Hám
Sơn Đại Sư
Ngài tự
là Đức Thanh, họ Thái người đất Kim Lăng. Xuất gia từ
lúc 19 tuổi, ngài chuyên tâm niệm Phật. Có một đêm, đại
sư năm mơ thấy A Di Đà hiện thân giữa hư không. Từ đó
về sau, ngài thấy tượng Phật dường như phảng phất trước
mặt. Đại sư tham thiền gần mười năm, khi được tỏ
ngộ liền vào ẩn trong núi Lao Sơn. Trước kia, dân chúng
chung quanh vùng ấy chưa nghe chánh pháp, nhưng khi ngài về ở
không bao lâu, trẻ thơ ba tuổi đều biết niệm Phật. Từ
Thánh Thái Hậu nghe danh, xin quy y làm đệ tử và cúng dường
rất hậu. Có kẻ ganh ghét dèm pha chuyện ấy, vua giận biếm
truất đại sư đến miền Lôi Châu. — nơi đây, ngài lại
trùng hưng đạo tràng Tào Khê. Sau vua xuống chiếu ân xá triệu
về, đại sư bèn ở Lôi Sơn chuyên tu tịnh nghiệp. Rồi ngài
lại đến Tào Khê niệm Phật mà hóa, thọ 78 tuổi, nhục
thân hiện nay vẫn còn.
Đại
sư dạy: Điều cần yếu nhất trong sự tu hành là tâm tha
thiết về việc luân hồi sanh tử. Tâm sanh- tử không thiết
tha, làm sao dám gọi là niệm Phật thành một khối? Nếu người
qủa vì sự luân hồi mà tha thiết, thì mỗi niệm như cứu
lửa cháy dầu, chỉ e mất thân người, muôn kiếp khó được.
Lúc ấy quyết giữ chắc câu niệm Phật, quyết đánh lui vọng
tưởng, trong tất cả thời tất cả chỗ, hiệu Phật thường
hiện tiền, không bị vọng tình ngăn che lôi kéo. Dùng công
phu khổ thiết như thế, lâu ngày niệm sẽ thuần thục, tâm
được tương ưng, tuy không hy cầu mà niệm lực tự nhiên
sẽ thành một khối.
Ngày
đêm sáu thời, chỉ đem một câu niệm Phật trấn định nơi
lòng, mỗi niệm không quên, mỗi tâm không muội. Khi ấy gác
bỏ tất cả niệm đời, xem câu niệm Phật dường như tánh
mạng của mình, cắn răng giữ chặt, quyết không buông bỏ.
Cho đến lúc đi đứng ngồi nằm, uống ăn làm việc, câu
niệm Phật đây vẫn thường hiển hiện. Nếu gặp cảnh duyên
phiền não, tâm không yên, chỉ nên chuyên niệm Phật, phiền
não liền tự tan mất. Bởi phiền não là cội gốc luân hồi,
niệm Phật là thuyền vượt qua biển khổ sanh tử, muốn thoát
sanh tử chỉ đem câu niệm Phật phá tan phiền não, đó là
phương pháp đơn giản mà rất hay.
Lập
đạo tràng niệm Phật trong mười hai thời, không luận số
người nhiều ít, chỉ chia ra thành ban, mỗi ban một thời,
luân phiên nhau mà niệm. Như thế ngày đêm sáu thời, khi ban
khác lên thay, thì ban này tuy lui mà song vẫn niệm thầm, hoặc
lắng tai nghe tiếng Phật của bạn đương trì niệm. Giữ
như thế thì tiếng Phật không dứt, vọng niệm không sanh,
như người đi trong chỗ sâu tối, cứ kêu gọi nhau, tất không
bị thất lạc. Và như thế thì động tịnh cũng như một,
mình cùng người không khác. Phật A Di Đà thường hiển hiện,
sự an điềm của đạo tràng không chi mầu nhiệm hơn đây.
Ngẫu
Ích Đại Sư
Đại sư
là vị tổ thứ 9 trong Liên Tông, họ Chung, hiệu Trí Húc,
quê ở Ngô huyện. Người cha trì chú Đại Bi mười năm,
mộng thấy đức Quán Âm bồng con trao cho mà sanh ra ngài. Ban
sơ ngài theo Nho Giáo, làm sách bài bác đạo Phật, đến khi
đọc qua bộ Trúc Song Tuỳ Bút, liền đốt bản thảo sách
mình. Năm 24 tuổi, ngài xuất gia, tập tham thiền, nhân bị
bịnh nặng gần chết, mới chuyển ý tu tịnh nghiệp.
Về sau ở ẩn nơi chùa Linh Phong, trứ thuật rất nhiều. Khi
lâm chung ngài trối dặn thiêu hóa sắc thân, lấy tro xương
hòa với bột làm hoàn thí cho chim cá, đặng kết duyên Tây
Phương, rồi ngồi ngay mà tịch. Ba năm sau, hàng môn nhơn mở
khám ra, thấy sắc diện đại sư như lúc sống, tóc mọc dài
lấp cả tai không nỡ theo lời di chúc, xây nhục tháp thờ
ở Linh Phong.
Đại
sư dạy: Pháp môn niệm Phật không chi kỳ lạ, chỉ tin sâu,
nguyện thiết, gắng sức thật hành mà thôi. Điều cần yếu
là tin cho thấu đáo, giữ cho bền lâu, một lòng chuyên niệm,
mỗi ngày đêm hoặc mười muôn, ba muôn, hay năm muôn câu,
lấy số quyết định không thiếu làm lệ. Hành trì như thế
trọn một đời, thề không thay đổi, nếu không vãng sanh,
thì chư Phật ba đời thành ra nói dối. Khi được vãng
sanh, tất không còn bị thối chuyển, bao nhiêu pháp môn đều
được hiện tiền. Rất kỵ tâm không thường hằng, nay vầy
mai khác, thấy ai nói pháp chi huyền diệu liền xu hướng theo,
thì không môn nào thành tựu. Đâu biết nếu một câu A Di
Đà niệm được thuần thục, thì ba tạng mười hai phần
kinh những giáo lý cực tắc đều ở trong đó; một ngàn bảy
trăm công án, đường lối hướng thượng đều ở trong đó;
ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, ba tu tịnh giới cũng ở
trong đó.
Người
chơn niệm Phật, buông cả thân tâm thế giới là đại bố
thí, không còn khởi tâm tham giận mê là đại trì giới, không
so đo phải quấy hơn thua là đại nhẫn nhục, không gián đoạn
xen tạp là đại tinh tấn, không để vọng tưởng buông lung
là đại thiền định, không bị đường lối khác làm mê
hoặc là đại trí huệ. Thử tự nghiệm xét, nếu đối với
thân tâm thế giới còn chưa buông bỏ, niệm tham giận mê
vẫn còn hiện khởi, việc phải quấy hơn thua còn do nơi lòng,
tâm vọng tưởng buông lung còn chưa trừ diệt, các đường
lối khác còn làm mê hoặc ý chí, như thế không gọi là người
chơn niệm Phật.
Muốn
được cảnh giới “Một lòng không loạn”, cũng chẳng có
phương chước chi lạ, lúc mới dụng công, cần phải lần
chuỗi ghi số, mỗi ngày đêm định khóa là bao nhiêu câu đừng
cho thiếu sót. Giữ đúng như thế, lâu ngày niệm lực sẽ
thuần thục, thành ra cảnh “không niệm tự niệm”, chừng
ấy ghi sổ hay không cũng được. Nếu lúc ban sơ muốn vội
nói lời cao siêu, muốn không trước tướng, muốn học viên
dung tự tại thì niệm lực khó thành. Như thế là tin không
sâu, hành trì không hết sức, dù cho ngươi có giảng được
mười hai phần giáo, tỏ được một ngàn bảy trăm công án,
đều là việc bên bờ sống chết luân hồi, khi lâm chung quyết
định không dùng được.
Niệm
Phật có sự trì và lý trì. Sự trì là tin có Phật A Di Đà
ở phương Tây, mà chưa hiểu lý tâm này làm Phật, chỉ quyết
chí cầu sanh, niệm Phật như con nhớ mẹ, không lúc nào tạm
quên. Lý trì là tin Phật A Di Đà ở Tây Phương là tâm mình
sãnh có đủ, là tâm mình tạo ra, đem hồng danh sẵn đủ,
tạo ra của mình mà làm cảnh buộc tâm, khiến cho không tạm
quên.
Triệu
Lưu Đại Sư
(Đại sư
là vị tổ thứ mười trong Liên Tông, họ tưởng, húy Hành
Sách, người ở Nghi Nhơn. Ngài xuất gia năm 23 tuổi, chuyên
tu tịnh nghiệp, thường trụ nơi chùa Tây Khê ở hàng Châu
mở mang Tịnh Tông, sự hoằng hóa rất thạnh. Đại sư có
soạn ra mấy bộ: Liên Tạng Tập, Tịnh Độ Pháp Ngữ, lưu
hành ở đời. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngài thị tịch, thọ
55 tuổi bấy giờ có người Tông Hoàng và con nhà họ Ngô
chết một lượt, trải qua một ngày bỗng tỉnh dậy, đều
nói y nhau: “Tôi bị minh ty bắt đem trói để dưới điện,
bỗng thấy hào quang sáng rực khắp nơi hương thơm hoa báu
đầy cả hư không. Minh Vương mọp xuống đất đưa một vị
đại sư về Tây Phương, xem kỹ lại là Triệt Công. Tôi nhờ
hào quang chiếu, liền được tha trở về.)
Đại
sư nói: Phép trì danh qúi ở một lòng không loạn, không xen
tạp, chẳng phải niệm mau niệm nhiều là hơn. Chỉ nên trì
niệm nhặt niệm nối nhau, không mau không chậm, khiến cho
hiệu Phật rành rẽ rõ ràng nơi tâm. Khi ăn cơm mặc áo, đi
đứng nằm ngồi, giữ một câu hồng danh nối liền chẳng
dứt cũng như hơi thở, không tán loạn cũng không hôn trầm.
Trì danh như thế có thể gọi là một lòng tinh tấn trên phận
sự vậy.
Người
tu tịnh nghiệp đời nay, trọn ngày niệm Phật, sám hối,
phát nguyện, mà cõi Tây Phương vẫn xa, sự vãng sanh không
đảm bảo ra sao? „y cũng bởi bề ngoài tuy lễ niệm, phát
nguyện, mà trong tâm dây tình còn buộc chặt, gốc ái còn
bám sâu đó! Vậy phải xem sự tình ái cõi Ta Bà là vô thường,
giả dối, đồng như nhai sáp, dù ở trong cảnh hưỡn gặp
động tịnh, vui khổ lo mừng, cũng giữ chắc một câu hiệu
Phật như dựa vào núi Tu Di, tất cả cảnh duyên đều không
thể làm lay động. Nếu lúc nào tự cảm thấy mỏi mệt,
biếng trễ, nghiệp hoặc hiện lên, phải một lòng phấn khởi
mà niệm, như thanh trường kiếm chống trời, khiến cho quân
ma phiền não trốn mất không còn, như lửa đỏ ở lò hồng,
đốt tan tình thức từ vô thỉ. Người nào giữ được như
thế, tuy hiện đang ở cõi ngũ trược mà toàn thân đã ngồi
nơi thế giới hoa sen, đợi chi Phật Di Đà đưa tay, đức
Quán Âm dìu dắt, mới tin là mình vãng sanh ư?
Lời phụ:
Trong Tịnh Độ thánh hiền lục, đề ngài Tĩnh Am là tổ thư
mười, nhưng sau Ấn Quang đại sư cùng các nhà tu Tịnh Độ
thấy ngài Triệt Lưu thừa giới cao siêu, sự hoằng hóa rất
thạnh, có công đức lớn với Liên Tông, mới tôn ngài lên
làm tổ thứ mười, đổi ngài Tịnh Am thành Tổ thứ 11. Nhân
tiện xin biện minh ra đây để giải thích mối nghi ngờ.
Liên Du
Đạo
Phái Đại Sư
Ngài hiệu
Vi Lâm, họ Đinh, người xứ An Nhơn, xuất gia năm 14 tuổi,
từng đi giảng diễn khắp nơi. Sau Đại sư đến Cổ Sơn,
nương theo Vĩnh Giác Thiền Sư tham cứu ba năm không ngộ đạo.
Ngài bèn từ giã đi vân du qua vùng Lưỡng Triết rồi trở
về Cổ Sơn tu hành, một hôm nhân vén bức rèm lên mà đại
ngộ. Năm Thuận Trị thứ 14 đời nhà Thanh, đại sư kế thừa
ngài Vĩnh Giác, mở pháp môn độ chúng hơn 20 năm. Trong thiền
lâm tôn tặng ngài là hàng Phật Pháp bậc nhất ở miền đông
nam. Đại sư có soạn ra mấy bộ. Tịnh độ chỉ quyết. Ngài
thường nói:
“Lão tăng
chí ở tông thiền, hạnh ở Tịnh Độ”. Sau ngài ở ẩn,
không biết lúc chung kết ra thế nào.
Đại
sư dạy: Khi niệm Phật, nơi tâm phải thường không rời hai
chữ “tin, nhớ”, nơi miệng không rời hai chữ “xưng, kỉnh”.
Bởi muốn về Tịnh Độ cần phải có lòng tin, ngàn người
tin thì ngàn người sanh, muôn người tin thì muôn người về.
Nếu tâm thường tin nhớ Phật, miệng thường xưng niệm Phật
một cách thiết tha, cung kính, Phật tất cứu độ. „y mới
gọi là tin sâu?
Khi niệm
Phật, cần phải mỗi chữ rõ ràng, mỗi câu nối nhau, bởi
không rõ ràng tức là hôn trầm, không nối nhau tức là tán
loạn. Hành trì như thế, một câu niệm Phật thường rành
rõi nơi tâm, lâu ngày tự nhiên thành tựu pháp Niệm Phật
Tam Muội.
Tĩnh
Am Đại Sư
Đại sư
là vị tổ thứ mười trong Liên Tông, họ Thời, tự Tư Tề,
người xứ Thường Thục, Ngài xuất gia thuở bảy tuổi, thọ
đại giới lúc 24 tuổi, đối với thiền, giáo, tánh, tướng
đều suốt thông. Đại sư từng ở chùa Chân Tịch, duyệt
tạng kinh, niệm Phật: qua ba năm, nguồn biện luận như thác
đổ. Ngài lại đến chùa Dục Vương lễ tháp, cảm xá lợi
phóng quang; nhân đó soạn ra sám Niết Bàn và Văn Khuyết Phát
Bồ đề Tâm, người đọc phần nhiều rơi lệ. Lúc tuổi
già, đại sư về ở chùa Phạm Thiên tại Hàng Châu, kết
liên xã để khuyên nhắc lẫn nhau chuyên tu Tịnh Nghiệp. Mùa
đông năm Ưng Chánh thứ 11, đại sư dự biết ngày 14 tháng
tư năm sau mình sẽ vãng sanh. Đến kỳ hạn, ngài nói: “Mười
hôm trước ta đã thấy Phật nay lại được thấy”. Nói
xong, niệm Phật mà Quy Tây.
Đại
sư nói: “Một chữ nguyện bao gồm cả tín và hạnh. Tín
là tin: tự, tha, nhân, qủa, sự, lý, không hư dối. (Tín tự:
tin tất cả do tâm tạo, mình niệm Phật sẽ được tiếp
dẫn. Tín tha: Tin Phật Thích Ca không nói dối, Phật A Di Đà
không nguyện suông. Tín nhân: tin niệm Phật là nhân vãng sanh,
giải thoát. Tín qủa: tin sự vãng sanh, thành Phật là kết
qủa. Tín sự: tin cảnh cảnh giới Tây Phương tất cả sự
tướng đều có thật. Tín lý: Tin lý tánh duy tâm bao trùm
Phật độ. Mỗi điều trên đây đều xác thật nên gọi là
không hư dối). Hạnh là chuyên trì danh hiệu không xen tạp,
không tán loạn. Nguyện là mỗi tâm ưa thích, mỗi niệm mong
cầu. Trong ba điều kiện này, người tu tịnh nghiệp cần
phải đủ, không thể thiếu một, mà “nguyện” là điểm
cần yếu. Có thể có tín, hạnh mà không có nguyện, chưa
từng có nguyện mà không có tín, hạnh.
Niệm
Phật mà không phát lòng bồ đề thì không tương ưng với
bổn nguyện của đức Di Đà, tất khó vãng sanh. (Lòng bồ
đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành qủa Phật,
dưới nguyện độ chúng sanh) Tuy phát lòng bồ đề mà không
chuyên niệm Phật cũng không được vãng sanh. Nên phải lấy
sự phát lòng bồ đề làm chánh nhân, niệm Phật làm trợ
duyên, rồi sau mới cầu sanh Tịnh Độ. Người tu tịnh nghiệp
cần phải hiểu biết điều này.
Niệm
Phật cũng có ma sự, do bởi ba nguyên nhân: không rõ giáo lý,
không gặp thầy bạn tốt, không tự xét lấy mình. Trong ba
điều này, sự tự xét chỗ sai lầm của mình rất là cần
yếu. Đại để muốn sanh về Tây Phương, không phải dùng
chút phước lành, chút công hạnh lơ là mà được; muốn thoát
sự khổ sống chết luân hồi trong vạn kiếp, không phải
dùng tâm dần dà, chờ hẹn, mà biếng trễ mà được!
Cơn vô thường mau chóng, mới sớm kế lại chiều, đâu nên
không siêng năng lo dự bị trước ư. Còn e sức chí nguyện
không thắng nổi sức tình ái, tâm niệm Phật, tâm niệm Phật
không hơn nổi tâm dục trần, những kẻ cứ mãi lơi là biếng
trễ, nửa tin nửa nghờ, thì ta cũng đành không làm sao vậy!
Kệ rằng:
Nam Mô A
Di Đà,
Người nào
không biết niệm?
Tuy niệm,
chẳng tương ưng,
Mẹ con khó
hội kiến!
Khi đi, đứng,
ngồi, nằm,
Đem tâm
này thúc liễm,
Mỗi niệm
nối tiếp nhau
Niệm lâu
thành một phiến.
Như thế,
niệm Di Đà,
Di Đà tự
nhiên hiện!
Quyết định
sanh Tây Phương.
Trọn đời
không thối chuyển!