Triệt
Ngộ Đại Sư
(Đại sư
là vị Tổ thứ 12 trong Liên Tông, họ Mã, Húy Tế Tỉnh, người
đất Phong Nhuận, 22 tuổi xuất gia, thông suốt cả thiền,
giáo. Ban sơ, ngài chủ trì chùa Vạn Thọ ở Bắc Kinh, danh
đồn khắp Nam, Bắc, hằng đề xướng pháp môn Tịnh Độ
khuyên chúng tinh tu. Kế đó đại sư lại trụ trì chùa Giác
Sanh, tiếng tăm cũng lừng lẫy như trước. Sau, ngài về ở
non Hồng Loa, đại chúng qui hướng càng đông, bèn thành ra
đạo tràng Tịnh Độ. Đời nhà Thanh, niên hiệu Gia Khánh
thứ 15, vào mùa xuân, đại sư nói trước ngày về tây và
bảo: “Thân huyễn không bền, đừng để một đời luống
qua, mọi người nên cố gắng niệm Phật”. Qủa nhiên,
tới ngày kỳ hẹn, đại sư thấy Phật đến tiếp dẫn, liền
chánh niệm mà tọa hóa. Lúc ấy đại chúng nghe mùi hương
thơm lạ ngào ngạt, khi trà tỳ được xá lợi hơn trăm hột).
Đại
sư nói: “Thật vì sanh tử, phát lòng bồ đề, dùng tín nguyện
sâu, trì danh hiệu Phật”, mười sáu chữ này là cương tông
của môn niệm Phật. Nếu không phát lòng chơn thiết vì việc
sanh tử, thì tất cả lời khai thị đều là phù phiếm. Bởi
tất cả sự khổ trong đời này không chi hơn việc sanh tử,
chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, sống chết, chết sống,
ra khỏi bào thai này kế vào bào thai kia, bỏ lớp da này lại
mang lớp da khác, khổ não đã không kham, huống chi tự mình
chưa thoát luân hồi, làm sao tránh khỏi đọa lạc? Ôi! Khi
một niệm sai lầm, liền sa vào ác đạo, tam đồ dễ tới
mà khó lui, địa ngục này dài mà khổ nặng! Cho nên đại
chúng vãn đau đớn nghĩ vấn đề sanh tử, như chịu tang cha
mẹ, như cứu lửa đốt đầu, gắng chuyên tinh tu tập. Nhưng
ta đã khổ vì sự sống chết mà cầu thoát ly, nên liên tưởng
đến tất cả muôn loài cũng như vậy. Chúng sanh cùng ta đồng
một bản thể, là cha mẹ của ta trong nhiều kiếp, là chư
Phật đời vị lại, nếu chẳng phát tâm cứu độ, chỉ cầu
giải thoát riêng mình, thì đối với tình có chỗ chưa an,
với lý có điều sơ sót. Huống chi chẳng phát đại tâm thì
ngoài không thể cảm thông với Phật, trong không thể khế
hợp với tánh chơn, trên không thể tròn qủa bồ đề, dưới
không thể độ khắp muôn loài. Như thế, làm sao báo bổ người
ân nhiều kiếp, làm sao giải thích oan gia nhiều đời, làm
sao thành tựu căn lành đã gieo trồng tư xưa, làm sao sám trừ
tội nghiệp đã tạo ra về trước? Và như thế thì tu hành
chỗ nào cũng gặp chướng duyên, dù có thành tựu cũng là
qủa thấp, cho nên phải xưng tánh phát lòng bồ đề vậy.
Những đã
phát đại tâm, phải tu đạt hạnh, mà trong tất cả hành
môn, tìm phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên
ổn, rất viên đốn, thì không chi hơn dùng tín nguyện sâu,
trì danh hiệu Phật. Nói chấp trì danh hiệu, tức là giữ
chắc hiệu Phật nơi lòng không tạm quên. Nếu có một niệm
gián đoạn hoặc một niệm xen tạp, thì không gọi là chấp
trì. Giữ được một niệm nối nhau không xen không tạp, đó
là chơn tinh tấn, tinh tấn mãi không thôi, sẽ lần vào cảnh
nhất tâm bất loạn và viên thành tịnh nghiệp. Nhất tâm
bất loạn là chỗ qui túc của tịnh nghiệp, là đại môn
của Tịnh Đô, chưa vào môn này, tất chưa yên ổn, học giả
há chẳng nên cố gắng ư?
Tâm đã
hay tạo nghiệp thì cũng có thể chuyển nghiệp, và nghiệp
đã do tâm tạo, tất cũng tùy theo tâm mà chuyển. Nếu tâm
mình không chuyển được nghiệp, tức bị nghiệp trói buộc,
nghiệp không chuyển theo tâm thì có thể buộc tâm. Nhưng dùng
tâm thế nào mới chuyển được nghiệp? „y là giữ tâm hợp
với đạo đức, hợp với Phật. Và nghiệp làm sao buộc được
tâm? „y là để tâm y theo đường lối cũ, buông lung theo
cảnh trần.
Tất
cả cảnh giới hiện nay, tất cả qủa báo về sau, đều do
nghiệp cảm, do tâm hiện. Vì do nghiệp cảm nên qủa báo sẽ
đến đều do nhất định, bởi nghiệp buộc tâm. Vì do tâm
hiện, nên qủa báo sẽ đến đều không nhất định bởi
tâm chuyển được nghiệp. Như có người đương lúc nghiệp
buộc được tâm, qủa báo sẽ đến theo chiều nhất định,
mà bỗng phát tâm rộng, tu hạnh chân thật, thì tâm chuyển
được nghiệp, cảnh sẽ đến tuy định mà thành bất định.
Nếu người ấy nửa chừng bỗng thối lui đại tâm, thật
hạnh kém sút, thì nghiệp trở lại buộc tâm, cảnh sẽ đến
bất định mà định.
Nhưng nghiệp
tạo ra từ trước, đành đã lỡ rồi, chỉ trông mong có phát
đại
tâm để biến chuyển, mà nắm giữ cơ quan ấy chính là ta
chớ không ai khác. Nếu hôm nay ta phát tâm niệm Phật cầu
sanh Cực Lạc để mau chứng qủa, độ chúng sanh, giữ niệm
hiệu Phật nối nhau không dứt, lâu ngày tâm sẽ hiệp với
đạo, thì chuyển được qủa bảo Ta Bà thành Cực Lạc, đổi
nhục thai thành liên thai, không bao lâu, chính mình sẽ là một
bậc thượng thiện, tướng tốt trang nghiêm, an vui tự tại
nơi cõi liên hoa thất bảo. Như ta tu hành nửa chừng bỗng
lần lần biếng trễ thối lui, tất bị nghiệp lực mạnh
mẽ từ kiếp trước sai sử, rồi vẫn y nhiên là một kẻ
chịu chịu vô lượng sự thống khổ về thân tâm, ngạ qủy
súc sanh vậy. Những ai có chí thoát ly, cầu về Tịnh Độ
há không nên sợ hãi tỉnh ngộ, phát tâm phấn chấn tu hành
ư?
Có tám
điều cốt yếu, người tu tịnh nghiệp nên ghi nhớ:
Vì sự sanh
tử, phát lòng bồ đề, đây là đường lối chung của người
học đạo. Dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật,
đây là chánh tông của môn Tịnh Độ.
Lấy sự
nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện dụng công.
Lấy sự
chiết phục phiền não hiện hạnh làm việc yếu tu tâm.
Lấy sự
giữ chắc bốn trọng giới làm căn bản vào đạo.
Dùng các
thứ khổ hạnh làm trợ duyên tu hành.
Lấy nhất
tâm bất loạn làm chỗ qui tức của môn Tịnh Độ.
Lấy các
điềm lành làm chứng nghiệm cho sự vãng sanh.
Ngộ
Khai Đại Sư
Đại sư
họ Trương, tự Hoát Nhiên, người ở Tô Châu, xuất gia tu
hành nơi chùa Tường Phong. Sau khi ngộ được tam tông, ngài
mở pháp hóa nơi chùa Hiển Thân, thuộc miền Kinh Nam. Kế
đó, đại sự lui về ở ẩn, trải qua các tự viện: Vân
Gian, Luyện Xuyên, rồi sau lại về am Bảo Tạng chuyên tu tịnh
nghiệp. Ngài có trứ tác mấy bộ: Niệm Phật bách vấn, Tịnh
nghiệp tri tấn, Niệm Phật cảnh sách, Tịnh nghiệp sơ học
tu tri đông và Cố đạo tình. Năm Đạo Quang thứ 10 đời
nhà Thanh, ngài cảm bịnh, khuyên nhắc và cho hay qua cuối thu
mình sẽ về Tây. Qủa nhiên, trước tiết lập đông
hai ngày, đại sư hướng về Tây niệm Phật mà hóa.
Đại sư
nói: Mở mắt niệm Phật, tâm dễ tán động, nên nhắm mắt
mà niệm. Trước khi niệm phải ngồi yên giây phút, buông
bỏ tất cả, để lòng rỗng không, rồi từ từ tuyên hiệu
Phật, vừa niệm vừa nghe, vừa nghe vừa niệm, mật niệm
nối nhau, hành trì lâu tâm phát ra, mỗi câu tha thiết nhớ
mong Tịnh Độ. Có phương pháp hệ niệm là khi không niệm
Phật, đem tâm niệm mình buộc để trên thân đức A Di Đà
Phật. Làm như thế, tâm được thanh tịnh, không lay động,
chính là chỗ dụng công đắc lực.
Hỏi: Tạp
niệm từ đâu sanh? Đáp: Tâm ta chỉ có một niệm, niệm Phật
tức là nó mà tạp niệm cũng là nó. Chỉ nhân ta niệm Phật
chưa tinh chuyên, nên niệm trần còn vơ vẩn thế thôi.
Hỏi: Làm
sao trừ được tạp niệm kia?
Đáp: Không
cần phải trừ, chỉ đem tâm niệm hoàn toàn để trên hiệu
Phật, tạp niệm liền mất.
Hỏi: Nhưng
rủi tinh lực yếu kém suy mỏi, không thể khiến cho nó tiêu
mất, mới làm sao?
Đáp: Người
đạo đức chưa thuần, nên tán loạn nhiều, phải cố thâu
nhiếp sáu căn lần lần sẽ được thanh tịnh. Nếu chưa làm
được như thế thì mở mắt nhìn chăm chú tượng Phật mà
niệm, tạp niệm sẽ tiêu.
Hỏi: Cách
ấy cũng hay, nhưng sợ e lần hồi mỏi mệt, tạp niệm lại
nổi lên làm sao?
Đáp: Trong
tâm mờ tối, nên bị ngoại cảnh kéo lôi, niệm Phật không
đắc lực, thậm chí vọng niệm dày đặc không tan. Nhưng
đừng vội vàng nóng nảy, phải lóng định tâm tư, niệm
chậm rãi, hiệu Phật ra từ nơi tâm, phát thành tiếng nơi
miệng, rồi lại vào nơi tai; tâm nghĩ, miệng niệm, tai nghe,
cứ tuần hoàn như thế, tạp niệm sẽ dứt.
Hỏi: Phương
pháp này rất hay, chỉ e người căn tánh qúa tối , không làm
được lại phải thế nào?
Đáp: Nên
đem sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật mà niệm. Khi niệm nghi nhớ
rành rẽ tiếng thứ nhất là Nam, tiếng thứ nhì là Mô, như
thế cứ đủ sáu chữ, liên hoàn không dứt, thì vọng niệm
không còn chỗ xuất sanh.
Diệu
Không Đại Sư
Đại sư
họ Trịnh, người ở Giang Đô, lúc thiếu thời ngài học
Nho, thường đồng với Quán Như Pháp Sư, Dương Như Sơn, Hứa
Vân Hư, thương nghị khắc đại tạng kinh. Kế đó Ngài xuất
gia, tự hiệu là Khắc Kinh Tăng. Trong 15 năm, đại sư đã
khắc hơn ba ngàn quyển. Sau khi ngài tịch ba năm, bộ kinh Đại
Bát Nhã mới hoàn thành. Đại sư giữ giới tinh nghiêm, qúa
giờ ngọ không ăn, thuở sanh bình trứ thuật rất nhiều,
sau hợp lại thành pho: Lâu các tòng thơ. Trong ấy phần nhiều
là những sách xiển dương tông Tịnh Độ. Ngài cảm hóa rất
đông, đa số là kẻ trọng vọng như ông Tưởng Nguyện Lượng
v.v...Nhà Thanh năm Quang Chữ thứ 6, đại sư niệm Phật mà
tịch, hưởng 55 tuổi.
Đại sư
nói: “Phép quán không dễ thành tựu, giới luật cũng chưa
dễ giữ tròn, tu phước chẳng phải hôm sớm có thể thành
công, sự diệu ngộ chẳng phải kẻ độn căn có thể làm
được. Còn đại nguyện bền chắc lại càng ít có người!
Nếu không do nơi chỗ chân thật trì danh tìm nẻo thoát ly,
tất phải chìm trong biển khổ, hằng chịu luân hồi, ngàn
Phật dù từ bi cũng khó cứu độ! Huống chi, phép trì danh
nhiếp cả ba căn, không có phương tiện nào hay hơn đây nữa!
Người niệm
Phật, thì không được nói chuyện tạp hoặc nghĩ ngợi bông
lông. Nếu lỡ có phạm, phải suy xét: ta là người niệm Phật,
không nên như thế, rồi niệm Phật vài tiếng để tự cảnh
tỉnh mà đánh tan điều ấy.
Phép “tùy
thuận trì danh” là khi hôn trầm thì đi kinh hành, lúc tán
loạn thì trở lại ngồi, hoặc đứng, hoặc nằm, đều tùy
tiện mà trì niệm, làm sao cho câu niệm Phật đừng xa lìa.
Đây là yếu thuật để hàng phục tâm ma.
Khi gặp
cảnh thuận, nghịch, khổ, vui, thị, phi, đắc, thất, dơ,
sạch, tất cả trường hợp, cần phải giữ một câu niệm
Phật cho chắc. Nếu không như thế, tất bị cảnh duyên, hiệu
Phật liền gián đoạn, há chẳng phải đáng tiếc lắm ư?!
Khi đối
trước tượng Phật, phải xem tượng ấy cũng như Phật thiệt,
mắt nhìn tâm niệm, cung kính chí thành. Lúc không ở trước
tượng cũng nên thành kính như lúc đối trước Phật tượng.
Niệm Phật như thế rất dễ cảm thông, nghiệp ác cũng mau
tiêu diệt.
Tất cả
người khổ trong đời, vì thân tâm không được rỗi rảnh,
nên khó tu hành. Nay ta có phần an nhàn, lại được nghe
pháp môn niệm Phật, vậy phải cố gắng nhiếp tâm, mới
không uổng ngàn vàng tất bóng! Nếu tu hành lôi thôi tất
khó có kết qủa, như thế là phụ rãy bốn ân, luống qua
ngày tháng, một mai vô thường chợt đến, lấy gì mà chống
đối ư?
Người tu
nếu vị qủa khổ, tất đời trước hoặc đời nay đã gây
nhân xấu. Cho nên chịu một phần khổ tức là trả một phần
ác của mình. Vậy không nên oán trách trời người sao bất
công, buồn thời vận sao điên đảo, mà chỉ hổ thẹn mình
không sớm tỉnh ngộ tu hành thôi. Mỗi khi nghĩ đến điều
ấy, vừa kinh sợ cho ác báo, vừa thương cảm cho phận mình,
mỗi câu niệm Phật đều từ nơi gan tủy phát ra, như thế
mới là chơn cảnh niệm Phật.
Trước cảnh
ngang trái khổ đau mà không bi thương thì chẳng phải nhân
tình, song nếu chỉ luống bi thương, há lại là người rõ
thông Phật tánh? Cho nên đã bi thương thì phải tìm phương
thoát khổ, nghĩ chước cứu độ mình và tất cả chúng sanh,
như thế mới không đến nỗi vô ích. Nên biết sở dĩ Phật
được gọi là đấng đại bi vì Ngài có đủ hùng lực, trí
huệ, cứu chúng sanh đau khổ. Ta dùng bi tâm mà niệm Phật,
cầu lòng bi của Phật cứu khổ cho ta, sự trì niệm như thế
khẩn thiết biết dường bao!
Khi niệm
Phật đã thuần thục, thì trong sáu trần chỉ có thinh trần,
năng dụng của sáu căn đều gởi nơi nhĩ căn, không còn biết
thân mình đang vi nhiễu, lưỡi mình đang uốn động, ý có
phân biệt hay không, mũi thở ra hay vào, mắt mình nhắm hay
mở. Khi ấy sự viên thông của đức Quán Âm, Thế Chí chính
là một, căn tức là trần, trần tức là căn, căn trần tức
là thức, mười tám giới dung hợp thành một giới.
Khi làm xong
một việc, vừa nói xong một lời, chưa khởi tâm niệm Phật,
mà một câu hồng danh cuồn cuồn tuôn ra, đó là triệu chứng
tam muội dễ thành tựu vậy.
Tu tịnh
nghiệp, cảnh cô tịch chừng nào hay chừng nấy, tiếng niệm
cao thấp mau chậm tùy nghi, làm sao cho hợp thành một phiến.
Nên biết khi ấy thân tuy đơn chiếc mà tâm chẳng lẻ loi,
vì tâm của chư Phật cùng đức Di Đà chưa từng tạm rời
ta, ta khởi niệm thì Phật biết, mở miệng thì Phật nghe,
lo gì sự cô tịch?
Bịnh là
cái bước đến sự chết, chết là cửa ải đưa đến cảnh
tịnh uế thánh phàm. Trong khi bịnh, phải tưởng là mình
sắp chết, chuyên niệm hiệu Phật, quyết đợi lúc mạng
chung, như thế sẽ có quang minh tiếp dẫn mà toại bổn nguyện
vãng sanh của mình. Nếu trong lúc ấy tạm đình câu niệm
Phật, thì tâm luyến ái, buồn rầu, sợ hãi, tất cả tạp
niệm đều hiện ra, như thế làm sao vượt qua nẻo sanh tử?
Thế nên lúc bịnh nguy phải ghi nhớ bốn chữ A Di Đà Phật
nơi tâm chớ quên, và những kẻ xung quanh cũng phải niệm
bốn chữ ấy để thường thường nhắc nhở người bịnh.
Nên biết trăm kiếp ngàn đời, siêu hay đọa, toàn do ở một
niệm trong khi ấy. Tại sao thế? Vì sáu nẻo luân hồi đều
do một niệm làm chủ. Nếu một niệm chuyên chú nơi Phật,
thì hình tuy hoại mà thần không hoại, liền nương theo đó
mà vãng sanh. Hỡi người tu tịnh nghiệp! Nên nhớ bốn chữ
A Di Đà Phật nơi lòng đừng quên!