Thiên
Như Đại Sư
(Ngài họ
Đàm, hiệu Duy Tắc, người ở Vĩnh Hưng, đắc pháp với Trung
Phong Minh Bản thiền sư. Niên hiệu Chí Chánh năm đầu, đại
sư trụ ở chùa Sư Tử Lâm nơi thành Tô Châu, các bậc tể
quan, trưởng giả trong thời ấy, phần nhiều đến tham học
với ngài. Vua thường xuống chiếu vời hỏi, ngài đều lấy
duyên cớ bịnh cáo từ. Đại sư đã mật khế tông thiền
lại kiêm hoằng dương giáo pháp Tịnh Độ, từng viết ra
quyển “Tịnh Độ Hoặc Vấn” phá các điều nghi, khuyên
người niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Ngài tu hành rất tinh
tấn, nhập diệt vào năm Hồng Võ ngươn niên đời nhà Minh,
khi tịch điềm lành rất nhiều, thọ 71 tuổi.
Có kẻ
hỏi: Phương tu viên quán, pháp niệm duy tâm, dường như là
hành môn của bậc thượng căn. Còn mười nguyện trong kinh
Hoa Nghiêm, mười tâm trong kinh Bảo Tích, cũng là công dụng
của bậc đại trí. Trên đường tu, nếu căn cơ cùng giáo
pháp không hợp, e cho công hạnh khó thành. Nay tôi xét lại
căn tánh mình, chỉ nên chuyên trì danh hiệu, thêm lễ Phật
sám hối mà thôi, chẳng hay tôn ý thế nào?
Đại
sư đáp: Tốt lắm! Người biết tự lượng đó! Lời ngươi
nói hợp với thuyết chuyên tu vô gián của ngài Thiện Đạo.
Vô gián tu là thân chuyên lễ Phật A Di Đà không lễ tạp,
miệng chuyên xưng hiệu A Di Đà không xưng tạp, ý chuyên tưởng
Phật A Di Đà không tưởng tạp.
Niệm
Phật, hoặc duyên tưởng 32 tướng, buộc tâm cho định khi
mắt mở nhắm đều thấy Phật. Hoặc có kẻ chuyên xưng danh
hiệu, giữ không tán loạn, trong hiện đời cũng được thấy.
Trong hai điều trên đây, muốn được thấy Phật, phần nhiều
pháp xưng danh hiệu là hơn. Pháp xưng danh, cần phải buộc
lòng đừng cho tán loạn, mỗi niệm nối nhau duyên theo hiệu
Phật, từng câu từng chữ rõ ràng. Lại xưng danh hiệu Phật,
chớ quản nhiều ít, một tâm một ý, niệm niệm nối nhau.
Như thế mới diệt được tội nặng sanh tử trong tám mươi
ức kiếp, nếu chẳng vậy, rất khó tiêu tội.
Có kẻ
hỏi: Một đời tàn ác, khi lâm chung dùng mười niệm cũng
được vãng sanh. Vậy thì bây giờ tôi buông theo duyên đời
đợi lúc sắp chết sẽ niệm Phật, có được chăng?
Đại
sư đáp: Khổ thay! Lời này đã hại chính mình, lại hại
cho hàng tăng, tục, nam, nữ trong đời nữa! Phải biết kẻ
phàm phu nghịch ác khi lâm chung niệm Phật được là do kiếp
trước có căn lành, khiến cho gặp bậc thiện tri thức chỉ
bảo mà được sự may mắn trong muôn một ấy. Luận Quần
Nghi nói: có mười hạng khi lâm chung không niệm Phật được:
1) Khó gặp bạn lành, nên không người khuyên niệm. 2) Bịnh
khổ buộc thân, không rỗi rảnh để niệm Phật. 3) Trúng
phong cứng họng, nói không ra tiếng. 4) Cuồng loạn mất sự
sáng suốt. 5)Thình lình gặp tai nạn nước lửa. 6) Thoạt
bị hùm sói ăn thịt. 7) Bị bạn ác phá hoại lòng tin. 8)
Hôn mê mà chết. 9)Thoạt chết giữa quân trận. 10) Từ nơi
chỗ cao té xuống. Những việc trên đây ở trong đời thường
có, đó là do túc nghiệp hoặc hiện nghiệp chiêu cảm, bỗng
nhiên xảy ra, không kịp trốn tránh. Khi gặp một việc không
may, bất cập, trong mười việc trên đây, thì làm sao niệm
Phật được. Giả sử không bị những ác duyên như trên,
thọ bịnh sơ sài mà qua đời, e cho lâm chung, khi thân tứ
đại sắp ly tán, bị sự đau đớn dường như dao cắt, như
con cua bị rớt vào nước sôi trong lúc thống khổ bức bách,
bối rối kinh hoàng ấy, đâu có rỗi rảnh để niệm Phật?
Giả sử không bị bịnh mạng chung, lại e duyên đời chưa
dứt, niệm tục khó quên, tham sống sợ chết, tấm lòng rối
loạn không yên. Thêm vào đó, việc nhà chưa phân minh, chuyện
sau chưa sắp đặt, vợ con khóc lóc kêu gọi, trăm mối lo
sợ, thương sầu, như thế làm sao niệm Phật được?. Giả
sử lúc chưa chết, thì lại bịnh khổ, đau đớn rên la, tìm
thuốc tìm thầy, lo việc khẩn cầu cúng tế, tạp niệm rối
ren, vị tất đã niệm Phật được? Giả sử trước khi chưa
bịnh, thì lại bi sự già khổ, suy lờ lụm khụm, buồn rầu
ão não, e cho lo những việc cái thân già yếu chưa xong, đâu
rỗi để niệm Phật. Giả sử trước khi chưa già, còn đang
trẻ trung khỏe mạnh, hoặc như tâm cao vọng chưa dứt, việc
thế tục còn buộc ràng, rong ruổi đông tây, suy thế này
tính thế khác, nghiệp thức mơ màng, cũng không niệm Phật
được! Giả sử kẻ được an nhàn thong thả, có chí tu hành,
nhưng nếu không nhìn thấu cảnh đời là giả mộng, thân
tuy được yên, tâm còn bấn loạn, không thể buông bỏ muôn
duyên, khi gặp việc đến, không thể tự chủ, theo cảnh mà
điên đảo, cũng không niệm Phật được! Ngươi thử xét
lại, đừng nói già bịnh, trong lúc còn trẻ trung nhàn nhã,
nếu có một việc đeo đẳng nơi lòng, còn không niệm Phật
được thay, huống chi là đợi đến lâm chung? Vậy muốn cho
khi sắp chết được chánh niệm vãng sanh, thì ngay bây giờ
phải xét rõ việc đời là huyễn mộng, tùy duyên an phận
qua ngày, không còn tham luyến, được rỗi rảnh lúc nào thì
niệm Phật lúc ấy, đừng hẹn chờ lần lựa, hoặc để
hư phí thời giờ. Như thế thì tư lương ta đã dự bị xong,
lúc ra đi mới không điều chi chướng ngại.
Diệu
Hiệp Đại Sư
( Đại sư
người ở Tứ Minh thường nghiên cứu Thiên Thai Giáo Quán
và tu phép Niệm Phật Tam Muội. Thời bấy giờ, các nhà học
Phật thường nhận lầm thuyết duy tâm tự tánh; với cõi
Cực Lạc, không cầu ở Tây, mà tìm nơi thức tâm phân biệt,
Đại sư thương xót cho cảnh nhân thuốc mà thành bịnh ấy,
soạn ra hai quyển “Bảo Vương Tam Muội, Niệm Phật Trực
Chỉ”. Nhân đó, các nhà tu thiền tịnh sai lầm mới nhận
được bờ bến. Lúc ấy thuộc vào khoảng đời Hồng Võ
nhà Minh năm thứ 28. Hai trăm năm sau, Liên Trì Đại Sư mến
bộ sách ấy, vì bị thất truyền, nên tìm mãi không gặp.
Về sau Vạn Dung thiền sư ngẫu nhiên được thấy, mới đem
truyền bá ra. Ngẫu Ích đại sư đã góp bộ này vào pho “Tịnh
Độ Thập Yếu”.
*Đại sư
dạy: Hành giả phát tâm niệm Phật, trước khi vào đạo tràng
phải xét nghĩ ta với chúng sanh thường ở trong biển khổ
sanh tử, nếu không độ cho tất cả đều được thoát ly,
sao gọi là chánh hạnh? Nhân đó, xem người oán kẻ thân đều
bình đẳng, khởi lòng đại bi, như thế quyết không bị tệ
ma, ác đảng làm cho thối chuyển. Sau khi đã lập đại tâm,
nên nghiên cứu những chánh hạnh niệm Phật của người xưa,
lập đạo tràng đúng pháp, khiến cho hết sức trang nghiêm
thanh tịnh. Kế đó, phân ngày đêm sáu thời, đem tâm
chí thành gieo mình quy mạng ngôi Tam bảo, tỏ bày hết tội
lỗi, cầu xin sám hối. Lại quỳ trước Phật, tay cầm hương
hoa cúng dường, vận tâm quán tưởng khắp pháp giới, xét
mình cùng tất cả chúng sanh từ trước đến nay ở trong vòng
mê khổ, rơi lệ cảm thương, cầu Phật gia bị, nguyện độ
muôn loài. Như thế, dùng hết sức mình kham khổ tu hành, nếu
nghiệp chướng sâu, chưa được cảm cách, phải lấy cái
chết làm kỳ hạn, không được giây phút nào nghĩ đến sự
vui ngũ dục của thế gian. Như kẻ căn cơ non kém, không làm
được thắng hạnh trên dây thì cũng ở trong tịnh thất,
giữ cho thân tâm nghiêm sạch, tùy ý tu hành. Hoặc định thời
lễ Phật sám hối, nguyện tinh tấn không thối chuyển, hoặc
chuyên niệm hoặc kiêm trì chú, tụng kinh. Nếu được thấy
tướng hảo, thì biết mình được diệt tội, có duyên lành.
Hỏi:
Dụng tâm thế nào mà được không tán loạn? Đáp: Nên vận
dụng thân miệng mà niệm, không kể đến tánh hay định,
chỉ làm sao cho câu Phật không hở dứt, tự sẽ được nhất
tâm, hoặc cũng có thể gọi chính đó là nhất tâm. Nhưng
phải niệm mãi không thôi, trạng như mẹ lạc con thơ, rồng
mất trái châu bổn mạng, thì không còn lo chi tán loạn, không
cầu nhất tâm mà tự được nhất tâm. Chẳng nên cưỡng
ép cho tâm quy nhất, vì dù cưỡng ép cũng không thể được,
thật ra chỉ do người tu siêng săng hay biếng trễ mà thôi!
Nghĩ thương cho người đời nay, phần nhiều tu hành mà không
hiệu nghiệm, ấy cũng bởi lòng tin cạn cợt, nhân hạnh không
chơn. Lắm kẻ chưa từng lập hạnh, đã muốn cho người biết
trước, trong thì tự phụ, ngoài lại khoe khoang, tỏ ý có
chỗ sở đắc để được moi người cung kính. Thậm
chí có kẻ nói dối là mình trông thấy tịnh cảnh, hoặc
thấy được cảnh giới nhỏ, hay những tướng tốt trong giấc
chiêm bao. Thật ra chính họ cũng không phân biệt cảnh đó
là chơn hay vọng, nhưng cũng cứ khoe khoang bừa ra. Những kẻ
tâm hạnh kém ấy, tất là bị ma làm mê hoặc, nguyện hạnh
lần lần lui sụt, trôi theo dòng sanh tử luân hồi. Như thế,
há chẳng nên dè dặt ư?
Người
tu hành, đối với một tội dù nhỏ, cũng phải đem lòng kiêng
sợ, sự hiểu nên theo hàng đại thừa, việc làm phải bắt
chước kẻ sơ học.
Người
tu hành nếu bị túc nghiệp ngăn che, khiến cho nghiệp hạnh
lui kém, phải nhất tâm trì tụng chú Vãng Sanh. Chú này gọi
là môn đà la ni nhổ trừ tất cả cội gốc nghiệp chướng,
tụng một biến, tiêu diệt hết tội ngũ nghịch thập ác
trong thân, tụng mười muôn biến, được không quên mất bồ
đề tâm, tụng hai mươi muôn biến, liền cảm sanh mầm mộng
bồ đề, tụng ba mươi muôn biến. Phật A Di Đà thường trụ
trên đảnh, quyết định sanh về Tịnh Độ.
Không
Cốc Đại Sư
(Đại sư
họ Trần tên Cảnh Long, người ở Ngô huyện. Thuở còn bé
ngài đã ăn chay, ưa ngồi ngay thẳng nhắm mắt, dường như
người tu thiền định. Sau ngài theo Lai Vân Hòa Thượng học
về đại pháp; đến 28 tuổi xuất gia ở Hổ Khâu. Kế đó,
đại sư vào núi Thiên Mục, kham khổ tham cứu, một hôm bỗng
nhiên tỉnh ngộ đến cầu chứng nơi ngài Lại Vân, được
ấn khả, Đại sư tuy ngộ được tâm tông, song việc tự
tu khuyên người, đều theo Tịnh Độ. Ngài từng làm 108 bài
thi Tịnh Độ lựu hành ở đời. Ngài lại xây cho mình cái
cốt tháp ở Tiền Đường tự làm lời minh, thường ở trong
đó tu hành cho đến khi viên tịch)
Đại
sư nói: Một môn niệm Phật là đường lối tu hành thẳng
tắt. Hành giả phải xét rõ thân này giả dối, việc thế
như chiêm bao, duy cõi tịnh là đáng nương về, câu niệm Phật
là có thể nhờ cậy. Rồi tùy phận mà niệm hoặc mau hoặc
chậm, hoặc tiếng thấp tiếng cao, đều không câu ngại. Chỉ
nên để cho thân tâm nhàn đạm, thầm nhớ chẳng quên, khi
hưởn, gấp, động, tịnh, vẫn một niệm không khác. Niệm
như thế, ngày kia xúc cảnh chạm duyên, bỗng nhiên tỉnh ngộ.
Chừng ấy mới biết cõi Tịch Quang Tịnh Độ không rời nơi
đây, Phật A Di Đà chẳng ngoài tâm mình. Nếu lập tâm muốn
cầu tỏ ngộ thì trở lại thành chướng ngại, nên chỉ lấy
lòng tin làm căn bản, chẳng tùy theo tạp niệm mà thôi. Hành
trì như thế, dù không tỏ ngộ, khi chết cũng được sanh
về Tây Phương, theo giai cấp mà tiến tu, không còn lo thối
chuyển.
Kinh Đại
Tập nói: “Niệm Phật lớn tiếng có mười công đức: 1)
Đánh tan hôn trầm mê ngủ. 2) Thiên ma kinh sợ. 3) Tiếng vang
khắp mười phương. 4) Ba đường ác được dứt khổ. 5) Tiếng
bên ngoài không xâm nhập. 6) Niệm tâm không tán loạn. 7) Mạnh
mẽ tinh tấn. 8) Chư Phật vui mừng. 9) Tam muội hiện tiền.
10) Vãng sanh về Tịnh Độ.