Từ
Chiếu Đại Sư
Sư húy là
Tử Ngươn, hiệu Vạn Sự Hưu, họ Mậu, người ở Côn Sơn.
Bà mẹ nằm mơ thấy Phật vào cửa mà sanh ra ngoài. Năm 19
tuổi, ngài xuất gia tu môn chỉ quán sau nghe tiếng qụa kêu
mà ngộ đạo. Lòng lợi tha sâu thiết, đại sư lập ra Bạch
Liên sám đường, soạn nghi thức Bạch Liên sám pháp, thay
chúng sanh lễ Phật sám hối, khuyên mọi người trì giới
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Ngài lại trứ thuật tập
“Viên dung tứ độ tam quán tuyển Phật đồ”, chỉ bày
phần nhãn mục của Liên Tông. Vua Hiếu Tôn triệu ngài đến
điện Đức Thọ giảng về pháp môn Tịnh Độ, ban cho hiệu
là Bạch Liên đạo sư. Khi lâm chung ngài chấp tay mà tịch,
lúc làm lễ trà tỳ, xá lợi hiện ra vô số)
Đại
sư dạy: “Nay ngươi muốn tu pháp môn Niệm Phật tam muội,
cầu sanh về Tịnh Độ để cho mau thành qủa bồ đề, thì
phần chánh hạnh là phải chuyên niệm Phật. Về phần trợ
hạnh, phải dứt trừ điều ác, làm những việc lành, rồi
đem công đức ấy hồi hướng về Tây Phương. Đó gọi là
thả thuyền theo nước xuôi, lại thêm chèo chóng, tất nhiên
mau đến bờ vậy”.
Sớm
tối chuyên tâm lễ Phật Di Đà như chầu bậc đế vương
không để lỗi thời, hành trì như thế lâu ngày sẽ được
thêm sự thân thiết. Đến như niệm Phật thì miệng niệm,
tâm tưởng, tâm và miệng hợp nhau, lại phát lòng ân trọng,
tin chắc không nghi, công phu mỗi ngày càng thêm thuần thục,
tự nhiên tam muội được thành tựu.
Khi lâm
chung thường có ba điều nghi, bốn cửa ải hay làm chướng
ngại cho sự vãng sanh, phải dự bị suy nghĩ trước để phá
trừ. Ba điều nghi là:
1) Nghi mình
túc nghiệp sâu nặng, thời gian công phu tu hành ít, e không
được vãng sanh.
2) Nghi mình
bổn nguyện trả chưa xong, tham sân si chưa dứt e không được
vãng sanh.
3) Nghi mình
niệm Phật, Phật không đến rước e không được vãng sanh.
Bốn cửa
ải là:
1) Hoặc
nhân bị bịnh khổ mà trở lại hủy báng Phật không linh.
2) Hoặc
nhân tham sống mà giết vật mạng cúng tế.
3) Hoặc
nhân uống thuốc mà dùng rượu cùng chất máu huyết tanh hôi.
4) Hoặc
nhân ái luyến mà tự ràng buộc với gia đình.
Lời Phụ:
Đại sư nêu ra thuyết tam nghi tứ quan, nhưng không thấy nói
phương pháp giải quyết, vì thời xưa người tin hiểu đạo
nhiều, có thể tự suy xét đề phòng, hoặc giả ngài có nói
mà sự sao truyền bị thất lạc đi chăng? Dù sao, đối với
kẻ lòng tin cạn, kém hiểu biết, mấy điều trên đây gây
ra sự nguy hại không ít. Nay tôi xin nói sư qua cách pháp trừ,
đọc giả có thể nhân đây tự suy nghĩ hiểu rọng thêm ra.
Phá điều
nghi thứ nhất: Phật A Di Đà có bổn nguyện: những chúng
anh nào chí tâm tưởng muốn về Cực Lạc niệm danh hiệu
ngài cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì
Ngài thề không thành Phật. Phật không khi nào nói dối, vậy
hành giả phải tin nơi Ngài. Mười niệm là thời gian, công
phu tu hành rất ít mà còn được vãng sanh, huống chi ta niệm
nhiều hơn số đó! Lại nữa, dù kẻ nào nghiệp chướng nặng
nề đến đâu, nếu khi lâm chung chí tâm tin tưởng niệm Phật
thì quyết định sẽ được vãng sanh. Thuở xưa, Trương Thiện
Hòa là người trọn đời giết trâu bò, khi lâm chung tướng
địa ngục hiện, sợ hãi niệm Phật, liền thấy Phật đến
rước, cho đến loài chim sáo, két, niệm Phật còn được
vãng sanh, huống chi ta chưa phải là tệ đến mức ấy!
Phá điều
nghi thứ hai: Kinh Na Tiên nói: “Ví như hột cát nhẹ, bỏ
xuống nước liền chìm, trái lại tảng đá to nặng nếu được
thuyền chở, có thể đem từ chỗ này sang chỗ khác”. Người
niệm Phật cũng như thế, nếu ta tin tưởng niệm Phật, thì
dù còn nghiệp chướng tội nặng bao nhiêu cũng được vãng
sanh, vì nhờ nguyện lực của Phật tiếp độ, ví như tảng
đá to mà được thuyền chở, tất phải bị chìm. Môn niệm
Phật là pháp “Đới nghiệp vãng sanh”, vậy người tu đừng
nghĩ rằng mình còn tham, sân, si e không không được sanh về
Tây Phương. Thí dụ trên đây có thể phá luôn khoảng nghi
về nghiệp nặng ở điều thứ nhất. Còn về bổn nguyện,
có hai: đạo và đời.
Về đạo,
hoặc có người nguyện cất chùa hay nguyện tụng số kinh
chú bao nhiêu, chưa làm tròn đã đến ngày giờ chết. Phải
nghĩ rằng: Chỉ tín tâm niệm Phật thì được vãng sanh, còn
bổn nguyện rồi hoặc chưa rồi không có hại chi cả. Về
đời, hoặc có người vì nhiệm vụ gia đình chưa xong, như
trên có cha mẹ già không ai săn sóc, hay dưới có vợ con thơ
dại không nơi nương tựa, tâm nguyện chẳng tròn nên lòng
chưa yên. Phải nghĩ rằng: hiện thời ta sắp chết, dù có
lo hay không cũng không làm sao được. Nếu ta gát bỏ qua, chí
tâm niêm Phật, khi được về Tây Phương chứng đạo qủa,
thì tất cả bổn nguyện, trái duyên đều có thể trả xong,
tất cả oán thân đều có thể cứu độ.
Phá điều
nghi thứ ba: Người niệm Phật, do bổn nguyện của Phật và
công đức của mình, khi lâm chung tất nhiên có Phật, Bồ
Tát hay Thánh Chúng đến tiếp dẫn, chỉ cần yếu là lúc
ấy mình phải chí tâm tưởng Phật, đừng nghĩ chi khác nếu
nghi ngờ thì tự sanh ra chướng ngại. Tóm lại, khi lâm chung
dù thấy điềm tốt hay không cũng đừng quản đến, chỉ
hết lòng niệm Phật cho đến giây phút cuối cùng mà thôi.
Phá chung
bốn cửa ải: Người niệm Phật mà bị tai bịnh khổ, đó
là do nhờ công
đức tu
hành, nên chuyển qủa báo nặng đời sau thành qủa báo nhẹ
đời này, trả
cho hết
để được vãng sanh. Nếu trở lại nghi ngờ hủy báng, là
người kém tin hiểu, phụ ơn Phật, tự gây tội chướng cho
mình. Thuở xưa, ông Ngô Mao tu hành chơn chánh, nhân bị loạn
lạc bị giặc đâm bảy thương mà chết. Khi người em đến
ông bỗng tỉnh lại nói: “Tôi đời trước gây tội nặng,
đáng lẽ khi chết phải bị đọa, nhưng nhờ đời này ăn
chay, niệm Phật làm lành, nên chuyển qủa nhẹ lại, phải
chịu bảy vết thương này để trả bảy kiếp làm heo đời
sau. Hiện thời Phật tiếp dẫn tôi về Tây Phương” Lấy
một chuyện này có thể tỷ lệ suy ra để hiểu những điều
khác. Lạithân này giả tạm tùy theo tội phước mà kiếp
sống có vui có khổ lâu mau. Người đã biết ăn chay, giữ
quy giới, niệm Phật, phải triệt để tin tưởng nơi Phật,
tin chắc lý nhân qủa. Khi bịnh hoạn hay lúc lâm chung chỉ
nên sám hối, niệm Phật mà thôi. Rất không nên rước thầy
pháp, đồng bóng, giết sanh hại vật cúng tế, hoặc nghe lời
kẻ chưa hiểu đạo, trở lại ăn mặn, uống rượu, hay dùng
chất thuốc bằng máu huyết tanh hôi. Lại trong gia đình từ
cha mẹ, anh em, chồng vợ, con cái, đều là do đời trước
có nợ nần ân oán nên mới tạm hội ngộ nhau, khi nhân duyên
đã hết thì mỗi người mỗi ngả. Vậy ta nên rũ sạch tình
trần, cầu sanh Tây Phương để độ tất cả người ân oán.
Khi cái chết đến nơi, dù có quyến luyến cũng không thể
đem theo, không làm chi được, mà chính mình phải bị luân
hồi, không được vãng sanh. Nên suy nghĩ ghi nhớ kỹ
Thích Thiền
Tâm
Hữu
Nghiêm Đại Sư
Ngài họ
Hồ, quê ở Lâm Hải, lúc 6 tuổi xuất gia nơi chùa Linh Thứu,
14 tuổi thọ giới cụ túc. Theo học với Thần Chiếu Pháp
Sư, ngài ngộ được ý chỉ nhất tâm tam quán. Kế đó, đại
sư về làm tọa chủ chùa Xích Thành, sau lại lên ở ẩn nơi
ngọn núi phía đông tòa Cố Sơn; bên thất ngài có cây Tra,
nhân tự hiệu là Trà Am. Đại Sư giữ giới luật rất nghiêm,
ngoài y bát ra không chứa vật chi. Ngài lại chuyên tu tịnh
nghiệp, được tam muội, sự linh ứng rất nhiều; nếu có
trứ thuật, đều xiển dương về Liên Tông. Vào niên hiệu
Tĩnh Quốc năm đầu, một hôm ngài thấy thiên thần từ trên
hư không giáng hạ nói: “Tịnh nghiệp của tôn đức đã
thành tựu!” Đại sư lại nằm mộng thấy hoa sen lớn nở
trong ao, nhạc trời vi nhiễu, khi tỉnh dậy làm thi để tự
tiễn hành. Bảy hôm sau, ngài ngồi ngay thẳng mà hóa.
*Đại sư
nói: Đức Thế Tôn thương xót, dùng nhiều phương tiện để
tiếp độ loài hữu tình. Cho nên người tu hành được vãng
sanh cũng có nhiều cách: hoặc nhờ thiền định, tán thiện
hoặc do Phật lực, Pháp lực, hoặc có người chỉ tu phước
rồi mượn nguyện lực để hồi hướng, hoặc có kẻ lúc
lâm chung qúa sợ hãi niệm Phật mà được cứu độ. Những
loại như thế số có đến ngàn muôn, chỉ nương nhờ một
phương pháp, tất được vãng sanh. Về định thiện như kẻ
tu môn diệu quán, tam muội Thủ Lăng Nghiêm. Về Tán Thiện
như trong kinh Vô Lượng Thọ nói: dùng mười niệm, niệm Phật
cũng được vãng sanh. Về Phật Lực là do đại bi nguyện
lực của đức A Di Đà nhiếp thọ, những chúng sanh niệm
Phật nương nhờ đây mà được vãng sanh. Ví như kẻ dung
phu nương theo vua Chuyển Luân, trong một ngày đêm có thể
đi khắp bốn châu thiên hạ, đó không phải là do sức mình,
chính nhờ năng lực của Luân Vương. Về pháp lực là như
Phật bảo Liên Hoa Minh Vương Bồ Tát dùng thần chú quán đảnh
gia trì trong đất cát rải nơi thây hoặc mộ phần người
chết, khiến cho vong giả tuy bị đọa nơi Địa Ngục, Ngạ
Qủy, Súc Sanh, nhưng nương nhờ chân ngôn này được về Cực
Lạc. Về sự tu phước hồi hướng như người giữ tâm từ
bi không giết hại, thọ trì các giới, đọc tụng mật chú,
các kinh điển đại thừa, cùng tu những phước lành, hồi
hướng trang nghiêm thành ra nhân Tịnh Độ. Về việc khi lâm
chung sợ hãi cầu cứu, là người lúc sắp chết, tướng hỏa
xa hiện, xưng hiệu Phật, lửa dữ hóa ra thành gió mát, như
trường hợp của Hùng Tuấn, Trương Thiện Hòa được vãng
sanh vậy.
Ưu
Đàm Đại Sư
Đại sư
húy là Phổ Độ, họ Tưởng, người xứ Đơn Dương, xuất
gia ở chùa Đông Lâm núi Lô Sơn, chuyên tu Tịnh Độ. Đời
nhà Nguyên, niên hiệu Đại chí năm đầu, đảng Bạch Liên
giáo thạnh hành khiến cho tà chánh chẳng phân, vua ra lịnh
bãi bỏ Liên Tông. Đại sư nói: “Ta tu Tịnh Độ gần 30
năm, đâu nên để cho pháp môn này bị diệt tuyệt trong đời
ta ư? Ngài bèn viết ra mười quyển Liên Tông bảo giám, thỉnh
các phương đại đức chứng minh, không ai có thể sửa một
chữ. Đoạn, ngài đêm dâng lên cho vua duyệt lãm, được ban
khen và cho khắc bản lưu hành trong đời. Vua lại ân tứ cho
ngài hiệu là Hổ Khê Tôn Giả, dạy làm giáo chủ Liên Tông.
Khi lâm chung, ngài niệm Phật mà hóa.
*Đại sư
dạy: Người tu tịnh nghiệp, nếu trần cấu chưa sạch, khi
niệm ác nổi lên, phải cao tiếng niệm Phật nhiếp vào chánh
niệm, chớ nên tâm ác nối nhau. Nên biết rằng sự tu hành
hôm nay, chính là đối địch với nghiệp sanh tử, không phải
chuyện tầm thường; hằng nghĩ đến vô thường mau chóng,
ngày tháng chẳng chờ người, nhận chơn thiệt thật mà niệm
Phật. Nếu nửa lui nửa tới, lúc tin lúc ngờ, kết cuộc
tịnh nghiệp không thành tựu, làm sao ra khỏi luân hồi?
Giữ
một câu hiệu Phật như dựa vào hòn núi Tu Di, lay chuyển
chẳng động, thường nhớ thường niệm, mai cũng niệm, chiều
cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm, tâm niệm không
bỏ qua, hiệu Phật chẳng rời lòng, mỗi thời mỗi khắc
chẳng xa lìa, nhặt nhặt niệm niệm, như gà ấp trứng thường
cho hơi ấm tiếp tục, tức gọi là “tịnh niệm nối nhau”.
Muốn
sanh về Tịnh độ nên nghĩ tất cả việc đời đều vô thường,
có thành tất có hoại, có sống ắt có chết, nếu ta không
được nghe Phật pháp thì phải chịu thay thân này, đổi thân
khác, trôi lăn trong ba cõi sáu đường, không biết lúc nào
ra khỏi. Nay ta đã có duyên được nghe chánh pháp, được
tu tịnh gnhiệp, nếu chuyên niệm Phật thì khi bỏ thân này
sẽ vào thai sen nơi cõi Phật, hưởng các điều vui, thoát
hẳn sự khổ, đi ngay đến nẻo bồ đề, ấy là chí sự
thuở sanh bình của bậc đại trượng phu vậy.
Khi vừa
đau bụng, phải mạnh mẽ gạt bỏ muôn duyên, ngồi ngay thẳng
hướng về Tây, tưởng đức A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí và
các hóa Phật đều hiện ở trước mình, chuyên lòng xưng
danh hiệu Phật, mỗi tiếng nối nhau không dứt. Lúc ấy không
nên nghĩ ngợi việc đời, nếu thoạt tưởng đến, mau mau
xưng danh hiệu Phật, trong mỗi niệm diệt được tội chướng,
chỉ một niệm này quyết định được vãng sanh, nếu mạng
số chưa dứt, tự được lành mạnh. Nên cẩn thận chớ vọng
khởi lòng tham luyến thế gian, thân này có còn thì còn, có
mất thì mất, chỉ cầu được vãng sanh, không nghi ngờ lo
nghĩ điều chi khác. Nên hiểu dù có chết đi nữa, như người
cởi bỏ áo rách mặc y phục lành tốt vào, xả thân phàm
lên cõi Phật chẳng là vui thích hơn ư?
Chuyên
nhất tâm ý, nắm giữ một câu A Di Đà Phật, chỉ một niệm
này là bổn sư của ta, chỉ một niệm này trước là hóa
Phật, chỉ một niệm này mãnh tướng phá địa ngục, chỉ
một niệm này là gươm báu chém bầy tà, chỉ một niệm này
là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm, chỉ một niệm này
là con thuyền lớn vượt qua biển khổ, chỉ một niệm này
là thuốc hay trị bịnh sanh tử, chỉ một niệm này là đường
tắt ra khỏi tam giới, chỉ một niệm này là bản tánh Di
Đà, chỉ một niệm này là duy tâm Tịnh độ. Chỉ cần giữ
chắc câu niệm Phật đây chớ cho lạc mất, mỗi niệm thường
hiện tiền, mỗi niệm chẳng rời tâm, không việc cũng niệm
như thế, có việc cũng niệm như thế, an vui cũng niệm như
thế, bịnh khổ cũng niệm như thế, sống cũng niệm như thế,
chết cũng niệm như thế. Cứ giữ một niệm phân minh như
thế, lại cần chi hỏi người tìm đường về ư?