Tông
Bổn Đại Sư
(Đai sư họ
Trần, hiệu Nhất Nguyên, quê quán ở Tứ Minh, thuở bé học
Nho, thông về thi lễ. Năm 15 tuổi, mục kích cái chết của
anh họ là Hủ Mộc xử sĩ, ngài thường lo nghĩ buồn sợ,
muốn xuất gia học đạo để thoát sự sống chết luân hồi.
Sau nhân đi lễ Phật ở Trà Đình tại Hàng Châu, ngài gặp
một vị thiền sư, bèn thỉnh về nhà cúng dường đảnh lễ
thưa hỏi phương pháp tu hành. Thiền sư khen ngợi, khai thị
cho môn niệm Phật. Khi ngài đã xuất gia, liền hết sức tham
cứu, ngộ được chân tâm, trở lại chuyên tu Tịnh Độ.
Trong niên hiệu Long Khánh đại sư viết ra bộ Qui Ngươn trực
chỉ, hoằng dương Liên Tông. Ông Lý Trác Ngô thường ca ngợi
hạnh đức của Ngài. Về sau, đại sư ở ẩn, không rõ được
ngày chung kết ra thế nào?
Đại
sư nói: Niệm Phật không luận là hạng người nào, nếu nghĩ
mình thuở bình sanh có nhiều điều ác mà tự bỏ không chịu
tu hành là sai lầm! Niệm Phật không quản là thời gian nào,
nếu cho rằng mình đã già sắp chết mà không chịu tu hành,
là sai lầm! Niệm Phật bất câu là phương pháp nào, nếu
lập ra một quy củ nhất định, bắt mọi người đều tuân
theo, khiến cho sự tu hành của họ bị chướng ngại, là sai
lầm. Nên biết pháp môn Tịnh Độ chẳng lựa trí, ngu, sang,
hèn, nghèo, giàu, chẳng phân nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục,
chẳng luận kẻ huân tập đã lâu hay mới tu hành, đều có
thể niệm Phật. Hoặc niệm lớn, niệm nhỏ, niệm ra tiếng,
niệm thầm, đảnh lễ mà niệm, tham cứu mà niệm, nhiếp
tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm, giữ
hiệu Phật liên tục không dứt như dòng nước chảy mà niệm,
cho đến đi niệm, đứng niệm, ngồi niệm, nằm niệm, ngàn
muôn niệm đều về một niệm. Niệm theo cách nào cũng được,
chỉ cần yếu là giữ cho lâu bền đừng lui sụt, và phát
lòng tin quyết định, cầu sanh Tây Phương. Nếu qủa hành
trì được như thế, cần chi tìm bậc trí thức hỏi đường?
Cho nên tu
Tịnh Độ có nhiều phương pháp, kết qủa ra sao là do chỗ
xu hướng của tâm nguyện. Có thể gọi: “Đi thuyền cốt
bởi người cầm lái. Hiểu được đồng về cõi tịnh liên!”
Tử
Bá Đại Sư
(Đại sư
họ Trầm, người đất Cư Khúc, sau khi xuất gia kiêm tu thiền
tịnh, đều đi sâu vào chỗ nhiệm mầu. Khi ngài đến Kinh
Đô, vua Thần Tông rất trọng, nhân đó ngài tâu xin đem kinh
bản in ra thành sách. Đại sư tánh tình cang nghị hết lòng
nâng đỡ chánh pháp nên bị kẻ gian ganh ghét. Không bao lâu,
có người dâng biểu vu cáo, khi được dời đến hạch hỏi,
ngài dùng lẽ chánh phân biện, thần sắc tự nhiên, nhưng
rồi cũng bị giam vào ngục. Quan pháp ty lại nhận của hối
lộ muốn làm hại, đại sư bảo: “Đã như thế, cần chi
ông ra tay”! Nói đoạn, ngài bảo đem nước tắm rửa, thuyết
kệ, rồi ngồi ngay mà hóa. Thuở sanh bình, đại sư chỉ dạy
pháp môn Tịnh Độ rất tha thiết, bảo rằng: “Khi lâm chung
được chánh niệm, toàn nhờ lúc thường nhật dụng công
phu sâu”. Xem đại sư sống chết tự do, thì sự tu hành lúc
bình thời của ngài có thể suy mà biết được vậy.
Đại
sư nói: Người niệm Phật, tâm chân thiết cùng không, có
thể xét nghiệm trong lúc vui mừng hay phiền não, căn cứ nơi
đây, tâm chơn giả hiện ra rõ ràng, có thể suy ra mà biết
được. Đại để như người chân tâm niệm Phật, dù ở
cảnh phiền não hay vui mừng, cũng giữ câu niệm Phật không
gián đoạn, cho nên những cảnh ấy không làm lay động họ
được. Hai điều trên đã không làm lay động, thì đối với
cảnh sống chết, họ vẫn tự nhiên không sợ hãi. Người
niệm Phật đời nay, hơi có chút chi mừng giận, thì gát bỏ
câu niệm Phật ra sau. Như thế làm sao mà niệm Phật được
linh nghiệm? Nên y theo lời ta mà niệm Phật, dù ở cảnh thương
ghét cũng đừng quên một câu A Di Đà. Nếu giữ đúng như
thế mà lúc hiện tiền không được sự công dụng tự tại,
khi lâm chung không được vãng sanh Tây Phương, thì cuống lưỡi
của ta phải chịu tan nát. Như làm không đúng lời ta, thì
niệm Phật không linh nghiệm lỗi ở nơi ngươi, với ta không
can hệ gì!
Lại
hỏi kẻ hoc giả là Hải Châu rằng: “Ngươi niệm Phật có
gián đọan chăng?”
Thưa: “Bình
thường tôi đều niệm được, duy có lúc nhắm mắt ngủ
là quên”. Đại sư tác sắc quở: “Lúc nhắm mắt ngủ liền
quên niệm Phật như thế là một muôn năm cũng không thành
hiệu! Từ đây về sau, trong lúc ngủ nghỉ chiêm bao, ngươi
phải giữ cho câu niệm Phật không gián đoạn, mới có phần
thoát khổ. Nếu trong giấc ngủ thoạt có quên niệm, khi thức
dậy phải thống khóc, đến trước bàn Phật cúi đầu sám
hối, rồi quỳ niệm Phật một ngàn hay một muôn câu, dùng
hết sức mình thì thôi. Làm như thế vài ba phen, dù trong lúc
ngủ mê, câu niệm Phật vẫn hiện ra không gián đoạn.
Lời Phụ:
Trong khi thức đều niệm được, duy có lúc ngủ là quên,
làm được như ngài Hải Châu thật rất hi hữu! Đại sư
quở như thế, là tùy theo người trình độ cao mà sách tấn
thêm một bước, để cho hành giả mau được nhất tâm, chớ
không phải thật ý bài bác. Người mới tu đừng chấp theo
đây mà nghi ngờ, lui sụt.
Liên
Trì Đại Sư
(Đại sư
là vị tổ thứ tám trong Liên Tông, húy Châu Hoằng, họ Trầm,
người ở đất Nhân Hòa. Lúc ban sơ, ngài nương theo Tánh
Thiên Hòa Thượng xuất gia, sau khi thọ đại giới, lại đi
khắp nơi tham học với các bậc tri thức. Khi Đại sư lễ
thánh tích ở non Ngũ Đài, cảm đức Văn Thù phóng quang. Đi
đến núi Vân Thê, thấy cảnh trí u tịch, ngài có ý muốn
ở đó suốt đời. Dân chúng ở vùng núi ấy thường bị
khổ vì nạn hổ, đại sư tụng kinh thí thực hổ đều lẩn
tránh. Gặp năm trời hạn, ngài đi dọc theo bờ ruộng niệm
Phật, gót chân đi đến đâu, mưa rơi đến đó. Từ ấy,
người qui hướng càng ngày càng đông, đại sư đều dùng
môn niệm Phật mà nhiếp hóa. Ngài có trứ tác pho Vân Thê
pháp vựng, gồm hai mươi mấy thứ sách, đại khái đều đề
xướng về Tịnh Độ. Trước khi lâm chung, đại sư từ giã
khắp các đệ tử và hàng cố cựu, khuyên chân thật niệm
Phật. Đến kỳ hạn, ngài ngồi niệm Phật mà hóa, thọ 81
tuổi.
Đại
sư nói: “Niệm Phật có mặc trì, cao thinh trì, kim cang trì.
Nhưng niệm thầm (mặc trì) thì dễ hôn trầm, niệm lớn tiếng
(cao thinh trì) cảm thấy phí sức, duy dùng pháp kim cang trì,
se sẻ động môi lưỡi mà niệm, là có thể bền lâu. Nhưng
cũng không nên chấp định, hoặc khi niệm theo lối kim cang
trì thấy phí sức, thì không ngại gì mặc trì, nếu hôn trầm
lại đổi dùng phép cao thinh.
Tâm hôn
loạn đã lâu, không thể một lúc mà an định được, cho
nên người niệm Phật nếu tâm không thanh tịnh đừng qúa
vội lo, chỉ cần khi niệm mỗi chữ mỗi câu đều do nơi
tâm phát ra, dụng công bền lâu, tự có hiệu qủa.
Tạp
niệm là bịnh, niệm Phật là thuốc, niệm Phật chính để
trị tạp niệm, mà không thấy hiệu qủa, là do dụng công
chưa được chơn thiết. Cho nên khi tạp niệm nổi lên, phải
chuyên lòng gia công niệm, mỗi chữ mỗi câu tinh nhất không
xao lãng, thì tạp niệm tự dứt.
Trong
lúc muôn niệm rối ren, chính là thời khắc dụng công phu,
mỗi khi tán loạn liền mau thâu nhiếp lại cứ như thế mãi,
lâu ngày công phu thuần thục, tụ nhiên vọng niệm không sanh.
Vả lại, người biết được vọng niệm nhiều, là do nhờ
niệm Phật; lúc không niệm, vọng tâm như sóng nổi nước
trào không giây phút nào dừng nghỉ, khi ấy đâu có tự biết
được ư?
Người
học Phật, đừng qúa theo hình thức bên ngoài, chỉ qúi tu
hành chân thật.
Hàng cư
sĩ tại gia không cần phải cạo tóc mặc đồ dà, tự có
thể để tóc mặc áo tràng mà niệm Phật. Người ưa thích
thanh vắng, không cần phải đánh chuông đánh mõ, tự có thể
yên lặng mà niệm Phật. Người sợ công việc phiền phức,
không cần kết bè lập hội, tự có thể đóng cửa mà niệm
Phật. Người biết chữ, không nhất định phải vào chùa
nghe kinh, tự có thể xem kinh y theo lời dạy trong ấy mà niệm
Phật. Trải qua ngàn dặm đi hành hương ở các danh sơn, không
bằng ngồi yên nơi nhà mà niệm Phật. Cúng dường những
vị sư không chân chánh, không bằng hiếu thuận cha mẹ mà
niệm Phật. Giao du với nhiều bạn bè kém đạo đức, không
bằng kẻ dốt nát chuyên niệm Phật. Hạnh thấp mà vọng
nói đạo lý cao sâu, không bằng kẻ chất phác giữ giới
niệm Phật. Tánh háo kỳ, ưa cầu sự linh thông của ma qủi,
không bằng chánh tín nhân qủa mà niệm Phật. Nói tóm lại,
người niệm Phật giữ lòng ngay, dứt hạnh ác, gọi là thiện
nhân. Người niệm Phật tỏ tâm tánh, dứt hoặc nghiệp, gọi
là thánh nhân.
Xin khuyên
những người rất thanh nhàn, việc gia đình con cái đã lo
xong, dưới trên rỗi rảnh, nên đem hết tâm lực mà niệm
Phật, mỗi ngày từ số ngàn đến muôn câu. Xin khuyên những
người duyên đời bận buộc qúa nhiều, nhọc nhằn vì việc
công, bôn ba vì gia sự, tuy ít khi rỗi rảnh nhưng mỗi buổi
sớm mai cố gắng nhín chút thời giờ, niệm Phật chừng mười
hơi, ngoài ra lúc nào rảnh, niệm xen vào trăm câu.
Lúc ta
còn đi tham phương học đạo, nghe Biện Dung thiền sư tông
phong rất thạnh, bèn đến nơi cầu pháp, đôi ba phen qùy lại
thưa hỏi, thiền sư bảo: “Ngươi nên giữ bổn phận, không
nên tham cầu danh lợi, đừng chạy theo duyên ngoài, chỉ cần
phân minh lý nhân qủa, một lòng chuyên niệm Phật mà thôi”.
Ta liền lãnh giáo lui ra. Bấy giờ các bạn đồng hành đều
cả cười, bảo: “Từ ngàn dặm đến đây, chỉ mong được
nghe những lời cao siêu thâm diệu, té ra chỉ lãnh mấy câu
không đáng nửa đồng tiền! Giá mấy câu ấy, ai nói không
được!. Ta đáp: “Đó mới là chỗ tốt của thiền sư. Chúng
ta khát ngưỡng mong mến từ ngàn dậm đến đây, ngài không
nói lời chi huyền diệu để lấn lướt kẻ dưới, chỉ chất
phát thật thà, đem chỗ công phu thiết cận song tinh yếu,
chính mình đã thể nhận, mà khuyên bảo dặn dò. Cái hay của
ngài chính ở nơi đó”. Đến nay ta vẫn còn tuân giữ mấy
lời ấy, không dám quên lãng.
Lời phụ:
“Giữ bổn phận, không tham danh lợi, không theo duyên ngoài,
rõ lý nhân qủa, chuyên niệm Phật.”. Lời này xem như cạn
cợt tầm thường, xong thật rất cao sâu, mầu nhiệm, tuy là
giản dị, song bao quát kinh nghĩa, gom thành chỗ tinh yếu của
một đời tu. Giữ đúng theo đây, xét kỹ lại, đã có mấy
ai làm được? Cho nên kẻ nông cạn tất xem thường lời nói
này; người ưa nói lý huyền, xem mình là cao siêu vô ngại,
quyết không làm đúng được như lời này. Nếu chẳng phải
bậc đã từng kinh nghiệm như ngài Biện Dung, không thể thốt
ra được lời này; và nếu chẳng phải bậc chân tu như ngài
Liên Trì cũng không thể lãnh thọ được lời này.