Quy
y nghĩa là gì?
Quy
là trở về; Y là nương tựa, Quy Y là trở về nương tựa
nơi mà mình đã vì si mê, phóng lãng đã lìa bỏ ra đi, như
đứa trẻ khờ dại đã rời bỏ cha mẹ để ra đi hoang phá,
bây giờ biết sự dại khờ do kinh nghiệm khổ đau, quay trở
về nương tựa dưới bóng hạnh phúc và yêu thương của cha
mẹ. Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam Mô của Phạn ngữ.
Quy Y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.
Tam
Bảo nghĩa là gì?
Tam
Bảo là ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.
Ở
thế gian, vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý báu. Nhưng
sự thật, vàng bạc và danh vọng đâu có cứu được con người
khỏi khổ *sống, già, bệnh, chết, mà lắm khi lại làm cho
con người thêm khổ nữa! Còn Phật, Pháp, Tăng thì có đủ
năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ nói
trên. Bởi thế, người đời mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng
là ba ngôi quý báu (Tam Bảo).
a)
Phật: Chữ Phật do chữ Phạn Bouddha phiên âm ra. Người
Tàu dịch là Giác giả; người Pháp dịch là L’llluminé. Ba
chữ ấy đều cùng một nghĩa là: bực đã giác ngộ sáng
suốt hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác
hạnh viên mãn.
b)
Pháp: Pháp là do chữ Phạn Dharma mà dịch nghĩa ra. Pháp
là phương pháp tu hành mà Phật đã phát huy ra để diệt trừ
mọi mê muội, khổ đau và chứng được quả Phật. Ba tạng
kinh điển gọi chung là Pháp.
c)
Tăng: Tăng hay Tăng Già là do chữ Phạn Sangha mà phiên âm
ra; Tàu dịch là: hòa hợp chúng, nghĩa là một đoàn thể tu
hành từ 4 người sắp lên, cùng nhau sống chung một chỗ,
đồng giữ giới luật của Phật, đồng chia sớt cho nhau một
cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được, từ vật chất
cho đến tinh thần.
Quy
y Tam Bảo là thế nào? Quy y Tam Bảo là trở về nương
tựa ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.
Tại
sao lại quy y Phật? Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt,
từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn;
Vì Phật là kẻ dẫn đường vĩ đại nhất, đã có cái kinh
nghiệm bản thân thoát ra ngoài vòng sanh tử để chứng Đạo.
Tại
sao quy y Pháp? Vì chỉ có phương pháp của Phật là đầy
đủ công năng để đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bờ
giải thoát.
Tại
sao lại quy y Tăng? Vì Tăng là người đã hy sinh gia đình,
tiền của, danh vọng...để tình nghuyện thay Phật dắt dẫn
chúng sanh trên đường đạo.
BA
BỰC TAM BẢO
Tam
Bảo có ba bực:
-
Đồng
thể Tam Bảo.
-
Xuất
thế gian Tam Bảo.
-
Thế
gian trụ trì Tam Bảo.
-
ĐỒNG
THỂ TAM BẢO
a)
Đồng thể Phật bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng
chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.
b)
Đồng thể Pháp bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng
chư Phật đồng một pháp tánh từ bi, bình đẳng.
c)
Đồng thể Tăng bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng
chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh, sự, lý hòa hợp.
-
XUẤT
THẾ GIAN TAM BẢO
Xuất
thế gian Tam Bảo:
a)
Xuất thế gian Phật bảo, là chỉ cho đức Phật Thích
Ca Mâu ni, đức A Di Đà, chư Phật trong mười phương ba đời,
đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian.
b)
Xuất thế gian Pháp bảo, là chỉ cho chánh pháp của Phật,
có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của
thế gian, như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ v.v...
c)
Xuất thế gian Tăng bảo, là chỉ cho các vị Thánh Tăng
đã thoát ra ngoài sự ràng buộc của thế gian như đức Quan
Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Ca Diếp, A Nan v.v...
-
THẾ
GIAN TRỤ TRÌ TAM BẢO
a)
Thế gian trụ trì Phật bảo,
là chỉ cho xá lợi của Phật,
tượng Phật đúc bằng kim khí chạm trổ bằng danh mộc, tô
bằng đất, đắp bằng xi măng, thêu bằng vải, hay vẽ trên
giấy.
b)
Thế gian trụ trì Pháp bảo,
là chỉ cho ba tạng giáo điển:
Kinh, Luật, Luận, viết hay in trên giấy, trên vải, *trên là
buôn v.v...
c)
Thế gian trụ trì Tăng bảo,
là chỉ các vị Tỳ Kheo tu
hành chơn chánh, đạo đức trong sạch, giới luật trang nghiêm
trong hiện tại.
Sau
khi đã hiểu rõ thế nào là *quy y Tam Bảo, tất nhiên phải
thực hành sự hiểu biết ấy. Thực hành Tam Quy bằng sự
tướng cung kính, vâng theo Tam Bảo, như thế gọi là sự quy
y Tam Bảo.
1.
Sự quy y Phật: Hằng ngày chúng ta phải nhớ tưởng luôn
đến Phật, niệm danh hiệu Ngài, chiêm ngưỡng tượng Ngài,
chí tâm thật ý lễ bái để tỏ lòng sùng kính Ngài, và nguyện
suốt đời theo bước chân Ngài, ấy là sự quy y Phật.
2.
Sự quy y Pháp: Hằng ngày tụng đọc kinh, luật, luận trên
giấy trắng mực đen; sớm hôm hai thời công phu, tìm hiểu
nghĩa lý thâm huyền của Pháp bảo càng tốt, không biết nghĩa
tụng suông, cũng không phải là vô ích. Khi tụng đọc Kinh
điển, tâm trí chúng ta không nghĩ đến những ý nghĩa xằng
bậy, không nhớ tưởng những việc không hay, không bàn mưu
tính kế để lợi kỷ, tổn nhơn. *Chúng ta trừ bỏ được
sáng suốt, an lành, thanh tịnh.
3.
Sự quy y Tăng: Thế gian thường nói: "Trọng Phật, phải
kỉnh Tăng". Cho nên, nếu chúng ta thành tâm thờ Phật bao nhiêu
thì chúng ta phải thật dạ kỉnh Tăng bấy nhiêu. Người thực
hành sự quy y Tăng, hễ thấy người đầu tròn áo vuông, có
chân chính tu hành, giữ gìn giới luật, thì liền kính nể,
quý trọng xem như đó là vị đại diện của Đức Phật.
Làm như thế là sự quy y Tăng.
Tóm
lại, thờ Phật cốt, Phật tượng, tụng kinh, giữ giới nghiên
cứu Phật Pháp, kính trọng Tăng Già chân chính, đó chính
là sự quy y Tam Bảo, hay nói nôm na là theo đạo Phật.
LÝ
QUY Y TAM BẢO
Lý
là bên trong. Lý quy y Tam Bảo nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm
chúng ta. Nếu chúng ta chỉ thực hành sự quy y, chỉ giong ruổi
theo Tam Bảo bên ngoài, mà quên lý quy y, nghĩa là quên Tam Bảo
bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa
Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo.
Chúng ta cần thực hành lý quy y, hay Tam Tự Quy Y: tự quy y
Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.
1.
Tự quy y Phật: Tự nghĩa là mình đối với tự tâm mình.
Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt
của tâm mình. Vâng, mỗi người đều có Phật tánh, và đều
có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng
Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng
như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất,
chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.
Phật
tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu
kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta
lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu
khẩn Phật bên ngoài; như đứa "cùng tử" có viên ngọc quý,
cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại
đi xin ăn cùng khắp mọi nơi!
2.
Tự quy y Pháp: Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tánh của
mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn
Nhục, Tinh Tấn...Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy
và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là tự quy
y Pháp.
3.
Tự quy y Tăng: Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm
mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp
của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp
thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không
nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy,
mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình
phải quy y thầy của mình trước đã chứ!
Nói
tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm
là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ
Bi, Hỷ Xả v.v...; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh
tịnh của bản thân. Như thế là
Lý quy y Tam Bảo.
NGHI
THỨC QUY Y
Sau
khi chúng ta đã hiểu rõ Sự và Lý quy y rồi, chúng ta cần
phải biết qua nghi thức của lễ quy y.
1.
Trước tiên phải gội rửa thân tâm cho trong sạch
Quy
y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu tập của chúng
ta. Nó là cuộc khởi hành để đi đến mục đích giải thoát,
vì thế chúng ta không thể xem thường, cử hành một cách
bừa bãi được.
Khi
muốn quy y, chúng ta phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ thỉnh
chư Tăng đến trai đường, đảnh lễ và cầu xin chư Tăng
rủ lòng từ bi truyền trao quy giới cho mình.
Trước
ngày hành lễ, thân tâm chúng ta phải được gội rửa trong
sạch. Ta tắm rửa sạch sẽ ăn mặc chỉnh tề. Đó là về
Thân; còn về Tâm thì ta phải ba phen sám hối, cho ba nghiệp
được thanh tịnh. Nhờ sự tẩy gội cả trong lẫn ngoài ấy,
ta mới xứng đáng đón nhận pháp thanh tịnh cao quý của Tam
Bảo.
2.
Phát nguyện
Đến
giờ quy y, chúng ta phải quỳ xuống; theo lời hướng dẫn
của chư Tăng, chí thành phát nguyện:
-
Đệ
tử xin suốt đời quy y Phật.
-
Đệ
tử xin suốt đời quy y Pháp.
-
Đệ
tử xin suốt đời quy y Tăng.
Sau khi
phát nguyện Tam Quy rồi, người phát nguyện tin chắc rằng
mình đã gieo hạt giống giải thoát, thế nào cũng sẽ gặt
được kết quả tốt là thoát ly ba đường ác: địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế, người quy y liền nói tiếp ba
lần:
-
Đệ
tử quy y Phật rồi, khỏi đọa địa ngục.
-
Đệ
tử quy y Pháp rồi, khỏi đọa ngạ quỷ.
-
Đệ
tử quy y Tăng rồi, khỏi đọa súc sanh.
Thế
là trọn vẹn Tam Quy và Tam Khiết.
Để
bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin
trên đường Đạo, người quy y tự nguyện một cách mạnh
mẽ và thành khẩn:
-
Đệ
tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần,
quỷ, vật.
-
Đệ
tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo, tà
giáo.
-
Đệ
tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tổn hữu, ác
đảng.
Như thế
là lễ quy y đã hoàn tất. Người tín đồ chỉ còn việc
làm theo đúng những lời mình đã phát nguyện và đã tuyên
thệ trước Tam Bảo.
LỢI
ÍCH CỦA QUY Y TAM BẢO
1.
Khỏi đi lạc đường đời vào nơi tăm tối
Như
chúng ta đã thấy ở đoạn mở đầu bài này, chúng sanh đang
lặn hụp trong biển khổ, đang bơ vơ lạc lõng giữa đêm
tối mênh mông. Trong hoàn cảnh bi thảm như thế, nếu không
thấy được những phương tiện để đi đến, không có những
bậc thầy để dìu dắt đến, thì chúng ta sẽ quay cuồng
mãi mãi trong biển sanh tử luân hồi. Cái đích sáng ấy là
đức Phật, những phương tiện ấy là Pháp, và những bậc
thầy dìu dắt ấy là Tăng. Khi chúng ta đã biết có những
sự quý báu như thế mà không nắm bắt lấy, thì chẳng khác
gì người sắp chết đuối thấy cái bè gỗ trôi qua mà lại
dại khờ xua đẩy nó ra.
Sự
quy y chính là một cách bám víu vào cái bè Tam Bảo mà Phật
đã chế ra để cứu vớt những kẻ sắp chết đuối trong
biển đời là toàn thể chúng ta.
2.
Khi đã phát nguyện quy y, mình *đễ giữ đúng lời đã hứa,
vì có sự chứng minh của Chư Phật và Chúng Tăng.
Có
người nói: "Tôi tôn sùng đức Phật, vì biết Ngài là một
Đấng sáng suốt hoàn toàn; tôi trọng Pháp vì biết Pháp Phật
có đủ năng lực đưa người đến giải thoát; tôi kỉnh
Tăng vì biết đấy là những vị đại diện của Phật. Biết
như thế cũng đủ, cần gì phải làm lễ phát nguyện quy y?".
Nói
như thế là chưa đủ giá trị về phương diện tâm lý của
lời hứa, lời thề trước mặt người khác. Khi chúng ta đã
hứa với ai một điều gì, mà nuốt lời hứa, thì tâm hồn
chúng ta bức rức, hối hận không an. Đã hứa tất có bổn
phận làm trọn lời hứa, nếu thất lời hứa, tất sẽ tự
khinh ta. Nhất là khi lời hứa, lời nguyện ấy lại cử hành
trong một khung cảnh trang nghiêm trước điện Phật, trên có
sự chứng tri của chư Phật, dưới có sự chứng tri của
chư Tăng, chung quanh có sự hộ niệm của thân bằng quyến
thuộc; phát nguyện trong khung cảnh ấy, tất nhiên chúng ta
khó lòng mà trái lời nguyện, hay xao lãng nó được.
Vậy
đã biết Tam Bảo là quý, tất nhiên ta phải quy y Tam Bảo
và cử hành lễ quy y một cách trang nghiêm mới được.
C.
KẾT LUẬN:
Khuyên
tín đồ nên quy y cả sự lẫn lý và tinh tiến trong sự quy
y
Chúng
ta đã thấy; là Phật tử thì phải quy y. Quy y phải đủ Sự
và Lý. Không nên hoàn toàn ỷ lại bên ngoài mà xao lãng bên
trong. Cũng như không nên hoàn toàn tự tôn tự trọng riêng
mình mà khinh thị bên ngoài. Muốn quy y thì trước tiên phải
long trọng làm lễ quy y để đánh dấu bước đi đầu tiên
của mình trên đường giải thoát. Lễ ấy như là lễ tiễn
đưa một người ra đi nhận một nhiệm vụ mới. Nhưng một
khi đã đặt chân lên đường, thì người ấy phải giong đuổi,
quyết tiến mau cho đến đích, chứ không phải chần chờ,
quay đi lộn lại một chỗ, hay rẻ qua một ngả khác. Đã
phát nguyện quy y mà không theo dấu chân của đức Phật đã
để lại, không soi vào gương sáng của đức Phật đã nêu
cao, không theo giáo pháp mà rèn luyện tâm tánh; không giữ
giới luật, không vâng lời nhắc nhở của chư Tăng, như thế
là tự lừa dối mình và lừa dối người khác, và cái tai
hại lại càng lớn lao hơn cả không quy y.
Trái
lại, nếu chúng ta quy y và thực hành đúng như lời đã phát
nguyện thì con đường giải thoát dù xa, cũng sẽ có ngày
thấy đích.
Xin
hãy nhớ luôn lời nói cuối cùng của Phật: "Hãy tinh tấn
lên để giải thoát !"