên bản, chắc do người sau soạn lại theo ý
mình.
Nay
chúng tôi tìm được một dị bản với đoạn cuối nói đúng
ý nghĩa bài sám gồm cả thảy 20 câu (nhiều hơn bài cũ bốn
câu). Nên xin được sửa lại cho đúng nguyên tác để tránh
nhầm lẫn sau này.
-
Trích bản in trong "Nghi Thức Tụng Niệm" của chùa Đại Giác
ấn hành - Sàigon 1974. Trang 337 đến trang 339.
-
Chưa rõ xuất xứ trước tác.
21.
SÁM DI ĐÀ
(Sám
tán Di Đà I)
Muốn
đi có một đường nầy,
Nhứt
tâm niệm Phật khó gì thoát ra,
Vậy
khuyên phải niệm Di Đà,
Hồng
danh sáu chữ thật là rất cao.
Hay
trừ tám vạn trần lao,
Tham
thiền quán tưởng pháp nào cũng thua,
Di
Đà xưa cũng làm vua,
Bỏ
ngôi bỏ nước vô chùa mà tu,
Xét
ra từ kiếp đã lâu,
Hiệu
là Pháp Tạng Tỷ kheo đó mà.
Trong
khi Ngài mới xuất gia,
Bốn
mươi tám nguyện phát ra một lần.
Nguyện
nào cũng lắm oai thần,
Nguyện
nào cũng trọng về phần độ sanh,
Vì
thương thế giới bất bình,
Nên
chi đầu Phật mà đành bỏ ngôi,
Thầy
là Bảo Tạng Như Lai,
Bạn
là Bảo Hải tức ngài Thích Ca.
Thích
Ca nguyện độ Ta bà,
Di
Đà nguyện mở cửa nhà Lạc bang,
Mở
ao chín phẩm sen vàng,
Xây
thành bá bảo đồ đàng thất trân.
Lưu
ly quả đất sáng ngần,
Lầu
châu cát ngọc mười phần trang nghiêm.
Hoa
trời rưới cả ngày đêm,
Có
cây rất báu có chim rất kỳ,
Lạ
lùng cái cảnh phương Tây,
Mười
phương cõi Phật cảnh nào cũng thua.
Phong
quang vui vẻ bốn mùa,
Nước
reo pháp Phật gió khua nhạc trời.
Di
Đà có thệ một lời,
Mở
ra cõi ấy tiếp người vãng sanh,
Mười
phương ai phát lòng lành,
Nhất
tâm mà niệm hồng danh của Ngài.
Hằng
ngày trong lúc hôm mai,
Niệm
từ mười tiếng đến vài ba trăm,
Khi
đi, khi đứng, khi nằm,
Chuyên
trì niệm Phật, lòng chăm phát nguyền.
Nguyện
sanh về cõi bảo liên,
Là
nơi Cực lạc ở miền Tây phương,
Đến
khi thọ mạng vô thường,
Thì
Ngài phóng ngọn hào quang rước liền.
Biết
bao phước đức nhơn duyên,
Đã
về Cực lạc còn phiền não chi,
Sự
vui trời cũng chẳng bì,
Đêm
đêm thong thả ngày ngày vui chơi.
Sống
lâu kiếp kiếp đời đời,
Không
già không chết không dời đi đâu.
- Bài
do Tổ Huệ Đăng chùa Thiên Thai Bà Rịa trước tác- Được
in và sử dụng trong hầu hết kinh Nhựt Tụng.
-
Trích từ "Kinh Tam Bảo Diễn nghĩa " của Tổ Đình Thiên Thai
ấn hành 1994.
22.
SÁM CHUẨN ĐỀ
(Sám
tụng chư Bồ tát I)
Chuẩn
Đề Vương phép mầu linh hiển,
Kim
thân Ngài biến hiện nhiều tay,
Tả
biên hữu dực đủ đầy,
Mỗi
bên xuất hiện chín tay đàng hoàng.
Cứ
mỗi tay đều mang bảo vật,
Để
trừ tà cứu vớt chúng sanh,
Từ
bi Ngài sẵn lòng lành,
Muốn
độ muôn loại đắc thành quả cao.
Ngài
chứng quả ở vào quá khứ,
Chưa
chuyển sanh xuống trụ nhơn gian,
Riêng
nơi cõi Phật nghiêm trang,
Chưởng
quản chốn ấy an nhàn thảnh thơi.
Ngài
xem thấy người đời khổ sở,
Lòng
từ bi chẳng nỡ bỏ qua,
Sự
thương rộng lớn chan hòa,
Như
lòng người mẹ thật thà thương con.
Bởi
vì thế suy tôn Phật mẫu,
Thất
Cu Chi ấy báu hiệu Ngài,
Đà
La Ni kinh thuyết khai,
Cầu
cho hết thảy trong ngoài thế gian.
Đều
tỉnh ngộ hân hoan tu tập,
Để
mau mau vượt cấp kim giai,
Chú
thần linh hiển ít bài,
Pháp
môn quán tưởng của Ngài thật hay.
Thương
chúng sanh quá đầy phiền não,
Lập
pháp mầu chánh đạo độ tha,
Thiện
tín, xuất gia, tại gia,
Tín
tâm tưởng niệm, ắt là độ ngay.
Phải
trai giới hằng ngày soi xét,
Cứ
mỗi đêm y phép tham thiền,
Hành
giả tăng ích phước điền,
Bổn
tâm thanh tịnh nghiệp duyên tiêu mòn.
Thường
tin tưởng lòng son kiên cố,
Công
tu hành tiến bộ chẳng sai,
Ba
la mật địa quả bày,
Bồ
đề chánh giác kim đài thưởng công.
Nam
mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Thánh Chuẩn Đề Vương Bồ
Tát.
- Trích
"Liên Hoàn Sám nguyện" - Thích Thiện Tâm Sađéc 1961.
-
Đối chiếu "Nghi thức Tụng Niệm" - Thích Thiện Huệ Sàigon
1974.
23.
SÁM QUAN ÂM
(Sám
tụng Quán Âm I)
Cơn
sóng gió nổi trôi chiếc bách,
Một
mình ta vừa lách vừa bơi,
Chơi
vơi mấy độ chơi vơi,
Vào
trong sáu nẻo ra nơi bốn đường.
Nầy
Phật tử lục phương tế độ,
Dụng
sắc thân dạy dỗ người mê,
Ấy
là gió thổi mây về,
Nước
chao sóng dậy tư bề một phen.
Đạo
cao cả tập rèn diệu lý,
Nước
hương thơm miều mỹ tòa son.
Ví
như thể mẹ tìm con,
Cảm
thông ứng hiệp khai môn khắp cùng,
Vì
lẽ đó ta dùng Quán Thế,
Bố
thí nầy một thể ban ra,
Thí
thân nào có nại hà,
Phải
duyên ta thí để mà độ sanh.
Chư
Bồ Tát thường hành lục độ,
Cơ
duyên nầy nhiều thuở bố vi,
Hễ
ai có phước duyên thì,
Niệm
tâm vừa khởi các Ngài độ cho.
Thừa
Phật ấy nào đo nào lượng,
Biết
mấy đời đã hưởng đặc ân,
Đã
đành là sự thí thân,
Thí
tài, thí pháp cũng cần như nhau.
Tài,
pháp thí còn sâu còn rộng,
Tài
cho ra chẳng mộng chẳng nương,
Đã
cho thì chớ có tường,
Thọ
thì chớ nghĩ sự thường vốn không.
Lòng
bác ái cố công rèn đúc,
Dắt
người lên đến bực thăng bằng,
Bao
nhiêu cũng đủ, ta hằng,
Chăm
lo hành đạo vớt thăng luân hồi.
Từ
quá khứ các đời Bồ Tát,
Chư
Phật đều một loạt hóa sanh,
Ra
đời độ chúng hữu tình,
Dìu
ra nhà lửa đến thành Pháp vương.
Nhơn
duyên ấy lập phương khai thị,
Phật
tử nầy cố chí học theo,
Thường
hành Bồ Tát ráng chèo,
Lìa
từ thấp quả lần trèo lên cao.
Thinh
Văn bỏ, nhập vào Bồ Tát,
Lấy
nhơn duyên khai thác đạo mầu,
Nay
câu lục độ ráng trau,
Pháp
môn chỉ có bấy nhiêu đó mà.
Một
thừa Phật không ba không bốn,
Bởi
trí căn minh, độn mà ra,
Tựu
trung có một, một là,
Phật
thừa Bồ Tát ráng mà hành theo.
Trong
kinh nói đủ chiều muôn hạnh,
Đủ
sắc thân tướng tánh quang minh,
Đủ
thần thông lực tám ngành.
Chung
qui tánh kiến tâm minh tựu thành.
Bồ-đề
thọ, vốn mình không thọ,
Giống
hữu tình tuy có mà không,
Có
nhơn duyên mới hiệp đồng,
Hiểu
trong chơn thể tỏ tường bổn lai.
Phật
tức tâm, tâm ta có Phật,
Tâm
tức Phật, Phật ở nơi lòng,
Nhẹ
nhàng rửa sạch bụi hồng,
Trau
câu mô Phật thì lòng mới nguôi.
Tâm
tánh ấy mau chùi cho sạch,
Gội
bụi trần học cách thiền gia,
Từ
bi độ chúng hà sa,
Nguy
nan cứ dạ Ta bà lại qua.
Quan
Âm Phật Ta bà dạo khắp,
Tìm
nạn tại cứu cấp sanh linh,
Ấy
là lục độ trau mình,
Ra
ân bố thí dẹp tình phân chia.
Thuyền
Bát nhã nối tia nhựt nguyệt,
Tam
tạng kinh giải hết lục trần,
Phá
tan xiềng xích ái ân,
Lo
câu lục tự chuyên cần độ ta.
Đạo
cảm ứng Phật ta dung hợp,
Nghĩa
dung thông chỉ một không hai,
Bóng
hình hình bóng là ai,
Trăng
trong nước tịnh không sai bóng lòng.
Trên
liên tọa chín tầng hé nở,
Tấm
lòng thành một thuở hóa sanh,
Sanh
làm Phật, Phật độ sanh,
Nhành
dương nước tịnh anh linh độ đời.
Phật
Di Đà là người phàm tục,
Đức
Thích Ca vốn bực vương gia,
Quan
Âm cũng chỉ người ta,
Thế
Chí vốn là một kẻ đầu thai.
Phật
Hiền Thánh không ai thoát khỏi,
Ở
kiếp người đi đến Niết bàn.
An
tức tịnh, tịnh là an,
Hiểu
trong tâm trí thấy tràng hạt sen.
Khắp
lục đạo người chen kẻ lấn,
Biển
trầm luân mê tánh cho vui,
Kìa
lầu các, nọ cao ngôi,
Ba
hơi kết cuộc khó thời mang theo.
Gây
tội ác ngặt nghèo phải thọ,
Trách
đất trời sao ở bất công,
Hỡi
ai ghi lấy làm lòng,
Trau
câu niệm Phật để hòng độ thân.
Ao
thất bảo trân châu mã não,
Cửu
liên hoa ngôi báu dành đây,
Muốn
ra khỏi kiếp đọa đày,
Ráng
công tu luyện có ngày hóa sanh.
Đừng
mến tiếc Nam thành thế giới,
Cõi
Diêm phù tội lỗi mê tân,
Cố
công tham cứu học lần,
Di
Đà miệng niệm chuyên cần chớ sai.
Trên
Phật Thánh độ tai qua khỏi,
Dưới
phàm trần hết nỗi khổ luân,
Ráng
niệm, niệm bất ly thân,
Sông
mê thoát đặng hóa thân độ đời.
Ma
Ha Bát Nhã qua thời,
Bước
lên bờ giác thảnh thơi an nhàn.
- Trích
từ "Tam Bảo Tôn Kinh" Thích Ca Tự Sàigòn 1967.
-
Đối chiếu sửa chữa lại với bản in "Liên hoàn sám nguyện"
Thích Thiện Tâm - Sađéc 1961.
24.
SÁM QUAN ÂM.
(Sám
tụng Quan Âm II)
Quan
Thế Âm oai thần lồng lộng,
Khắp
thế gian đều trọng danh ngài,
Chúng
sanh hết thảy ai ai,
Khi
nào gặp nạn niệm Ngài liền qua.
Bởi
người thế gần xa ngưỡng mộ,
Quan
Thế Âm cứu khổ độ sanh,
Nếu
ai có một niệm lành,
Hễ
Ngài nghe tiếng ứng danh tới liền.
Dù
bịnh trọng liên miên khổ cực,
Niệm
danh Ngài lập tức khỏi ngay,
Bao
nhiêu tai nàn hằng ngày,
Chí
tâm niệm tới danh Ngài cũng qua.
Vô
lượng kiếp Ta bà thế giới,
Ngài
giáng sanh xuống cõi dương gian,
Hóa
thân công chúa đoan trang,
Diệu
Trang Vương ngự ngai vàng vua cha.
Diệu
Thanh ấy chính là chị cả,
Sau
cũng tu chứng quả Văn Thù,
Diệu
Âm chị thứ cũng tu,
Phổ
Hiền chứng Thánh đền bù công lao.
Trọn
một nhà được vào cảnh Phật,
Lòng
từ bi chơn chất đáng ghi,
Tuổi
nhỏ trí cả ai bì,
Dốc
lòng mộ đạo quyết thì đi tu.
Trọn
chín năm chẳng từ lao khổ,
Mong
công thành cứu độ chúng sanh,
Thời
kỳ trai giới tu hành,
Tại
động Hương Tích bắc thành ViệtNam.( )
Một
cảnh tiên mây lam che phủ,
Có
cam tuyền, thạch nhũ bao quanh,
Cảnh
tốt dành cho người lành,
Kim
Đồng Ngọc Nữ ứng danh theo hầu.
Dưới
bệ ngọc chia nhau sớm tối,
Chầu
hai bên không lỗi đạo thầy,
Luôn
luôn chân chánh thẳng ngay,
Hành
theo ý chỉ của thầy ban ra.
Quan
Thế Âm danh là Tự Tại,
Khắp
tam thiên qua lại dạo chơi,
Từ
bi Ngài muốn độ đời,
Mười
hai đại nguyện thiệt thời cao xa.
Nguyện
nào cũng đều là rốt ráo,
Chuyên
tâm về chánh đạo độ tha,
Biển
Nam Hải, núi Phổ Đà,( )
Trụ
ở nơi ấy cũng là Hương Sơn.
Trong
một phẩm Phổ Môn thị hiện,
Đức
Như Lai thuật chuyện khen Ngài,
Oai
thần linh hiển không hai,
Tầm
thinh cứu khổ chẳng nài công phu.
Nếu
có kẻ muốn tu cư sĩ,
Hay
cùng là tùy ý muốn chi,
Ngài
liền ứng hiện tức thì,
Tới
nơi dìu dắt cấp kỳ độ cho.
Hay
có kẻ qua đò mắc nạn,
Cùng
bao nhiêu tai nạn dọc đường,
Chí
thành đốt nén tâm hương,
Vừa
niệm danh hiệu tai ương qua liền.
Những
chuyện ấy hiển nhiên đều thấy,
Đức
Như Lai truyền dạy chẳng sai,
Chúng
ta chớ có quản nài,
Một
lòng ngưỡng mộ cầu Ngài độ cho.
Trong
khổ hải đò Từ vẫn đợi,
Vớt
chúng sanh đưa tới Lạc bang,
Chín
từng sen báu đài vàng,
Di
Đà thọ ký rõ ràng thảnh thơi.
Từ
bi cứu khổ độ đời,
Tầm
thinh giải nạn đến nơi an lành.
Nam
mô Tầm thinh Cứu khổ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
- Bản
in ở tuyển tập trong 2 lần xuất bản trước thiếu 2 câu
chót - Có bổ sung đính chính hoàn chỉnh, sau khi đối chiếu
so sánh lại từ 2 bản : “Tam Bảo Tôn Kinh” của Thích Ca
Tự 1968 và “Kinh Nhựt tụng” của chùa Đại Giác 1974.
25.
SÁM THẾ CHÍ
(Sám
tụng chư Bồ Tát II)
Đại
Thế Chí thường hay hỷ xả,
Lòng
Từ bi thấu cả tam đồ,
Phật
tử như có nhiễm ô,
Lỡ
lầm có tội đọa vô ba đường.
Ngài
liền tới hiển dương Phật pháp,
Khuyên
ăn năn cải ác qui chơn,
Hồi
đầu hướng thiện nhứt tâm,
Từ
bi hỷ xả ân cần độ cho.
Ngài
để tâm hằng lo muôn loại,
Vì
vô minh vướng phải luân hồi,
Trong
vòng nhân quả đời đời,
Ác
sa địa ngục, phước thời nhơn thiên.
Bởi
vì thuở sanh tiền một kiếp,
Vị
hoàng hai tên thiệt Ni Ma,
Vô
Tránh Niệm hiệu vua cha,
Ăn
ở phước đức cả nhà đều tu.
Nhờ
Bảo Hải ngôn từ chơn Thánh,
Khuyên
cúng dường lập hạnh Bồ đề,
Ngài
nghe như tỉnh giấc mê,
Trước
Phật Bảo Tạng đề huề thưa qua.
Nay
con quyết lập ra đại nguyện,
Xin
chứng minh những chuyện con cầu:
Từ
nay vô lượng kiếp sau,
Hành
theo thập thiện, mưu hầu độ sanh.
Bồ
Tát đạo chuyên hành mãi mãi,
Cốt
dắt dìu muôn loại hữu tình,
Tu
hành chơn chánh tấn tinh,
Đều
thành Phật quả đinh ninh lời nguyền.
Đức
Bảo Tạng Ngài liền thọ ký:
Cõi
trang nghiêm quản trị sau nầy,
Thiện
Trụ Trân Bảo Như Lai,
Trải
vô lượng kiếp hiệu Ngài như trên.
Hiện
bây giờ ở bên Cực lạc,
Cảnh
Tây phương đẳng giác thường chầu,
Di
Đà giáo chủ đứng đầu,
Trợ
dương chánh pháp ngõ hầu tiếp sanh.
Ngài
vẫn sẵn niệm lành độ chúng,
Hễ
ai ai trì tụng tu hành,
Tùy
duyên hiển hiện ứng danh,
Mê
tân dắt khỏi, giác thành đưa lên.
Nam
Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát.
-
Trích đối chiếu trong hai bản : "Tam Bảo Tôn Kinh" Thích Ca
Tự - Gia Định 1968 và "Kinh Nhựt Tụng " Chùa Đại Giác -
Sàigon 1974.
26.
SÁM ĐỊA TẠNG
(Sám
tụng chư Bồ Tát III)
Địa
Tang Vương lập nhiều đại nguyện,
Đã
trải bao biến chuyển tăng kỳ,
Phân
thân khắp chốn dạo đi,
Quyết
lòng độ chúng thoát thì trầm luân.
Nếu
còn kẻ lưng chừng khổ não,
Ngài
chẳng đành chứng đạo Bồ đề,
Trong
mười cửa ngục gớm ghê,
Còn
thấy tù tội chưa hề trống không.
Ngài
thệ nguyện chẳng mong chứng Phật,
Lòng
từ bi mới thật rộng sâu,
Mong
chúng sanh trình độ cao,
Hiểu
sâu đạo cả, công lao tu hành.
Tới
khi ấy lợi danh phủi sạch,
Khắp
nơi nơi thanh bạch thái bình,
Như
Lai nói Địa Tạng kinh,
Cung
trời Đao Lợi, công trình Ngài tu.
Vô
lượng kiếp hiền từ có một,
Trải
bao đời chỉ cốt tu nhân,
Làm
thân trai, gái, vua, dân,
Kiếp
nào Ngài cũng ân cần lợi tha.
Có
kiếp hóa Bà la môn nữ,
Dốc
một lòng khuyên nhủ mẹ già,
Sau
khi chết xuống Diêm la,
Thương
xót cầu Phật hiệu là Giác Hoa. ( )
Tấm
lòng thành cũng hòa cảm Phật,
Nên
chỉ đường cứu vớt tội căn,
Quang
Mục, Trưởng giả hóa thân,
Kiếp
nào Ngài cũng giữ phần hiếu nhân.
Đời
nhà Tấn, muôn dân an lạc,
Hiệu
Vĩnh Huy, Ngài thác sanh ra,
Thánh
trào cung điện Tân La,
Tên
Ngài Kiều Giác, chính là họ Kim.
Hăm
bốn tuổi quyết tìm đạo cả,
Núi
Cửu Hoa tĩnh tọa tu thân,
Bảy
lăm năm lánh bụi trần,
Vừa
chín chín tuổi chứng phần quả cao.
Trong
thời ấy Cát Hào họ Mẫn,
Cứ
mỗi năm một bận trai đàn,
Tới
kỳ cúng Phật cầu an,
Ông
đều sửa lễ đoan trang thỉnh Ngài.
Xuống
chứng đàn trai Tăng rực rỡ,
Đem
phép mầu hóa độ chúng sanh,
Mẫn
Công có một trai lành,
Đạo
Minh tên hiệu ứng danh theo Ngài.
Hai
mươi năm chẳng nài công khó,
Nên
người mau tỏ rõ đạo mầu,
Quy
y con trước cha sau,
Cả
hai chứng quả, theo hầu hai bên.
Kiếp
chót Ngài như trên đã kể,
Thiệt
vẻ vang cho kẻ tu hành,
Một
trăm mười chín hưởng sanh ( ),
Nhập
diệt ba chục, tháng lành mạnh thu( ).
Bởi
nhiều kiếp công tu rốt ráo,
Ngài
đắc thành thánh đạo hiển dương,
Phong
đại thánh Địa Tạng Vương,
U
minh giáo chủ, dẫn đường độ sanh.
Dưới
địa ngục, U thành một cõi,
Nhờ
đức Ngài bớt khỏi cực hình,
Biết
bao tù tội chúng sinh,
Ăn
năn sám hối tụng kinh tu hành.
Cung
Đao Lợi xướng danh Địa Tạng,
Đức
Như Lai khai giảng cho Ngài,
Tới
đời tượng, mạt trần ai,
Thay
cầm chánh pháp an bài độ sanh.
Đợi
tới kỳ giáng sanh Di Lặc,
Ấy
là ngày công đắc viên thành,
Thiệt
là hiển hiển linh linh,
Phân
thân mười cõi biến hình dạo chơi.
Nếu
có kẻ tưởng trời niệm Phật,
Tùy
duyên lành, Ngài mật độ cho,
Sông
mê dìu dắt qua đò,
Tới
nơi bến giác tự do thanh nhàn.
Tay
cầm tích trượng châu vàng
Động
tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh
Thành
tâm tưởng niệm hiệu danh
Hiện
thân cảm ứng ngục thành tiêu tan
Nam
Mô Minh vương Cứu khổ Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ
Tát.
- Có
đối chiếu và bổ sung thêm bốn câu chót
-
Trích từ hai bản in (sách đã dẫn)
27.
SÁM MỤC LIÊN.
(Sám
tụng Vu Lan II)
Con
quỳ lạy Phật Thích Ca,
Chứng
minh đệ tử tên là Mục Liên,
Lòng
con mộ đạo tu hiền,
Xuất
gia theo Phật cầu nguyền hôm nay,
Nghe
kinh Phật thuyết bảy ngày,
Minh
tâm kiến tánh Như Lai trọn lành,
Lục
thông đầy đủ nên danh,
Muốn
tìm cha mẹ lòng thành gắng công,
Đền
ơn cho bú ẵm bồng,
Liền
dùng đạo nhãn xem vòng thế gian,
Thấy
vong mẹ khổ muôn ngàn,
Ốm
gầy đói khát trong đàng quỉ ma,
Mục
Liên kêu mẹ khóc la,
Đau
lòng thương mẹ đọa sa Diêm Đình.
Thanh
Đề nhìn thấy con mình,
Mục
Liên cứu mẹ hết tình gắng công,
Con
ơi! Mẹ đói trong lòng,
Mục
Liên nghe nói khóc ròng thở than,
Vội
vàng trở lại thế gian,
Bới
cơm một bát đem sang mẹ mừng.
Và
cơm vô miệng nửa chừng,
Chén
cơm hóa lửa phừng phừng thành than,
Mục
Liên xem thấy kinh hoàng,
Trong
lòng đau đớn khóc than buồn tình.
Mẹ
ơi ! Niệm Phật độ mình,
Trở
về lạy Phật cầu xin mẹ già.
Thích
Ca đức Phật phân qua,
Mẹ
ngươi tội nặng đọa sa nghiệp hành,
Ta
truyền cứu tế pháp lành,
Cần
cầu Tăng chúng tịnh thanh chú nguyền.
Cầu
cho phụ mẫu hiện tiền,
Lục
thân quyến thuộc bình yên điều hòa,
Bảy
đời phụ mẫu đã qua,
Về
trời hưởng phước sáng lòa hào quang,
Vui
chơi thong thả thanh nhàn,
Ngày
rằm tháng bảy lập đàn trai Tăng,
Sắm
cơm trăm món đồ ăn,
Trái
cây ngũ quả hương đăng rõ ràng,
Chiếu
giường, bồn nước, mùng màn,
Dầu,
đường, trà lá, bát vàng đựng cơm,