1.
VÌ SAO CẦN PHẢI NIỆM PHẬT?
Lúc
bình thường tại sao cần phải niệm Phật? Vì bình thường
niệm Phật là để chuẩn bị cho khi lâm chung. Tại sao không
đợi đến lâm chung mới niệm Phật? Vì hằng ngày niệm Phật
chính là để huân tập hạt giống Phật vào trong tâm của
bạn. Nếu bạn niệm mãi thì trải qua thời gian, hạt giống
đó lớn dần lên trong mảnh đất tâm của bạn và đưa bạn
đến kết quả giải thoát giác ngộ. Nếu bình thường bạn
không niệm Phật thì bạn không biết gieo hạt giống Phật
vào mảnh đất tâm của mình. Khi lâm chung, thần trí rối
loạn thì làm sao nghĩ đến Phật mà niệm được chứ. Tại
sao vậy? Vì hiện tại không thường xuyên niệm Phật. Do đó,
hằng ngày cần phải niệm Phật, lạy Phật, tu pháp môn Tịnh
độ. Được như thế thì hiện tại được bình an, khi lâm
chung không bị hôn mê tán loạn lại được tự tại vãng
sanh về thế giới Tây phương Cực lạc.
Tại
sao phải vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc? Bởi
vì đức Phật A Di Đà khi chưa thành Phật tên là Tỳ kheo
Pháp Tạng đã phát ra 48 lời nguyện, trong đó có một lời
nguyện “Sau khi tôi thành Phật, chúng sanh trong khắp mười
phương nếu niệm danh hiệu của tôi A Di Đà Phật, tôi nhất
định tiếp dẫn họ về cõi nước của tôi, tương lai thành
Phật… Chúng sanh trong cõi nước tôi đều hóa sanh từ hoa
sen, nên thân thể thanh tịnh không bị nhiễm ô”. Với đại
nguyện rộng lớn của Phật A Di Đà như thế, nên tất cả
chúng sanh ai ai cũng tu “pháp môn niệm Phật”, vì đây là
pháp môn hợp với mọi trình độ căn cơ và rất dễ tu.
Kinh
Đại Tập (tên đầy đủ là Kinh Đại Phương Đẳng Đại
Tập, do Ngài Đàm Vô Sấm đời Bắc Lương dịch) nói: “Thời
mạt pháp ức ức người tu hành, khó có người đắc đạo,
chỉ nương vào pháp môn niệm Phật thì độ thoát sanh tử”.
Đây là nói ức ức người tu hành mà không có một người
đắc đạo, chỉ có niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương Cực
lạc mới thoát khỏi sanh tử. Đặc biệt bây giờ là thời
đại mạt pháp, niệm Phật rất tương ưng và hợp căn cơ
của người thời này.
Nhưng
ở các nước phương Tây, hiện tại chưa phải là thời đại
mạt pháp, có thể nói đang là thời kỳ chánh pháp. Tại sao
nói đang là thời kỳ chánh pháp? Bởi vì Phật pháp mới vừa
đến các quốc gia ở Tây phương nên lúc này đang thịnh vượng.
Hiện tại ở Mỹ có rất nhiều người thích ngồi thiền,
đây là biểu hiện đang thời chánh pháp. Thời chánh pháp
cũng tu pháp môn niệm Phật được, thời mạt pháp cũng tu
pháp môn niệm Phật được. Vì sao?
Thời
đại nào cũng tu được, nếu người nào tu pháp môn khác
mà không tiến bộ thì nên tu pháp môn niệm Phật.
Thiền
sư Vĩnh Minh Diên Thọ (Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, tự là
Xung Huyền, người đời nhà Tống, Vĩnh Minh là lấy tên chùa
ở núi Tuệ Nhật tại Hàng Châu, Trung Quốc, niên hiệu là
Vĩnh Minh, có chỗ gọi là Vĩnh Minh Thọ) nói: “Có Thiền
có Tịnh độ, giống như hổ mọc sừng, hiện đời làm thầy
người, tương lai thành Phật thành Tổ”. Nếu vừa tham thiền
vừa niệm Phật thì giống như hổ mọc sừng, hiện đời
đủ tư cách làm thầy, tương lai thành Phật thành Tổ.
Vì
vậy, người chân chánh tham thiền cũng chúng là người chân
chánh niệm Phật, người chân chánh niệm Phật, cũng chính
là người chân chánh tham thiền. Nói một cách nữa, người
chân chánh trì giới, cũng chính là người chân chánh tham thiền,
người chân chánh tham thiền cũng chính là người chân chánh
trì giới. Thế thì người chân chánh giảng kinh thuyết pháp
cũng chính là chân chánh tham thiền. Sách Chứng đạo ca của
Ngài Vĩnh Gia.
“Tông
diệc thông, pháp diệc thông, định tuệ viên minh bất trệ
không. Nghĩa là: tông cũng thông, pháp cũng thông, định huệ
sáng tròn chẳng trệ không”. Vừa tham thiền vừa giảng kinh,
đây chính là tông thuyết đều thông. Hoặc nói một cách
khác, người chân chánh trì chú, chính là người chân chánh
tu Mật tông, cũng chính là người chân chánh tham thiền.
Tuy
nói năm loại: Thiền, Giáo, Luật, Mật, Tịnh nhưng chung quy
lại là một chứ chẳng phải hai. Nhưng nói rốt ráo, ngay
một cũng chẳng có, sao lại nói năm loại chứ? Người học
Phật chân chánh cần hiểu rõ ràng điều này.
Có
người đem tâm phân biệt cho rằng pháp môn niệm Phật là
tối cao, tham thiền không đúng, hoặc có người nói tham thiền
là tối cao, niệm Phật là sai lầm. Những người như thế
đều chưa hiểu Phật pháp. Nên biết, tất cả đều là Phật
pháp, đều bất khả đắc, đã không có pháp để chứng đắc,
vậy sao trên đầu lại đội thêm cái đầu nữa chứ? Đã
vô sự sao lại tìm việc làm gì nữa chứ? Nếu bạn thật
sự hiểu và lãnh hội là không pháp để chứng đắc. Nghe
qua lời này có thể một vài người chưa lĩnh hội điểm
này, họ sẽ thất vọng. Vì sao vậy? Vì Phật pháp phương
tiện nên lập quyền pháp, chính là để nói thật pháp. Phật
nói quyền trí, là đưa người đi đến thật trí. Thế nào
là thật trí? Thật trí là một tên “Quy vô sở đắc” là
trở về chỗ không thể đắc tức là thật tướng vô tướng,
không hình không tướng, đó mới là trí huệ chân thật.
2.
CHÂN THẬT NIỆM PHẬT
Chúng
ta không được may mắn, sanh nhằm vào thời mạt pháp cách
Phật khá xa, pháp nhược mà cường, nhưng trong cái không may
mắn đó lại gặp pháp môn niệm Phật. Pháp môn niệm Phật
đã không tốn công, lại chẳng phí sức, rất dễ dàng và
tiện lợi cho sự hành trì tu tập, bởi vì niệm Phật là
thành Phật. Vì sao niệm Phật lại thành Phật? Vì trong vô
lượng kiếp trước đức Phật A Di Đà đã phát ra 48 lời
nguyện, trong 48 lời nguyện đó, có một nguyện: “Nếu có
chúng sanh xưng niệm danh hiệu của tôi, mà không sanh về thế
giới Cực lạc, tôi thệ không thành chánh giác”.
Phật
A Di Đà đã phát ra nguyện lực này, mỗi nguyện mỗi nguyện
đều nhiếp thọ chúng sanh vãng sanh về thế giới Tây phương
Cực lạc. Với điều kiện là họ phải có lòng tin mãnh liệt.
Đó là tin có đức Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương
Cực lạc, nên nguyện đến đó làm đệ tử của đức Phật
A Di Đà. Tha thiết một lòng xưng niệm danh hiệu Ngài và lấy
ba món tư lương – Tín, Hạnh, Nguyện – làm căn bản cho
việc vãng sanh.
Thế
giới Tây phương Cực lạc, đủ các thứ an vui không bị các
thứ khổ não. Không có ba đường ác – địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh – chỉ có các loại chim Bạch hạc, Khổng tước,
Anh võ, Ca lăng tần già, Cộng mạng, những loại chim đó đều
do thần lực của Phật A Di Đà biến hóa ra để diễn hát
pháp âm, chẳng phải là loại súc sanh thật. Thế giới Cực
lạc không có các thứ ác duyên phiền não, khổ đau như thế
giới Ta bà mà ở đó ngày đêm sáu thời diễn nói diệu pháp
– niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Vì vậy, chúng ta muốn
vãng sanh về thế giới Cực lạc thì phải chân thành niệm
Phật. Chân thành niệm Phật chính là tâm của mình phải chuyên
nhất với câu Phật hiệu dù thành Phật hay không thành Phật,
vãng sanh hay không vãng sanh không cần để ý tới. Điều quan
trọng ngay trong hiện tại chỉ có một việc là nhất tâm
niệm Phật mà thôi. Niệm Phật phải niệm cho chuyên nhất,
đến khi bạn lâm chung, nhất định đức Phật A Di Đà sẽ
đến tiếp dẫn bạn về thế giới của Ngài và tuơng lai
nhất định thành Phật.
Vì
sao người thông thường như chúng ta mà được Phật A Di Đà
đến tiếp dẫn? Lời nói này rất khó tin. Đúng thật, vì
đây là pháp môn khó tin, cho nên trong kinh A Di Đà không có
vị nào thưa hỏi mà tự đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Vì
không có người hiểu và cũng khó có người tin nhận về
pháp môn này. Do vậy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thương xót
chúng sanh thời mạt pháp nên chọn con đường ngắn nhất
để dạy bảo chúng ta tu hành.
Chân
thành niệm Phật chính là miệng niệm Phật, tâm niệm Phật,
đi, đứng, nằm, ngồi đều niệm Phật. Trong tâm niệm danh
hiệu Phật A Di Đà, toàn thân hành trì A Di Đà Phật. Sao gọi
là hành? Giống như chúng ta bây giờ đến đây tham dự khóa
tu niệm Phật. Cho dù là bận trăm công ngàn việc, gia duyên
bận rộn … khi vào tu, thì ta phải buông hết xuống, làm
thế nào khi ta đến đây tham gia khóa tu này phải phát tâm
tu tập thật tha thiết, phát tâm niệm Phật cho đến nhất
tâm bất loạn. Muốn nhất tâm bất loạn thì mình phải trì
niệm liên tục, chẳng phải niệm một chút rồi thấy hơi
vất vả lại đi tìm chỗ nghỉ, đó là tâm giải đãi muốn
tìm sự an nhàn theo thế gian. Thế là không đắc niệm Phật
tam muội, không chân thành niệm Phật. Người chân thành niệm
Phật là nhất tâm nhất ý niệm Phật, ngay cả khi ăn cơm,
uống nước, mặc áo, đi ngủ cũng không quên.
Xưa
nay việc thường tình của con người là ăn, uống, ngủ nghỉ,
đây là việc không thể thiếu được. Riêng người tu niệm
Phật lại khác, khác gì? Là khi vào tu có những việc cần
phải quên: không để ý tới việc ăn ngon, mặc đẹp, đói
khát, ngủ nghỉ … Đây chính là chân thành niệm Phật. Nếu
công phu tu một chút thì nghĩ đến ăn cơm, đó chẳng phải
chân thành niệm Phật; hoặc lạnh một chút thì vội đi tìm
áo mặc cho ấm thân, đó cũng phải là chân thành niệm Phật;
hoặc sợ thiếu ngủ đi tìm chỗ ngủ tiếp, cũng chẳng phải
là chân thành niệm Phật. Người chân thành niệm Phật không
luận là đi đứng nằm ngồi hoặc làm bất cứ việc gì,
trong tâm chỉ biết câu hồng danh sáu chữ “Nam Mô A Di Đà
Phật”. Bạn trì niệm liên tục như thế lâu ngày sẽ kết
thành một phiến, muốn được điều này bạn phải trì niệm
liên tục không đứt đoạn, đến nước chảy cũng nghe niệm
câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, gió thổi cũng nghe niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”, tiếng chim kêu cũng thành tiếng “Nam
Mô A Di Đà Phật”. Câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” phải
hòa với chính ta không tách rời. Niệm câu “Nam Mô A Di Đà
Phật” không phải một mình ta, nghĩa là, ta là yếu tố chính,
là năng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Còn câu “Nam Mô A
Di Đà Phật” là sở niệm, cả hai hòa lại thành một. Đến
đây, gió thổi cũng chẳng lay, mưa to cũng chẳng động, đạt
đến niệm Phật tam muội; nước chảy, gió động đều diễn
nói diệu pháp – niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Như thế
mới đúng thật là chân thành niệm Phật.
Giả
như nước chảy, gió động mà tâm cứ chao động trông Đông,
ngóng Tây rồi phân biệt động tịnh như thế nào? Đó chẳng
phải là chân thành niệm Phật. Hoặc miệng niệm Phật, mắt
thì nhìn trước ngó sau như trộm đồ. Thế cũng chẳng phải
là chân thành niệm Phật. Chân thành niệm Phật chính là tâm
thiết tha với câu Phật hiệu, chẳng xen tạp một vọng tưởng
nào vào. Nếu như lúc thì niệm lúc thì nghĩ đến chuyện
ăn cơm uống nước, đúng sai, được mất thì không phải
là chân thật niệm Phật. Tất cả các thứ ấy phải buông
bỏ hết, như thế mới là chân thành niệm Phật. Niệm Phật
không có bí quyết gì cả, chỉ đòi hỏi sự chuyên tâm mà
thôi, chẳng cần quét vọng tưởng, đây chính là chân thành
niệm Phật. Bạn đề khởi chánh niệm, đó chính là chân
thành niệm Phật. Bạn muốn hết loạn tưởng, quét hết tà
niệm, đó chẳng phải chân thành niệm Phật. Cho nên chân
thành niệm Phật thật là vi diệu không thể nói, chỉ khi
nào bạn dụng công tu, khi ấy bạn mới nhận biết mà thôi,
khi ấy bạn lại càng đại tự tại, không nhân, không ngã,
không chúng sanh, không thọ giả, chỉ có Nam Mô A Di Đà Phật.
Nói
là pháp, hành là đạo, không chỉ nói mà không hành cũng như
miệng nói ăn đồ ngon mà trong bụng lại bị đói, một chút
thức ăn cũng không có. Hôm nay, tôi nói về đạo lý này,
mong các vị phải hiểu rõ, điều chính yếu phải thiết tha
chân thành niệm Phật, chân thành tu niệm Phật. Thời gian
và sanh mạng của chúng ta quý báu vô cùng, nhớ đừng bỏ
qua. Hy vọng mọi người luôn ghi nhớ ba điều này trước
khi bước vào tu tập “kiên trì, thành thật, hằng ghi”.
3.
NIỆM PHẬT GIỐNG NHƯ ĐIỆN THOẠI
Mỗi
niệm chân thành mỗi niệm thông
Tịch
lặng cảm ứng tịch lặng trong
Cho
đến non cao nước cùng tận
Rong
choi pháp giới khắp Tây Đông
Có
ai trong pháp hội hiểu ý nghĩa bài kệ này không? Chữ “niệm”
thứ nhất là niệm phải từ nơi tâm phát ra, chữ “niệm”
thứ hai là từ nơi miệng phát ra, niệm phải từ nơi tâm
rồi phát ra nơi miệng. Nếu chỉ “niệm” bằng miệng thì
chẳng phải chân thành niệm Phật. Cho nên, niệm Phật hoặc
niệm danh hiệu Bồ tát tâm miệng phải tương ưng, thiết
tha chân thành. Quý vị niệm đến tâm-khẩu hợp nhất, một
mà chẳng thấy hai, cũng chẳng phải niệm theo kiểu tùy hứng,
cũng không phải tán loạn mà niệm, lại cũng chẳng phải
xen tạp vọng tưởng mà niệm. Làm được những điều trên,
mới gọi là niệm Phật “chân thành”.
Niệm
một cách chân thành mới có sự cảm ứng. Cảm ứng này như
thế nào? Chính là tâm phàm phu cùng với ánh quang minh của
Phật và Bồ tát tương thông, nên nói “Quang quang tương chiếu,
khổng khổng tương thông”, tức là ánh sáng quang minh của
Phật, Bồ tát hòa với bản tâm sáng suốt xưa nay của bạn,
đến từng lỗ chân lông trên toàn thân thể của bạn. Sao
lại có cảm ứng này? Giống như gọi điện thoại, khi gọi
đúng số thì bên kia “Alô!”, bắt đầu giao tiếp liên lạc
với nhau. Niệm Phật, niệm Bồ tát cũng giống như gọi điện
thoại, khi làn sóng bạn phát đi thì bắt gặp làn sóng của
Bồ tát và ở bên kia các Ngài cũng hỏi bạn: “Người nam
lành, người nữ lành kia, bạn muốn cầu gì nào?” Thì biết,
lúc đó bạn có sự cảm ứng rất mầu nhiệm.
Niệm
Phật mà chẳng thành tâm thành ý thì giống như điện thoại
có năm số mà bạn chỉ bấm gọi ba số, thế làm sao gọi
được? Niệm Phật và Bồ tát cũng như thế. Nếu như bạn
niệm một lúc rồi không niệm nữa, thiếu sự chuyên tâm
thành ý thì nhất định chẳng thông được. Khi quý vị tu
tập thành tâm thành ý, thì trong người quý vị sẽ phát ra
một loại ánh sáng, ánh sáng đó giao cảm với ánh sáng quang
minh của chư Phật và Bồ tát. Muốn được điều này, mỗi
vị trong chúng ta phải cố gắng tu tập. Giống như gọi điện
thoại thì biết rõ ràng tiếng nói của đầu dây bên kia,
mắt thịt phàm phu không thể nhìn và nghe xa được, cho nên
nói “Lặng lặng cảm ứng lặng lặng trong” là vậy.
Câu
“Cho đến non cao nước cùng tận” nghĩa là đạt đến trình
độ “Trăm đầu sào chỉ một bước chân, giơ tay nắm hết
cả càn khôn”. Khi niệm đến chỗ “Sơn cùng thủy tận”,
đó thật là niệm mà chẳng phải niệm, kết thành một khối,
niệm thành một phiến. Đến đó quý vị “Rong chơi pháp
giới dạo Tây Đông”. Nếu như quý vị muốn vãng sanh về
thế giới Tây phương Cực lạc thì ứng một niệm là lập
tức đi ngay, muốn giương thuyền từ để cứu độ chúng
sanh thì từ thế giới Tây phương Cực lạc chỉ ứng một
niệm là bạn đến ngay thế giới Ta bà và khắp tất cả
pháp giới. Chỉ cần bạn ứng một niệm là đi ngay. Nên nói
“Rong chơi khắp Đông Tây”, tức là dạo khắp tất cả.
Hoặc “Nhất như ý nhất thiết như ý, nhất tự tại nhất
thiết tự tại” tức là bạn đại tự do đại tự tại
rồi.
Do
đó, chúng ta là người học Phật, mỗi nơi mỗi chỗ đều
phải chân thành, không hư ngụy. Hư ngụy thì như “Hoa không
nở, quả không kết”. Người học Phật phải ghi nhớ điều
này, đừng bao giờ lừa dối với chính mình. Kế nữa, người
xưa nói: “Quân tử cầu nơi mình, tiểu nhơn cầu nơi người”.
Chúng ta không quan tâm ỷ lại, nên biết cảm ứng là tự
mình nỗ lực chứ chẳng phải tự nhiên đến được.
Có
người nói: “Niệm Phật được sanh về Tịnh độ, phải
nương nhờ vào Phật lực tiếp dẫn”. Câu nói này, nếu
không khéo hiểu, sẽ bị sai lầm, vì sao vậy? Bởi vì câu
nói là đối cơ mà nói, tức đối với người chưa hiểu
biết gì cả. Chư Tổ phương tiện tạo ra sự ham thích cho
chúng sanh khởi tâm niệm Phật, hy vọng có thể dụng công
ít mà thu hoạch lại lớn, giống như buôn bán kinh doanh, bỏ
vốn ra ít mà thu vào thì nhiều. Vì vậy chư Tổ tùy cơ ứng
biến, nói có Phật lực tiếp dẫn, mục đích là khích lệ
cho chúng sanh nỗ lực niệm Phật.
Thực
ra, người niệm danh hiệu Phật và Bồ tát mà được vãng
sanh Tịnh độ, hoàn toàn có niềm tin rất lớn nơi chính mình.
Vì sao vậy? Có phải niệm Phật là Phật niệm thay bạn được
không? Niệm một câu danh hiệu Bồ tát là Bồ tát hiện ra
không? Nếu nói không phải, sao nói nương dựa vào tha lực
của các Ngài? Giống như Phật và Bồ tát phóng ánh hào quang
gia hộ cho bạn, đó là do công đức của chính bạn đã trì
niệm danh hiệu Phật Bồ tát, cho nên mới có cảm ứng như
thế. Thí dụ như điện thoại, nếu như bạn chẳng gọi,
thì có ai đầu dây bên kia nói chuyện với bạn được không?
Cho nên người niệm Phật cũng như gọi điện thoại là vậy.
Lý lẽ ở chỗ này. Tâm hy vọng trông mong nương tựa vào
năng lực của Phật để tiếp dẫn mình vãng sanh Tịnh độ,
thật ra đó chính là tâm tham, tâm ỷ lại, không thể được.
Chúng ta tu hành, chính yếu là phải tự lực, tinh thần phải
mạnh mẽ dũng khí, tinh tấn, được kết quả chẳng phải
tự dưng do người khác ban tặng cho. Niệm Phật, có thể nói
không nên trông mong và nương tựa vào sự tiếp dẫn của
Phật.
Cổ
nhân nói: “Làm tướng vốn không phải là cha truyền con nối,
nam nhi nên tự cường”. Chúng ta là người học Phật nên
có ý thức câu nói này: “Làm Phật vốn không phải Phật
ban cho thành Phật, chúng sanh nên tự cường”. Nếu chẳng
được như thế, thì cả ngày cứ ỷ lại Phật lực tiếp
dẫn, giống như con em nhà giàu ỷ lại sản nghiệp của cha
mẹ, rốt cuộc tự làm hại chính mình. Mọi người nên tỉnh
giác chỗ này!
4.
DI DÂN ĐẾN THẾ GIỚI CỰC LẠC
Phật
tử Á đông chúng ta phần nhiều có câu nói như thế này:
“Người người Quán Thế Âm, nhà nhà A Di Đà Phật”. Bồ
tát Quán Thế Âm có nhân duyên đặc biệt với chúng ta. Ngài
vui mừng khi chúng ta được đến thế giới Cực lạc, chẳng
cần phải làm thủ tục di dân. Chỉ cần có “nhất niệm
tâm thành” để ấn chứng, thì hoàn thành thủ tục, tuyệt
đối chẳng có phiền phức gì cả. Nếu như không “nhất
niệm tâm thành” để làm chứng, thì chẳng có thể di dân
đến thế giới Cực lạc.
Tại
sao chứng minh nhất niệm tâm thành mới đến được? Cách
này vô cùng đơn giản, rất dễ dàng, chỉ cần thành tâm
thành ý niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “Nam Mô Quán
Thế Âm Bồ tát” hoặc “Nam Mô Đại Thế Chí Bồ tát”
là thành tựu rồi. Vì Phật A Di Đà là giáo chủ ở thế
giới Cực lạc. Có hai vị Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát
Đại Thế Chí đứng hai bên Phật A Di Đà để cùng cứu độ
chúng sanh. Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát
Đại Thế Chí gọi là Tây phương Tam Thánh. Ta niệm bất cứ
danh hiệu vị nào trong ba vị cũng được cả. Cần nhớ, niệm
đến nhất tâm bất loạn, một trần không nhiễm thì được
đới nghiệp vãng sanh, hoa nở thấy Phật hoặc Bồ tát.
Nếu
chẳng muốn di dân đến thế giới Cực lạc, thì không cần
phải trì niệm danh hiệu Tam Thánh. Nếu muốn di dân đến
thế giới Cực lạc thì phải niệm danh hiệu Bồ tát Quán
Thế Âm. Niệm danh hiệu của Bồ tát hiện đời ta có thể
tránh được tam tai thất nạn, khi chết được bình an, sanh
về Tịnh độ, chỉ một mà lợi cả hai sao chần chờ không
làm chứ?
Chúng
ta muốn niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, niệm sao cho
danh hiệu của Ngài hòa quyện với tâm lại thành một. Không
tách rời ra, nghĩa là miệng niệm tâm phải tương ưng, đến
lúc đó, không muốn đến thế giới Cực lạc cũng đến được!
Vì sao vậy? Vì đã thấm nhuần sâu vào cội gốc rồi, tương
lai cành lá sẽ phát triển và đơm hoa kết quả.
5.
PHẬT A DI ĐÀ LÀ ĐẠI PHÁP VƯƠNG
Vì
sao phải niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”? Bởi vì đức Phật
A Di Đà có nhân duyên rất lớn với tất cả chúng sanh khắp
mười phương thế giới. Đức Phật A Di Đà khi chưa thành
Phật là một vị Tỳ kheo, tên là Pháp Tạng. Tỳ kheo Pháp
Tạng phát ra 48 lời nguyện, mỗi nguyện thệ cứu độ hết
tất cả chúng sanh giúp cho hết thảy chúng sanh đều thành
Phật. Trong 48 lời nguyện đó có một nguyện như thế này:
“Khi tôi thành Phật, mười phương tất cả chúng sanh, nếu
trì niệm danh hiệu tôi, nhất định tất cả sẽ thành Phật.
Nếu như họ chẳng thành Phật, tôi thề cũng không thành Phật”.
Nguyện
lực này của đức Phật A Di Đà, giống như sức hút của
máy nam châm, mà mười phương chúng sanh giống như một hòn
sắt, đều hút về thế giới Tây phương Cực lạc. Nếu như
hút không được thì sao? Tỳ kheo Pháp Tạng chẳng thành Phật
A Di Đà. Cho nên, tất cả chúng sanh xưng niệm danh hiệu của
Phật A Di Đà đều có cơ hội thành Phật.
Kinh
A Di Đà là quyển Kinh không ai hỏi mà tự Phật Thích Ca Mâu
Ni nói ra. Vì sao không ai hỏi mà Phật tự nói? Vì khó có
người tin hiểu pháp môn này, cho nên không có người hỏi.
Đại trí Xá Lợi Phất là bậc thượng căn, nhưng cũng không
biết hỏi thế nào. Phật nói, pháp môn này vô cùng thù thắng,
là phương tiện bậc nhất, tu tập rất dễ thành tựu. Dụng
công tu rất tiện, ít tốn công tốn sức. Ngài nói: “Chỉ
cần mỗi người chuyên tâm niệm Phật, niệm được một
ngày, hai ngày, ba ngày, … cho đến bảy ngày, nhất tâm bất
loạn, người đó khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng với
Thánh chúng hiện ra để tiếp dẫn họ”.
Cho
nên Phật nói, pháp môn này ít người tin nhận, vì đó là
pháp môn trực tiếp, rất thù thắng, đặc biệt thu nhiếp
ba hạng người thượng, trung và hạ căn. Nếu là người thông
minh hay ngu si, một lòng niệm Phật thì đều thành Phật cả.
Khi
vãng sanh về Cực lạc thế giới “không có các sự khổ,
đủ các sự an lạc”. Chúng sanh nơi thế giới đó đều
sanh ra từ hoa sen, không giống như loài người chúng ta phải
sanh ra ừ bào thai. Ở thế giới Cực lạc, bào thai là hoa
sen, khi người ở trong hoa sen nở ra, tương lai nhất định
thành Phật rồi.
Nhất
cú Di Đà vạn Pháp vương
Ngũ
thời bát giáo tận hàm tạng
Hành
nhân đản năng chuyên trì niệm
Định
nhập Như Lai bất động đường.
“Nhất
cú Di Đà vạn Pháp vương”, nghĩa là một câu Di Đà là vua
của vạn pháp. “Ngũ thời bát giáo tận hàm tạng”, nghĩa
là năm thời (thời Hoa nghiêm, thời A hàm, thời Phương Đẳng,
thời Bát nhã, thời Niết bàn). Tám giáo (tạng giáo, thông
giáo, biệt giáo, viên giáo, đốn giáo, tiệm giáo, bí mật
giáo, bất định giáo) bao hàm lại thành một. Đó là một
câu “A Di Đà Phật”.
“Hành
nhân đản năng chuyên trì niệm”, nghĩa là không luận người
nào nếu chuyên tâm niệm Phật thì “Định nhập Như Lai bất
động đường”, nghĩa là nhất định đạt đến tịch quang
Tịnh độ, đến thế giới Cực lạc. Tất cả chúng sanh vào
thời mạt pháp chỉ nương vào câu Phật hiệu A Di Đà để
được cứu độ, ai muốn được độ thì chỉ có niệm Phật.
Bớt
đi một câu nói
Niệm
nhiều câu Phật hiệu
Si
mê bị đoạn dứt
Liền
liễu sanh thoát tử
Sống
với pháp thân bạn.
Cho
nên, mọi người chúng ta chớ xem thường Pháp môn Niệm Phật.
6.
BỐN PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT
Pháp
môn niệm Phật có bốn cách niệm như sau:
a)
Trì danh niệm Phật: Tai nghe danh hiệu Phật, nhất tâm xưng
niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
b)
Quán tưởng niệm Phật: Quán tưởng chính là quán thấy,
thấy cái gì?
A Di
Đà Phật thân kim sắc
Tướng
hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch
hào uyển chuyển ngũ Tu Di
Hám
mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang
trung hóa Phật vô số ức
Hóa
Bồ tát chúng diệt vô biên
Tứ
thập bát nguyện độ chúng sanh
Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Dịch
nghĩa:
Di
Đà thân Phật sắc vàng tươi
Tướng
tốt quang minh vẹn đủ mười
Ánh
sáng bao trùm năm núi lớn
Mắt
trong như bốn bể đại dương
Hào
quang hóa Phật nhiều vô số
Bồ
tát hiện thân gấp mấy mươi
Bốn
tám lời nguyện mong độ chúng
Hoa
sen chín phẩm rước lên ngôi.
c)
Quán tướng niệm Phật: Quán tướng là đối trước đức
tướng của đức Phật A Di Đà, niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Đây chính là quán tướng niệm Phật. Mỗi câu Phật hiệu
từ miệng niệm ra tai ta nghe rõ ràng, tâm tỉnh giác từng
câu niệm, đây gọi là quán tướng niệm Phật.
d)
Thật tướng niệm Phật: Tức là niệm từ nơi tự tánh,
Phật tánh là chân pháp thân của bạn cũng chính là tham thiền.
Bạn tham câu “niệm Phật là ai?” – bạn hỏi lại mình
xem, ai là người đang niệm Phật đây?
Đến
Phật thất bảy ngày viên mãn, chúng ta tìm người “niệm
Phật là ai?”, nhất định sẽ tìm được, không mất đâu.
Nếu bạn bị mất, thế thì thiếu chánh niệm đi lạc đường
rồi, mau trở về nhà! Nếu không trở về nhà, thì không gặp
được Phật A Di Đà rồi.
7.
BA MÓN TƯ LƯƠNG TÍN, NGUYỆN, HẠNH
Tín,
Nguyện, Hạnh, chính là ba món tư lương của người tu pháp
môn Tịnh độ. Sao gọi là tư lương? Giống như bạn đi du
lịch đến một vùng nào đó, trước tiên phải chuẩn bị
một ít thức ăn, đó gọi là “Lương”. Lại đem theo một
ít tiền thì gọi là “Tư”. “Tư lương” chính là thức
ăn và những thứ tiền bạc nhu yếu trong sinh hoạt của bạn.
Bạn đến thế giới Cực lạc, cũng cần ba món tư lương,
đó là: tín, nguyện, hạnh. Điều quan trọng trước tiên là
phải Tín. Nếu bạn không có tín tâm, thế là bạn không có
duyên với Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc rồi. Nếu
bạn có tín tâm là có duyên với Ngài. Cho nên niềm tin là
điều hết sức quan trọng của bất cứ hành giả tu tập
bất cứ pháp môn nào của Phật pháp. Bạn tin, là tin chính
mình, tin cả người khác, vừa tín nhân, tín quả, tín sự
tín lý.
Tin,
sao gọi là tin chính mình? Bạn phải tin chính bạn nhất định
về được thế giới Tây phương Cực lạc, bạn đầy đủ
tư cách đến được thế giới Tây phương Cực lạc. Bạn
không nên xem thường mình và nói rằng: “Chao ôi! Tôi gây
tạo rất nhiều tội nghiệp, tôi không có cách gì để về
được thế giới Tây phương Cực lạc”. Thế là bạn không
có tin chính bạn rồi.
Bạn
tạo rất nhiều tội nghiệp, phải không? Nhưng hôm nay bạn
gặp cơ hội tốt. Cơ hội tốt như thế nào? Có thể đới
nghiệp vãng sanh (mang nghiệp cũ vãng sanh). Bạn tạo những
nghiệp gì, đều mang theo về thế giới Tây phương Cực lạc.
Nhưng bạn nên biết, đới nghiệp là mang nghiệp cũ, chứ
không phải mang nghiệp mới. Do khi trước chưa học Phật nên
không biết tội phước. Nay biết Phật pháp biết niệm Phật
nên mang cái nghiệp khi xưa đó về cõi Phật. Nghiệp mới,
chính là tội nghiệp tương lai, mang nghiệp cũ, chứ không
phải mang nghiệp mới, mang tội nghiệp quá khứ, chứ không
phải mang tội nghiệp tương lai. Lúc trước bạn đã gây tạo
những hành vi tội lỗi bất thiện, không luận là nặng hay
nhẹ, nhưng bây giờ bạn tự mình ăn năn cải đổi, bỏ ác
hướng thiện, thế là tội nghiệp của bạn lúc trước đã
gây tạo, có thể mang theo về thế giới Tây phương Cực lạc,
không mang nghiệp tương lai.
Tín
tha, nghĩa là bạn tin đích thật có thế giới Tây phương
Cực lạc, từ thế giới của chúng ta trải qua mười vạn
ức cõi Phật xa như thế. Đây là khi chưa thành Phật, Ngài
có tên là Tỳ kheo Pháp Tạng. Ngài từng phát nguyện, tương
lai tạo thành một thế giới Cực lạc, mong muốn mười phương
tất cả chúng sanh đều sanh về cõi nước của Ngài. Không
cần gì nhiều, chỉ cần chúng sanh xưng niệm danh hiệu của
Ngài, thì được về thế giới Tây phương Cực lạc, ngoài
những việc khác ra, đều phí công. Pháp tu này vừa dễ, vừa
đơn giản, lại phương tiện, viên dung, không phí tiền, không
phí sức, có thể nói đây là pháp môn thù thắng. Chỉ cần
niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì được sanh về thế giới
Tây phương Cực lạc, đây chính là tín tha.
Lại
phải tin nhân, tin quả. Sao gọi là tin nhân quả? Bạn phải
tin chính bạn trong quá khứ đã có căn lành, nay mới gặp
pháp môn này. Nếu bạn không có căn lành, thì không gặp được
pháp môn niệm Phật, cũng như không gặp được tất cả pháp
môn của Phật. Bạn có căn lành, trong quá khứ đã gieo trồng
nhân lành, nên nay gặp được pháp môn Tịnh độ mới có
thể đầy đủ tín, nguyện. Nếu bạn chẳng tiếp tục vun
bồi phát triển căn lành này, thì tương lai bạn chẳng có
cơ hội để thành tựu quả vị Phật. Cho nên điều cần
yếu bạn phải tin nhân, tin quả, bạn phải tin chính bạn
ở trong đời quá khứ đã có gieo trồng nhân bồ đề, tương
lai nhất định sẽ kết quả bồ đề. Giống như làm ruộng,
khi gieo giống xuống cần phải chăm bón nó mới phát triển
được.
Tin
sự, tin lý. Sao gọi là tin sự? Sao gọi là tin lý? Bạn phải
biết đức Phật A Di Đà có nhân duyên với chúng ta rất lớn,
Ngài nhất định trợ giúp chúng ta thành Phật, đây là sự.
Tin lý, tại sao chúng ta và Phật A Di Đà có nhân duyên rất
lớn? Nếu không có nhân duyên chúng ta không gặp được pháp
môn Tịnh độ. Phật A Di Đà cũng chính là tất cả chúng
sanh, chúng sanh cũng chính là Phật A Di Đà. A Di Đà Phật là
niệm Phật mà thành A Di Đà Phật, chúng ta cùng với tất
cả chúng sanh tinh tấn niệm Phật, cũng có thể thành Phật
A Di Đà, đây là lý.
Rõ
lý, tỏ sự như thế rồi, chúng ta nương vào đó mà tu hành
như Kinh Hoa Nghiêm nói: “Sự vô ngại pháp giới, lý vô ngại
pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại pháp
giới”. Đứng về phương diện tự tánh mà nói, chúng ta
và đức Phật A Di Đà là một, cho nên chúng ta đều đủ
tư cách để thành Phật A Di Đà. A Di Đà Phật là Phật ở
trong tâm chúng sanh, chúng sanh nào cũng là tâm của Phật A
Di Đà, sự quan hệ này cũng có sự có lý. Đạo lý này, bạn
cần phải tin và phải thực hành, không làm biếng giải đãi.
Cũng như niệm Phật, ngày hôm nay phải hơn ngày hôm qua, không
phải ngày hôm nay lại kém hơn ngày hôm qua.
“Tín”
đã giảng xong, tiếp theo giảng “Nguyện”. Sao gọi là nguyện?
Nguyện chính là ý nguyện, ý nguyện của bạn, ý niệm bạn
hướng mạnh thì tâm tưởng của bạn cũng như thế, phát
ra một nguyện. Một nguyện này, chính là tứ hoằng thệ nguyện:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Chư
Phật trong quá khứ và các bậc Bồ tát, đều dựa vào tứ
hoằng hệ nguyện này mà chứng quả vị vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Hiện tại chư Phật và chư Bồ tát vị
lai cũng đều dựa vào tứ hoằng thệ nguyện này tu hành chứng
quả. Nhưng khi phát nguyện, trước hết bạn phải có tín
tâm này, trước phải tin “có thế giới Cực lạc”. Thứ
hai là tin “có Phật A Di Đà”. Thứ ba là tin “ta và Phật
A Di Đà nhất định có nhân duyên rất lớn, ta nhất định
sẽ sanh về thế giới Cực lạc”. Vì có đầy đủ ba đức
tin đó, sau mới phát nguyện sanh về thế giới Cực lạc.
Cho nên mới nói “nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung”.
Ý nguyện của ta sanh về thế giới Cực lạc, không phải
người nhà quyết định cho ta đi, cũng không phải người
khác đến nắm tay dắt ta đi.
Tuy
nói Phật A Di Đà đến tiếp rước ta, nhưng cái chính yếu
là ý nguyện chính mình có muốn thân cận với Phật A Di Đà
hay không? Ý nguyện có muốn sanh về thế giới Tây phương
Cực lạc gặp Phật nghe pháp tu hành hay không? Muốn thành
tựu được “Nguyện” này, tiếp theo cần phải có “Hành”.
Sao gọi là hành? “Nam Mô A Di Đà Phật”, “Nam Mô A Di Đà
Phật” … đó! Giống như cứu lửa cháy đầu phải đi mau
cho rồi, có người muốn hại đầu của ta, thì mình vội
vã tìm cách bảo vệ cái đầu của mình, vậy chẳng dám giải
đãi.
Niệm
Phật tức là thực hành tín, nguyện, hạnh. Đây chính là
lộ phí, là tư lương để đi đường. Tư lương chính là
lộ phí, là tiền để chi dụng. Đến thế giới Cực lạc
giống như đi du lịch, đi du lịch bạn cần phải có tem phiếu,
có tiền … Còn ba món tư lương “Tín, Nguyện, Hạnh” này
chính là ngân phiếu mình đi du lịch.
8.
THẾ GIỚI CỰC LẠC LÀ THÀNH TỰU CHO CHÍNH MÌNH
Chúng
ta bây giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” chính là mỗi người
tự tạo thế giới Cực lạc cho chính mình, mỗi người tự
trang nghiêm thế giới Cực lạc cho chính mình, mỗi người
thành tựu thế giới Cực lạc cho chính mình. Thế giới Cực
lạc này không cách xa mười vạn ức cõi Phật. Thế giới
Cực lạc thật cách xa mười vạn ức cõi Phật. Tuy xa như
thế nhưng chẳng cách xa một tâm niệm hiện tiền này của
bạn và tôi. Bởi vì nó không ngoài tâm niệm của bạn và
tôi, cho nên chẳng cách xa mười vạn ức cõi Phật. Thế giới
ấy chính là ở trong tâm của chúng ta.
Thế
giới Cực lạc chính là chân tâm vốn có xưa nay của chúng
ta. Bạn nhận được chân tâm xưa nay của bạn thì thế giới
Cực lạc ở đây rồi. Bạn không rõ chân tâm xưa nay của
mình thì không sanh về thế giới Cực lạc. A Di Đà Phật
và chúng sanh chẳng phải hai. Cho nên chúng ta nói thế giới
Cực lạc là chẳng cách xa là thế, nhất niệm hồi quang biết
cội gốc xưa nay là Phật, xưa nay chính là thế giới Cực
lạc.
Chỉ
cần bạn quét sạch tâm ô nhiễm của bạn đi, bạn không
có tâm niệm tư dục, không có tâm đố kỵ, tâm tự tư, tâm
ích kỷ. Bạn học hạnh Bồ tát, làm lợi ích cho tất cả
mọi người, giác ngộ vì tất cả chúng sanh, thế là cảnh
thế giới Cực lạc xuất hiện. Bạn không có tạp niệm không
có vọng tưởng, thế có phải là thế giới Cực lạc ở
đây không? Nếu chẳng phải là thế giới Cực lạc thì bạn
nói đó là thế giới gì? Cho nên chẳng cần phải hướng
ngoại tìm cầu.
Các
bạn là thiện tri thức! Các bạn đều là bậc đại trí tuệ,
thông minh hơn tôi. Tương lai các bạn thuyết pháp hay hơn tôi,
chẳng qua bây giờ các bạn chưa hiểu hết tiếng Trung Quốc
thôi. Tôi xin giới thiệu tặng cho các bạn bài ca:
Đại
thánh chủ, A Di Đà
Đoan
nghiêm vi diệu không gì bằng
Thất
trân trì, hoa tư sắc, dõng kim ba.
Nghĩa
là:
Bậc
thánh chủ A Di Đà
Tướng
tốt đoan nghiêm không gì bằng
Ao
bảy báu, hoa bốn màu, sóng nước hiện vàng tươi.
Đại
thánh chủ này là ai vậy? A Di Đà, Ngài ngồi đó thân tướng
đoan nghiêm, rất đẹp! Rất đoan nghiêm! Không gì đẹp bằng
hảo tướng của Phật A Di Đà. Ao bảy báu này, cũng chính
là “ao thất bảo”. “Hoa tứ sắc”, tức hoa sen trong ao
có bốn màu sắc khác nhau. “Dõng kim ba” nước và sóng trong
ao thất bảo đều là sắc vàng.
Chúng
ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, ở trong ao thất bảo bên
thế giới Tây phương Cực lạc hoa sen đang từ từ nở ra.
Trong ao đó có tám loại nước công đức. Chúng ta niệm Phật
niệm càng nhiều thì hoa sen càng nở lớn ra, bạn niệm thật
ít, thì hoa sen nhỏ. Bạn nói: “Nếu không niệm thì sao?”
Nếu bạn không niệm, thì hoa sen khô héo và đi đến chết
thôi. Cho nên bằng giá nào bạn cũng phải tranh thủ tu tập
để thành tựu quả vị giải thoát cho chính mình.
9.
NIỆM PHẬT TAM MUỘI
Tâm
tịnh trăng hiện nước
Ý
định trời không mây
Khi
bạn niệm Phật đạt đến mức độ niệm Phật tam muội,
tiếng gió thổi qua bạn cũng nghe là âm thanh “Nam Mô A Di
Đà Phật”. Bạn nghe tiếng mưa rơi, cũng là âm thanh “Nam
Mô A Di Đà Phật”. Bạn nghe tất cả âm thanh, đều là tiếng
niệm Phật đó! Cho nên nói “nước chảy, gió lay đều diễn
nói Kinh điển”. Tiếng nước chảy cũng là “Nam Mô A Di
Đà Phật”. Tiếng gió thổi cũng là “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Nước chảy, gió thổi đều là “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Cho nên Tô Đông Pha nói: “Khê thanh tận thị quảng trường
thiệt, sơn sắc vô phi thanh tịnh thân”, nghĩa là âm thanh
của suối chảy, đều là tướng lưỡi rộng dài của Phật
để diễn nói diệu pháp, màu sắc dáng núi cũng đều là
pháp thân thanh tịnh của Như Lai, đây chính là đắc được
niệm Phật tam muội. Lúc trước tôi có làm một bài kệ niệm
Phật:
Năng
niệm năng niệm vô gián đoạn
Niệm
Di Đà đã thành phiến
Tạp
niệm bất sanh đắc tam muội
Vãng
sanh Tịnh độ định hữu phán
Chung
nhật yểm phiền Ta bà khổ
Tài
tương hồng trần tâm niệm đoạn
Cầu
sanh Tịnh độ ý niệm trọng
Phóng
hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm.
Cầu
này nói: “Khẩu niệm năng niệm vô gián đoạn”, bạn niệm
Phật niệm đến chỗ không gián đoạn, từ sáng cho đến
tối chỉ âm thanh niệm Phật, không có thời gian ngừng nghỉ.
“Khẩu niệm Di Đà đã thành phiến”, là miệng luôn niệm
“Nam Mô A Di Đà Phật” thường niệm như thế, kết thành
một khối.
“Tạp
niệm bất sanh đắc tam muội”, là bạn không bị các vọng
niệm loạn tưởng lăng xăng khác, đây chính là đạt đến
định niệm Phật, người niệm Phật nên nhận ra chỗ này.
“Vãng sanh Tịnh độ định hữu phán”, hy vọng bạn vãng
sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, nhất định đạt
được!
“Chung
nhật yểm phiền Ta bà khổ”. Từ sáng đến tối nhàm chán
những nỗi thống khổ ở thế giới Ta bà này. “Tài tương
hồng trần tâm niệm đoạn”. Bởi vì bạn biết ở thế
giới Ta bà này là khổ, cho nên mau mau dứt bỏ những thú
vui thế gian. Khi các tâm niệm thế gian đoạn rồi, không còn
tâm dâm dục, tâm thích đẹp ghét xấu không có, tâm tranh
danh, tâm đoạt lợi, cũng không còn. Buông bỏ tất cả các
duyên thế gian xuống, phải thấy tất cả những thứ đó
đều là giả, cho nên các niệm hồng trần đều đoạn dứt.
“Cầu
sanh Tịnh độ ý niệm trọng”. Cầu sanh về thế giới Cực
lạc ý niệm người đó vô cùng trọng yếu!
“Phóng
hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm”. Buông bỏ niệm ô nhiễm
ngay từ niệm đầu. Ngay đó được niệm thanh tịnh rồi.
Bài
kệ nói rõ về đạo lý niệm Phật. Tám câu kệ này tuy rất
ngắn gọn, nhưng sẽ giúp ích cho các bạn rất nhiều. Bạn
nên tư duy suy ngẫm, nhất là đối với người tu pháp môn
niệm Phật.
Trong
khóa tu Phật thất, mỗi hôm niệm Phật để làm gì vậy?
Đó là gieo chủng tử Phật. Bạn niệm một câu Phật hiệu
thì gieo một hạt giống Phật, niệm mười câu Phật hiệu
thì gieo mười hạt giống Phật. Chúng ta mỗi ngày niệm trăm,
ngàn, vạn câu Phật hiệu, chính là gieo hàng trăm, ngàn, vạn
hạt giống Phật như thế. Khi bạn gieo hạt giống đó xuống,
tương lai nhất định sẽ nảy mầm, bất kể là niệm Phật
tán tâm hay định tâm. Có một câu kệ rất hay:
Thanh
châu đầu ư trọc thủy
Trọc
thủy bất đắc bất thanh
Niệm
Phật nhập ư loạn tâm
Loạn
tâm bất đắc bất Phật.
Có
một hạt minh châu, xưa nay bỏ trong nước “trọc thủy bất
đắc bất thanh”, dù nước có đục thế nào đi nữa, cũng
đều thanh tịnh trong sáng cả. Người trì danh hiệu Phật,
cũng giống như hạt minh châu vậy, bỏ vào trong nước thì
nước sẽ trong.
“Niệm
Phật nhập ư loạn tâm”. Tâm của chúng ta xưa nay vọng động
thô tháo, vọng tưởng dẫy đầy, vọng tưởng này sanh ra
rồi mất đi, rồi lại sanh, rồi mất, cứ như thế giống
như sóng biển, không khi nào dừng. Thế khi một câu danh hiệu
Phật đi vào tâm loạn động thì “tâm loạn cũng được
thành Phật”. Đó bạn thấy loạn tâm như vậy mà cũng thành
tâm Phật rồi, bởi vì bạn niệm một tiếng Phật thì trong
tâm bạn có một vị Phật, bạn niệm mười tiếng Phật thì
có mười vị Phật, niệm trăng tiếng, ngàn tiếng, vạn tiếng
niệm càng nhiều thì càng nhanh thành Phật. Bạn niệm một
tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật”, trong tâm có một người niệm
Phật. Bạn niệm Phật, Phật cũng niệm bạn, cũng giống như
máy vô tuyến điện, bạn niệm một câu A Di Đà Phật thì
máy vô tuyến sẽ thâu âm và phát đi, vậy gọi là cảm ứng
đạo giao.
Qua
bài kệ vừa rồi chúng ta thấy người niệm Phật được
công đức không thể nghĩ bàn, dù niệm mà vọng tưởng vẫn
còn nhưng vẫn thành tựu được công đức từ nơi tự tánh
của họ.
Pháp
môn này được chư Bồ tát khắp mười phương đồng hoan
hỷ tán thán.
Tâm
của bạn như thế nào? Nó rất bận rộn đủ thứ chuyện
vui buồn từ sáng cho đến tối, không lúc nào dừng nghỉ.
Cho nên tâm này của chúng ta nếu chẳng cho nó một điều
kiện gì thì nó chẳng có tự tại được. Vì vậy phải tìm
cho nó một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Một
câu danh hiệu Phật cũng chính là tham thiền, bạn chẳng cần
phải ngồi chỗ nào cả, chỉ cần nhắm mắt niệm Phật như
thế cũng chính là tham thiền. Hoặc bạn mở mắt ra niệm
Phật cũng là tham thiền. “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
nói năng động tịnh thể an nhiên”. Tất cả bốn oai nghi
đi đứng nằm ngồi là tham thiền cả. Ngài Vĩnh Minh Diên
Thọ nói một bài kệ trong Tứ liệu giản:
Có
thiền, có Tịnh độ
Giống
như cọp mọc sừng
Hiện
đời là thầy người
Tương
lai làm Phật, Tổ
Có
thiền không Tịnh độ
Mười
người tu chín người lạc
Không
thiền có Tịnh độ
Vạn
người tu vạn người được.
Pháp
môn Tịnh độ là một pháp môn rất dễ tu, được chư Bồ
tát ca ngợi tán thán.
Bồ
tát Văn Thù cũng tán thán pháp môn niệm Phật. Trong Kinh Hoa
Nghiêm – phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ tát Phổ Hiền
cùng mười phương chúng sanh đồng nguyện vãng sanh Tịnh độ
và Bồ tát Quán Thế Âm cũng niệm Phật vãng sanh Tịnh độ.
Nếu có vị nào nghe qua bộ Kinh Lăng Nghiêm đều biết phẩm
“Bồ tát Đại Thế Chí niệm Phật viên thông” nói người
tu pháp môn niệm Phật vô cùng tốt. Cho nên Bồ tát Đại
Thế Chí cũng tán thán.
Trong
quá khứ tất cả chư đại Bồ tát đều tán thán pháp môn
Tịnh độ, chuyên tu pháp môn Tịnh độ. Tất cả chư Tổ
trong quá khứ trước tiên tham thiền, sau niệm Phật. Sau khi
họ tham thiền khai ngộ rồi thì lại chuyên tâm niệm Phật.
Giống như Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ niệm một câu A Di Đà Phật
thì từ miệng phóng ra một đạo hào quang có hóa thân của
Phật A Di Đà. Thời cận đại, đại sư Ấn Quang chuyên xiển
dương pháp môn niệm Phật.
Cho
nên pháp môn niệm Phật là pháp môn phương tiện bậc nhất,
đơn giản, rất dễ tu, người hành trì pháp môn này rất
là viên dung. Pháp môn này mười phương chư Phật đồng ca
ngợi tán thán. Bạn xem bản Kinh Di Đà nói mười phương chư
Phật có tướng lưỡi rộng dài, biến khắp tam thiên đại
thiên thế giới đều ca ngợi tán thán pháp môn này. Nếu
như nói không chân thật thì mười phương chư Phật làm sao
ca ngợi tán thán? Do vậy, đủ chứng minh người tu pháp môn
niệm Phật vô cùng thù thắng, đặc biệt vào thời mạt pháp
này mọi người chúng ta phải nên tu theo.
Thế
nhưng, hiện giờ ở Tây phương là thời đại chánh pháp,
các bạn không tu pháp môn niệm Phật, thế các bạn lại tham
thiền thì có sợ khổ không?
Đến
Tây phương liễu sanh thoát tử.
Trì
danh niệm Phật là một pháp môn tu tập vô cùng quan trọng
trong thời kỳ mạt pháp, cho nên hiện nay rất nhiều người
tu tập và hành trì pháp môn này.
Nếu
bạn xem thường pháp môn niệm Phật thì hãy xem Ngài đại
sư Vĩnh Minh Diên Thọ niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”,
từ trong miệng liền bay ra một hóa thân Phật. Người thời
đó ai cũng đều biết cả, cho nên công đức niệm Phật không
thể nói hết được. Khi bạn niệm một câu Phật hiệu thì
bạn lại phóng quang. A! Phóng một ánh hào quang, yêu ma quỷ
quái đều bỏ chạy. Công đức và oai lực của việc niệm
Phật là như thế, không nói hết được.
Khi
tu pháp môn niệm Phật, bạn chẳng cần trông mong đạt đến
ngộ bản tâm, hay đạt đến chân hay giả. Điều quan trọng
bạn dụng công tu là tốt rồi, lúc đó tự nhiên biến thành
chân, nếu dụng công không tốt thì biến thành giả. Chẳng
những pháp môn niệm Phật là như thế mà tất cả pháp khác
cũng như vậy. Nên nói: “Người tà hành chánh pháp, chánh
pháp trở thành tà, người chân chánh tu pháp, tà pháp cũng
trở thành chánh”. Đây hoàn toàn là do người.
Chúng
ta bây giờ khi tu tập dụng công lễ Phật nên quán tưởng,
quán tưởng cái gì? Quán tưởng thân thể này của chúng ta
biến khắp mười phương vô lượng quốc độ cõi nước chư
Phật, trong cõi nước chư Phật gặp mặt Phật chúng ta đến
trước đảnh lễ. Bạn có thể quán tưởng pháp giới, thân
thể của bạn cũng chính là pháp giới, rộng lớn như thế.
Cho nên mới nói:
Nếu
người muốn biết rõ
Chư
Phật trong ba đời
Nên
quán pháp giới tánh
Tất
cả do tâm tạo.
Pháp
môn niệm Phật là pháp môn rất dễ hành trì tu tập, mọi
người ai cũng tu được pháp môn này. Chỉ cần bạn niệm
một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, tương lai khi đến lúc
lâm chung bạn sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, hóa
sanh trong hoa sen, mỗi ngày nghe Phật A Di Đà nói pháp, tương
lai thành Phật.
Xưa
nay thường nói, niệm Phật khi lâm chung thì vãng sanh về thế
giới Tây phương Cực lạc, còn hiện tại chúng ta chưa chết,
thế bây giờ chúng ta niệm Phật để làm cái gì? Đúng không?
Nhưng để có lợi ích khi chết, thì khi sống bạn phải cần
lo vun bồi trước. Giống như bạn trồng loại cây ăn quả,
muốn thu hoạch kết quả thì bây giờ ta phải tốn thời gian
ít năm chăm bón cây mới phát triển được. Sự phát triển
đó, phải theo thời gian mà tạo thành kết quả. Niệm Phật
cũng như thế, bây giờ bạn niệm Phật, đến khi lâm chung
mới không bị các bệnh thống khổ, không bị tâm tham, sân,
si làm bấn loạn, nhất tâm niệm Phật thì Phật A Di Đà đến
tiếp dẫn bạn đi. Bây giờ nếu bạn không niệm Phật, đến
khi lâm chung, tứ đại phân ly, khi ấy bạn muốn niệm Phật
cũng không niệm được, trừ khi có bậc thiện tri thức đến
trợ giúp cho bạn, nhắc nhở bạn, bảo bạn niệm Phật. Cho
nên lúc còn sống, mỗi ngày đều niệm Phật, niệm mãi đến
khi kết thành một mảng. Lâm chung chỉ cần niệm câu “Nam
Mô A Di Đà Phật”, thì lúc đó bạn chỉ nhớ đến Phật,
ngoài ra chẳng luyến tiếc vướng bận gì cả, bạn sẽ thanh
thản ra đi về cõi Phật. Cho nên, khi sống cũng như khi chết
bạn không quên câu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Khi bạn không
quên câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì Phật A Di Đà cũng
không quên bạn, chúng ta nương vào đại nguyện của Phật
A Di Đà thì Ngài dùng kim đài đến tiếp dẫn bạn vãng sanh
về thế giới Tây phương Cực lạc.
Bạn
niệm Phật, tôi niệm Phật, bạn và tôi niệm Phật làm gì
đây?
Liễu
sanh tử, chuyển Ta bà mỗi nơi thành cõi Phật.
Không
bạn, không tôi, có gì nào? Tịnh quán vạn vật đều rõ ràng.
Phá
vô minh dứt phiền não, vượt ba cõi qua bể ái hà.
Vì
sao bạn niệm Phật? Tại sao tôi niệm Phật? Bạn nói đi!
Người thiếu hiểu biết thì nói rằng: “Cầu Phật giúp
con, ngày mai ăn uống cho tốt”. Có người vừa niệm vừa
nói rằng: “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật”,
xin Ngài giúp con khỏi lạnh, khỏi rét! Có người niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”, cho con tránh khỏi những phiền não, mọi
việc đều cát tường như ý, bình an hạnh phúc. Có người
niệm Phật để cầu sung sướng trong hiện tại. Tuy có nhiều
loại chẳng giống nhau, nhưng cái chính yếu chẳng phải cầu
những việc đó. Thế thì niệm Phật cầu chuyện gì? Đó
là cầu “liễu sanh tử” thôi!
Người
“liễu sanh tử” thì sống an vui tự tại. Còn các bạn chẳng
“liễu sanh tử”, thì vào ra hợp với sanh tử. Khi sống
bạn không biết được chính mình, không làm chủ mình. Sống
không biết mình là ai thì khi chết cũng bị mê man trôi vào
các nẻo luân hồi khổ sở. Vậy làm sao làm chủ được đây?
Nghĩa là bạn làm chủ khi còn sống, muốn sống thì sống,
muốn chết thì chết. Bạn thích sống lâu, muốn trường thọ
thì mỗi ngày chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Như
thế mỗi ngày thọ mạng ta sẽ tăng lên, mạnh khỏe lên.
Ta muốn chết, thì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì đức
Phật A Di Đà đến đón ta về thế giới Tây phương Cực
lạc. Như thế, thân không bệnh, tâm không tham luyến, ý không
điên đảo, đây là nói ý cũng không điên đảo, giống như
nhập vào thiền định. Như thế mới sanh về thế giới Tây
phương Cực lạc. Quý vị chú ý vấn đề này.
“Hóa
Ta bà”. Chuyển hóa thế giới Ta bà thành thế giới Cực
lạc, không còn sự đau khổ mà được tất cả sự an vui.
Cho nên nói: “Nơi nơi đều là cõi Phật A Di Đà”. Nơi nào
cũng đều là thế giới Cực lạc, không còn thế giới đau
khổ phiền não nữa, nơi đâu cũng A Di Đà Phật.
“Không
bạn, không tôi”. Bạn niệm Phật, niệm đến không còn thấy
bạn niệm và đối tượng là “Phật” để bạn niệm. Tại
sao nói “không”. Ồ! Như thế rất nguy hiểm rồi! Niệm
phải được chứ sao nói không? Thế là không xong rồi? Chỉ
sợ bạn không xong, nếu bạn xong rồi thì giải thoát rồi.
Bạn không xong, nên chẳng được gì hết. Nếu bạn xong rồi
thì sao? “Tịnh quán vạn vật đều liễu rõ”. Tất cả
vạn vật thế gian, bạn đều thấu hiểu rõ ràng, thậm chí
loại chim nào màu gì, cây tùng sao lại mọc thẳng, … bạn
đều rõ biết hết.
Lúc
này, bạn biết rõ hết rồi, thì phiền não dứt sạch, vô
minh phá hết. “Nhảy ra khỏi tam giới vượt khỏi biển ái
bao la”. Bạn nhảy ra khỏi sông ái bao la là dục giới, sắc
giới, vô sắc giới. Người ở trong tam giới như thế nào?
Giống như bị trôi theo dòng sông mênh mông rộng lớn! Điên
đảo, bạn nói yêu tôi, tôi nói yêu bạn, tình ái đến đi,
chết rồi mà chẳng biết tỉnh ngộ, đến rồi đi rồi lại
gặp lại trong vòng lưới ái, cuối cùng không ra khỏi.
Có
người nói: “Bây giờ tôi chẳng muốn nhảy ra sông ái”.
Thế bạn đợi khi nào nhảy ra đây? Bạn muốn ở lại trong
tương lai sao? Bạn sống nơi này rồi chết, chết rồi lại
sanh ra nơi khác, cứ thế, sanh rồi tử lẩn quẫn trong vòng
luân hồi, sống chẳng ra sống, chết chẳng ra chết. Cho nên
phải nhanh đi, nhanh nhảy đi, nhảy ra khỏi sông mê biển ái,
nếu không nhảy qua thì chết chìm rồi! Thật chết chìm rồi!
Người chết chìm sẽ như thế nào? Thì bị đọa lạc đến
cùng cực, tánh linh mất rồi hoặc biến thành những loại
côn trùng nhỏ, như sâu, giun, dế, …, trí huệ cạn cợt,
phước báu không có. Loài súc sanh như thế rất dễ sống
và rất dễ chết. Nên nói “sống chẳng ra sống, chết chẳng
ra chết”.
Thế
bạn rõ biết về thế giới Ta bà này, vạn sự vạn vật
đều không nhất định, luôn chuyển biến liên tục. Nếu
bạn nói thế giới này là cố định thì chuyện đó không
đúng. Bởi vì thế giới này là vô thường không bền chắc.
Do không hiểu điều này nên xưa nay ta không đến được thế
giới Tây phương Cực lạc. Nay hiểu ra rồi thì ngay bây giờ
chỉ cần bạn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thế là bạn
và mọi người ai ai cũng đủ tư cách về thế giới Tây phương
Cực lạc cả. Điều quan trọng là bạn niệm hay không niệm.
Bạn niệm, dù hiện tại có khó khăn, chướng ngại bạn cũng
quyết tâm làm cho được, thế là việc khó làm mà bạn làm
được, ngay đó thế giới Tây phương sẽ rất gần với bạn.
Nếu bạn không niệm thì sao? Thì chẳng đến được. Chỉ
cần bạn nhất niệm thì là sanh rồi. Bạn không niệm, thì
hợp với tử, thế là chẳng thành tựu được rồi. Nên biết
các pháp ở thế gian này là không thật, là không cố định.
Kinh
Kim Cang nói: “Không có định pháp gọi là A nậu đa la tam
miệu tam bồ đề”. Đây là nói đến chỗ vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Chính ta phải phát đại tâm dõng mãnh, chẳng
sợ khổ, sợ khó, mỏi mệt, đói khát, dõng mãnh hướng tới
trước, nhanh về thế giới Tây phương Cực lạc mới thôi.
Chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” đây mới là chân thật.
Chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mới giúp chúng ta liễu
thoát sanh tử.
10.
BỒ TÁT ĐẠI THẾ CHI NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG
Lúc
Phật A Di Đà còn là Chuyển Luân Thánh Vương, Ngài Quán Thế
Âm là con trưởng, Ngài Đại Thế Chí là con kế. Hai vị đại
Bồ tát này đang ở thế giới Cực lạc đứng hai bên trái
phải để phụ trợ cùng Phật A Di Đà cứu độ chúng sanh.
Sau khi đức Phật A Di Đà nhập Niết bàn, chánh pháp trụ
ở đời trải qua vô lượng kiếp, đến nửa đêm sau khi Phật
A Di Đà nhập diệt, Bồ tát Quán Thế Âm lại thành Phật,
tên là “Phổ Quang Công Đức Sơn Như Lai”. Chánh pháp trải
qua vô lượng kiếp thì vào nửa đêm Ngài nhập Niết bàn,
lúc đó Bồ tát Đại Thế Chí lại thành Phật, tên là “Thiện
Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai”.
Bồ
tát Đại Thế Chí tu pháp môn niệm Phật chỉ một câu Phật
hiệu mà nhiếp thâu “sáu căn” nên đưa đến giác ngộ.
Từ niệm Phật đến khi chứng đạo phải trải qua năm mươi
hai giai đoạn là thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi
hướng, thập địa, rồi đến đẳng giác, diệu giác, cho
nên Bồ tát Đại Thế Chí cùng với năm mươi hai vị Bồ
tát cũng là đại biểu năm mươi hai giai đoạn.
Theo
Kinh Lăng Nghiêm, trong chương “Đại Thế Chí Bồ tát Niệm
Phật Viên Thông”, Bồ tát Đại Thế Chí nói: “Ta nhớ lại
trong vô lượng kiếp trước, có Phật ra đời tên là Vô Lượng
Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang Phật, Diệm Vương Quang Phật,
Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật,
Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật,
Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật. Trong kiếp đầu tiếp nối mười
hai vị Phật ra đời, vị Phật sau cùng là Phật Siêu Nhật
Nguyệt Quang, dạy ta niệm pháp môn niệm Phật, ta nhập vào
chánh định, nên gọi là niệm Phật tam muội ”.
Pháp
môn niệm Phật có hai hạng người, một là hạng chuyên nhớ
niệm, một người chuyên quên, hai hạng người này cũng từng
gặp qua rồi. Một người chuyên niệm là chỉ cho Phật, một
người chuyên quên là chỉ cho phàm phu. Phật thì luôn thương
nhớ chúng sanh, chúng sanh thì thường quên Phật. Nếu chúng
sanh nghĩ đến Phật thì hay biết mấy, nhưng ngặt nỗi là
ở đâu họ cũng quên, không có tâm thanh tịnh, tâm giác ngộ.
Phật
vì sao lại nhớ đến chúng sanh? Bởi vì Phật biết tất cả
chúng sanh trong quá khứ là cha mẹ mình, vị lai sẽ thành Phật
và cùng chư Phật hiện tại đồng một thể giác ngộ bình
đẳng, cho nên nói “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
đều sẽ thành Phật”. Đây là chỗ vĩ đại của Phật giáo
cũng là giáo nghĩa tối cao của Phật giáo. Phật giáo nói
năm giới, cấm sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống
rượu chính là thương yêu bảo hộ tất cả chúng sanh, chuyển
hóa chúng sanh bỏ mê sớm trở về nhà. Nhưng tất cả chúng
sanh khi sanh đến thế giới này thì bỏ gốc theo ngọn, quay
lưng với tánh giác của mình làm những điều hợp với trần
tục, nhận giả làm chân, ngay cả quê hương chính mình cũng
quên tất cả; quên cả chư Phật, Bồ tát, cha mẹ hiền từ,
cũng quên hết. Tu pháp môn niệm Phật có bốn cách như sau:
một là trì danh niệm Phật, hai là quán tượng niệm Phật,
ba là quán tưởng niệm Phật, bốn là thật tướng niệm Phật.
Chỉ sợ người không đủ đức hạnh, không đủ đạo tâm,
khi công phu bị cảnh giới ma làm cho mê hoặc. Như hồi tôi
gặp một trường hợp tại Hồng Kông, có một vị xuất gia
ở chùa Từ Hưng, tu phép “Ban chu tam muội”. “Ban chu tam
muội” là thường hành tam muội, ông ấy ở trong phòng như
thế đến chín mươi ngày, chẳng ngồi, chẳng nằm chỉ đứng
và đi mà thôi. Một hôm, tôi nghe ông ta niệm càng lúc tiếng
càng lớn rồi nghe tiếng chân chạy gấp gáp ở trong phòng
với tiếng la hét là Phật A Di Đà đã đến rồi, Phật đến
rồi … Tôi thấy hơi kỳ lạ, ghé mắt nhìn vào phòng xem
thử, biết không ổn, tôi bèn hét lên một tiếng thì ông
mới tỉnh ngộ và ở lại trạng thái bình thường. Chuyện
gì xảy ra với ông vậy? Là khi đang công phu ông ta thấy đức
Phật A Di Đà đến quỳ trước mặt ông ta. Thấy vậy, ông
ta tưởng Phật A Di Đà đến đón mình nên liền chạy đến
quỳ trước Phật, nhưng thật tế Phật sao lại quỳ trước
mặt ông ta chứ? Thực ra, đó chỉ là một con trâu nước
biến ra Phật A Di Đà để đến dắt ông ta đi mà thôi. Mà
chính vị Tỳ kheo này đời trước là một con trâu, có công
cày ruộng ở chùa nên khi chết mới đầu thai lại làm thân
người xuất gia tu đạo. Nhưng tánh trâu chưa hết tập khí
cũ vẫn còn, cang cường khó điều phục. Nhưng do ông ta tu
pháp Ban chu tam muội có thể dứt trừ tập khí xấu ác đó
đi. Tuy vậy, đạo đức chưa đủ, định lực chưa kiên cố
nên ông bị lạc vào cảnh giới ma.
Nếu
như hai người cùng nhau nhớ niệm, mọi người cùng nhau chí
thiết nhớ niệm, chẳng buông lơi, chẳng thất niệm thì sẽ
theo nhau như bóng với hình, không bao giờ rời xa được. Mọi
người ai cũng không quên Phật thì ngay đời này có thể gặp
Phật, sau khi vãng sanh thường gần Phật nghe pháp, tu tập,
chẳng bao lâu sẽ thành quả vị giác ngộ. Mười phương chư
Phật ngày đêm thương xót hộ trì cho tất cả chúng sanh,
giống như mẹ luôn nhớ nghĩ đến con. Còn con không nghe lời
cha mẹ, bỏ đi không trở về nhà, để cha mẹ ngày đêm trông
đợi nhớ thương. Đến khi con nhớ nghĩ đến cha mẹ khẩn
thiết như thế, mọi người trong gia đình mới gặp gỡ đoàn
tụ được.
Nếu
như tất cả chúng sanh trong tâm lúc nào cũng nghĩ đến Phật,
nhớ đến Phật, dù bây giờ chẳng thấy Phật, nhưng tương
lai nhất định cũng gặp Phật. Bởi vì chúng ta cách Phật
quá xa, mà không niệm Phật thì càng xa cách hơn nữa. Người
tu pháp môn niệm Phật chẳng phải nhọc công tốn sức phương
cách hoặc bí quyết gì cả, chỉ cần chuyên tâm niệm Phật.
Khi tâm hành giả và tâm Phật tương ứng thì trí huệ phát
sanh, sẽ được giải thoát tự tại.
Người
đời dùng những thứ hương thơm để bôi hoa lên thân thể
cho thơm, người niệm Phật thì dùng câu Phật hiệu xông lên
mảnh đất tâm của mình để tương ưng với pháp thân và
trí huệ của Phật, cho tánh giác nơi tự tâm hiển lộ Phật
tánh. Vì thế nên nói “Hương quang trang nghiêm”.
Bồ
tát Đại Thế Chí nói: “Khi ta mới phát tâm tu, chuyên lòng
niệm Phật, tâm tâm tương tiếp, không gián đoạn, rồi thể
nhập vào vô sinh pháp nhẫn. Hiện bây giờ ta trở lại thế
giới Ta bà này, thường hay gia hộ và nhiếp thọ những ai
chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh về thế giới Tây phương
Cực lạc. Bây giờ Phật hỏi về pháp môn viên thông, con
chẳng chọn những điều gì khác, chỉ chuyên thâu nhiếp thân
tâm, không bị các duyên trần xoay chuyển, tinh tấn thâu nhiếp
sáu căn không bị khởi bởi các duyên trần”.
Tịnh
niệm chính là không khởi các vọng niệm, chỉ nhất tâm niệm
Phật, không có niệm gì khác. Niệm niệm tương tục, không
có gián đoạn, niệm Phật niệm đến niệm mà vô niệm, vô
niệm mà niệm, mỗi niệm chẳng rời tịnh niệm, tâm tâm
tương ưng với tâm Phật, chính là “tức tâm tức Phật,
tức Phật là tâm” tâm Phật nhất như mà đắc thành chánh
định. Cho nên tôi nói pháp môn “niệm Phật” là đệ nhất.
11.
HOA KHAI KIẾN PHẬT NGỘ VÔ SANH
Người
nào từng tụng kinh, thọ trì, biên chép mười lời đại nguyện
của Bồ tát Phổ Hiền, thì có thể thấy mình sanh về thế
giới Tây phương Cực lạc trong hoa sen.
Thế
giới Tây phương Tịnh độ chỉ có người nam không có người
nữ. Người sanh về đó đều hóa sanh trong hoa sen, hoa nở
thấy Phật, tức liền được Phật A Di Đà thọ ký, cho đến
khi thành Phật. Sau khi thọ ký, trải qua vô lượng na do tha
trong trăm ngàn vạn kiếp, đến mười phương thế giới chẳng
tính được thì tự mình thành tựu trí huệ, tâm tùy thuận
chúng sanh làm lợi ích vô số chúng sanh. Người này ngồi
ở tòa Bồ đề đạo tràng hàng phục Thiên ma và ma quân ngoại
đạo, thành Phật, chuyển diệu pháp luân, giáo hóa chúng sanh,
có thể khiến cho tất cả chúng sanh nhiều như số vi trần
ở trong các thế giới phát tâm bồ đề, tùy theo căn tánh
của các chúng sanh, dùng phương tiện quyền xảo để giáo
hóa họ. Khi căn tánh của họ thành thục, trải qua nhiều
kiếp làm lợi ích tất cả chúng sanh.
Người
nam tu thiện và chúng sanh nào có thọ trì đọc tụng “Phổ
Hiền hạnh nguyện” hoặc nghe được mười đại nguyện
vương của Bồ tát Phổ Hiền, tin tưởng mười đại nguyện
vương này, tâm ưa thích, thân thọ trì, đối trước tượng
đọc tụng thọ trì, hoặc nói cho người khác nghe về mười
đại nguyện này, công đức đó không thể nói hết được.
Chỉ có Phật và các bậc Bồ tát La hán mới biết công đức
họ nhiều hay ít mà thôi. Khi các bạn gặp được mười đại
nguyện vương của Bồ tát Phổ Hiền thì không nên khởi tâm
nghi hoặc. Nên nói:
Tâm
người tu đạo chớ nghi
Nghi
tâm sanh khởi dễ đi đường tà.
Người
tu đạo, khi nghe những lời của Phật và các bậc Tổ sư
giảng nói chớ có sanh tâm nghi ngờ. Bạn có tâm nghi ngờ
thì dễ rơi vào đường tà, nên tin tưởng và chân thật thọ
trì, lắng lòng tiếp nhận đạo lý. Sau đó chí thành thọ
trì như thọ trì mười đại nguyện vương. Tụng lâu rồi,
càng thông hiểu, sau khi trì tụng mười đại nguyện vương,
phát tâm biên chép ấn tống, hoặc giảng nói cho người khác
nghe mười đại nguyện vương này.
Mọi
người mà hành trì như thế, chuyên tâm trong một thời gian
ngắn thì nguyện lực tu hành và công đức đều thành tựu.
Người nào trì tụng Phổ Hiền hạnh nguyện được phước
nhiều vô lượng vô biên, ở trong biển khổ cứu độ tất
cả chúng sanh khiến họ được an vui lợi lạc, giúp họ thoát
khỏi biển khổ sanh tử khổ đau, đạt đến Niết bàn giải
thoát và được vãng sanh về thế giới Cực lạc của Phật
A Di Đà.
“A
Di Đà Phật” chỉ có bốn chữ, nhưng bao quát tất cả Phật
pháp. Mỗi bộ Kinh do đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra, đều
có người thưa thỉnh, chỉ riêng Kinh A Di Đà là không người
thưa thỉnh, không ai hỏi mà chỉ tự Phật nói. Tại sao không
có người thưa hỏi? Bởi vì không có người hiểu rõ pháp
này. Pháp môn Tịnh độ, chúng ta thấy rất đơn giản, nhưng
thật tế có bốn chữ “A Di Đà Phật” bao quát tất cả
tam tạng Kinh điển, mười hai bộ Kinh.
Mười
năm về trước tôi chuyên niệm Phật có sự cảm ứng, nên
làm ra một bài kệ:
A Di
Đà Phật vạn pháp vương
Ngũ
thời bát giáo tận hàm tàng
Hành
nhân đản nhân chuyên trì tụng
Tất
chí tịch quang bất động tràng.
“A
Di Đà Phật” là chỉ câu Phật hiệu, nếu bạn chuyên tâm
trì niệm câu Phật hiệu đó, thì tất cả các pháp bạn đều
thông hiểu rõ ràng, cho nên nói “A Di Đà Phật vạn pháp
vương”. “Ngũ thời” là thời Hoa nghiêm, thời A hàm, thời
Phương đẳng, thời Bát nhã, thời Pháp hoa. “Bát giáo”
là Tạng, Thông, Biệt, Viên, Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định
giáo. Ngũ thời, bát giáo đều bao hàm trong bốn chữ “A Di
Đà Phật”. Cho nên người tu chỉ cần chuyên tâm trì niệm
câu danh hiệu A Di Đà Phật, nhất định đạt được Thường
tịch quang Tịnh độ và tâm như trong đạo tràng bất động.
Có
số người nhận định sai lệch rằng: “Công phu niệm Phật
là dành cho ông già bà lão, không phải của người tri thức”.
Đây là hiểu một cách sai lầm. Niệm “A Di Đà Phật” pháp
môn này, người trí thức cũng tu được, ngu si cũng tu được.
Nói tóm lại, pháp môn này dành cho ba hạng người ai cũng
tu được đó là hạnh thượng căn, trung căn và hạ căn.
Vì
sao chúng ta phải niệm A Di Đà Phật? Bởi vì chúng sanh ở
thế giới Ta bà rất có duyên với Bồ tát Quán Thế Âm. Bồ
tát Quán Thế Âm ứng hiện ba mươi hai thân để cứu độ
họ. Còn đức Phật A Di Đà lại càng có nhân duyên thù thắng,
bởi vì đức Phật A Di Đà là thầy của Bồ tát Quán Thế
Âm, là giáo chủ ở thế giới Cực lạc. Khi xưa, lúc chưa
thành Phật A Di Đà, Ngài tên là Tỳ kheo Pháp Tạng, từng
phát ra 48 lời nguyện, mỗi nguyện đều tiếp dẫn chúng sanh
về thế giới Tây phương Cực lạc, mới nguyện thành Phật.
Thế
giới Cực lạc chỉ có người nam, vì người ở đó đều
hóa sinh từ hoa sen ra. Người sinh về thế giới Cực
lạc, trước hết thác sinh đầu thai vào hoa sen. Chúng ta nhất
tâm niệm Phật thì hoa sen bên Cực lạc sẽ lớn từ từ,
niệm một câu Phật hiệu, hoa sen từ từ nở ra, niệm nhiều
câu Phật hiệu thì càng lớn ra, đến lúc bằng bánh xe chuyển
luân. Khi lâm chung, đức A Di Đà Phật hiện thân đến tiếp
dẫn chúng ta về thế giới Tây phương Cực lạc. Tánh linh
chúng ta ở trong nhụy hoa sen, khi hoa sen nở ra tức thời pháp
thân hiện bày, cho nên nói “hoa nở thấy Phật”. Khi hoa
sen nở ra thì bạn sẽ là một vị Phật tương lai.
Thế
giới Cực lạc cách thế giới Ta bà qua mười vạn ức cõi
Phật, người ở thế giới Cực lạc đều từ hoa sen hóa
sanh, cho nên nói: “Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung,
cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu”. Tất cả chúng sanh niệm
“A Di Đà Phật” thì sẽ sinh về thế giới Tây phương Cực
lạc. Phật A Di Đà từng phát nguyện: “Khi tôi thành Phật,
mười phương chúng sanh, nếu xưng danh hiệu tôi, đều sinh
về nước của tôi, hóa sinh trong hoa sen, được quả vị vô
thượng chánh đẳng chánh giác”. Do vậy, người nào ở thế
giới Ta bà xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, khi lâm chung,
Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người này vãng sanh Tây phương
Tịnh độ.
Thập
phương tam thế Phật
A
Di Đà đệ nhất
Cửu
phẩm độ chúng sanh
Uy
đức vô cùng cực.
Vào
thời mạt pháp, Phật pháp dần đi đến hủy diệt, tất
cả Kinh điển dần biến mất. Vì sao vậy? Vì chúng sanh thiếu
phước báu, tội nghiệp sâu nặng, không có nhân duyên để
xem Kinh điển, chẳng cần phải nói tương lai, hiện bây giờ
có số người không có mắt, tay và các bệnh tật, nên một
chữ trong Kinh cũng không thấy, thật là nghiệp chướng làm
cho chướng ngại, đây chính là mạt pháp, người có mắt
mà không thấy và hiểu Phật pháp rõ ràng.
Vào
thời mạt pháp các Kinh điển lần hủy diệt hết, đầu tiên
là Kinh Lăng Nghiêm, sau đó đến các Kinh điển khác, cuối
cùng là Kinh A Di Đà. Bộ Kinh A Di Đà này sẽ trụ ở đời
hơn một trăm năm để độ tất cả chúng sanh. Đến hết
thời gian đó, Kinh A Di Đà cũng diệt mất, chỉ còn câu hồng
danh sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” trụ ở đời một trăm
năm nữa để độ tất cả chúng sanh. Qua một thời gian chỉ
còn lại câu hồng danh bốn chữ “A Di Đà Phật” lại trụ
ở đời một trăm năm nữa độ thoát vô số chúng sanh. Cuối
cùng bốn chữ “A Di Đà Phật” cũng diệt mất luôn. Phật
pháp đến lúc này có thể nói là hoàn toàn hủy diệt.
Kinh
A Di Đà, chẳng ai thưa hỏi mà tự Phật nói ra, bởi vì bộ
Kinh này vô cùng quan trọng. Chúng ta là người học Phật có
duyên gặp được pháp môn này, chớ có xem thường bỏ qua.
Người tham thiền, tham câu “Niệm Phật là ai”, đủ thấy
trong quá khứ chúng ta đều có niệm Phật qua, mới biết tham
thiền “niệm Phật là ai”. Nếu như không có niệm Phật
qua mà tham câu “Niệm Phật là ai?”, căn bản bạn chưa từng
niệm Phật thì ai niệm Phật đây? Bạn là người chưa từng
niệm Phật thì làm sao có thể nói “Niệm Phật là ai?”.
Từ câu thoại đầu “Niệm Phật là ai” đủ biết trong
quá khứ mỗi chúng ta trong đây ai nấy cũng từng niệm Phật
qua rồi. Chẳng qua niệm nhiều hay ít mà thôi, có thành tâm
niệm hay lúc niệm lúc không mà thôi. Mọi người chúng ta
siêng năng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, sẽ được vãng
sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, thế giới này có
vô lượng chúng sanh vui hưởng đầy đủ lạc thú.
12.
NGƯỜI NIỆM PHẬT CHÍNH LÀ PHẬT
Rất
nhiều người cho rằng pháp môn niệm Phật không rõ ràng.
Có người thiếu niềm tin dù họ có niệm thì cũng niệm qua
loa, không mấy tha thiết. Tham thiền cũng chính là niệm Phật,
niệm Phật cũng chính là tham thiền. Người hiểu tham thiền
mới là người hiểu niệm Phật, người hiểu niệm Phật
mới là người tham thiền. Tham thiền tức thân là Phật, có
thể ngay mình cũng quên luôn, thậm chí ngay Phật cũng quên,
bởi vì họ ự hỏi “Niệm Phật là ai”.
Người
niệm Phật nhất định có cơ duyên sẽ thành Phật, tâm tâm
niệm niệm lúc nào cũng nghĩ đến Phật, cuối cùng nhất
định sẽ thành Phật. Người tham thiền lại nói cái “chẳng
được” chính là Phật, bởi vì tham thiền là tìm Phật,
chẳng chịu nhận mình là Phật, tham câu “Niệm Phật là
ai?” tìm tới tìm lui chính là hướng ngoại rồi.
Niệm
Phật chính là trở về với Phật, trở về với tâm của
chính mình, chẳng cần hướng ngoại mà tìm. Niệm Phật chính
là hòa Phật thành một phiến, nhất định vãng sanh về Tây
phương Cực lạc. Bạn niệm Phật thì Phật niệm lại bạn,
kết quả là thành Phật rồi, các bạn khỏi cần phải nghiên
cứu tìm tòi, chỉ chuyên niệm Phật cho tốt là được. Tham
thiền cũng rất tốt, nhưng tham thiền cần phải chịu khổ,
thứ nhất cần phải chịu đau chân mỏi gối; thứ hai mỗi
giờ khắc phải xem coi lại chính mình quét sạch các vọng
tưởng chưa. Tham thiền khó hơn niệm Phật, niệm Phật dễ
hơn. Các bạn chưa thấy sự vi diệu thù thắng của việc
niệm Phật.
Tôi
nói với các bạn một câu rất chân thành, tôi làm mọi việc
mà tâm luôn hoan hỷ là nhờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Khi ngủ, tôi cũng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Ở trong
mộng cũng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Khi đứng cũng niệm
“Nam Mô A Di Đà Phật”. Bất cứ lúc nào cũng niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”. Bởi vì A Di Đà Phật hòa với tôi lại
thành một.
13.
BÌNH THƯỜNG NIỆM PHẬT ĐƯỢC DUYÊN LÀNH
Nếu
như bạn chỉ nghĩ khi lâm chung niệm Phật thì sanh tâm lành,
thật ra chẳng dễ dàng như thế đâu. Khi lâm chung thân tứ
đại này tan ra, thì người này bị nghiệp lực dẫn dắt
thần thức tiếp tục đi qua một cảnh giới khác chuẩn bị
cho đời sống tiếp theo.
Cho
nên nói: “Chim sắp chết, tiếng kêu của nó rất bi ai. Người
sắp chết, lời nói của họ nghe rất hiền”. Người sắp
lâm chung cũng thế, trông rất tội nghiệp nếu ngay lúc đó
tâm họ sinh khởi những điều thiện trong một đời họ đã
làm việc gì cho mọi người và cho chính mình. Việc gì đúng,
việc gì sai sẽ đều hiển hiện rõ ràng. Nếu người nào
khi sống làm những việc không tốt, lúc hấp hối lại phát
khởi tâm sám hối một cách tha thiết, rồi chỉ cần nghe
một danh hiệu Phật, một danh hiệu Bồ tát hoặc một danh
hiệu của một vị Bích chi Phật thì tất cả tội lỗi dù
có vô lượng cũng đều tiêu diệt. Căn lành vô lượng sinh
khởi ngay lúc đó. Cho nên lâm chung là lúc rất quan trọng,
vì nó quyết định cuộc sống đời sau hạnh phúc hay đau
khổ. Nhưng phát ra tâm lành để sanh về cảnh giới tốt chẳng
phải là chuyện dễ dàng khi thiếu những nhân duyên tốt.
Vì
sao bình thường chúng ta cần phải niệm Phật? Chính là chuẩn
bị đến lúc lâm chung không bị quên câu Phật hiệu, vì khi
bình thường chúng ta niệm, thì khi lâm chung không bao giờ
quên Phật. Nếu bạn muốn khi lâm chung mới niệm, để phát
sinh tâm lành, khi ấy thật chẳng dễ chút nào. Nếu phát sinh
được thì thật vô cùng hiệu nghiệm, chỉ cần nhất tâm
sám hối thì ngay lúc đó tất cả tội nghiệp đều tiêu trừ.
Hết
Vi
tính / Người gửi bài: Thích Tịnh Thành
12-03-2007
11:23:46