Mã
Minh Bồ Tát
Theo bộ Truyền
đăng lục, khi Bồ Tát sanh ra, cảm động đến bầy ngựa
đều bi thương kêu la. Bồ tát lại khéo thuyết pháp, có thể
khiến cho bầy ngựa nghe rồi rơi lệ kêu thương. Sau khi đức
Thích ca diệt độ 600 năm, 96 thứ ngoại đạo ở Tây Vực
đều phục hưng, phá hủy Phật Pháp; Bồ Tát bèn thị hiện
sanh ở miền đông „n độ, nước Tang Kỳ Đa, làm nhiều
bộ luận hiểu chánh phá tà. Trong bộ luận Khởi Tín, Bồ
Tát khuyên người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Khi lâm
chung, ngài vào phép Long Phấn Tấn Tam Muội, đưa mình lên
hư không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như mặt trời, kế đó
lại trở về bản vị mà nhập niết bàn.
Luận
Đại Thừa Khởi Tín nói: “Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm
sáu thời, lễ bái chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh,
tùy hỉ, hồi hướng về qủa bồ đề. Tu tập như thế không
thôi nghỉ thì sẽ được khỏi các chướng, căn lành thêm
lớn”. Lại nói: “Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp
hộ kẻ tín tâm. „y là dùng nhân duyên chuyên nhớ niệm Phật
tùy nguyện cầu sanh về tịnh độ ở phương khác, do được
thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Như trong
Tu Đa La nói: “Nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương
Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng về cõi kia, thì
được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên không còn lo thối
chuyển.
Long
Thọ Bồ Tát
Nhân vì ngài
sanh dưới cội cây có rồng ở, lại đắc đạo ở Long Cung,
nên gọi là Long Thọ Bồ Tát dòng Phạm Chí, người xứ Nam
Thiên Trúc, rộng hiểu các môn học thế gian, mới xuất gia
ba tháng đã thông suốt tam tạng. Bấy giờ Long Vương rước
ngài xuống Long Cung; trong chín tuần ngài xem Long Tạng chưa
đầy muôn một, liền ngộ vô sanh nhẫn. Khi trở về nhân
gian, Bồ Tát hoằng truyền Phật Giáo, tạo ra bộ Bà Sa Luận,
trong ấy có khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây phương.
Sau ngài vào Nguyện Luân định mà tịch. Trong kinh Lăng Già,
đức Phật đã huyền ký: Sau xứ Nam Thiên Trúc. Có Long Thọ
tỳ khưu. Hay hiển nghĩa trung đạo. Chứng Sơ Hoan Hỷ địa.
Sanh về cõi Cực Lạc.
Luận
Đại Trí Độ nói: “Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các
thứ phiền não và tội đời trước. Lại nữa, niệm Phật
Tam Muội có phước đức lớn hay độ chúng sanh. Cho nên
các Bồ Tát muốn độ sanh, nếu tu các pháp tam muội khác,
tất không bằng môn Niệm Phật Tam Muội, vì môn này có phước
đức lớn, mau diệt các tội. Phật là pháp vương, Bồ
Tát là pháp tướng, chỗ Bồ Tát tôn trọng duy có Phật, Thế
Tôn. Bồ Tát thường khéo tu nhân duyên niệm Phật, nên thường
gặp chư Phật, như kinh Bát Chu có nói: “Bồ Tát vào tam muội
này, liền hiện sanh về cõi Phật A Di Đà”.
Luận
Bà Sa nói: “Đức A Di Đà có bản nguyện như thế này: “Nếu
người xưng niệm danh hiệu và quy y nơi ta, kẻ ấy quyết
được qủa vô thượng Bồ Đề”. Cho nên, phải thương nhớ
niệm Phật. Lại dùng kệ khen ngợi Phật rằng:
Trí huệ
sáng vô lượng.
Thân như
tòa kim sơn.
Con dùng
thân, miệng ý,
Chắp tay
cúi đầu lạy.
Chân Phật
ngàn bức luân,
Sắc hoa
sen mềm dịu,
Kẻ thấy
đều vui mừng,
Cúi đầu
lễ chân Phật.
Tướng bạch
hào sáng đẹp,
Trong sạch
như trăng thu,
Ánh tỏa
khắp mặt vàng,
Nên con cúi
đầu lạy,
Nếu người
muốn thành Phật.
Tâm niệm
A Di Đà,
Theo thời
vì hiện thân,
Cho nên con
quy mạng.
Người xưng
niệm nơi Phật,
Sức công
đức không lường,
Thì liền
được vào định.
Cho nên con
thường niệm.
Nếu người
trồng căn lành,
Nghi thì
hoa không nở,
Kẻ lòng
tin trong sạch,
Hoa nở liền
thấy Phật
Do nhân duyên
phước này,
Tất được
đức thắng diệu,
Nguyện các
loài chúng sanh,
Cũng đều
được như vậy.
Thiên
Thân Bồ Tát
Bồ tát người
xứ Thiên Trúc, khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu Thừa,
hủy báng kinh điển Đại Thừa. Sau ngài nhờ anh là Vô Trước
nhiều phen chỉ dẫn, mới hối ngộ sự lỗi lầm, muốn tự
cắt lưỡi. Vô Trước bồ tát bảo: “Xưa em dùng lưỡi hủy
báng Đại Thừa, nay phải dùng lưỡi mà tán dương pháp ấy
để chuộc tội. Việc sửa lỗi hãy còn chưa muộn, nếu cắt
lưỡi đi, nào có ích gì?” Vâng lời anh, Ngài Thiên Thân
từ đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 100 bộ luận Đại Thừa.
Trong ấy có luận Vãng Sanh, phát huy rõ ràng sự trang nghiêm
lợi ích của cõi Tịnh độ. Người niệm Phật nên chú ý
đến luận này.
Vô Lượng
Thọ Kinh Luận nói: “Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết
qủa sẽ được vãng sanh về Cực Lạc, thấy Phật A Di Đà.
Ngũ niệm môn là gì?
Lễ bái môn
Tán thán
môn
Phát nguyện
môn
Quán sát
môn
Hồi hướng
môn.
Lễ bái là
thế nào? „y là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ý
cung kính, cầu Phật nhiếp thọ.
Tán thán
môn là thế nào? Đây là dùng miệng khen ngợi sắc thân, danh
nghĩa, ánh sáng, trí huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành
như thật cho được tương ưng.
Phát Nguyện
môn? „y là một lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện
sanh về Cực Lạc.
Quán sát
là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang
nghiêm của cõi Cực Lạc, công đức trang nghiêm của Phật
A Di Đà, và công đức trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh
Chúng.
Hồi hướng
là thế nào? „y là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ
não, nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng
cầu cho tất cả loài hữu tình đều được sanh về Cực
Lạc.
Giác
Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
Theo bộ Tây
Phương xác chỉ, Bồ tát tự bày tỏ túc nhân như sau: “Thuở
trước, về đời vua Minh Đế nhà Tấn, ta là một kẻ bần
cùng. Tự thương cảnh ngộ của mình, ta phát đại nguyện
rằng: “Tôi vì túc nghiệp nên chịu qủa báo nghèo khổ này.
Từ đây tôi nguyện niệm Phật tu hành, nếu không được
thấy Phật A Di Đà và sanh về Cực Lạc để thành tựu tất
cả công đức, thì dù có phải tan nát thân mạng này, tôi
cũng không thôi bỏ”. Phát nguyện rồi, trong bảy ngày đêm
ta chuyên tinh tưởng niệm, liền được tâm khai, thấy thân
tướng Phật A Di Đà, đẹp đẽ sáng chói, đầy khắp mười
phương thế giới. Lúc ấy ta được Phật thọ ký cho, và
về său năm 75 tuổi ta thoát hóa, sanh về Cực Lạc. Nay vì
bản nguyện lợi sanh, ta trở lại cõi này, tùy phương hóa
độ”.
Trong
Bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có nói: “Từ năm Sùng Trinh
thứ 16 đời nhà Minh, đến năm Thuận Trị thứ 4 đời nhà
Thanh, Bồ Tát thường hay giáng thần nơi Ngô môn chỉ dạy
về pháp môn niệm Phật.
Trong
bộ Tây Phương xác chỉ, Bồ Tát dạy: “Tâm vốn không niệm,
niệm do tưởng sanh, cái tưởng ấy giả dối, khiến cho chúng
sanh mãi chịu luân hồi. Nay các ngươi nên biết một câu A
Di Đà Phật đây, không từ nơi tưởng mà sanh, chẳng do nơi
niệm mà có, không dính mắc trong ngoài, chẳng có tướng mạo
chi. Hiểu rõ như thế thì trừ hết các vọng tưởng, cùng
với pháp thân của Phật cùng đồng không khác, không thể
phân biệt. Niệm như thế thì không phiền não trần lao, không
đứt đoạn, không bỏ cuộc, thế là nhứt tâm. Được chỗ
nhất tâm này, mới gọi là “giữ lấy danh hiệu” mới gọi
là “một lòng không loạn.”
*Nếu niệm
Phật không nhất tâm, phải quyết ý dứt những tư tưởng
vẩn vơ, chậm rãi mà niệm, làm sao cho tiếng hiệp với tâm,
tâm hiệp cùng tiếng. Cứ như thế niệm mãi, lâu lâu vọng
tưởng sẽ lặng dừng, tâm cảnh sẽ sáng tỏ chứng vào Niệm
Phật tam muội. Kệ rằng:
Nói ít một
câu chuyện,
Niệm nhiều
một câu Phật.
Đánh được
vọng niệm chết,
Hứa pháp
thân ngươi sống.
Trước khi
niệm Phật, phải phát đại nguyện sanh về Cực Lạc, rồi
sau chí thành khẩn thiết xưng thánh hiệu đức A Di Đà. Khi
niệm phải khiến cho tiếng duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng,
tâm và tiếng nương nhau, giữ cho bền lâu đừng mất, thì
sẽ được vào Chánh ức niệm tam muội.
Đại
để người tu tịnh nghiệp, khi đi đứng nằm ngồi, đều
phải hướng về phương Tây thì cơ cảm dễ thành, căn cảnh
dễ thuần thục. Trong thất chỉ cúng một tượng Phật, một
quyển kinh, một lư hương, còn bàn, ghế và giường mỗi thứ
chỉ một cái, không nên để nhiều vật khác. Ngoài sân cũng
phải quét dọn sạch sẽ, để cho khi đi kinh hành không bị
trở ngại. Điều cần yếu là làm sao cho tâm mình không vướng
một mảy trần, dứt bặt muôn điều lo nghĩ, rổng rang trong
sáng, không biết có thân, có đời, cũng không biết hành động
của mình hôm nay là việc tu hành. Được như thế thì
cùng với đạo ngày gần, với đời ngày xa, có thể xu hướng
về tịnh nghiệp.
Phép tu tịnh
độ không ngoài hai chữ chuyên cần, chuyên thì không thêm
một việc chi khác, cần thì không bỏ phí phút giây. Lại
phép trì danh, cần mỗi chữ mỗi câu tâm và tiếng nương
nhau, không xen lẫn một mảy niệm đời, lâu ngày thành thục,
quyết định được sanh về Cực Lạc, ngồi tòa bảo liên,
lên ngôi bất thối.
Bài Kệ
Phát Nguyện Của Đại Từ Bồ Tát
Phật mười
phương ba đời,
A Di Đà
bậc nhất,
Chín phẩm
độ chúng sanh,
Oai đức
không cùng cực
Nay con đại
qui y,
Sám hối
tội ba nghiệp
Có bao nhiêu
phước lành,
Hết lòng
xin hồi hướng.
Nguyện chúng
bạn đồng tu,
Cảm ứng
theo thời hiện,
Khi lâm chung,
cảnh Phật,
Hiện trước
mắt rõ ràng
Kẻ thấy,
nghe tinh tấn,
Đồng sanh
về Cực Lạc,
Thấy Phật
khỏi sanh tử,
Như Phật
độ muôn loài.
Huệ
Viễn Đại Sư
Đại sư
họ Cổ, người xứ Nhạn Môn, tinh học về thuyết Nho, Lão.
Năm 21 tuổi, sư nghe ngài Đạo An giảng kinh Bát Nhã, bỗng
tỏ ngộ than rằng: “Các môn học Nho, Lão, đều như lúa
ép thôi!” Nhân đó bèn xuất gia, thệ hoằng dương Phật
Giáo. Ngài Huệ An từng khen: “Chánh pháp truyền bá ở Trung
Hoa, là do Huệ Viễn này chăng?” Sau đại sư vào Lô Sơn,
cảm rồng khai mạch nước, thần vận chuyển cây để cất
chùa Đồng Lâm. Ngài từng đào ao trồng sen, hợp chúng lại
ngày đêm sáu thời niệm Phật cầu sanh Tây phương, nhân gọi
là Liên xã, Đại sư ở trong non hơn 30 năm, vua vời cũng không
đi, từng ba lần trông thấy thánh tướng, song trầm hậu không
nói ra. Năm Nghĩa Hi thứ 12, Phật lại hiện, ngài bèn ngồi
ngay nhập diệt, thọ được 83 tuổi. Người sau tôn Đại
sư làm Sơ Tổ trong Liên Tông)
Đại
sư nói: “Sao gọi là Niệm Phật tam muội?” - „y là nhớ
chuyên, tưởng lặng vậy. Nhớ chuyên thì chí không chia, tưởng
lặng thì khí thanh thần sáng. Khí thanh thì trí giác soi khắp,
thần sáng thì chiếu suốt chỗ tối tăm. Hai điều này thầm
hợp nhau, hội lại mà ứng dụng. Các môn tam muội, danh mục
rất nhiều, nhưng về phần công đức cao, dễ tu tiến, thì
niệm Phật là bậc nhất. Tại sao thế? - Vì Như Lai là đấng
đã chứng cùng cực lý huyền tịch, thể và thần hiệp biến,
ứng hóa không cùng. Cho nên kẻ tu môn định này nương nhờ
Phật lực, bỗng nhiên vọng giác tiêu tan, tức nơi cảnh sở
duyên mà lặng lẽ dường như gương sáng, gương lòng sáng
thì ánh linh giao chiếu, muôn tượng sanh bày. Chừng ấy sự
thấy nghe dung thông, không còn cuộc hạn trong vòng tai mắt,
linh thể một màu, tự nhiên trong sáng. Và khi ấy tâm hợp
lý huyền, vọng tình tan mất, chỗ tuyệt diệu trong đời
có chi hơn đây ư?
Rất mong
các hiền giả tu theo pháp này gắng chí hành trì, làm sao cho
được khế ngộ, cảm tất bóng dễ tàn, lo chưa đầy công
đức, ngồi ngay ngắn trên bồ đoàn, rửa sạch lòng nơi pháp
tọa, ban ngày siêng năng, ban đêm quên ngủ. Như thế mới
mong sánh bước người trên, dắt dìu kẻ dưới được.
Đàm
Loan Đại Sư
Đại sư
người xứ Nhạn Môn, thuở nhỏ dạo chơi non Ngũ Đài, cảm
điềm linh dị mà xuất gia. Ngài ưa thuật trường sanh, từng
theo Đào Ẩn Cư thọ mười quyển Tiên Kinh. Sau gặp ngài Bồ
Đề Lưu Chi, đại sư hỏi: “Đạo Phật có thuật trường
sanh chăng?” Ngài Lưu Chi trao cho kinh Thập Lục Quán và bảo:
“Đây là phép trường sanh của Phật Giáo”. Đại sư cả
mừng, liền đốt Tiên Kinh, chuyên tu tịnh nghiệp, dù đau
yếu cũng không tạm nghỉ. Ngụy chúa nghe danh phong cho hiệu
là Thần Loan. Khi lâm chung, đại sư kêu chúng lại dạy rằng:
“Biển trần lao khổ nhọc, không biết đâu là bến nghỉ
ngơi, cảnh địa ngục rất đáng kinh sợ, môn Tịnh độ cần
phải tu hành” Nói xong, bảo chúng cao tiếng niệm Phật hướng
về Tây cúi đầu mà tịch. Khi ấy mọi người đều nghe tiếng
thiên nhạc từ phía Tây trổi lên, giây lâu mới dứt.
Đại
sư dạy: “Ngoài bổn nguyện cầu sanh, lại cần phải phát
lòng bồ đề, được vãng sanh cùng không, lấy đây làm chỗ
y cứ”.
Thế
nào là “Thập niệm tương tục”. - Đáp: Ví như có người
ở nơi đồng vắng bị giặc cướp rút gươm rượt theo muốn
giết, sợ hãi qúa chạy thẳng miết đến một con sông. Đến
đây người ấy thoáng nghĩ: “Nếu qua được sông này ta
mới mong bảo toàn thân mạng, nhưng bây giờ để y phục lội
sang hay là cởi bỏ? Nếu để y phục sợ e sông rộng vướng
mắc lội không thoát còn cởi bỏ thì không kịp vì giặc
đuổi gần tới! Bấy giờ người ấy chỉ có một niệm tìm
phương tiện làm sao cho qua được sông thôi, tuyệt không có
ý nghĩ chi khác. Hành giả niệm Phật lại cũng như thế, chỉ
chuyên thiết niệm, không có tạp tưởng, tâm tâm nối nhau
cho đến mười niệm, gọi là “Thập niệm tương tục”.
Người
niệm Phật khi bình thời nên ước hẹn với năm ba bạn đồng
tu, đến lúc lâm chung nhắc nhở trợ niệm lẫn nhau. Như thế
sự vãng sanh mới có phần vững chắc.
Trí
Giả Đại Sư
Đại sư
húy là Trí Khải, vị sơ tổ của tông Thiên Thai. Ngài họ
Trần, người đất Vĩnh Xuyên, khi sanh ra có thần quang chiếu
sáng cả nhà. Năm 18 tuổi ngài xuất gia, tham học với Huệ
Tư thiền sư. Thấy ngài đến, thiền sư nói :”Năm xưa ta
với ngươi đồng ở Linh Sơn pháp hội, túc duyên đeo đuổi,
nay lại gặp nhau”. Đại sư nương theo ngài Huệ Tư, chuyên
tu không bao lâu chứng được Pháp Hoa Tam muội, trí huệ biện
tài vô ngại. Ngài có soạn ra bộ Tịnh độ thập nghi luận,
khuyên người niệm Phật. Vua Tuyên Đế nhà Trần mến đức,
cất chùa thỉnh đại sư về trụ trì. Vua Dượng đế nhà
Tùy cũng thọ giới cùng ngài lại tứ hiệu là Trí Giả. Sau
đại sư trở về núi Thiên Thai, pháp hóa càng thạnh. Mùa
đông năm Khai Hoàng thứ 17, ngài hướng về Tây niệm Phật
tọa hóa, thọ được 67 tuổi.
Đại
sư nói: “Muốn quyết định được sanh về Tây Phương cần
phải đủ hai hạnh:
Yểm ly và
Hân nguyện.
Thế nào
là hạnh yểm ly? Phải quan sát thân này đầy đủ sự nhơ
nhớp, chịu nhiều nỗi đau khổ, không có chi là vui, mà sanh
lòng nhàm chán muốn thoát ly. Nghĩ tưởng như thế thì lửa
dâm dục phiền não lần lần giảm bớt. Lại phát nguyện
cầu được vĩnh viễn xa lìa cõi trần khổ lụy, không còn
thọ cái nghiệp thân nam nữ, máu mủ, tanh hôi, đắm mê theo
ngũ dục, cầu được mau về tịnh độ chứng thân pháp tánh
trong sạch quang minh. Đó là hạnh yểm ly.
Thế nào
là hạnh hân nguyện? Trong đây có hai điều:
1. Nên nghĩ
chúng sanh chìm trong biển khổ, mình là phàm phu không đủ
sức cứu độ. Nay tha thiết muốn về Cực Lạc, gần gũi
với Phật, tu hành chứng qủa vô sanh, để độ thoát lấy
mình, báo đáp bốn ấn, cứu chúng sanh khổ não. Đó là mục
đích cầu sanh.
2. Duyên
tưởng báo thân của Phật sắc vàng sáng rỡ, có 84,000 tướng,
mỗi tướng có 84,000 vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp phóng ra 84,000
tia sáng, soi khắp pháp giới nhiếp lấy những chúng sanh niệm
Phật. Lại quán tưởng cõi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm,
đầy đủ sự an vui mầu niệm, mà sanh ra lòng ưa thích. Do
đó gắng sự bố thí, trì giới, niệm Phật, tu các hạnh
lành, rồi đem hồi hướng, nguyện mình cùng tất cả chúng
sanh, đều được sanh về Tịnh độ. Làm như thế thì quyết
định được vãng sanh, và đây là hạnh hân nguyện.
Đạo
Xước Đại Sư
Đại sư
họ Vệ, người Tính Châu. Năm 14 tuổi, ngài xuất gia, học
kinh luận, lại theo Toản thiền sư tập tham thiền. Sau nhân
về ở chùa Huyền Trang miền Bích cốc, ngài mến hạnh nghiệp
của Đàm Loan pháp sư, thường lễ niệm sáu thời hướng
về Tây ngồi tĩnh tọa. Đại sư định khóa niệm Phật ngày
đêm bảy muôn câu. Có một vị tăng nhập định, thấy ngài
cầm chuỗi chói sáng như hòn núi thất bảo. Ngoài ra, những
điềm linh dị khác không thể kể xiết. Đại sư giảng Tịnh
độ tam kinh gần vài trăm lượt, giảng xong đại chúng tản
mác ra niệm Phật tiếng vang động khắp rừng núi. Cho đến
mấy huyện ở gần, trẻ em từ bảy tuổi sắp lên đều biết
niệm Phật. Lúc sư lâm chung, đại chúng thấy Hóa Phật giữa
hư không, hoa trời rơi xuống như mưa, xem lại ngài đã tịch.
Đại
sư bảo: “Người tu tịnh nghiệp khi ngồi nằm không được
xây lưng về hướng Tây, cũng không được hướng về Tây
khạc nhổ cùng đại tiểu tiện. Bởi đã quy y về liên bang,
nên tôn sùng miền kim địa, nếu lòng không trân trọng, đâu
phải là chí nguyện cầu sanh?”
Hỏi:
Niệm hồng danh đức A Di Đà, có thể tiêu trừ nghiệp vô
minh tăm tối và được vãng sanh; sao có người xưng niệm
mà vô minh vẫn còn, lại không mãn nguyện, là duyên cớ gì?
Đáp: Do không như thật tu hành, cùng với danh nghĩa không hợp
nhau, ấy bởi chẳng biết Như Lai là thân thật tướng, là
thân vị Phật. Lại có ba thứ không tương ứng, nên không
được vãng sanh.
1. Lòng tin
không thuần, khi còn khi mất.
2. Lòng tin
không duy nhất thường đổi thay không quyết định.
3. Lòng tin
không tương tục, hằng bị tạp niệm làm cho gián đoạn.
Cho nên khi
niệm Phật phải nhiếp tâm đừng cho tán loạn, nếu niệm
được tương tục là tín tâm, là nhất tâm, là thuần tâm.
Niệm như vậy mà không vãnh sanh, ấy là vô lý.
Thiện
Đạo Đại Sư
Đại sư
là tổ thứ hai trong Liên Tông. Ban sơ, nhân thấy đạo tràng
tịnh nghiệp của Ngài Đạo Xước, sư mừng rỡ nói rằng:
“ Đây mới là nẻo bí yếu để thành Phật”. Rồi
đó ngài đến Kinh đô khuyên chúng tu Tịnh Độ, thường quỳ
niệm Phật cho đến khi kiệt lực mới thôi. Đại sư giảng
môn Tịnh độ hơn 30 năm, tu hành chuyên cần, chưa từng ngủ
nghỉ. Được bao nhiêu của thí, ngài dùng tả kinh Di Đà hơn
mười muôn quyển, vẽ thánh cảnh Tây Phương hơn ba trăm bức.
Đại sư, cảm hóa hàng đạo tục rất đông, trong ấy số
người được tam muội sanh tịnh độ nhiều không xiết
kể. Một hôm, ngài leo lên cây liễu, hướng về Tây, chú
nguyện xong gieo mình xuống rơi nhẹ như lá, ngồi kiết dà
mà tịch. Vua Cao Tông phục sự thần vị của Ngài, phong cho
hiệu chùa là Quang Minh.
Đại
sư dạy: “Đấng đại thánh xót thương, khuyên người chuyên
xưng danh hiệu, bởi vì phép xưng danh rất dễ, nếu có thể
giữ mỗi niệm nối nhau, lấy suốt đời làm hạnh, thì mười
người tu, mười người vãng sanh, trăm người tu, trăm người
vãng sanh. Tại sao thế? Vì không có duyên tạp nên được
chánh niệm, vì cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau,
vì không trái với kinh giáo, vì thuận theo lời Phật.
Nếu bỏ chuyên niệm mà tạp tu trong trăm người may ra được
một hai người, trong ngàn người hy vọng được ba bốn người
vãng sanh mà thôi”.
Người
niệm Phật khi lâm chung chớ nên sợ chết. Phải thường nghĩ
rằng: thân này không sạch, chịu nhiều sự khổ, nếu được
bỏ huyễn thân mà sanh về Tịnh độ, chính là điều đáng
vui mừng!
Lúc đau
yếu, chỉ nghĩ đến sự vô thường, một lòng niệm Phật
chờ chết. Nhớ dặn người thân cận, khi có ai đến thăm
nên khuyên vì mình mà niệm Phật, đừng nói chuyện tạp ở
thế gian. Nếu bịnh nặng sắp chết, người xung quanh không
được khóc lóc, phải đồng thanh niệm Phật đợi chừng
nào bịnh nhơn tắt hơi, trong mình lạnh hết rồi mới nên
cử ai. Như được người hiểu rõ lý Tịnh độ thường đến
khuyên lơn nhắc nhở cho, đó thật là điều đại hạnh. Dùng
theo phương pháp trên đây quyết định sẽ vãng sanh.
Việc
sống chết luân hồi rất lớn lao, phải tự mình gắng sức
mới được, nếu một niệm sai lầm để luống qua, thì nhiều
kiếp chịu khổ, có ai thay thế cho mình? Nên suy nghĩ kỹ,
nên suy nghĩ kỹ.
Khi sắp
đi nghỉ, lễ Phật quán tưởng, rồi đọc bài văn phát nguyện
rằng: “Con...là phàm phu trong vòng sanh tử, tội chướng nặng
sâu, luân hồi sáu nẻo, khổ không nói được! Nay găp trí
thức, được nghe thánh hiệu, đức Phật A Di Đà, cùng với
bổn nguyện, công đức của Phật, một lòng xưng niệm, cầu
nguyện vãng sanh, Nguyện Phật từ bi không bỏ, xót thương
nhiếp thọ. Nay đệ tử con, chưa biết thân Phật, tướng
đẹp quang minh, xin Phật hiện ra, cho con được thấy. Lại
con chưa biết, Quán Âm, Thế Chí, các chúng Bồ Tát, tướng
mầu sáng rỡ, và thế giới kia, trong sạch trang nghiêm, xin
khiến cho con, thấy được tỏ tường.
Lại
khi sắp đi ngủ, nên quán thắng cảnh Tây Phương, hoặc quán
tướng tốt của Phật, không được nói tạp, cũng không được
cầu thấy điềm lành, chỉ một lòng chuyên tu, tự có lúc
được thấy. Hoặc lại chỉ niệm Phật cho đến lúc ngủ
quên. Mấy điều trên đây, chuyên lấy một pháp, không tạp
dụng. Và cần phải thật hành cho bền lâu, thì công phu tịnh
nghiệp tất không luống uổng.