Sức
khỏe là gia sản to lớn nhất
Biết
đủ là kho tàng quí báu nhất
Thành
tín là bạn chí thân
Niết
bàn là hạnh phúc vô biên.
Kinh
Pháp Cú - 204
Trên
trang trại chúng tôi có một ngôi nhà nhỏ, nằm dưới
những tàng cây to nên bên trong nhà không khí rất thoáng mát.
Các gia đình trong vùng thường chứa sữa bò vắt trong những
căn nhà như thế này, cho đến khi thuận tiện họ mới đến
lấy đi. Lúc đó, chưa có tủ lạnh. Căn nhà chứa
sữa của chúng tôi để trống vì chúng tôi không có nuôi
bò sữa. Sau nhiều suy nghĩ, chúng tôi biến nơi đó
thành một ngôi nhà thờ nhỏ, một ngôi nhà thờ cho mọi tôn
giáo, vì cho tới lúc đó, chúng tôi cũng chưa biết phải theo
tôn giáo nào.
Các
món quà lưu niệm từ những đất nước chúng tôi đã đặt
chân đến giờ được trưng bày trong ngôi nhà thờ này.
Từ các vị thần của Ấn Độ giáo đến các tượng Phật,
hay các tượng thờ của các dân tộc thiểu số. Từ
các đồ cổ vật cho đến các đồ dùng trong các buổi lễ
của người Do Thái, các loại đèn, chân đèn cầy cũng được
trưng bày ra.
Trang
trại của chúng tôi được gọi là Shalom, tiếng Do Thái có
nghĩa là "Hòa Bình". Nơi đây đúng là một nơi yên tĩnh.
Chúng tôi vẫn ngồi thiền hằng ngày trong ngôi đền nhỏ
đó.
Ở
trang trại có rất nhiều việc phải làm. Tôi luôn bận
rộn vỡ đất, nhỏ cỏ, khiêng đất đá. Tôi thường
lo sợ cho sự an toàn của chúng tôi vì ở Shalom thường
bị nạn cháy rừng. Một lần có trận cháy rừng tràn
xuống đồi vào thung lũng của chúng tôi. Chỉ có những
ai đã từng chữa cháy bằng các xô nước mới hiểu được
sự cực nhọc và nỗi lo sợ của con người trong những trường
hợp như thế. Có cả trăm người hàng xóm đến giúp,
chúng tôi mới không bị cháy nhà, cháy cây cối hay gia súc.
Chúng tôi nhốt tất cả dê, ngựa vào nhà, và nhờ nhân viên
phòng chữa cháy trông hộ. Trong khi cây trái và cả cánh
đồng cỏ thì hoàn toàn nhờ vào những xẻng, xô, bao tải
của láng giềng và trí thông minh của người nông dân.
Phụ
nữ thì trèo lên các đồi cao mang bánh mì, thức uống đến
cho cánh đàn ông. Sau sáu giờ sống trong sợ hãi, lo lắng,
mệt mỏi, khói cay, sức nóng ngột ngạt, chúng tôi đã đẩy
lùi được hiểm nguy. Nhưng sau đó chúng tôi phải luân
phiên canh chừng cháy suốt trong hai ngày, vì mùa hè ở đây
rất dễ sinh ra cháy rừng.
Ở
Úc, khí hậu rất khắc nghiệt. Người gọi mưa là bão.
Vì mỗi cơn mưa đều nhanh chóng trở thành bão. Mỗi
năm ít nhất một lần đều có bão lũ ở Queensland, cuốn
trôi các mái nhà. Mái nhà của tôi chưa bị thổi mất,
nhưng tôi đã từng chứng kiến những thân cây to bị nước
cuốn phăng qua các đồi núi, tấp vào khu vườn nhà chúng
tôi.
Ban
đầu, các cơn bão này đều làm tôi sợ. Nhưng dần dần
tôi cũng quen đi, không còn cảm thấy hoàn toàn bất lực như
lúc đầu. Trang trại của chúng tôi ở chỗ hơi hẻo
lánh. Người láng giềng gần nhất cũng xa hơn kílômét.
Lớn lên ở thành thị, tôi không hề biết đến những tai
hoạ này. Chúng đã làm khổ tôi.
Ngoài
ra ở Uùc cũng có nhiều loại rắn độc khiến tôi không yên
tâm chút nào. Phải mãi về sau, tôi mới chấp nhận được
chúng cũng là một phần của đời sống thiên nhiên trên trang
trại.
Đôi
khi tôi cũng hồi tưởng về ngôi nhà ở San Diego, về những
ngày sống như một người nội trợ, trong một cuộc sống
bình thường. Dầu tôi không bao giờ mơ ước trở lại
cuộc sống đó, nhưng cuộc sống rày đây mai đó, cuộc sống
luôn gần với những bất trắc, hiểm nguy, xa lạ, cũng đòi
hỏi ở tôi rất nhiều sự thích ứng. Giờ, nhìn lại,
tôi có thể nói rằng trong những lúc hiểm nguy, sợ hãi, người
ta chỉ có thể chống trả lại sự sợ hãi bằng cách tìm
nguyên nhân tạo tác ra nó. Nếu không thể làm thế,
ta sẽ không bao giờ biết được sức mạnh của mình, mà
trên phương diện tinh thần thì sức mạnh đó vô bờ bến.
Tôi
đã rèn luyện được lòng tự tin mãnh liệt. Tôi đã
biết con người dầu ở nơi đâu, ngôn ngữ là gì, cũng đều
giống nhau. Ai cũng muốn được hạnh phúc, nhưng không
mấy ai tìm được hạnh phúc. Điều đó là sự thật
không chối cãi được.
Cuộc
đời là một quá trình của xả ly. Đó là những điều
tôi nhận thức được ở thời điểm đó. Tôi không
tin rằng, tôi có thể hoàn thành quá trình đó nếu không có
những chuyến đi mở rộng tầm mắt của tôi. Tôi không
tin rằng tôi có thể trụ lại ở trang trại này dài lâu,
nếu tôi đi từ San Diego thẳng đến đây.
Ở
Shalom, chúng tôi nuôi gà, một đôi công, bảy con dê, hai con
ngựa cưỡi, chó mèo và hai mươi lăm con ngựa Shetland.
Về ăn uống, chúng tôi theo đúng cách hướng dẫn trong các
sách về sức khoẻ. Do đó, chúng tôi không uống cà-phê,
trà đậm -chỉ uống nước nấu từ các dược thảo, do chính
chúng tôi phơi khô, và dùng rất ít đường. Thay vào
đó, chúng tôi dùng mật ong nuôi trong vườn. Dùng
sữa và bơ làm từ sữa dê, ăn rau quả do chính chúng tôi
trồng, chuối cũng từ vườn nhà, ngũ cốc cũng hoàn toàn
không bị phun thuốc trừ sâu hay bất cứ thứ thuốc độc
hại nào.
Dầu
vậy, tôi vẫn bị bịnh thiếu máu. Lúc đầu, tôi hoàn
toàn không biết mình bị bịnh gì. Tôi chỉ cảm thấy
mệt mỏi, nặng nề, không còn sức lực để trèo lên các
cầu thang nhà. Bác sĩ xem bịnh, nói ngay rằng tôi quá
xanh. Oâng bảo là tôi bị bịnh thiếu máu mãn tính, giải
thích rằng căn bịnh đó không thể chữa khỏi. Người
ta cứ phải chích vitamin B12 suốt đời.
Tôi
không hài lòng lắm vì lời chẩn đoán này. Tôi hãy còn
trẻ, và không bao giờ tưởng tượng mình có thể mắc những
căn bịnh mãn tính. Tôi tự chữa trị mình bằng cách
bắt đầu ba tháng tuyệt thực, chỉ uống ròng nước nho.
Có nghĩa là cơ thể của tôi không chứa gì hơn là nước
trái cây, hoặc vài trái nho đen. Tôi đã biết về cách
chữa trị này qua một quyền sách tôi đã đọc.
Cách
chữa trị này thật hiệu nghiệm. Sau một thời gian,
lượng máu của tôi đã trở lại bình thường, và giữ được
mãi như thế cho đến ngày nay. Sau lần giải phẩu ung
thư ba năm trước đây, độ máu tôi có hơi bất thường,
nhưng sau đó, tôi lại làm nó trở lại bình thường.
Giờ tôi sống cũng như tôi đã sống, hết sức giản dị,
tự nhiên, tránh ăn thịt, là điều quá dễ dàng cho tôi.
Một
ngày kia, có một tu sĩ Phật giáo đến viếng trang trại của
chúng tôi. Oâng là người Anh, có tên là Phra Khantipalo.
Oâng không có nhà cửa, nên chúng tôi mời ông đến tá túc
với chúng tôi. Chúng tôi để ông ở tạm trong phòng
dành cho khách quen, trong lúc Gerd và ông dựng một cái chòi
gỗ, gọi là kuti, cho ông ở giữa rừng trên phần đất của
chúng tôi. Được ở cạnh bên ôâng, chúng tôi đã học
được rất nhiều điều.
Khi
Phra Khantipalo giảng cho chúng tôi về giáo lý của Đức Phật,
tôi bỗng nhận ra: những điều đó tôi có thể hiểu và thực
hành được. Thí dụ về năm giới. Không được
sát sanh; Không trộm cắp; Không nói dối hay nói lời ác độc;
Không uống rượu hay sử dụng ma túy; Không tà dâm.
Người ta có thể thực hành những điều ngược lại: thương
yêu, độ lượng, tín cẩn và trung thành; chánh ngữ và chánh
niệm.
Đây
là lần đầu tiên tôi được nghe những điều mà tôi có
thể nói là rất gần gủi, tôi có thể hiểu được ngay,
không cần phải suy nghĩ gì. Tôi biết đó là chân
lý, biết tôi phải làm gì để thực hiện chúng. Đây
là con đường tâm linh thực sự chỉ cho ta biết phải thay
đổi như thế nào để đạt được sự thanh tịnh nội tâm.
Tôi tổ chức những buổi học để vị tu sĩ này có thể
giảng cho tất cả những ai muốn nghe. Ngoài ra tôi cũng
mới nhiều vị thầy khác tham dự nữa.
Hai
chúng tôi tiếp tục lãnh hội nhiều điều từ thầy Phra Khantipalo.
Đối với tôi, đây là một dịp may lớn, giúp tôi tìm ra
hướng đi cho mình. Tôi luôn suy tư về điều đó.
Tôi thấy rất rõ rằng dù cho cuộc sống của chúng tôi lành
mạnh, trong sạch, hữu ích, nó cũng không mang lại cho tôi
niềm hạnh phúc, sự bình an mà tôi luôn kiếm tìm.
Jeffrey
đã được mười tám tuổi, đã dọn về thủ đô Brisbane
để
theo học trường đại học ở đó. Con trai tôi cũng muốn
trở thành một kỹ sư điện giống như Gerd, nhưng sau hai năm,
nó đã chuyển qua học vi tính. Vì Jeffrey học rất giỏi,
nên chính phủ đài thọ tất cả tiền chi phí ăn học của
cậu.
Một
ngày kia, tôi quyết định bay qua Mỹ, viếng thăm thiền viện
San Francisco. Rồi từ đó tôi đến Tassajara, một nơi
rất đẹp trong thung lũng ở phía bên kia dãy núi Carmel, dọc
theo bãi biển California. Nơi đó có các suối nước
nóng và một cái hồ trên núi lớn. Tôi đã ở đó khoảng
ba tháng để học hỏi về thiền Phật giáo.
Thật
là một khoảng thời gian tuyệt vời. Tôi không phải
trả một chi phí nào, vì tôi làm việc ở đó. Công việc
của tôi là giữ cho các buồng tắm được sạch sẻ.
Do đó tôi có thể tắm suối nước nóng tùy thích, lúc nào
cũng được. Chỉ có điều ở đây tôi không được
nghe Phra Khantipalo giảng về Phật pháp.
Thiền
Phật giáo dựa vào những giáo lý được truyền từ các vị
Thiền sư qua bao nhiêu thế kỷ. Thiền được truyền
đến Trung Hoa vào thế kỷ thứ sáu, sau đó, vào thế kỷ
thứ mười hai, thiền có mặt ở Nhật bản. Và ở đâu
thiền cũng được phát triển mà vẫn hoà hợp với văn hóa
của Trung quốc cũng như Nhật bản. Điều đó cũng đã
xảy ra với Phật giáo Tây tạng, Phật giáo vẫn phát triển
theo văn hóa của Tây tạng.
Tôi
theo Phật giáo Nguyên Thủy, tuân theo những lời dạy của
Đức Phật từ hơn 2500 trước đây. Chúng tôi rất mong
là Phật giáo sẽ được phát triển ở Tây phương để nó
trở thành tự nhiên, bình thường. Phật giáo có thể
đóng góp vào việc làm giàu thêm đời sống tôn giáo ở châu
Aâu, mà vần không đàn áp những tôn giáo hiện hành.
Khi
trở về Uùc, tôi có cảm tưởng rằng Gerd không bằng lòng
việc tôi đi vắng quá lâu. Dầu gì chúng tôi cũng lại
sum họp, và tôi có bao điều để tâm sự với anh. Suy
cho cũng, anh cũng rất thích Phật giáo. Tôi chắc rằng
anh cũng mong ước tôi đã tìm được con đường đi đúng.
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng anh không có nỗi say
mê tìm hiểu về Phật giáo sâu xa, quyết liệt như tôi.
Sau này, tôi mới hiểu sự vắng mặt của tôi khiến anh hiểu
lầm là tôi không ủng hộ mô hình nông nghiệp thiên nhiên
của anh. Nhưng lúc đầu, tôi không hề để ý đến những
vấn đề này.
Trang
trại của chúng tôi, ngôi đền nhỏ và cái kuti (thất) trong
rừng đã lôi cuốn nhiều vị thầy khác. Họ đến, nói
pháp và dạy chúng tôi nhiều phương pháp tọa thiền.
Tôi
lại bay sang Burma. Vào những ngày đó, du khách chỉ được
phép ở đó bảy ngày. Sau đó bạn phải ra khỏi xứ,
và trở lại với một thông hành mới. Tôi đã phải
làm như thế đến ba lần. Ba lần bảy ngày tôi tham thiền
ở một trung tâm thiền dưới sự hướng dẫn của các đệ
tử của ngài U Bha Khin, là một cư sĩ. U Bha Khin là bộ
trưởng tài chánh của chính phủ Burma. Oâng có chính
sách là chỉ những ai đã qua một khóa tu thiền với ông,
mới được phép làm việc với ông. Theo chỗ tôi biết,
nhờ chính sách này, mà bộ tài chánh đã làm rất tốt nhiệm
vụ của mình.
Từ
Burma, tôi quay trở về nhà. Nhưng từ đó trở đi, tôi
càng vắng nhà thường hơn. Khi thì tôi tham dự các khóa
thiền lúc lại tự mình tổ chức. Đến một lúc, các
vị thầy của tôi bảo rằng chính tôi cũng có thể dạy thiền
cho nhiều người khác trên trang trại. Chúng tôi nới
rộng nhà để xe ra để nhiều người có thể tham dự hơn.
Tôi
dự định đến tháng tư, Gerd và tôi sẽ dạy chung một khóa.
Gerd đã gửi giấy mời. Anh đã có ý định sẽ dạy
yoga cho những người tham dự.
Nhưng
bốn tuần trước ngày khai mạc, tôi lại đi về phía nam nước
Uùc để tổ chức một khóa thiền khác. Khi tôi trở
về, Jeffrey đứng đợi tôi ở nhà ga xe lửa. Tôi hỏi:
"Ba con đâu?" Nó trả lời: "Có lá thư đây".
Tôi
không tin những điều xảy ra trước mắt là sự thực.
Trong thư, Gerd bảo là anh phải ra đi. Anh tin rằng tôi
sẽ tiến xa hơn trong thế giới tâm linh, nếu như không có
anh ở bên cạnh.
Ngày
nay, tôi thấy rằng anh đã nói đúng. Tôi luôn nghĩ là
chúng tôi có thể cùng đi trên một con đường với nhau, và
đúng, chúng tôi cũng đã đi với nhau một đoạn đường khá
dài. Nhưng anh không thể dâng hiến tất cả cho con đường
đạo như tôi. Lúc đó, tôi chỉ biết sợ hãi và giận
dữ. Vì tôi phải làm gì đây với một trang trại mênh
mông, hai mươi lăm con ngựa, máy móc -tất cả những của
cải, tài sản của chúng tôi. Gerd không mang theo một
thứ gì. Anh chỉ ra đi với chiếc balô trên lưng.
Có
thể cuộc sống ở thôn quê quá nhàn rỗi đối với anh.
Chúng tôi đã xây dựng nên cơ ngơi ở đây, đã đổ bao mồ
hôi để tất cả được như ngày nay. Tất cả đã vào
nền nếp, không cần phải thay đổi gì, không cần phải làm
gì thêm nữa. Có lẽ đó là lý do đã khiến Gerd không
còn tìm thấy hứng thú ở lại nơi đây. Anh đã từng
và vẫn còn đến ngày nay, mang tinh thần của người khai hoang.
Chúng tôi đã sống trên trang trại này tổng cộng được
mười bốn năm.
Đứng
ở sân ga, với lá thư trong tay, ngay trong những giây phút đó
tôi đã thấy rõ ràng tôi không thể tự mình điều khiển
trang trại. Và thực tế điều đó đã nhanh chóng được
chứng minh. Bắt đầu là, tôi không biết sử dụng các
máy móc. Thí dụ, tôi không biết sửa máy bơm để bơm
nước từ ngoài suối vào nhà.
Jeffrey
thì đi học ở Brisbane. Cuối tuần con tôi cũng về để
giúp tôi, nhưng nó không quen với công việc ở trang trại,
nên rất khó nhọc cho nó.
Tôi
quyết định bán trang trại. Nhưng cũng không phải là
việc dễ làm ở thời điểm đó. Người ta không mua
bất động sản vì kinh tế đang gặp khó khăn. Không
ai có tiền nhiều.
Tôi
bèn bán trước đàn ngựa. Cũng may là có người mua ngay.
Nhưng bạn cũng phải biết cách chuyên chở ngựa đi.
Tôi chỉ biết cách làm trên lý thuyết, còn thực tế Gerd
là người luôn đảm trách những việc này. Kết quả
là tôi đã bị ngựa đá. Đúng là khó chuyên chở ngựa
trên những chiếc xe kéo.
Sau
đó tôi bán những thứ tài sản giá trị khác với giá rẻ,
để có thể thanh toán mọi thứ nhanh chóng. Những gì
không bán được, tôi vứt đi. Trong lúc hỗn độn đó,
tôi đã vứt đi những giấy tờ mà sau này tôi rất cần.
Cuối
cùng có một nhóm người thích đời sống thiên nhiên, đã
tụ lại thành câu lạc bộ. Câu lạc bộ này muốn mua
lại trang trại của tôi -với một số tiền đặt cọc.
Tôi phải làm hợp đồng coi như tôi cũng là một thành viên
trong tổ chức, chỉ như thế công việc mua bán mới tạm yên.
Tôi
vào ở một tu viện Phật giáo ở Sydney, nơi thầy Phra Khantipalo
đang tu. Ở đó có nhà cho các cư sĩ ở. Mỗi hai
tuần, tôi phải trở lại trang trại để thu xếp một số
công việc ở đó. Đó là điều không thể tránh khỏi,
vì các thành viên câu lạc bộ không biết điều hành công
việc ở trang trại. Tuy họ thích trở về sống với
thiên nhiên, nhưng họ không muốn phải bỏ công chăm sóc thiên
nhiên. Vì thế nhiều cây trái vườn tược bị hư hỏng,
kể cả vườn hồng tuyệt đẹp của chúng tôi.
Thầy
Phra Khantipalo nhờ tôi giúp trong việc thuyết pháp. Lần
đầu tiên tôi giảng pháp một mình ở trang trại -trong căn
nhà để xe mà tôi và Gerd đã sửa rộng ra. Có khoảng
mười người đến dự, tôi hướng dẫn họ cách tọa thiền.
Tôi rất vui mừng vì đã có thể đem lại lợi ích cho người
khác.
Gerd
có viết thư cho Jeff, báo tin anh đang ở Do Thái. Nhưng
anh không dừng chân lại đó lâu. Sau đó, anh đã đi khá
nhiều nơi. Giờ anh làm chủ bốn mẫu đất ở Nepal,
có hàng trăm cây trồng.
Trong
khoảng nữa năm đó, tôi phải đương đầu với nhiều vấn
đề, khiến tôi cảm thấy phiền não, khổ đau. Một
buổi sáng kia, sau khi thức dậy, mọi việc bỗng vỡ oà ra,
như thể trước đây có tấm màn chắn che trước mắt tôi.
Thật kỳ quặc, tôi nhận ra chính tôi là người tự làm khổ
mình. Tôi chỉ cần nói (hay nghĩ): tất cả mọi việc
hiện hữu như chúng phải hiện hữu, nên dù chúng có thế
nào cũng được.
Ngay
lúc đó, tôi bỏ qua được hết tất cả bao nhiêu chuyện
chất chứa trong lòng khiến tôi đau khổ, chán nản. Nói
cách khác, tôi đã vượt ra khỏi những tình cảm tiêu cực
của mình. Từ đó đến nay, tôi chưa bao giờ tự làm
khổ mình như thế nữa. Và tôi đã có thể, cho đến
ngày nay, có khả năng giải thích cho người khác hiểu được
phương pháp thực hành này. Nhưng còn việc họ có thực
hành được không, còn tùy thuộc vào sức mạnh tinh thần
của họ.
Cuối
cùng tôi cũng bán được trang trại Shalom của mình. Chúng
tôi -câu lạc bộ và tôi- cũng được ít tiền. Chí ít
thôi, vì chúng tôi bán không được giá. Dầu gì, bao
nhiêu lo âu của tôi đều đã qua đi.
Như
thế là tôi phải dọn đến Sydney. Thầy Phra Khantipalo
muốn xây dựng một tu viện ở trong rừng. Tôi có ít
tiền do bán được trang trại, cộng với gia tài của mẹ
tôi- người đã mất năm ngoái- để lại. Tôi bỏ hết
cả tiền vào việc lập tu viện, Wat Buddha Dhamma. Thầy
Phra Khantipalo và tôi, sau nhiều tháng kiếm tìm, đã chọn được
một nơi thích hợp ở giữa một công viên quốc gia -bảy
mươi hecta, gần bằng diện tích trang trại Shalom.
Thầy
Phra Khantipalo làm trụ trì. Tôi coi quản lý, sắp xếp
công việc. Và cả hai chúng tôi đều làm nhiệm vụ giảng
dạy. Dần dần nhiều dãy nhà được xây lên, trong đó
có một thiền đường. Một cái thất (kuti) dễ thương
được cất cho tôi trên triền núi. Lần lần có nhiều
kuti khác cũng được cất lên dành cho những người thích
theo đuổi cuộc sống tâm linh, để tìm được sự an bình
cho tâm hồn.
Có
khá nhiều người đến ủng hộ để Wat Buddha Dhamma có thể
được duy trì. Tất cả mọi người đều đóng góp vào
kinh phí xây dựng. Đến nay, tu viện này đã có mặt
hơn hai mươi năm rồi. Lúc đầu chỉ có Phra Khantipalo
và tôi là thành viên trong hội đồng quản trị. Ngày
nay chúng tôi có cả thảy là bốn thành viên. Một trong
các đệ tử của tôi, đại diện cho tôi.
Từ
đó trở đi, giáo lý của Đức Phật dẫn dắt cuộc đời
tôi. Theo giáo lý này, ta cần phải thực hiện bốn điểm
chính, như sau:
-Không
cho phép những tư tưởng xấu ác chưa dấy khởi được phát
khởi -nói cách khác là tránh xa chúng.
-Không
duy trì những tư tưởng ác xấu, khi chúng đã dấy khởi -nói
cách khác là làm chủ chúng.
-Hãy
phát khởi những ý nghĩ thiện chưa dấy khởi -nói cách khác
là tìm cách phát khởi các thiện ý.
-Hãy
làm lớn mạnh hơn nữa những tư tuởng thiện đã được
dấy khởi -nói cách khác là duy trì, phát triển chúng.
Tránh
xa, làm chủ, phát khởi, duy trì: đây là cửa ngỏ đưa đến
cuộc sống tâm linh. Điều đó có nghĩa là ta phải luôn
kiểm soát và làm chủ tư tưởng của ta. Nếu chúng là
các tư tưởng xấu ác, tiêu cực, sân hận, bực tức, ta cần
phải biết là chúng chỉ mang đến cho ta đau khổ, phiền não.
Bằng phương pháp tọa thiền, ta dần thay thế chúng bằng
những tư tưởng tìch cực, thương yêu, giúp đỡ.
Nhưng
điều này không phải có thể dễ dàng thực hiện ngay.
Không đơn giản như thế. Ta cần phải thực hành những
phương pháp này. Trong quá trình chuyển đổi, ta cần
phải đi từng bước. Phải dần bỏ các tư tưởng tiêu
cực, và thay thế chúng bằng những tư tưởng thiện:
Hãy nghĩ đến một cánh đồng đầy bông hoa, một mảng âm
nhạc ru hồn. Hay bạn có thể nghĩ đến những người
bạn thương yêu. Như thế, bạn có thể hướng tâm mình
đến những điều có thể đem lại niềm vui cho tâm bạn,
tình cảm bạn.
Khi
đã thực hiện được những điều này, bạn có thể
trở lại với tư tưởng ban đầu và cố gắng chuyển đổi
chúng. Nếu bạn thấy bực tức, sân hận với ai,
hãy nghĩ đến những tánh tốt khác của họ.
Muốn
thấu hiểu được giáo lý của Đức Phật, cũng như trong
quá trình phát triển tâm linh, ta cần phải thực hành được
những điều trên. Ngay từ lúc chưa có được sự hiểu
biết thấu đáo về Phật pháp, tôi vẫn nhận thức được
điều đó. Tôi tự biết rằng việc mình tự làm khổ
mình là một hành động điên rồ, nhưng hình như ai cũng dễ
dàng mắc phải.
Trong
những ngày còn sống ở Thượng Hải, ngay sau khi chiến tranh
chấm dứt, tôi đã tranh đấu với bản thân, để tận trong
thâm tâm, tôi không còn lòng thù hận họ, mà có thể hàn
gắn với đất nước Đức với người Đức. Tôi
đã nghĩ rằng những tư tưởng hận thù không có lợi ích
gì hơn là những đám mây đen che phủ cuộc đời tôi.
Sau này tôi tìm thấy những điều tôi đã mơ hồ nghĩ đến
được giải thích rõ ràng trong các kinh điển của Đức Phật.
Bốn
yếu tố (Tứ Chánh Cần) quan trọng trên nằm trong ba mươi
bảy phẩm trợ đạo đưa ta đến Giác Ngộ giải thoát.
Không có khóa tu nào, bài giảng nào, mà tôi không lồng vào
đó những lời dạy chí thiết này. Một khi bạn đã
thực hành nhuần nhuyễn, chúng trở thành thói quen khiến ta
không bao giờ để các tư tưởng xấu ác có thể dấy khởi.
Ta xa lánh chúng. Không có nghĩa là ta đè nén chúng.
Hiện
nay nhiều người lập luận rằng: Ta không nên đè nén gì
cả, ta cần phải để mọi thứ trong ta tuôn tràn. Đóù
là cách suy nghĩ của nhiều người. Nhưng ở đây không
phải là vấn đề của đè nén, mà là xa lánh, tránh xa.
Trong mỗi con người đều có cái tốt, cái xấu. Nếu
ta chỉ vun trồng cho cái tốt, thì một ngày kia cái xấu sẽ
biến mất.
Một
khía cạnh quan trọng nữa trong giáo lý của Đức Phật là
thái độ xả ly. Con đường đưa đến việc thực hành
xả ly nằm trong năm điều sau. Mỗi ngày ta cần quán
tưởng về chúng:
- Tôi
cũng sẽ bị hoại diệt, không thể trốn tránh điều
đó.
-
Tôi cũng sẽ bị bịnh hoạn, không thể trốn tránh điều
đó.
-
Tôi cũng sẽ chết đi, không thể trốn tránh điều đó.
-
Tất cả mọi thứ tôi sở hữu, thương yêu, đều sẽ đổi
thay, hoại diệt.
-
Tôi làm chủ nghiệp của mình, là kẻ thừa hưởng nghiệp
do mình tạo ra, dù là tốt hay xấu.
-
"Tất
cả mọi thứ tôi sở hữu, thương yêu đều thay đổi" rất
đúng khi áp dụng vào các mối liên hệ cha mẹ, con cái hay
vợ chồng. Con cái từ lúc ta sinh chúng ra, chúng đã không
ngừng thay đổi. Rồi chúng có thể biến khỏi đời
ta bất cứ lúc nào. Các liên hệ giữa những người
yêu nhau cũng thế.
Rõ
ràng không có ai trong chúng ta nghĩ là con cái hay người ta
thương thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên tình cảm ta
thì nghĩ như thế về họ, và luôn muốn ràng buộc họ.
Vì thế đã có nhiều vấn đề về tình cảm xảy ra trong
các gia đình.
Chúng
ta muốn điều khiển người thân của mình. Chúng ta nghĩ
là mình có thể quyết định việc phát triển của con cái,
có thể quyết định những gì con cái mình phải làm hay không
nên làm. Chúng ta không những muốn sở hữu con cái hay
người thương, mà còn muốn họ phải sống theo ý ta muốn,
làm theo những điều ta đòi hỏi, mong đợi ở họ. Nhưng
tất cả đều là hoài công.
Chúng
ta phải thực tập xả ly nếu ta muốn được sống và thương
yêu trong sự tự do. Đức Phật đã nói, thân này không
thuộc ta, thì làm sao người khác có thể là ta? Mỗi
người tự tạo nghiệp cho mình.
Ở
đây tôi muốn giải thích thêm về một phần trong giáo lý
của Đức Phật, có liên quan trực tiếp đến tôi -và như
tôi biết qua kinh nghiệm- cũng liên quan đến rất nhiều người
khác.
Tình
yêu cao thượng không đòi hỏi sự sở hữu, mà chỉ có ban
phát rộng rãi. Qua thời gian, tôi càng thấm thía với
những điều này sâu xa hơn.
Vào
năm 1979 tôi quyết định xuất gia. Cho đến thời điểm
đó, tôi đã khá từng trải, để nhận thấy rằng tất
cả mọi thứ trên cõi này đều không thể mang đến hạnh
phúc cho ta. Trong các cuộc hành trình, tôi đã hiểu rằng
sự tĩnh lặng, an bình không phải do những thắng cảnh tuyệt
vời trên trái đất mang đến cho ta. Chúng chỉ có thể
được tìm thấy trong trái tim ta.
Giờ
tôi đã sẳn sàng để dâng hiến cuộc đời mình cho lý tưởng
cao đẹp nhất.
Chương 12
Ilse Trở Thành
Ayya Khema
Được
sinh làm người là khó,
Được
sống càng khó hơn;
Được
nghe Chánh pháp là khó,
Được
gặp Phật ra đời càng khó hơn.
Kinh
Pháp Cú - 182
Tôi
đã quay trở lại quãng đời quá khứ để tả cho độc giả
những đoạn đường khúc khủy tôi đã đi qua, trước khi
tìm được con đường đạo.
Trước
khi biết đến Phật giáo, tôi đã đi tìm con đường trong
chính tôn giáo của mình. Tôi đã sinh ra là người Do
Thái, nên dù không được giáo huấn trong ý nghĩa của một
tôn giáo chính thống, tôi vẫn có những mối liên hệ với
Do Thái, với tín ngưỡng Do Thái.
Khi
bạn sinh ra làm người Do Thái, bạn không thể chối bỏ nguồn
gốc Do Thái của mình. Tôi nghĩ điều đó không liên
quan gì đến tín ngưỡng. Đó chỉ là một cảm giác
về chủng tộc. Theo bản năng, khi tiếp chuyện với ai,
tôi có thể đoán biết người đó có phải là người Do Thái
không. Có một 'cung cách' tiêu biểu nào đó khiến người
ta dễ nhận biết nhau.
Năm
Jeff được mười ba tuổi, tôi đem con đến gặp thầy rabbi
(thầy tu trong đạo Do Thái). Ở tuổi đó, con trai phải
làm lễ Bar Mitzvah, để bước vào tuổi trưởng thành.
Gerd, chồng tôi đã lớn lên trong truyền thống Do Thái, tự
giới thiệu mình bằng tên trong đạo Do Thái. Tôi hoàn
toàn không biết mình có tên Do Thái hay không. Thầy Rabbi
nhìn tôi rất lâu, hỏi: "Vậy cô không phải là người Do
Thái sao?"
Gerd
trả lời: "Dĩ nhiên cô ấy là người Do Thái rồi. Chỉ
có điều cô ấy không được giáo dục về điều đó".
Rồi họ nhanh chóng tìm cho tôi một cái tên. Tôi hoàn
toàn không có hiểu biết gì về vấn đề này.
Sau
đó tôi bỏ một khoảng thời gian tìm tòi, học hỏi về những
kiến thức tôi đã thiếu sót. Tôi đã đọc rất nhiều
sách, thí dụ như Zohar và những sách khác về Kabbalah.
Nhưng tôi không hiểu gì nhiều. Hình như họ ở một
cung bậc mà tôi không với tới. Rồi khi chúng tôi về
sống ở Shalom, tôi được biết về một tổ chức quốc tế,
có tên là Chabad dạy về Thần Bí (Hasidism) trong đạo Do Thái.
Trụ sở của họ được đặt ở Sydney, Uùc. Tôi đã
đến tìm vị thầy phụ trách ở đó. Oâng là một
giáo sư toán ở đại học Sydney, có vợ và sáu con. Mỗi
tối ông đều giảng kinh sách tại nhà riêng.
Tôi
đã đến nghe ông, và hiểu rằng để có thể bước vào những
giáo lý huyền bí này, trước hết người ta cần phải biết
tiếng Hebrew. Tôi thuộc lòng một số bài kinh chủ yếu,
nhưng không biết tiếng Hebrew, nói gì đến việc đọc.
Bên cạnh đó, tôi còn phải chấp nhận lối sống theo đạo
chính thống. Có nghĩa là nếp sống trong gia đình phải
theo các điều luật kosher, mà tôi không biết đến những
điều căn bản, cho nên điều đó là không tưởng. Và
điều thứ ba đòi hỏi tôi phải là nam giới. Coi như
trong trường hợp của tôi, không thể xảy ra rồi. Nói
rõ lại, là nữ giới, tôi chỉ được phép lắng nghe, chứ
không thể tham dự vào.
Tôi
cũng có viết thư cho Gershom Scholem, người được coi là tiếng
nói của Kabbalah, mà tôi có đọc qua sách của ông. Gershom
từng là giáo sư ở Đại học Hebrew ở Jerusalem, nhưng ông
đã nghĩ hưu, hiện sống tại Thụy điển. Tôi nhờ ông
làm nhịp cầu để tôi có thể hiểu được Kabbalah và Zohar.
Ôâng lập tức hồi âm cho tôi biết là gần ba mươi năm về
trước đã có những trường dạy về các giáo lý này
ở ngoài Jerusalem. Trường có tên là Beth El (Nhà của
Chúa), nhưng trường này bị đóng cửa vì thiếu thầy, thiếu
trò. Đó là lúc tôi bỏ không theo đuổi con đường này
nữa.
Gần
đây, tôi tình cờ đọc được một cuốn sách rất thú vị,
tựa là Người Do Thái Bên Cánh Sen (The Jew In The Lotus).
Cuốn sách kể lại một cuộc gặp gỡ ở Dharamsala, là nơi
trú ngụ của Đức Đạt lai Lạt Ma trong lúc lưu vong.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mời một phái đoàn người Do Thái
gồm các thầy Rabbi và các nhà lãnh đạo của những đoàn
thể tôn giáo Do Thái đến thăm hỏi. Ngài muốn tìm hiểu
tại sao người Do Thái có thể duy trì được dân tộc tính
và tôn giáo qua hai ngàn năm lưu vong. Đó là câu hỏi
người Tây tạng rất muốn được trả lời.
Điều
làm tôi cảm động nhất là phần diễn tả buổi gặp gỡ
giữa những người tham dự hội thảo và khoảng chục người
Do Thái đã xuất gia làm tăng ni theo truyền thống Tây tạng.
Các vị tăng ni này hiện đang tu học, và sinh sống tại Dharamsala.
Tất cả đều có cùng câu chuyện để kể như tôi đã kể.
Nghĩa là họ đã tìm hiểu, đào sâu vào những khía cạnh
thần bí của chính tôn giáo họ, nhưng không tìm được sự
đồng cảm, do đó họ đã tìm đến với Phật giáo, với
tất cả lòng tin của họ.
Quyết
định xuất gia tu theo Phật giáo không phải là điều dễ
dàng đối với tôi. Trước khi dứt khoát hẳn, tôi
đã tham dự một khóa an cư ba tháng trong một tu viện ở Thái
Lan. Trong những tháng tám, chín và mười, trời mưa liên
miên ở Ấn Độ. Và ở Thái Lan, mưa rất lớn.
Khóa an cư bao giờ cũng bắt đầu vào một ngày rằm, do đó
ngày theo dương lịch mỗi năm lại nhích thêm một chút.
Đức
Phật ngày xưa dành những tháng này cho các tăng ni được
ở lại trong chùa, chuyên tâm tu học, tham thiền. Đồ
vật thực sẽ được mang đến cúng dường cho họ tại chùa.
Lý do rất thực tiễn và đáng ngưỡng mộ. Vì thời
đó, Đức Thế Tôn có rất nhiều đệ tử, hằng ngày phải
băng qua những cánh đồng để đi khất thực ở từng nhà.
Vào mùa mưa, người nông dân đến thưa cùng Phật rằng các
vị tăng ni khi đi qua các ruộng đồng đã dẫm lên các gốc
mạ non, ẩn mình dưới nước, nên khó thấy. Và cuộc
sống của họ tùy thuộc vào sự lớn mạnh của cây lúa.
Đức
Phật quyết định không để việc này tiếp tục xảy ra.
Cách tốt nhất là giữ họ ở lại trong các tu viện.
Từ đó sinh ra lệ an cư vào mùa mưa, kéo dài cho đến ngày
nay. Ở Tây phương, thời điểm an cư được thay đổi
cho phù hợp với khí hậu ở mỗi xứ sở. Chúng tôi
thường an cư vào mùa đông, khi có tuyết đá rơi phủ, đó
cũng là lúc ta nên ở trong nhà hơn đi ra ngoài.
Thế
là tôi đã đến Thái Lan trong ba tháng, ở trong một tu viện
nằm giữa một rừng cây rất đẹp. Ở đó có một vị
pháp sư được nhiều người biết đến qua tên Tan Ajahn Singtong.
Mẹ của Sư đã hơn tám mươi tuổi sống cùng với các sư
cô ở khu vực dành cho ni giới. Mỗi ngày Sư đều đến
viếng thăm mẹ và giảng pháp, có người dịch lại những
bài giảng đó cho tôi.
Tôi
cố học tiếng Thái, nhưng tôi không thể nào quen được với
các âm ngữ như tiếng nhạc của họ, nên đành bó tay.
Đó là một ngôn ngữ bằng thanh âm. Cùng một chữ nhưng
có thể có năm dấu nhấn khác nhau, tạo nên năm nghĩa khác
nhau. Tôi hoàn toàn không thể phân biệt được chúng.
Đối với nhiều người, thì việc đó không khó khăn gì.
Tôi
còn nhớ vài kỷ niệm về chuyến tu học này. Trước
hết là ngồi kiết già trên sàn gỗ để tọa thiền, không
có gối thiền. Những thứ này phải tập mới quen, nên
tôi cũng phải mất một thời gian mới làm được.
Một
việc nữa, đã gây ấn tượng lạ trong tôi, là được thấy
các Phật tử trong vùng, hằng ngày mang rất nhiều thức ăn
đến tu viện cúng dường, để tỏ lòng thành kính với Đức
Phật và tăng chúng. Đó là một trong những phong tục
tôi không chấp nhận ở những tu viện do tôi thành lập sau
này. Đức Phật đã tuyên bố Người không muốn tạo
ra một tôn giáo thực phẩm, hẳn là phải có lý do. Ngoài
ra tôi cũng không chấp nhận được một số phong tục khác
ở Thái Lan.
Nhưng
tôi cũng phải làm kẻ bàng quang, đứng nhìn các ni ở Thái
Lan chỉ giữ những vị trí phụ cần. Họ không được
gọi là sư cô, mà là "những phụ nữ áo trắng". Tôi
không cảm thấy hào hứng lắm về những chuyện này.
Nửa
khóa an cư còn lại, tôi đến ở một tu viện khác trong rừng,
nơi trưởng lão Tan Ajahn Mahabova sinh sống, tôi được nghe
nói, Ngài là người đã được Giác Ngộ.
Cả
hai vị Tan Ajahn Singtong và Tan Ajahn Mahabova đều là những vị
thầy đáng kính. Tôi mang ơn họ rất nhiều. Có
câu chuyện được kể về họ như sau. Khi nhà vua Bhumipol
của Thái Lan làm lễ mừng thọ sáu mươi tuổi, nhà vua mời
những vị tăng nổi tiếng trong nước đến dự, trong đó
có hai thầy. Trưởng lão Tan Ajahn Mahabova trả lời, "Nếu
nhà vua muốn gặp tôi, thì mời ngài đến đây". Trong
khi thầy Tan Ajahn Singtong nhận lời mời, cùng với chín vị
tăng khác, lên máy bay do nhà vua gửi đến chở họ đi.
Máy bay rớt, tất cả hành khách đều tử nạn. Chuyện
đó xảy ra mười năm sau khi tôi đến Thái Lan.
Thời
gian tu tập ở hai tu viện đã để lại cho tôi nhiều kỷ
niệm sâu xa. Ở cả hai nơi, tôi đều được nghe Pháp
bằng những bài dịch khá tốt. Nhưng sự khó khăn về
ngôn ngữ và vai trò phụ thuộc của ni giới, khiến tôi chẳng
thiết muốn được trở thành một sư cô ở đó. Tôi
đã từng thấy nhiều vị ni phải bỏ cả buổi sáng để
lo cơm nước cho các tăng mỗi ngày! Tôi đã phải nấu
ăn cho gia đình tôi hơn ba mươi năm rồi, vì thế đó chẳng
phải là một hình ảnh tương lai hấp dẫn cho tôi.
Trở
về Uùc, tôi thưa với thầy Phra Khantipalo, "Con muốn trở thành
một sư cô, nhưng không phải ở Thái Lan". Tôi đã chọn
một nơi khác -đó là Sri Lanka. Tôi vẫn còn nhớ đến
vẻ đẹp của xứ sở mà chúng tôi đã một lần du lịch
qua đó -giống như những cảnh thiên đáng! Và vì Sri
Lanka từng là thuộc địa của Anh hơn một trăm năm, nên rất
nhiều người nơi đó có thể nói được tiếng Anh.
Ở
đây, tôi muốn trở lại lý do vì sao tôi muốn xuất gia.
Lúc này tôi đã năm mươi lăm tuổi, đã đi khắp nơi trên
thế giới. Tôi đã có con, có cháu. Tôi đã có mái
ấm gia đình. Đã có tài sản. Tôi đã từng rơi
vào cảnh nghèo khổ, rồi cũng có lúc làm người giàu có.
Tôi đã từng làm chủ một trang trại, với những con ngựa
Shetland. Tôi đã từng sống ở những đô thị lớn của
Mỹ, cũng như đã lang thang sống trong chiếc xe van, ngủ trên
giường xếp, ăn uống ở những bếp cắm trại. Tôi
đã từng là thư ký ngân hàng, là cô giáo của con trai tôi.
Nghĩa là không ít thì nhiều tôi đã từng trải qua tất
cả. Cuộc đời còn gì cho tôi nữa? Cuộc sống
không thể mang lại cho con người sự bình an và hạnh phúc
nội tâm, vì tất cả mọi thứ trên đời đều vô thường.
Tất
cả những gì tôi vừa kể đã là quá khứ, đã qua đi.
Tất cả những gì tôi kể lại ở đây chỉ còn là ký ức,
và còn nhiều thứ mà tôi không thể nhớ đến nữa.
Tất cả đều biến mất trong dòng chảy của thời gian.
Tôi
đã sống một cuộc đời đầy biến động. Không phải
do sự sắp đặt của tôi, tất cả mọi việc đều tự nó
đến. Tôi còn tìm kiếm gì nữa ngoài chính bản thân
tôi? Đã tới lúc để giã từ đời sống thế tục.
Nói như thế có vẻ như tôi đang quay lưng lại với cuộc
đời, dĩ nhiên là tôi cũng đã từng nhiều lần làm như thế.
Nhưng không ai có thể hoàn toàn xa lánh cuộc đời. Một
khi ta còn có thân, ta còn phải sống trong thế giới này.
Ta còn phải nuôi dưỡng thân, phải tiếp xúc, phải chuyện
trò với người khác.
Hơn
thế nữa: khi tôi thuyết pháp, các đệ tử đến nghe, mang
theo với họ những chuyện của thế giới bên ngoài.
Khi
nói ‘từ giã cuộc sống thế tục", tôi chỉ có ý nói là
tôi sẽ bước sang một lối rẽ mới, sống một cuộc đời
mới, để làm người quan sát, kẻ đứng ngoài hơn là người
chạy đuổi theo các ái dục. Những việc này không phải
dễ thực hiện lúc đầu, nhưng dần dần qua thực tập, ta
sẽ thấy dễ dàng hơn. Người đứng ngoài sẽ dễ thông
cảm, thương yêu đối với mọi người quanh mình, nhưng không
để mình bị cuốn theo tình cảm, hay số phận của họ.
Có
một danh từ rất đẹp: lòng thương cảm. Có nghĩa là
lúc ban đầu, ta rất dễ đồng cảm với những người có
các tình cảm đam mê luyến ái. Nhưng mục đích của
Phật pháp là để hủy diệt các tình cảm này. Vì lòng
luyến ái thường đưa ta đến thù hận, tham lam.
Các
vị pháp sư luôn cố gắng truyền đạt những điều này đến
với các đệ tử của mình, và trong quá trình giảng dạy,
chính họ cũng được nghiền ngẫm thêm những bài học thâm
thúy này. Vì nếu như trong khi thuyết giảng, bạn tự
biết mình vẫn đang thực hành những điều mình giảng, thì
người ta mới coi như bạn là người có tu chứng. Chỉ
có như thế, bạn mới cảm hóa được người khác. Họ
cần phải biết khi bạn nói, bạn nói về những điều tự
thân bạn cũng đã kinh qua. Bạn không phải chỉ nói theo
sách mà truyền đạt từ trái tim của mình.
Vì
thế việc tôi quyết định xuất gia, chỉ là con đường tôi
phải đi để tự phát triển. Giờ nhìn lại, tôi thấy
chính quá khứ của tôi đã dẫn dắt tôi vào con đường này.
Những kinh nghiệm bản thân đã giúp tôi có thể xả bỏ những
sợ hãi cho riêng mình, cho đồng loại. Tôi nhận thấy
rằng tôi có thể đương đầu với mọi nghịch cảnh trong
đời, dù đó là ở vùng Amazon hay ở trên tầng cao Hunza.
Bạn có thể vượt qua tất cả nếu bạn biết thuận theo
dòng chảy.
Tôi
đã rèn cơ thể tôi có thể chịu đựng sự khổ cực.
Đối với tôi, đó là một tiến bộ vượt bực.
Vì trong thời thơ ấu, tôi luôn được sống trong nhung lụa.
Ở Thượng Hải, cha mẹ tôi cũng cố giữ nếp sống cũ cho
tôi. Lớn lên, tôi sống ở Mỹ, cũng sung sướng nhàn
hạ ở đô thị, trong một ngôi nhà khang trang.
Nhưng
rồi cuộc sống sung sướng đó cũng chấm dứt. Tôi đã
phải ngủ nhiều đêm trên bãi biển đầy muổi, phải qua
sông trên những con thuyền làm bằng thân cây, dưới cái nắng
đốt da. Trên đoạn đường đi từ Java đến Sumatra,
chúng tôi đi trên một chiếc tàu là tàu chở các dây cáp,
trên đó không có chỗ để nằm ngồi. Tôi phải đánh
giấc trên những tấm ván gỗ.
Tôi
không tiếc nuối đời sống sung sướng của mình, vì tôi
thấy có nó cũng được, mà không có cũng được. Đó
là một quá trình tự khám phá mình, một sự buông xả mọi
điều kiện vật chất bên ngoài. Bù lại, nó mang
đến cho ta biết bao tự do nội tại; nó khiến tôi nhận ra
rằng những khía cạnh của đời sống tâm linh mới quan trọng
hơn nhiều.
Thế
là tôi bay qua Sri Lanka. Thầy Phra Khantipalo trao cho tôi
lá thư giới thiệu mà Thầy viết cho Hoà thượng Nyanaponika
Thera, một trong những vị sư nổi tiếng ở Sri Lanka.
Hoà thượng sống trong một cái thất nhỏ ở ngoại ô Kandy.
Hòa thượng Nyanaponika Thera là một người Đức, gốc Do Thái,
đã xuất gia từ năm 1935. Vì có chung một hoàn cảnh,
chúng tôi cảm thấy rất dễ hoà hợp. Ngài là một vị
thầy đáng kính, hòa nhã với mọi người, là một thiền
sư, một học giả, đã dịch nhiều kinh sách Phật giáo từ
tiếng Pali.
Tiếng
Pali được sử dụng trong các kinh tạng của Đức Phật, trong
các giới luật của tăng đoàn và Vi Diệu Pháp. Đó là
một ngôn ngữ của thời xa xưa, và không có mẫu tự riêng.
Những
lời dạy của Đức Phật được viết lại lần đầu tiên
có lẽ vào khoảng hai trăm năm mươi sau khi Ngài nhập diệt,
trên lá các cây cọ dùng mẫu tự Sinhalese. Ở Sri Lanka
có một tu viện vẫn tiếp tục sao chép từ các lá này qua
những lá mới, vì chúng rất dễ hư hoại. Lúc nào họ
cũng phải có một pho đầy đủ tất cả các kinh tạng Pali
của Đức Phật trên lá.
Ở
Ngôi Nhà Phật (Buddha-Haus) ở Allgau, chúng tôi có bộ kinh tạng
Pali bằng tiếng Anh và tiếng Đức trong thư viện. Tôi
biết rất ít tiếng Pali.
Hòa
thượng Nyanaponika Thera bảo là có thể xuống tóc cho tôi xuất
gia bất cứ lúc nào ở trong thất của người, nhưng làm như
thế không trang trọng, không có ý nghĩa, vì thế Ngài viết
thư giới thiệu tôi cho Hoà thượng Narada Thera, là trưởng
ban hoằng pháp ở một ngôi chùa lớn ở Colombo.
Với
lá thư giới thiệu trong tay, tôi phải lấy xe buýt đi Colombo,
một chuyến đi dài và không kém phần nguy hiểm hơn những
chuyến xe buýt tôi đã đi ở Nam Mỹ trước đây. Tôi
đến ra mắt Hoà thượng Narada Thera. Hòa thượng định
ngày xuất gia cho tôi vào một ngày trong tháng bảy, năm 1979.
Sau đó Hòa thượng trao tận tay tôi những quyển sách kinh
bằng tiếng Pali, mà tôi phải học. Phần lớn các kinh tôi
đã thuộc lòng. Số còn lại phải học không có là bao.
Ngoài
ra Hòa thượng còn cho tôi địa chỉ nơi may y cho các ni.
Không thể mua các y may sẳn.
Chiếc
y của tôi do một người thợ may nữ may bằng thứ vải dạ
màu vàng. Y của tôi gồm có một chiếc sà rong quấn
quanh lưng, buộc bằng dây nịt, và một chiếc áo jacket nhỏ.
Bên ngoài lại có thêm phần áo trên, giống như chiếc áo
dạ nâu tôi đang mặc, để cho thích hợp với khí hậu ở
Đức. Vải may chiếc y đầu tiên của tôi bằng vải
thật mỏng, vì khí hậu ở Sri Lanka nóng không chịu nổi.
Hoà thượng Narada Thera hỏi tôi muốn lấy pháp hiệu gì Dhammadinna
hay Khema. Tôi quyết định khá nhanh chóng. Khema chỉ
có hai âm, rất dễ cho người Tây phương nhớ.
Sau
này, khi tôi đã qua một thời gian nghiên cứu, học hỏi, tôi
mới biết trong thời Đức Phật còn tại thế, Khema là một
vị trưởng lão ni đã được Đức Phật khen là 'đầy trí
tuệ". Ban đầu, bà là vợ của một vì vua, một người
đàn bà rất tự mãn về sắc đẹp của mình. Bà không
hề để ý đến những lời thuyết giảng của Đức Phật,
trong đó Đức Phật luôn nhấn mạnh rằng sắc đẹp bên ngoài
không có nghĩa lý gì. Dầu vậy, bà vẫn đến nghe Đức
Phật thuyết pháp. Đức Phật khiến bà nhìn thấy hình
ảnh một người đàn bà còn đẹp hơn bà nhiều. Rồi
Đức Phật cho bà thấy người đàn bà đẹp đó trở nên
già nua, mất hết sắc đẹp, dần dần cho đến lúc chết.
Lúc đó, hoàng hậu Khema nhận ra rằng sắc đẹp không có
nghĩa gì cả. Ngày hôm sau, bà xuất gia đi tu, và dần
được Giác Ngộ. Đó là một trong những câu chuyện
nổi tiếng vào thời Đức Phật. Nhưng tôi không hề
biết đến câu chuyện này khi chọn cái tên đó.
Các
vị tăng thường có phẩm chức trước tên của họ như là
Phra, Tan hay Ajahn. Trước tên của tôi là "Ayya". Ayya
là tiếng Pali, được dùng để gọi các vị nữ tu từ thới
Đức Phật. Tất cả các ni Tây phương theo Nguyên Thủy
kể từ sau tôi đều được gọi là Ayya.
Và
tôi đã trở thành Ayya Khema như thế.
Trước
khi tôi đến chùa để làm lễ xuất gia, các sư cô đã cắt
tóc tôi. Lúc đó tóc tôi dài và rất dày. Theo nghi
lễ, người được xuống tóc sẽ cầm lấy một nhúm tóc
của mình. Họ phải cầm mảnh tóc đó trong tay, và nghĩ
rằng chỉ vài phút trước đây, mảnh tóc này là "của tôi".
Và giờ nó chỉ là một thứ dơ bẩn, đáng được vứt vào
thùng rác. Tôi vẫn nhớ là lúc đó tôi hoàn toàn không
có một cảm giác gì về việc đó. Không ân hận, không
có gì cả.
Buổi
lễ bắt đầu. Trong bộ y vàng, tôi đi băng qua sân đến
từng ngôi tháp nhỏ. Tôi tưởng là tôi hoa mắt: Cả
sân chùa đầy nghẹt người. Có đến sáu hay bảy trăm
người. Tôi hỏi Hòa thượng Narada Thera, họ làm gì ở
đây. Ngài bảo: "Tôi đã mời tất cả mọi người đến".
Đúng vậy, ông đã mời tất cả mọi người quen biết, tất
cả ai muốn đến dự, tất cả những ai nói tiếng Anh.
Tôi quá đổi sợ hãi, đến nỗi quên tất cả tiếng Pali.
Tôi không thể nhớ được tôi phải nói câu gì.
Hòa
thượng Narada Thera phải xướng từng câu từng chữ, và tôi
lập lại theo Thầy từng câu từng chữ. Buổi lễ xuất
gia diễn ra khá nhanh chóng. Chưa đầy mười phút.
Sau đó người xuất gia phải lễ Đức Phật, thầy mình và
tất cả các vị tăng có mặt. Khi tất cả mọi nghi lễ
đã xong xuôi, một nhóm khoảng gần hai mươi cô gái áo trắng
tiến lại phía tôi. Mỗi người mang tặng tôi một món
quà: bàn chải răng, khăn tay, khăn mặt, một quyển thành ngữ.
Tôi bị choáng ngợp bởi mọi thứ. Các cô thiếu nữ
này chúc mừng tôi. Các vị khách chúc mừng tôi.
Sự chúc tụng kéo dài hằng giờ. Tôi nói cảm ơn không
biết bao nhiêu lần.
Các
vị tăng ni theo truyền thống không nói cảm ơn. Nhưng
tôi vẫn chưa quên được thói quen này. Tôi đã được
giáo dục như thế, tôi sẽ còn tiếp tục nói Cảm ơn như
thế. Lý do khiến các vị tăng ni không nói lời Cảm
ơn khi nhận cúng dường từ các cư sĩ, vì chính người cúng
dường cho các vị tăng ni sẽ được thọ hưởng phước báu
rất lớn. Do đó người cúng dường phải cảm ơn các
vị tăng ni cho họ cơ hội được cúng dường, chứ không
phải người thọ lãnh vật cúng dường.
Cuối
buổi chúc tụng, tôi đứng dậy, lúc đó một tu sĩ người
Tây phương tiến về phía tôi. Tên thầy là Sumedha.
Trước khi xuất gia, đến sống ở Sri Lanka, thầy từng là
một họa sĩ rất nổi tiếng ở Thụy sĩ . Thầy nói:
"Có thể nói là trước đây bà chỉ có tình cảm (với Phật
giáo), giờ bà đã coi Phật giáo là gia đình". Tôi biết
Thầy muốn ám chỉ về sự liên hệ giữa tôi và Phật
giáo. Tôi nghĩ đó là một cách diễn tả rất chính xác
về sự xuất gia của tôi. Giờ nhiệm vụ duy nhất trong
đời tôi là làm một vị ni, từ giờ sự hiện hữu của
tôi là ở trong vai trò một người ni. Có nghĩa là tôi
không chỉ đọc về giáo lý của Đức Phật, mà còn phải
học thuộc một số kinh điển, và từng bước thực hành
chúng.
Từ
đó, tôi lại tham gia vào công việc giảng dạy, khiến tôi
phải đi cùng khắp thế giới. Ngày nay có hàng ngàn Phật
tử đã được biết đến những kinh nghiệm tu tập của tôi
qua sách vở, băng cassette, hay qua các bài giảng, và chúng đã
phần nào đem lại lợi ích cho cuộc sống của họ.
Sống
độc thân là một trong những giới luật quan trọng của người
xuất gia. Là một sa di, tôi phải giữ mười giới luật.
Trong đó có năm giới tôi đã từng được nghe từ thầy Phra
Khantipalo -chỉ có cái khác là giới thứ ba trở thành giới
sống đời độc thân- cộng với những giới sau đây:
+
Không ăn phi thời
+
Không nhảy múa, ca hát hay dự các cuộc biễu diễn đó.
+
Không đeo trang sức, thoa nước hoa; không dùng mỹ phẩm
+
Không ngủ trên giường cao nệm ấm
+
Không kinh doanh để làm lợi cho bản thân.
Bắt
đầu từ thế kỷ thứ mười chín, ở Sri Lanka chỉ có các
sa di ni. Để giải thích về điều này, tôi cần đi ngược
dòng lịch sử một chút. Theo truyền thống, một vị
ni chỉ được coi là đã hoàn toàn thọ đại giới -được
lên hàng tỳ kheo ni (bhikkhuni), sau khi vị ấy đã được chấp
nhận vào ni đoàn bởi các vị tỳ kheo khác. Nhưng
ni đoàn của tỳ kheo ni đã không còn hàng ngàn năm về trước.
Hàng ngàn vị ni đã được nhắc nhở tới trong các kinh điển
cổ xưa. Họ từng sống trong các tu viện to lớn.
Rồi bỗng nhiên tất cả đếu biến mất. Lúc đó là
thời kỳ chiến tranh giữa Tamils và Singhalee, có lẽ các vị
ni dễ bị nguy hiểm hơn, có thể họ đã bị tàn sát hay bị
chết đói. Vì bất cứ lý do gì, họ đã không còn
có mặt ở đây.
Do
đó, vì không có các vị tỳ kheo ni nữa, nên tôi không được
trở thành tỳ kheo ni ở Sri Lanka, mà chỉ là sadi ni. Sau
này tôi mới thọ đại giới ở California. Có các ni theo
thiền tông, có ni theo Phật giáo Tây tạng, có ni theo Phật
giáo nguyên thủy. Tôi theo Phật giáo Nguyên thủy (Theravada),
là tông phái rất thích hợp cho tôi.
Phật
giáo Nguyên thủy là Phật giáo cơ bản. Các nước Thái
Lan, Sri Lanka, Burma và Campuchia theo Phật giáo nguyên thủy.
Tông phái này dựa vào những lời dạy từ chính Đức Phật,
và chính đặc tính này đã khiến tôi hướng về Phật giáo
từ những ngày đầu.
Sau
khi xuất gia, tôi đến một tu viện trung tâm, chuyên về thiền,
ở Kanduboda, cách Colombo khoảng nửa tiếng. Tôi cần sự
yên tĩnh, an bình. Tôi dọn vào một phòng nhỏ, chỉ có
giường, ghế và một bàn ngủ. Ở đây có điện, có
buồng tắm chung cho mọi người. Giờ thức chúng mỗi
ngày là bốn giờ sáng. Với cái nóng ở Sri Lanka, phải
dậy sớm không thành vấn đề. Buổi sáng không khí mát
mẻ, dễ chịu, bầu trời quang đãng.
Tôi
còn nhớ buổi sáng đầu tiên của mình ở đó. Trong
lúc toạ thiền, tôi thấy một hình ảnh hiện ra trong tâm
mình. Đó là một sư cô, có lẽ là người Singhalese,
và tôi không hiểu sao, tôi tự nghĩ đó là hình ảnh của
mình. Tôi đang đứng ở một ngôi tháp chờ đợi một
vị tăng, tôi còn nhớ rõ ràng như thế, và vị ấy cũng xuất
hiện. Đó là một ngôi tháp to ở trong cánh rừng.
Tôi còn nhớ các chi tiết hết sức rõ ràng.
Từ
những hình ảnh này, tôi đi đến kết luận, có thể tôi
đã từng là người xuất gia. Vậy thì giờ tôi càng
thêm quyết chí tiếp tục con đường mình đã bắt đầu trong
các tiền kiếp.
Những
hình ảnh đó gây ấn tượng mãnh liệt trong tôi. Một
ngày kia, tôi kể cho vị trụ trì nghe về những gì mình đã
thấy, tả về ngôi tháp rất chi tiết. Thầy trụ trì
bảo: "Con có thể đi thăm ngôi tháp đó; nó ở trong một cánh
rừng trong vùng Anuradhapura. Từ những gì con đã tả,
con sẽ tìm thấy nó dễ dàng". Và tôi đã thực sự tìm
ra được ngôi tháp đó. Đúng y như tôi đã thấy trong
lúc ngôi thiền đến từng chi tiết.
Tôi
rất thích cái thất của mình. Ở trong đó, tôi có thể
ngồi thiền rất yên. Một ngày kia, có một phụ nữ
đến thăm tôi. Bà mời tôi đến dự một cuộc họp
mặt của các vị ni người Singhalese, và nhờ tôi tổ chức
họ lại. Tôi rất muốn đi, nhưng tôi chỉ mới xuất
gia được vài ngày, tôi có tư cách gì để đảm nhiệm vai
trò đó? Người khách bảo tôi là các sư cô không có
khả năng tự tổ chức. Họ cần được tổ chức lại
để ni giới có tiếng nói hơn trong giáo hội. Điều
đó sẽ giúp ni giới đòi hỏi được quyền đi học, được
có chỗ ở thỏa đáng hơn. Cho đến lúc đó, ni giới
ở đây không được coi trọng, quyền lợi của họ rất ít
ỏi.
Thế
là tôi tham dự vào cuộc họp đó. Chỉ có một người
nói được tiếng Anh. Qua người thông dịch viên, tôi
mạnh dạn đề đạt những kiến nghị của mình. Tôi
cũng không biết là những đề nghị này có được thực
hiện không. Nhưng tôi coi đó là một nghĩa vụ phải
ủng hộ, nâng đở các bạn ni ở đó với những kiến thức
chúng tôi có được từ phương Tây.
Trong
một trường hợp khác, tôi đã thành công. Qua một phụ
nữ tích cực, giờ đã thành bạn của tôi, tôi được biết
đến một tu viện ở Madiwela, ngoại thành của Colombo.
Danh từ "tu viện" đã là một phóng đại cho nơi chốn này.
Đó chỉ là một căn nhà nhỏ xíu, không có cả nhà bếp,
dành cho các vị ni.
Tôi
đã đóng góp giúp họ xây được một thiền đường, một
phòng đọc sách, và hai phòng ngủ. Và tôi đã dọn vào
ở một trong hai phòng đó. Chúng tôi cũng xây cả nhà
bếp -công việc đó được các người thợ xây dựng Singhalese
không nói được một chữ tiếng Anh đảm nhiệm. Hướng
dẫn được họ làm theo ý mình muốn không phải là chuyện
dễ dàng.
Chúng
tôi còn lo cả việc mời các pháp sư đến dạy, vì thiền
đường còn có thể dùng làm phòng học. Một tấm bảng
ghi công đức với tên tôi được đặt lên tường, rồi còn
có lễ khánh thành rất vui, với các em bé đến ca hát, nhảy
múa, và với sự tham dự của nhiều sư cô. Tôi dành
mỗi ngày chủ nhật thứ hai trong tháng để làm ngày tọa
thiền cho những người nói tiếng Anh trong vùng. Họ luôn
đến rất đông, tham dự đủ hết các chương trình trong ngày.
Tôi chỉ dẫn họ cách tọa thiền và tại sao phải tọa thiền.
Họ tự mang theo đồ ăn trưa, các sư cô chỉ phục vụ trà.
Qua những hoạt động này, tôi được quen biết với nhiều
phụ nữ Singhalese, có nhiều người cho đến giờ vẫn còn
giữ liên lạc với tôi. Có người hằng năm vẫn viết
thư thăm hỏi, có người viết thường xuyên hơn.
Lúc
thọ giới xuất gia, tôi đã làm bà ngoại. Cháu ngoại
trai tôi tên là Matthew, sinh năm 1973. Lúc đó Jeffrey cũng
đã hoàn tất chương trình đại học, và đang sống chung với
Susan, sau hai người đã kết hôn. Trong thời gian tôi làm
sadi, Jeffrey đã tìm được việc làm ở Anh, làm kỷ thuật
viên vi tính cho Đại học Norfolk.
Khi
tôi rời Sri Lanka để trở về Uùc, tôi ghé qua Norfolk thăm
con. Đường hàng không đã giúp khoảng cách giữa con
người hình như gần lại.
Trên
đường trở lại, tôi ghé qua Ấn Độ, vì tôi muốn đến
Bombay thăm Sri Nisargadatta Maharaj, một vị học giả với tiệm
bán thuốc lá nhỏ của ông. Tôi đã nghe nói những bài
thuyết giảng của ông rất hữu ích. Dầu có địa chỉ
của ông, tôi không chắc rằng mình có thể tìm gặp được
ông.
Cuối
cùng tôi đến một con đường nơi mọi người không cần
đợi tôi hỏi, đã chỉ tay về phía một ngôi nhà nhỏ tồi
tàn. Tầng dưới nhà ở mặt đường là một tiệm nhỏ
mở cửa bán thuốc lá, đồ ngọt. Người đàn bà tôi
gặp cũng không nói một lời, chỉ tay về phía cầu thang dẫn
lên lầu. Trong căn phòng nhỏ, đầy các vị khách Tây
phương, Nisargadatta Maharaj ngồi trên một tấm đệm nhỏ, với
hai người thông dịch viên ở bên cạnh. Tôi vừa kiếm
được một chỗ ngồi xuống trên sàn nhà, là Sri Nisargatta
bắt đầu đặt câu hỏi nhắm vào tôi.
Điều
đó làm tôi khá bối rối. Tôi đến để được nghe
những lời trí tuệ của ông, không phải để nói về tôi
trước mặt bao nhiêu người. Nhưng ông không để tôi
yên. Ông hỏi tên, hỏi quê quán, hỏi ai là bổn sư của
tôi, kinh nghiệm tu tập của tôi, vân vân. Cuối cùng
ông bảo là tôi đã đi đúng đường, nhưng chưa đạt được
Giác Ngộ.
Sau
tôi biết là với các vị khách mới đến, ông đều đối
xử như thế cả. Tôi đến nghe ông suốt một tuần,
nhưng nhận thấy cách trình bày của ông quá khó hiểu.
Ngẫm nghĩ lại, tôi thấy là ông quá tự tin về những hiểu
biết của mình, nên chìm đắm trong sự hiểu biết của mình,
thật khó xếp ông vào hàng đã Giác Ngộ. Oâng đã
mất ba năm sau lần gặp gở đó, lúc ông đã hơn tám mươi.
Trở
về lâm tự viện ở Uùc, tôi đã giúp thầy Phra Khantipalo
trong các công việc tổ chức và giảng dạy thường ngày.
Một biến cố quan trọng ở Wat Buddha Dhamma đã làm tôi nhớ
mãi. Đó là một buổi tối đầy trăng, chúng tôi đang
chuẩn bị để ngồi thiền suốt đêm như thường lệ.
Lúc đang ngồi trong thiền đường, tôi bỗng cảm thấy mỏi
mệt, chán nản, càng lúc càng tăng. Chúng tôi đã ngồi
suốt bốn tiếng, đã tụng kinh, đã nghe pháp của thầy Phra
Khantipalo, lúc đó là khoảng nửa đêm. Tôi bỗng nhớ
lại những gì tôi đã đọc về các cảnh giới thiền trong
kinh Phật. Tôi đã tu chứng được sơ thiền, một loại
thiền định đem lại niềm vui, an lạc, và thanh tịnh, mà
tôi khá quen thuộc. Nhưng tôi chưa từng kinh qua các cảnh
vô sắc giới, mà cũng chẳng có ai có thể giải thích hay
thuyết giảng về chúng.
Bỗng
tôi muốn thử đạt được các cảnh vô sắc giới, không
còn hình tướng, không còn tưởng cũng không phải là không
có tưởng nữa. Và lạ kỳ thay, với mức độ định
tôi đã có, giúp tôi dễ dàng đi vào càc cảnh giới đó.
Giờ thì sự mệt mỏi, chán nản đã qua đi, tôi lại tiếp
tục tọa thiền trong niềm hoan hỉ cho đến sáu giờ sáng
hôm sau.
Tôi
tiếp tục tọa thiền cách đó cho đến năm 1983, khi tôi được
gặp Hoà Thượng Nannarama Thera, người khẳng định rằng tôi
đã thực hành đúng và khuyên tôi nên truyền bá lối tọa
thiền này ở Tây phương.
Tôi
lại bị lôi kéo về Sri Landa. Tôi cảm thấy ở đó có
nhiều cơ hội để thực hiện những điều lợi ích.
Tôi muốn giúp đở các sư cô bản xứ để họ có thể tự
vươn lên, ủng hộ họ, đóng góp ý kiến giúp họ có thể
thoát ra bóng tối họ đang sống. Những người phụ nữ
tôi đã gặp ở Madewela muốn giúp tôi thực hiện giấc mộng
này.
Một
ngày kia, tôi được mời đến Polgasduwa. Đó là một
hòn đảo ở hồ Ratgama, phía nam Sri Lanka, nơi đó đã có các
vị tăng đang sống. Hòa thượng Nyanatiloka Thera, người
Đức đầu tiên tu theo Phật giáo, đã thành lập tự viện
trên đảo này vào năm 1911, và trụ trì ở đó. Đại
đức Nyanaponika Thera là đệ tử của ngài. Ngoài ra còn
có một vị tăng nổi tiếng khác, cũng là người Đức, ngài
Lama Govinda cũng từng sống ở đó một thời gian. Hầu
như tất cả các vị tăng Tây phương đều có mặt trên hòn
đảo đó.
Trong
chuyến tôi đến viếng thăm, vị trụ trì yêu cầu tôi tổ
chức khóa tu thiền cho các đệ tử của ngài, vì ngài không
muốn tự mình làm việc đó, mà muốn nhờ tôi đảm trách.
Tuy nhiên trước khi việc đó có thể thực hiện, người ta
bảo là các tăng không được phép nghe một người ni giảng
dạy. Người ni không được phép dạy các tăng.
Do đó chỉ có các cư sĩ tham dự khóa giảng của tôi.
Nhưng các bài giảng của tôi được thâu băng, và các tăng
được phép nghe các băng đó.
Các
cư sĩ tham dự khóa tu học là dayakas. Đó là tiếng Singhalese
dùng để chỉ các thí chủ, hay người cúng dường tiền bạc,
thực phẩm, thuốc men để chăm lo cho tự viện cũng như các
tu sĩ ở đó. Một trong những vị thí chủ này có ông
Arthur de Silva. Người này và vợ là chủ một quán ăn
trên bờ hồ, phía bên kia đảo. Họ là một cặp vợ
chồng rất tử tế, dễ thương. Giờ cả hai người đều
đã không còn tại thế.
Một
ngày kia Arthur đề nghị một điều mà trước đó chính tôi
cũng đã nghĩ đến. Tôi đã để ý thấy ở không xa
đảo của các tăng, trong cùng một hồ, có một đảo khác
nữa. Trước đó tôi đã nghĩ nếu các tăng đã ở đảo
này, các ni có thể ở đảo kia. Lúc này Arthur lại hỏi
tôi có nghĩ đến việc xây một ni viện trên đảo thứ hai
không. Tôi hỏi lại ông: "Thế ông có nghĩ là tôi nên
ở trong ni viện đó không?" Ông trả lời: "Dĩ nhiên rồi.
Tôi sẽ thiết kế, mướn người, quản lý thợ xây dựng
và mua vật liệu. Tôi sẽ kêu gọi người ta phát tâm".
Đó
là khởi đầu của sự hợp tác giữa hai chúng tôi, một sự
hợp tác tốt đẹp mang đến cho cả hai chúng tôi nhiều lợi
ích, cho đến ngày ông mất vào năm 1989.
Chương 13
Đảo Của
Các Ni
Người
đã làm điều tốt
Khi
qua cõi đời khác
Ở
đó thiện nghiệp sẽ đón tiếp người ấy
Như
thân quyến đón người thân bao lâu xa.
Kinh
Pháp Cú - 220
Tôi
muốn được nói đôi lời để tưởng niệm người mà không
có ông dự tính xây dựng một ni viện trên đảo của tôi
sẽ không bao giờ thành hiện thực. Đó là ông Arthur
de Silva ở Dodanduwa.
Rất
ít khi ta được gặp một người như ông Arthur de Silva.
Là người Singhalese có tổ tiên là người Portugese, ôâng nói
tiếng Anh rất lưu loát. Dốc hết sức mình vào việc
xây dựng ni viện, ôâng đã nói rằng trước giờ lâm chung,
ông sẽ rất mãn nguyện vì đã được đóng góp công sức
vào đó.
Oâng
đã mua từng cây đinh, con ốc, rồi chuyên chở mọi thứ đến
đảo trên chiếc thuyền do ông làm bằng thân cây to.
Oâng mướn thợ, và trong suốt thời gian xây dựng, ông đôn
đốc họ làm việc, không để lãng phí vật liệu. Đó
là một việc không phải dễ làm ở Á châu.
Trong
thời gian đó, tôi chu du khắp nơi thuyết giảng, mở khóa
tu, đến mọi miền ở Uùc, Phi Châu, Indonesia, Mỹ, và lần
đầu tiên ở Đức. Được đồng tiền cúng dường nào
tôi đều gửi về cho Arthur de Silva.
Tôi
xin kể ở đây câu chuyện của lần gặp gở định mệnh
trong thời gian tôi đang ở Bali. Ở đó có một ngôi chùa
rất đẹp, do một vị đại đức trụ trì. Ông yêu cầu
tôi mở khóa tu cho các du khách. Vì có rất nhiều người
khi thăm viếng chùa, đã có yêu cầu như thế. Tôi đồng
ý, thế là vị trụ trì dán bản thông báo về khóa tu ở
khắp nơi. Kết quả là có bảy người ghi tên tham dự:
năm người Đức và hai người Mỹ.
Ngôi
chùa rất đẹp. Cuộc đời của Đức Phật được chạm
trổ tỉ mỉ trên các cánh cửa gỗ. Quanh chùa có các
suối nước trong mát, có những tảng đá hình người lạ
lẫm, quanh năm đầy hoa cỏ nhiệt đới. Bên trong chánh
điện là một bức tượng của Đức Phật đẹp đẻ, nguy
nga tôi chưa từng thấy ở nơi nào khác.
Trong
bảy ngày, tôi giảng dạy bằng tiếng Anh. Vào tuần thứ
hai, tôi nhận thấy hình như trong các học viên, có người
không hiểu tôi nói gì. Thì ra anh ta là người Đức,
tên là Charlie. Tôi chỉ biết có thế.
Khi
được hỏi có hiểu tôi nói gì không, anh thú nhận: "Thưa
không", vì anh không biết tiếng Anh. Sau đó, buổi sáng
tôi giảng bằng tiếng Anh, buổi tối bằng tiếng Đức.
Tôi còn nhớ, trong tuần lễ đó, sức khỏe tôi không được
tốt. Tôi bị bịnh gì đó mà không ăn uống được.
Nhưng vì không muốn các học viên phải thất vọng, tôi cố
gắng tiếp tục dạy. Cuối cùng, lòng say mê học hỏi
của họ cũng an ủi tôi phần nào.
Charlie
và người bạn của anh tỏ ra rất chăm chú, ham hiểu biết.
Các học viên khác còn có khi bỏ học, chứ Charlie và Norbert
lúc nào cũng có mặt. Sau khi hai người Mỹ có việc phải
về sớm, tôi hoàn tất chương trình học bằng tiếng Đức.
Cuộc
gặp gở với Charlie và Norbert mang lại nhiều ý nghĩa cho những
ngày cuối đời của tôi. Norbert là em của thầy Nyanabodhi,
người đã trú ngụ tại thiền viện Ngôi Nhà Phật (Buddha-Haus)
ở Allgau với chúng tôi từ những ngày đầu thành lập.
Tôi được biết thầy qua Norbert, dưới thế danh là Roland.
Không có hai anh em họ và Charlie, tu viện Buddha-Haus đã không
thể thành hình. Họ chính là những người đã khuyên
tôi rời bỏ Sri Lanka để trở về Đức. Họ đã giúp
tôi trong việc xây dựng tu viện, hiện giờ thì cả Norbert
và Charlie đều dạy ở trung tâm thành phố Munich. Thầy
Nyanabodhi là trụ trì ở lâm tự viện của chúng tôi.
Nhưng
giờ hãy trở lại chuyện xây cất ni viện và ngài Arthur de
Silva. Oâng vào số từng xu tiền bạc tôi gửi cho ông,
Tôi thì không quan tâm đến những chuyện ấy vì tôi tin tưởng
ông tuyệt đối. Nhưng ông không thay đổi, vẫn làm đầy
đủ bổn phận, vẫn chú tâm đến sự chính xác của từng
con số. Oâng đã tự vẽ bản đồ xây dựng, và dĩ nhiên,
không giống như tôi, ông có thể điều khiển những người
thợ xây dựng bằng ngôn ngữ của họ.
Từ
lúc mới biết nhau, chúng tôi đã hợp ý như thể chúng tôi
đã biết nhau tự bao giờ. Ngay các vị khách đến thăm
ni viện cũng nhận thấy là chúng tôi có thể hiểu ý nhau
rất nhanh. Có lẽ trong một kiếp nào đó chúng tôi cũng
đã có duyên gặp gỡ.
Sáu
cái thất (kuti) được xây trên đảo -dành riêng cho các sư
cô. Tất cả đều rất đẹp: Trong mỗi thất có
một giường lớn, một phòng tắm và một ngôi vườn nhỏ
có tường bao bọc. Ngõ vào thất được che bằng một
mái hiên nên vào mùa mưa không bị ướt khi bước ra ngoài.
Tôi
chọn được một nơi khuất nhất, rất ưng ý trên đảo để
xây thất. Trên mặt đất có một hòn đá to, phẳng.
Chúng tôi dự định sẽ xây thất quanh hòn đá, để tôi có
thể dùng hòn đá làm chỗ ngồi thiền. Tất cả đã
được xây dựng theo đúng như thế.
Sau
đó Arthur de Silva báo tin cho tôi: "Ni Sư có thể đến rồi".
Thế là tôi bay từ Uùc, là nơi tôi đang có mặt ở thời
điểm đó, đến Sri Lanka. Các sư cô cùng dọn vào ni
viện với tôi đều là người Đức.
Mọi
thứ vẫn còn bề bộn lắm. Nhà bếp, phòng ăn vẫn chưa
có. Chúng tôi phải nấu ở bếp đặt ngoài trời, rất
ư không thuận lợi. Aên uống cũng ngoài trời.
Chung
quanh chúng tôi các công trình xây dựng vẫn được tiếp tục.
Một tòa nhà rất lớn đang được xây trong đó có nhà bếp,
phòng ăn, thư viện, một hành lang nhỏ và một kho chứa đồ,
cũng là chỗ ngủ của người đầu bếp. Quanh nhà, theo
kiến trúc thời thuộc địa, là một hàng hiên che mát.
Tòa nhà vẫn còn y nguyên cho đến ngày nay.
Chúng
tôi đặt những chậu hoa dọc theo hàng hiên, để làm tăng
theo vẻ mỹ quan cho tòa nhà. Và để thêm hoàn hảo, tôi
cho làm một hồ sen trong khuôn viên chùa. Tôi rất thích
hoa sen. Ở Đức, không có sen, tôi thay bằng hoa huệ nước.
Cả hai loại hoa đều cùng họ, và rất giống nhau. Hình
ảnh của hoa sen gắn liền với Đức Phật. Người ta
thường tạo dựng các hình tượng Đức Phật ngồi trên tòa
sen, vì đặc tính của hoa sen là trong sạch, không nhiễm ô.
Nước rơi trên các cánh hoa sen đều chảy xuống thành hạt,
nên không làm ướt cánh hoa. Ngoài ra hoa sen còn được
dùng làm biểu tượng cho sự thành đạo, vì tuy hoa mọc trong
bùn, nhưng cánh và hoa vươn lên cao, không nhiễm ô uế.
Sau
các đệ tử người Đức, có một phụ nữ người Singhalese
tìm đến tu viện của chúng tôi. Trước đây cô đã
là đệ tử của tôi. Giờ cô muốn được thọ giới
xuất gia ở trên đảo. Nhân dịp đó, tôi mời cả các
tăng ở đảo láng giềng và mời tất cả các cư sĩ trong
vùng đến dự. Có hơn hai ngàn người tất cả.
Không thể ngờ nhiều người đến vậy, tôi tự nghĩ không
biết hòn đảo có bị chìm xuống không dưới sức nặng của
bấy nhiêu người. Cũng may là việc đó đã không xảy
ra. Dĩ nhiên là các cô gái mặc áo trắng cũng có mang
quà đến.
Vị
sư cô đó giờ là người kế thừa tôi làm trụ trì ở ni
viện đó. Sư cô làm rất tốt bổn phận được trao
phó. Tôi rất mãn nguyện được biết rằng cả hai tu
viện, một ở Uùc mà tôi đã thành lập cùng với đại
đức Phra Khantipalo, và một ở Sri Lanka vẫn tiếp tục trường
tồn dù không có tôi.
Đó
cũng là điều tôi mong mỏi sẽ xảy ra ở tu viện Buddha-Haus
ở Allgau -dù không có tôi- đây vẫn là nơi mọi người sẽ
tụ đến để niệm hồng danh Phật. Suy cho cùng, tôi
không biết mình còn sống được bao lâu nữa. Các đệ
tử thì mong tôi có thể ở với họ lâu hơn.
Lúc
bắt đầu, chỉ có chúng tôi -vài sư cô- sống trên đảo,
nhưng dần dần người ta biết đến ni viện nhiều hơn.
Có lẽ cũng nhờ tôi đã đi hoằng pháp khắp nơi trên thế
giới, người ta biết đến tôi nhiều hơn, nên ni viện ở
Sri Lanka này cũng dần được biết đến.
Chúng
tôi xây một nhà khách sáu phòng, mỗi phòng có thể chứa
hai người. Nếu cần, chúng tôi cũng có thể đặt thêm
giường trong mỗi phòng. Nghĩa là chúng tôi có chỗ cho
mười tám khách tạm trú cùng một lúc.
Trong
sáu thất còn lại, tôi và ba sư cô khác ở. Có hai thất
được dành cho các nữ cư sĩ nào muốn đến ở để tu học
theo Phật giáo.
Nhiều
vị, trong đó có cả người Đức, ở đến một năm rưởi,
nhưng cũng có người chỉ ở một đôi ngày. Sau này,
tôi chỉ cho phép những người ở ít nhất là ba tháng được
ở; nếu không nơi này biến thành một nhà ga. Nhiều
người ra vào liên tục khiến chúng tôi không kiểm soát nổi.
Ngoài ra ở ngắn quá, cũng khó thể thiết lập một chương
trình tu học cho riêng họ.
Mặc
dầu thời tiết nóng bức, chương trình tu học của chúng
tôi cũng đầy kín. Tuy nhiên cũng có một số việc phải
du di vì thời tiết, nếu không chắc khó có ai chịu nổi.
Mỗi sáng chúng tôi thức dậy lúc bốn giờ, tụng kinh bằng
tiếng Pali và tiếng Anh, rồi tọa thiền, sau đó dùng điểm
tâm. Luôn có một người nấu ăn ở đó để giúp đở
chúng tôi, ngoài ra các cư sĩ tạm trú cũng thay nhau phụ giúp
trong bếp.
Sau
đó chúng tôi làm việc vài tiếng trước khi dùng bữa ngọ,
vì chúng tôi có xuất bản một tờ tin. Ngoài ra, dĩ nhiên
là còn phải làm các công việc dọn dẹp trong tu viện, tưới
hoa, nhổ cỏ. Thư viện cũng cần được sắp xếp lại,
phải làm bìa cho các sách, phải trả lời thư từ - nghĩa
là lúc nào cũng không thiếu việc cho chúng tôi làm, và trong
khí hậu nóng bức đó, mọi công việc đều đòi hỏi một
sự cố gắng. Sau