Ấn
Quang Đại Sư
Đại sư
là vị tổ thứ mười ba trong Liên Tông, họ Triệu, người
ở Cấp Dương, suốt thông tông giáo, chuyên tu tịnh nghiệp,
từng trải ở các non Chung Nam, Hồng Loa, Phổ Đà. Năm dân
quốc thứ 19, ngài đến đất Ngô, sáng lập Linh Nham tịnh
tông đạo tràng, khuyên người lấy luân thường nhân qủa
làm cơ sở, niệm Phật sanh Tây làm chỗ qui tức. Đại sư
ấn tặng sách Phật năm trăm muôn bộ, tượng Phật hơn trăm
muôn bức. Mùa đông năm Dân quốc thứ 29, ngài niệm Phật
tạo hóa ở Linh Nham đạo tràng. Khi trà tỳ 32 cái răng còn
nguyên, được xá lợi ngũ sắc vài ngàn hột. Đại sư hưởng
tuổi đời 80, tăng lạp 60, trứ thuật trăm muôn lời, đệ
tử hơn hai mươi muôn, phần nhiều là bậc hiền triết và
người có danh vọng trong quốc đảng.
Đại sư
nói: “Pháp môn Tịnh Độ do Phật Thích Ca, Di Đà kiến lập,
Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mã Minh, Long Thọ
hoằng dương, và các Tổ: Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương,
Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích xướng đạo để khuyên khắp
thánh, phàm, ngu, trí, đồng tu hành vậy.
Đã tu tịnh
nghiệp, phải giữ luân thường, làm hết bổn phận, dứt
niệm tà, gìn lòng thành kính, trừ bỏ các điều ác, vâng
làm những việc lành, đừng giết hại, gắng ăn chay, thương
tiếc hộ trì mạng sống loài vật, tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tây Phương. Bên trong phải vì ông bà, cha mẹ, anh
em, chị em, bên ngoài vì thân thích, bạn bè, xóm giềng, làng
nước, đem pháp môn Tịnh Độ này mà phụng khuyến, chẳng
luận người có tin làm cùng không, chỉ hết sức mình khiến
cho mọi người đều biết pháp mầu nhiệm này mà thôi.
Người niệm
Phật, nếu tấm lòng chân thiết, tự có thể nhờ từ lực
của Phật, khiến cho khỏi tai nạn đao binh nước lửa. Dù
có bị túc nghiệp sâu dày, hoặc trường hợp chuyển qủa
nặng địa ngục thành ra qủa báo nhẹ đời nay mà ngẫu nhiên
bị tai nạn ấy, nếu lúc bình nhật có lòng tín nguyện chân
thiết, quyết định lúc bấy giờ sẽ được nhờ Phật tiếp
dẫn.
Đã tin sâu,
nguyện thiết, phải tu chánh hạnh niệm Phật. Sự tu trì đây
đều tùy theo thân phận của mình mà lập, không nên chấp
định theo một pháp thức nào. Như người không việc chi hệ
lụy, nên từ mai đến chiều, chiều lại mai, lúc đi, đứng,
nằm, ngồi, nói ,nín, động, tịnh, khi ăn cơm mặc áo cùng
đại tiểu tiện, tất cả thời, tất cả chỗ đều giữ
một câu hồng danh không rời nơi tâm miệng. Nếu khi thân
mình sạch sẽ, y phục chỉnh tề, chỗ nơi thanh khiết, thì
niệm thầm hay ra tiếng đều được. Như lúc ngủ nghỉ, lõa
lồ, tắm gội, đại tiểu tiện, hoặc ở chỗ không sạch
chỉ được niệm thầm, không nên ra tiếng, niệm thầm công
đức vẫn đồng, nếu ra tiếng thì có lỗi không cung kính.
Chớ cho rằng những lúc ấy không nên niệm, chỉ e niệm không
được mà thôi. Lại khi nằm nếu niệm ra tiếng, chẳng những
không cung kính, mà còn bị tổn hơi, phải biết điều này.
Muốn cho
tâm không luyến việc ngoài, chuyên niệm Phật được quy nhất,
cũng không có phương pháp chi kỳ lạ, chỉ đừng quên cái
chết rình rập bên mình, không biết xảy ra lúc nào.
Phải nghĩ
rằng: ta từ trước đến nay tạo ra vô lượng vô biên nghiệp
ác, như trong kinh nói: “giả sử nghiệp ác kia có hình tướng
thì khắp mười phương hư không cũng chẳng dung chứa hết”,
duyên đâu may mắn, nay được thân người lại nghe Phật pháp,
nếu không một lòng chuyên niệm Phật cầu sanh Tây Phương,
khi cái chết đến thình lình, chắc chắn phải bị đọa vào
ác đạo. Chừng ấy nếu vào địa ngục thì bị non đao, rừng
kiếm, lò lửa, vạc dầu, một ngày đêm sống chết đến
vạn lần, sự khổ cùng cực không thể diễn tả. Nếu đọa
vào ngạ qủy thì thân hình xấu xa, hôi hám, bụng lớn như
cái trống, cổ họng nhỏ như cây kim, thấy cơm nước thì
những vật ấy đều hóa thành than lửa, chịu đói khát lăn
lộn khóc la trong vô lượng kiếp. Nếu đọa vào súc sanh,
thì hoặc bị chở kéo nặng nề, hoặc bị người giết ăn
thịt, hoạc bị nạn loài mạnh ăn nuốt loài yếu, kinh khủng
chẳng lúc nào yên. Chịu khổ như thế có khi vô lượng chư
Phật ra đời mà vẫn còn xoay vần trong ác đạo, không được
thoát ly. Nghĩ đến thân người mong manh, cái chết bất kỳ,
nghĩ mình đời trước này đã tạo ra vô lượng nghiệp ác,
nghĩ đến sự khổ tam đồ mà tỉnh ngộ sợ hãi, tất không
còn tham luyến cảnh huyễn bên ngoài, niệm Phật được chuyên
nhất.
Khi niệm
Phật, cần phải chí thành, hoặc có lúc trong tâm khởi ra
bi cảm, đó là tướng căn lành phát hiện. Nhưng phải đề
phòng đừng nên thường thường như thế, chẳng vậy thì
bị loài ma bi thương nhập vào. Phàm gặp việc chi vừa ý
cũng đừng qúa vui mừng, vui mừng qúa tất bị loài ma hoan
hỉ ám nhập.
Khi niệm
Phật, mi mắt nên sụp xuống, đừng nên qúa dùng tinh thần,
nếu dùng tinh thần qúa, hỏa khí sẽ bốc lên, làm cho nhức
đầu choáng váng, hoặc mang các chứng bịnh: lên máu, đầu
tê rần ngứa nhức, máu bầm tụ trên đỉnh đầu. Vậy phải
điều đình cho vừa chừng. Nếu thấy đầu óc nặng nề nóng
bừng, phải trấn định tinh thần, lắng tai nghe mà niệm,
hoặc chú tưởng nơi lòng bàn chân thì hỏa khí sẽ hạ xuống.
Bịnh cùng
ma phá, đều do túc nghiệp gây ra. Ngươi nên chí thành khẩn
thiết niệm Phật, thì bịnh tự an lành, ma tự xa lánh. Nếu
lòng không thành khẩn mà còn khởi ra niệm tà dâm bất chánh,
thì tâm ngươi toàn thể đã sa vào nơi tối tăm, làm sao khỏi
chiêu cảm loài ma đến khuấy rối. Từ nay sau mỗi thời khóa,
người nên hồi hướng cầu nguyện cho oan gia đời trước,
khiến bọn kia nhờ công đức niệm Phật của người mà được
thoát khổ, sanh về cõi lành.
Người niệm
Phật nếu dụng công siêng năng tinh tấn, thì niệm sẽ thuần
thục qui nhất, được cảm thông với Phật, tự có thể thấy
cảnh lành, dù không thấy cũng không ngại. Nếu bỏ sự chuyên
dụng công mà vội gấp muôn được nhất tâm, được tương
ưng, được thấy cảnh lành, thì vọng tưởng rối ren, tâm
niệm cầu mong cố kết nơi lòng, đây là chứng bịnh lớn
lao nguy hiểm của người tu hành. Nhế thế lâu ngày, những
oan gia đời trước nương theo vọng tưởng của hành nhơn,
hóa làm thân Phật, hoa sen, hoặc có cảnh tốt lạ, để mong
báo oán. Lúc ấy tự mình đã không có chánh kiến, toàn thể
là khí phần của ma, một khi thấy cảnh ấy tất sanh lòng
hoan hỷ, ma nương theo đấy mà vào tâm phủ làm cho hành nhân
điên cuồng, dù có Phật sống cũng không cứu được.
Người niệm
Phật không phải chỉ tu theo sự tướng bên ngoài, mà cần
phải để ý trừ phiền não cùng tập nghiệp lầm lỗi xấu
xa. Nếu phiền não bớt một phần thì công phu niệm Phật
tăng một phần, trái lại, để phiền não tăng, tất công
hạnh phải lui kém. Cho nên có người càng tu hành lại càng
đổ nghiệp là bởi lý do trên đây như thế lâu ngày nghiệp
sẽ tiêu. Từ rày về sau, nơi tâm niệm hành vi, ngươi phải
giữ cho hiền hòa thuần hậu, mới được phước lành. Nếu
chẳng thế, lại gia thêm tánh gian, xảo, khắc, hiểm, thì
cũng như chót núi đá trơ vơ, mưa bao nhiêu cũng không đọng
lại chút nào, dù loại cây cỏ chi cũng không sanh trưởng
nổi.
Giữ một
câu A Di Đà Phật nhặt niệm nối nhau thường nhớ thường
niệm. Khi những tâm tham lam, bỏn sẻn, hờn giận, dâm dục,
háo thắng, kiêu mạn, thoạt nổi lên, phải nghĩ: “Ta là
người niệm Phật, cầu giải thoát không nên có tâm niệm
như vậy, nghĩ rồi liền trừ diệt đi. Như thế, lâu lâu
những niệm lao thần tổn thân đều không có đâu mà khởi,
sẽ được công đức không nghĩ bàn của Phật gia trì nơi
thân tâm mình, dám đảm bảo trong mười ngày thấy đại hiệu.
Nếu tu hành lôi thôi gián đoạn liền muốn được hiệu,
đó là khi mình khi người, tuy cũng có công đức, nhưng muốn
do đó mà lành bịnh, thì quyết không thể được.
Làm việc
chi cũng phải lấy lòng thành làm gốc, tu hành nếu không dùng
tâm chí thành, làm sao được sự lợi ích lành bịnh dứt
khổ?
Nếu tu tịnh
nghiệp, nếu có mảy may công đức lành, đều đem hồi hướng
vãng sanh. Như thế thì tất cả hành môn đều là trợ hạnh
của Tịnh Độ. Lại phải phát lòng bồ đề, thề độ muôn
loài, đem công đức mình tu hồi hướng cho bốn ân ba cõi
cùng chúng sanh trong pháp giới. Làm như thế, như đèn thêm
dầu, như mạ được mưa, đã kết pháp duyên sâu cùng tất
cả chúng sanh, lại mau thành tựu thắng hạnh đại thừa của
mình. Nếu chẳng hiểu nghĩa này, tất thành ra chỗ thấy cạn
hẹp tư lợi của hàng phàm phu và nhị thừa, tu hạnh màu,
cảm qủa rất thấp kém.
Có một bí
quyết, khẩn thiết bảo nhau: “hết lòng thành kính,” nhiệm
mầu nhiệu mầu!
Phụ: Khi
làm việc lành chi, dù nhỏ nhặt, cũng nên chấp tay đối trước
Phật, hoặc hướng về Tây, đọc bài kệ hồi hướng vắn
tắt này.
Nguyện đem
công đức này
Cầu bốn
ân, ba cõi,
Con cùng
với chung sanh
Đồng sanh
về Cực Lạc.
Hoằng
Nhất Đại Sư
(Đại sư
họ Lý, húy Diễn Âm, tự Thúc Đồng, từng sang Nhật học
về chuyên khoa mỹ thuật và làm giáo sư nhiều học hiệu
trong nước Trung Hoa. Năm dân quốc thứ 7, ngài xuất gia nơi
chùa Đại Từ tại Hàng Châu, sau thọ đại giới ở chùa
Linh †n, Đại sư cảm thấy luật học suy vi, mới phát tâm
chấn chỉnh. Nhân đó, ngài vân du qua vùng Mân, Triết, chuyên
về giảng thuật, có trứ tác bộ “Nam sơn luật uyển
tòng thơ” lưu hành ở đời. Ngài chuyên tu tịnh nghiệp,
rất mến phục „n công ở Linh Nham, hằng lấy việc “sống
hoằng truyền giới luật, chết vãng sanh Tây Phương” làm
chí nguyện. Mùa thu năm Dân quốc thứ 31, đại sư ở Ôn Lăng,
dự biết lâm chung, niệm Phật mà tịch, hưởng 64 tuổi đời,
24 tăng lạp. Sau khi thiêu hóa, được xá lợi hơn 1800 hột).
Đại
sư dạy: Cổ thi nói: “Ta thấy người khác chết. Trong lòng
nóng xót xa.
Chẳng phải
xót kẻ mất. Vì sẽ đến phiên ta”. Vậy việc lớn rốt
sau của đời người, đâu tạm quên trong giây phút ư!
Khi bịnh
nặng, phải buông bỏ tất cả việc nhà cho đến thân tâm
của mình, chuyên nhất niệm Phật, một lòng mong cầu vãng
sanh Tây phương. Làm như thế, nếu thọ mạng đã hết, quyết
định được vãng sanh. Như thọ mạng chưa dứt, tuy cầu vãng
sanh mà trở lại mau lành bịnh, do vì lòng mình chuyên thành,
nên có thể diệt trừ nghiệp ác đời trước. Trái lại,
nếu chẳng buông bỏ muôn duyên, chuyên nhất niệm Phật, như
thọ mạng đã hết, quyết định không thể không vãng sanh,
vì mình chỉ chuyên cầu lành bịnh chớ không cầu vãng sanh,
nên không do đâu được về Cực Lạc. Nếu như thọ mạng
đã dứt, chẳng những không được mau thuyên giảm, mà bịnh
lại tăng thêm, vì mình nhân cầu lành bịnh vọng sanh lòng
lo lắng sợ hãi vậy
Khi bịnh
chưa nặng, cũng nên uống thuốc, nhưng vẫn phải tinh tấn
niệm Phật, chớ tưởng nghĩ rằng: uống thuốc rồi bịnh
sẽ lành. Lúc bịnh đã nặng, có thể không cần dùng thuốc.
Khi ta bịnh nằm ở Thạch thất, có kẻ khuyên nên rước thầy
hốt thuốc, liền từ tạ mà nói kệ rằng:
“A Di Đà
Phật. Vô thượng y vương. Bỏ đây không cầu. „y là si cuồng!
Một câu niệm Phật. Là thuốc Dà đà. Bỏ đây không uống.
Lầm to lắm mà!”.
Nhân vì
bình nhật ta đã tin pháp môn niệm Phật, thường giảng nói
cặn kẽ cho mọi người nghe. Nay chính mình bị bịnh lại
bỏ đây cầu thuốc sao?
Nếu
mình bịnh trở nặng, đau khổ qúa lắm, rất không nên kinh
hoàng, vì cơn bịnh khổ này do bởi túc nghiệp, hoặc nhân
ta tu hành nên chuyển nghiệp báo của ác đạo thành ra qủa
nhẹ bịnh khổ, để trả xong tất rồi mới sanh về Tây phương.
Khi bịnh
nặng, những y phục vật dụng của mình, nên đem thí cho kẻ
khác, hoặc y theo phẩm “Như lai Tán Thán” trong kinh Địa
Tạng, đem vật liệu ấy cúng dường kinh tượng lại càng
hay.
Lúc bịnh
nhân đau nhiều, như thần thức còn thanh tỉnh, người nhà
nên thỉnh bậc thiện tri thức đến thuyết pháp. Vì thiện
tri thức phải hết sức an ủi, đem việc lành, công tu của
bịnh nhân kể rõ ra và khen ngợi, khiến cho người bịnh sanh
lòng vui mừng không còn nghi ngại, tự biết khi mình chết
sẽ nương nơi nghiệp lành ấy sanh về Tây Phương.
Khi bịnh
nhân sắp chết, người thân cận không được hỏi han về
di chúc, cũng được nói chuyện tạp vô ích, khiến cho người
bịnh động tâm niệm tình ái, quyến luyến thế gian, có ngại
cho sự vãng sanh. Nếu muốn để di chúc, thì trong lúc còn
mạnh khỏe làm di ngôn trước giao cho người cất giữ.
Lúc bịnh
nhân gần qua đời, tự họ muốn tắm gội thay y phục, thì
có thể thuận theo, nhưng nhẹ nhàng cẩn thận mà làm. Như
họ không chịu, hoặc á khẩu không nói được, thì không
nên miễn cưỡng mà làm. Bởi người sắp chết thường thường
thân thể đau nhức, nếu ép khuyên dời động, tắm rửa,
thay y phục, thì bịnh nhân càng đau đớn thêm nhiều. — đời
có người tu hành phát nguyện cầu về Cực Lạc, nhưng khi
lâm chung vì bị quyến thuộc di động nhiễu loạn, phá hoại
chánh niệm, nên không được vãng sanh, việc này xả ra rất
nhiều. Lại có kẻ mạng chung có thể được sanh về
cõi lành, nhưng bị người khác không biết, xúc chạm làm
cho đau đớn, nên sanh lòng giận tức, do đó phải bị đọa
vào đường ác. Như Vua A Xà Thế, tu nhiều phước lành, khi
lâm chung nhân bị người hầu cận ngủ gục làm rớt cây
quạt trên mặt nên giận, chết đọa làm rắn mãng xa. Gương
này há không nên răn sợ ư!
Khi lâm
chung, hoặc ngồi hoặc nằm, đều tùy tiện chớ nên gắng
gượng. Nếu cảm thấy khí lực suy nhược chỉ có thể nằm,
mà muốn xem cho ra vẻ, gắng gượng ngồi dậy là điều nguy
hại không nên. Hoặc theo lẽ phải nằm nghiêng bên mặt, hướng
về Tây, nhưng vì thân thể đau nhức phải nằm ngửa, hay
nằm nghiêng bên trái, hướng về Đông, cũng cứ để tự
nhiên không nên gắng gượng. Đây là chính bịnh nhân phải
hiểu như thế mà tự xử sự. Còn người thân thuộc
cũng phải hiễu lẽ này, chẳng nên cầu danh bắt người bịnh
nằm nghiêng bên mặt hướng về Tây, hay đỡ dậy mặc áo
tràng sửa ngồi kiết dà. Đâu biết rằng chỉ vì cầu chút
hư danh mà khiến cho người chết phải đọa tam đồ, chịu
vô lượng sự khổ.
Khi đại
chúng trợ niệm, nên thỉnh tượng Di Đà tiếp dẫn để trước
bịnh nhân, khiến cho họ trông thấy.
Người
trợ niệm, không luận nhiều ít, nếu được nhiều, nên luân
phiên mà niệm, khiến cho tiếng Phật không gián đoạn. Muốn
niệm bốn chữ hay sáu chữ, hoặc niệm mau niệm chậm, phải
hỏi trước bịnh nhân. Lại phải tùy chỗ tập quán ưa thích
thuở bình nhật của bịnh nhân mà niệm, khiến cho họ có
thể niệm thầm theo. Thường thấy kẻ trợ niệm không vì
người sắp chết, chỉ niệm theo ý mình. Như thế đã
trái chỗ tập quán ưa thích của bịnh nhân, họ làm sao niệm
thầm theo được?. Nguyện những người trợ niệm
đặc biệt lưu ý đến điều này!. Nếu mình phá chánh niệm
của kẻ khác tức là có tội, đến phiên mình lâm chung cũng
bị qủa báo gặp kẻ khác phá hoại mà không được vãng
sanh!
Thông
thường, người trợ niệm hay đánh khánh hoặc đánh mõ nhỏ.
Theo kinh nghiệm, kẻ mang bịnh, thần kinh suy nhược, rất sợ
nghe tiếng khánh và mõ nhỏ, vì âm thanh của những thứ này
chát chúa đinh tai, kích thích thần kinh khiến cho họ tâm thần
không an. Theo thiển ý, chỉ nên niệm suông là thỏa đáng
hơn hết. Hoặc nếu có, thì chỉ đánh thứ chuông, khánh
hay mõ lớn, mấy món này âm thanh hùng tráng, khiến cho người
bịnh sanh niệm nghiêm kính, thiệt hơn đánh khánh và mõ nhỏ
nhiều. Thứ mõ âm thanh đục cũng không nên đánh, vì làm
cho bịnh nhân tâm thần hôn trược. Nhưng sở thích của mỗi
người không đồng, tốt hơn là nên hỏi trước bịnh nhân.
Nếu có chỗ nào không hợp, phải tùy cơ cải biến, chớ
nên cố chấp.
Người
mới tắt hơi, điều thiết yếu là không nên vội di động,
hoặc kẻ chết thân mình dính chất dơ cũng không nên gấp
lau rửa, phải đợi qua tám tiếng đồng hồ, mới được
tắm rửa thay y phục. Trước và sau khi chết, người nhà không
được khóc lóc, khóc là vô ích mà lại có hại vì làm cho
kẻ mạng chung, sanh niệm quyến luyến, không được giải
thoát, chỉ nên gắng sức niệm Phật là thật ích cho vong
nhân. Nếu muốn khóc lóc phải đợi tám giờ sau. Tại sao
thế? Vì bịnh nhân tuy tắt hơi, nhưng thức A Lại Da còn chưa
đi. Nếu khi ấy lay động, tắm rửa, thay y phục, hoặc kêu
khóc họ vẫn còn cảm giác đau đớn, hoặc sanh buồn giận,
thương bi mà phải xa đọa. Điều này rất quan hệ, rất cần
yếu, nên để ý ghi nhớ kỹ.
Cái thuyết
thăm dò hơi nóng để nghiệm xem sanh về đâu tuy có chứng
cớ, nhưng cũng không nên cố chấp. Nếu bịnh nhân bình thời
tín nguyện chân thiết, khi lâm chung chánh niệm rõ ràng, có
thể chứng nghiệm là vãng sanh. Nhiều kẻ không kỹ, cứ mãi
thăm dò, rời chỗ này chỗ kia làm động niệm kẻ mạng chung,
cũng có hại lớn lắm. Sau khi bịnh nhân tắt hơi, trợ niệm
xong, phải đóng cửa phòng lại canh chừng cho kỹ, kẻo loài
mèo, hoặc kẻ không am hiểu đổ xô vào xúc chạm, đợi qua
tám giờ sau sẽ tắm rửa thay y phục. Trong vòng tám giờ,
nếu có người ở gần bên niệm Phật luôn là điều rất
tốt, ngoài ra cấm tuyệt không nên làm điều chi khác. Xin
nhắc lại, trong khoảng thời gian này, người chết vẫn còn
cảm giác!
Sau tám
giờ, nếu tay chân người chết đã cứng không thể chuyển
động, nên dùng vải thấm nước nóng đắp bao xung quanh các
khớp xương, giây lâu có thể co duỗi tay chân như thường.
Khi làm
những Phật sự truy tiễn cho vong nhân, nên hồi hướng công
đức ấy đến chúng sanh trong pháp giới. Như thế công đức
sẽ càng thêm lớn mà sự lợi ích của vong nhân đó cũng
được tăng thêm nhiều.
Buổi
lâm chung là lúc rất quan yếu trong một đời người, nếu
trước dự bị tư lương vãng sanh cho đầy đủ, đến chừng
ấy khó khỏi kinh hoàng bối rối, rồi kêu mẹ réo cha, nghiệp
ác trong nhiều kiếp đồng thời hiện ra, làm sao giải thoát?
Cho nên khi lâm chung tuy nhờ người y theo phương pháp mà trợ
niệm, nhưng chính mình lúc bình nhật phải cố gắng tu trì,
chừng ấy mới được tự tại.
Hỡi người
tu tịnh nghiệp! Xin sớm dự bị là hơn.!
Việt dịch:
HT Thích Thiền Tâm.