Chương
6
Thám Hiểm
Trung Mỹ Bằng Xe Jeep
Kẻ
dũng mảnh chánh niệm
Không
vui thú hưởng nhàn
Như
cánh thiên nga xa lià tổ ấm
Phiêu
lưu khắp chốn cùng nơi
Kinh
Pháp Cú - 91
Khi
chúng tôi còn sống ớ Rancho La Puerta, có một đoàn gồm các
nhà khoa học gia ghé qua, họ đang nghiên cứu về một bộ
tộc sắp diệt chủng trong các cánh rừng ở Mễ Tây Cơ.
Họ muốn tìm hiểu xem những người này sống như thế nào,
ăn uống ra làm sao, khi bịnh hoạn họ làm gì, tôn giáo của
họ ra sao. Giờ chúng tôi cũng muốn làm một cuộc thám
hiểm để khám phá những điều tương tự như thế.
Xe
jeep của chúng tôi có bốn mã lực. Gerd làm thêm một
cái thùng to trên nóc xe để chứa đồ đạc. Bên trong
xe, ngoài giường ngủ của chúng tôi, còn có thêm một bếp
lò nhỏ dùng khi đi cắm trại.
Nhưng
chúng tôi lại không giống một đoàn lữ hành nào -một người
đàn ông, một phụ nữ và một cậu bé trai. Thời đó,
những du khách bụi đời chỉ có ba-lô trên vai chưa có.
Năm 1961, khi chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình, khách ngoại
quốc cũng là một hiện tượng lạ đối với các người
dân bản xứ. Người ta trố mắt nhìn chúng tôi,
nhưng ở đâu chúng tôi cũng được đối xử rất tử tế.
Có lẽ cũng nhờ có Jeffrey. Vì có lẽ họ nghĩ những
người có con nhỏ, chắc không dám bày trò gì mờ ám.
Từ đầu cuộc hành trình, Jeffrey đã giúp chúng tôi nhiều
hơn là làm chướng ngại cho chúng tôi.
Tôi
xin nói trước là cuộc hành trình của chúng tôi đã kéo dài
hơn dự định rất nhiều. Dự định ban đầu của chúng
tôi là sẽ ổn định ở một vùng quê nào đó. Nhưng
chúng tôi không thể thực hiện được điều đó cho mãi đến
sau này, nhưng không phải là ở Nam Mỹ, mà ở xứ Úc xa xôi.
Jeffrey
lúc nào cũng ở bên cạnh chúng tôi. Thỉnh thoảng cậu
bé cũng được đến trường, nếu như chúng tôi dừng ở
đâu đó một thời gian khá lâu. Nhưng phần lớn là do
tôi dạy cho cháu tại 'nhà'. Ngày nay, cháu đã trở thành
một chuyên gia máy tính ở đại học Brisbane.
Trong
suốt thời gian đó, chỉ có một lần, Jeffrey bị bịnh rất
nặng, do cháu đã uống nước bị nhiễm trùng. Ngoài
ra, cháu luôn tỏ ra rất khỏe mạnh và là một cậu bé rất
dũng mảnh, độc lập, tự tin. Cháu không cần ai phải
luôn theo dõi, chăm sóc mình. Làm gì cháu cũng tham gia
làm, không hề than thở, chê bai thức ăn hay những thứ
gì khác.
Trên
những chặng đường chúng tôi đi qua không có khách sạn.
Một đôi lần, chúng tôi nghỉ ở các nhà trọ nhưng luôn
phải tự đi chợ để nấu thức ăn cho mình. Jeffrey rất
thích đi chợ với tôi. Cháu nói lưu loát tiếng Mễ,
và trả giá như một bà nội trợ chánh cống. Vì thấy
cháu nhỏ dễ thương, các bà bán hàng đều bán cho cháu mọi
thứ rẻ hơn là bán cho chúng tôi. Cho đến giờ, Jeffrey
cũng còn thích đi shopping, nhưng cháu không còn nhớ tiếng
Mễ nữa. Không còn nhớ đã có lúc người ta gọi mình
là Jeffrito (là chú bé Jeffrey trong tiếng Mễ). Cũng thường
thôi, như chúng ta đã quên những tiền kiếp của mình.
Khởi
đầu cuộc hành trình, chúng tôi lái xe xuyên qua Mễ Tây Cơ
đến quần đảo Yucatan, nơi Mayas và Aztecs đã xây dựng các
đền thờ. Chúng tôi rất thích thú khám phá về cuộc
sống hằng ngày của một dân tộc đã qua thời vàng son.
Thí dụ, chúng tôi viếng thăm những nơi chốn giờ hoang vu,
để tưởng tượng ra họ đã sống như thế nào khi không
có máy móc, dòng điện; làm thế nào họ có thể làm ra được
những lu, hủ và các đồ gia dụng khác.
Sau
đó, chúng tôi dừng chân ở San Miguel de Allende, một thành
phố được xây dựng bằng những mỏ bạc trong vùng, bởi
những kẻ chiến thắng người Tây ban Nha. Ngày nay nó
là một di tích lịch sử, một thành phố rất đẹp với một
trường đại học ở đó tất cả chương trình đều được
giảng dạy bằng tiếng Anh.
Ở
San Miguel de Allende, chúng tôi mướn được một căn nhà đã
được xây dựng năm trăm năm trước của một người Mỹ,
với giá năm mươi đô la. Trong nhà đã có sẳn đồ đạc,
sẳn đủ mọi thứ kể cả hai người giúp việc, cùng hai
con chó. Một con chó cái rất to bự, và một con chó sóc
nhỏ trắng. Con chó cái rất nhát; ban đêm chỉ cần một
tiếng động nhỏ, là nó lập tức nhảy vào giường tôi.
Mỗi lần như thế, tôi tưởng là mình bẹp dí vì sức nặng
của nó.
Căn
nhà có tường bao bọc chung quanh, có cổng lớn, bên trong là
một khu vườn đầy các giống cây miền nhiệt đới, được
trồng theo phong cách người Mễ, rất đẹp. Vì thế chúng
tôi ở lại nơi đó, và tôi ghi tên học đại học.
Đây
là lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi bước chân vào đại
học. Chồng tôi đã có một bằng đại học, nhưng tôi
thì chỉ có những kinh nghiệm sống. Tôi rất sung sướng
được học hỏi những điều mới lạ. Tôi ghi tên học
viết văn, lớp nhiếp ảnh báo chí, lịch sử, và dĩ nhiên
là tiếng Tây Ban Nha. Đó là một ngôn ngữ tuyệt vời
mà cho tới bây giờ tôi vẫn còn lưu loát. Tôi nhớ lại
cha tôi đã rất biết nhìn xa, khi ở Thượng Hải, ông đã
nói đánh máy là một khả năng không thể thiếu. Những
điều tôi học ở đại học San Miguel de Allende cũng rất thực
dụng. Tôi viết cho các tạp chí Mỹ về những nơi chốn
tôi đã đi qua, cùng với những hình ảnh tôi đã chụp và
cũng chính tôi tự rửa lấy.
Jeff
được gửi đi học ở một trường mẫu giáo của các bà
sơ. Cậu bé không thích lắm vì đã quen tự do. Một
ngày kia cháu đi học về với vẻ hớn hở lắm. Tôi
hỏi cháu có việc gì mà hân hoan thế. Cháu đáp: "Có
bà sơ chết, nên tụi con được nghỉ buổi chiều. Thích
ghê".
Nhưng
lúc đó thời gian tạm trú ở San Miguel de Allende, thành phố
bạc, cũng vừa chấm dứt. Sau hai năm sống ở một chỗ,
chồng tôi cảm thấy đã đến lúc chúng tôi nên đi một nơi
khác ở Trung Mỹ, rồi Nam Mỹ. Như thường lệ, tôi làm
theo anh như một người vợ ngoan ngỗn. Tôi đang yên ổn
với cuộc sống ở đây, mọi thứ đều còn rất hấp dẫn
tôi. Nhưng tôi có bao giờ là người quyết định đâu.
Khoảng
thời gian đó, các xa lộ liên lục ở Châu Mỹ đang được
xây dựng dang dở; có nhiều nơi vẫn chưa có cầu. Chúng
tôi lái xe jeep trên xa lộ từ Mễ Tây Cơ đến Panama.
Cứ vài kilo mét thì gặp một con sông. Lúc nào cũng như
lúc nào, chừng vài thước trước khi đến một con sông, sẽ
có tấm bảng gỗ ở giữa đường sơn chữ Desvio, có nghĩa
là quay trở lại. Nhưng làm sao có đường để quay trở
lại. Không còn cách nào khác hơn, chúng tôi đành lái
bừa xe jeep qua sông.
Có
những con sông cạn, nhưng cũng có sông sâu, dòng nước cuộn
xiết. Dĩ nhiên là tôi sợ chết đi được. Chỉ
có Jeff là không sợ hãi gì cả, còn thích thú là khác.
Nhưng có lần chúng tôi gặp nguy hiểm. Xe chúng tôi bị
lút giữa dòng sông. Gerd phải lội bộ trở lại, tìm
kiếm mấy người thợ làm đường, cho họ ít tiền để họ
kéo chúng tôi lên bờ. Đó là lần duy nhất chúng tôi
cầu cứu đến người khác. Còn tất cả chúng tôi chỉ
dựa vào chính mình.
Chúng
tôi lại gặp động đất ở Costa Rica. Lúc đó chúng
tôi đang ngủ ở môt quán trọ, bỗng phòng chúng tôi chao đảo.
Tôi lôi Jeffrey ra khỏi giường, chạy biến ra ngoài cửa.
Không có gì xảy ra, nhưng đó là lần đầu tiên tôi biết
đến động đất. Thật là ghê rợn. Nhưng Jeff thì
cứ ngủ như không có gì xảy ra.
Ở
El Salvador, tôi lại có được những kỷ niệm vui.
Ở đó có nhiều thác nước đổ xuống những hồ nhỏ mà
chúng tôi có thể tắm trong đó. Người dân ở đây ai
cũng vui vẻ, tử tế với chúng tôi. Tôi kết bạn với
một nhà truyền đạo Kitô giáo, và các nông dân gốc người
da đỏ. Ở mỗi làng, chúng tôi đều ra chợ gặp gở,
trò chuyện với những người da đỏ biết tiếng Tây Ban Nha.
Chúng tôi tò mò muốn biết họ sống thế nào, vì chúng tôi
cũng đang dự tính sống xa thế giới văn minh, hiện đại
mà chúng tôi đã từng sống.
Sau
bốn tuần di chuyển vất vả, cuối cùng chúng tôi cũng đến
được Panama. Có bao nhiêu thư từ –những liên hệ từ
một thế giới khác, đang chờ chúng tôi ở bưu điện.
Panama cách Nam Mỹ qua những cánh rừng Darien dày đặc không
xe hơi nào có thể chạy qua. Cũng có những nhà thám hiểm
vượt qua được, nhưng chúng tôi hoàn toàn bó tay. Tôi
không biết bây giờ đã có đường đi xuyên qua đó chưa.
Nhưng lúc đó, chúng tôi đành bỏ xe lại, lên máy bay đi Bogota,
Columbia. Bogota là thủ đô có độ cao cao nhất thế giới:
2645 mét trên mực nước. Có lần tôi đang đi bộ xuống
dốc, bỗng nhiên tôi thấy không thể thở đượ, trong khi
sức khỏe tôi vẫn đang tốt. Rồi Gerd cũng có cảm giác
như thế, dầu anh cũng rất mạnh khỏe. Đó là vì chúng
tôi chưa quen với độ cao. Chỉ có Jeff là không bị ảnh
hưởng gì về sự khác biệt khoảng vài ngàn thước ở độ
cao. Cháu vẫn chạy nhảy như lệ thường.
Từ
Bogota, chúng tôi đi xe buýt xuống Quito, Ecuador. Xe buýt
nêm chật người và gà. Đúng ra đây là xe bốn mươi
chỗ ngồi, nhưng có ít nhất là tám mươi người trên xe.
Người ta vừa ngồi, vừa ăn uống, tán chuyện, đám gà thì
kêu cạc cạc. Các thứ nước sốt từ bánh mì đổ đầy
xuống sàn, nhưng trên tất cả là bác tài lái xe như một
người điên. Đúng ra tất cả các bác tài lái xe buýt
ở Nam Mỹ đều như thế cả. Họ lái xe với tốc
độ cao, lại không hoàn toàn chú tâm vào đó. Lúc nào
thấy các phụ nữ trẻ đẹp ở các góc đường, họ đều
quay đầu nhìn chăm chú. Lúc đó để ra vẻ đàn ông,
họ còn nhấn thêm ga, làm cho mấy con dê, con ngỗng ở ven
đường chạy tán loạn.
Phải
thú nhận rằng tôi không ưa thích kiểu lái xe như thế này.
Nhưng tôi không dám nói gì, vì Gerd tỏ ra rất thích thú.
Anh là người rất thích mạo hiểm. Khi anh thấy một
ngọn núi cao, thì anh phải trèo lên. Còn tôi, thì thà
ở dưới đất còn hơn. Giờ anh đã sáu mươi chín, nhưng
cũng chẳng thay đổi gì. Vẫn còn đi trên những chuyến
xe buýt như thế.
Chúng
tôi đến Quito bình an, là điều mà tôi cho là một phép mầu.
Tôi hoàn toàn kiệt sức, người đầy bụi bậm, phân gà và
sốt bánh mì. Chúng tôi mướn phòng, tắm rửa, và lần
đầu tiền chúng tôi quyết định bỏ tiền đến một khách
sạn sang trọng ăn tối. Nhưng nhân viên khách sạn từ
chối không cho chúng tôi vào, vì Gerd không đeo cà vạt.
Đó là điều làm tôi luôn nhớ đến mỗi khi nghĩ về Quito.
Chương 7
Thám Hiểm
Nam Mỹ
Từ
ái, sinh lo âu
Từ
ái, sinh sợ hãi
Những
ai đã lià xa ái
Không
lo âu, không hãi sợ điều chi.
Kinh
Pháp Cú - 212
Tôi
rất xúc động khi đọc những lời Đức Phật dạy trong câu
Kinh Pháp Cú trên. Nhưng khoảng thời gian mà tôi viết
lại ở đây, là khoảng thời gian tôi vẫn còn là một thiếu
phụ trẻ, còn chưa biết có những câu kinh như thế hiện
hữu; mà dầu có biết, có lẽ tôi cũng không thể hiểu được
ở thời điểm đó. "Những ai đã lìa xa ái" là nghĩa
gì? Ngày nay, tôi hiểu câu đó không có nghĩa là ta không
nên yêu thương ai. Chỉ có nghĩa là ta đừng bám víu
vào những gì ta ưa thích, nhất là người ta thương đến
độ ta luôn nghĩ suy, lo lắng về họ. Ở thời điểm
đó, tôi còn đắm trong vòng luyến ái buộc ràng. Tôi
luôn sống trong trạng thái lo lắng. Cuộc du hành
của chúng tôi không có bảo hiểm hành lý, sức khỏe, vân
vân như ngày nay người ta du lịch với tất cả mọi thứ
đều được bảo hiểm.
Chuyến
đi của chúng tôi đầy bất trắc. Nhưng ngay trong những
phút giây nguy kịch nhất, trong những giây phút ở giữa sống
chết, tôi bỗng hiểu ra buông xả là gì. Có nghĩa là
không bám víu, không cố gắng để làm chủ, để quyết định
mọi việc gì có thể xảy ra. Có nghĩa là dầu có ta
hay không, người thân của ta, sở hữu của ta vẫn tồn tại
-cũng như ngược lại, tôi vẫn hiện hữu mà không cần có
họ, không cần có những thứ sở hưũ đó. Tuy nhiên
phải một thời gian lâu sau, ý niệm này mới thực sự thấm
sâu vào nội tâm tôi, còn lúc đó nó chỉ mới tượng hình
trong tôi.
Giờ
trở lại với Quito, trạm dừng chân đầu tiên của chúng
tôi ở Nam Mỹ. Ở Quito, chúng tôi có nghe về một bộ
lạc được gọi là Los Colorados, có nghĩa là "Bộ Lạc Sắc
Màu". Đó là một bộ lạc nhỏ ở Eucador, rất nổi tiếng
về cách trị bịnh bằng thảo dược. Bất chấp hiểm
nguy, chúng tôi quyết phải tìm gặp bộ lạc Sắc Màu.
Vì thế, dầu sợ hãi, chúng tôi vẫn một lần nữa, leo lên
xe buýt đi về miền núi, nơi người ta bảo là chúng tôi sẽ
được gặp những người trong bộ lạc đi chợ ở một làng
nhỏ trong vùng.
Chuyến
đi này còn tệ hại hơn chuyến vừa rồi. Đường xá
chật hẹp, chỉ vừa đủ cho một chiếc xe, lại vòng vèo,
bên thì đồi núi cheo leo, bên là vực thẳm hun hút. Bác
tài thì lái bất cần, luôn quay lại phía sau khi có tiếng
trẻ con khóc, hay liếc nhìn lũ chim bay ngoài khung cửa.
Phải mất ba tiếng rưỡi mới đến nơi. Tôi cứ thầm
lo lắng, việc gì sẽ xảy ra nếu có một chiếc xe chạy ngược
chiều đến. May mắn thay, suốt chuyến đi đã không có
chuyện đó xảy ra.
Cuối
cùng chúng tôi đặt chân đến một thành phố nhỏ gọi là
Ciudad de Colorados, thành phố Colorados. Và đúng như lời
đồn, chúng tôi thấy ngay những "bộ quần áo" sặc sỡ trong
chợ. Họ không mặc gì phía trên, kể cả phụ nữ,
nhưng người họ đầy những lằn sơn màu xanh. Họ quấn
củn, đàn ông củn ngắn, đàn bà thì dài hơn, vẽ đầy những
sọc màu xanh. Đầu họ đội những chiếc mũ nhỏ, màu
đỏ rực.
Chúng
tôi bắt chuyện với hai người trong nhóm họ. Tôi hỏi
người cao tuổi, nón họ làm bằng gì, tôi không thể đoán
được vì màu sắc quá chói chang. "Nón gì?", anh ta hỏi
lại. Thì ra đó là tóc họ. Và đó là màu sắc
đặc biệt của bộ lạc Sắc Màu. Họ dùng một loại
dâu có màu đỏ chà sát vào tóc cho đến khi nó trở nên dầy
cứng, sau đó vuốt tóc thành như những cái nón. Đàn
ông đã có gia đình thì chỉ để tóc như thế. Thanh
niên thì buộc thêm những sợi dây vải trên đó, để mọi
người -nhất là phụ nữ- biết họ còn chưa có ai.
Tôi
hỏi thêm bao lâu thì họ phải làm những kiểu đầu như thế.
Chỉ nữa năm họ mới phải làm một lần, cũng thực dụng
đó chứ. Chúng tôi chụp hình họ với Jeff. Sau đó,
họ mời chúng tôi theo về bộ lạc. Chúng tôi đi trên
những chiếc xe ngựa nhỏ. Đường xá hơi dằn xóc, nhưng
cũng còn dễ chịu hơn đi trên xe buýt.
Bộ
lạc Sắc Màu là một bộ tộc da đỏ sắp bị diệt chủng.
Lúc đó, chỉ còn khoảng năm trăm người, tất cả sống trong
ngôi làng này và vùng lân cận. Họ hái những thứ cây
lá họ đã quen dùng từ thuở xa xưa để làm thuốc.
Những người trẻ tuổi thì bỏ về sống ở thành thị.
Họ không muốn trở thành các thầy thuốc lá cây như tổ
tiên họ, nhưng muốn trở thành các bác sĩ tân tiến ở thành
thị. Họ muốn làm ra tiền, và cũng không muốn phải
đội cái đầu đỏ, với dây nhợ luồm thuồm đi khắp nơi.
Chúng
tôi được dân trong bộ lạc tiếp đãi rất tử tế.
Họ sống trong những căn nhà sàn làm bằng cây gỗ rất đẹp.
Khoảng trống phía dưới nhà, treo đầy các loại dị thảo.
Họ có tên gọi cho mỗi loại, nhưng vì bất đồng ngôn ngữ,
nên chúng tôi cũng không học hỏi được gì từ những kiến
thức kỳ bí của họ về các loài cây. Có lẽ ngày nay
các kiến thức đó cũng đã mai một. Vì người trưởng lảo
nói với chúng tôi, thanh niên trai trẻ bây giờ muốn thay đổi
cách sống. Họ mặc quần jeans - lúc đó đang rất hiếm,
chứ không phải là những chiếc váy có sọc xanh của bộ
lạc Sắc Màu. Mua được một chiếc quần jeans, người
ta có thể mua hết nửa ngôi làng.
Họ
mời chúng tôi dùng bữa. Trước mặt chúng tôi là đủ
loại trái cây bắt mắt. Những quả đu đủ, bên trong
có màu đỏ như máu, mà tôi chưa bao giờ thấy. Rồi
còn có loại chuối đỏ và cơm hấp với rau cải.
Họ nuôi gà để ăn trứng. Chỉ đến khi gà thật già,
mới bị làm thịt. Bộ lạc Sắc Màu không sống nhờ
vào săn bắn. Đây là một bộ lạc nhỏ bé hiền hòa.
Lần
viếng thăm đó để lại nhiều ấn tượng sâu xa đối với
tôi. Tôi như còn thấy trước mắt tôi người đàn bà
ngồi nướng chuối cho chúng tôi bên lò than hồng. Giờ
này họ đã ra sao rồi? Thật là buồn khi nghĩ đến những
thay đổi dân tộc họ phải trải qua. Có lẽ ngôi làng
nhỏ với những dãy nhà sàn không còn nữa. Có lẽ không
còn ai đi hái lá cây về làm thuốc nữa.
Từ
Quito, chúng tôi đáp máy bay để đến một địa danh khác,
Lima. Tôi không thể nào có can đảm tiếp tục cuộc hành
trình trên xe buýt nữa. Dầu phải hết sức tiết kiệm,
nhưng mặc, tôi cần phải lấy lại sức, tôi cần phải được
ngồi trên máy bay một lần nữa.
Đến
Lima, chúng tôi thuê phòng ở một khách sạn rẻ tiền, vì
chỗ ở của chúng tôi trên xe jeep, đã không còn nữa, chúng
tôi đã bỏ nó lại ở Panama. Trong những tuần sau
đó, tôi bắt gặp mình hay nhớ về chiếc xe jeep đó.
Chúng tôi đã ngủ bao đêm êm ấm trên đó, nó đã gan lì
chở chúng tôi qua bao con sông. Nhưng tất cả những gì
chúng tôi đã trải qua chỉ là chuyện nhỏ so với những gì
đang chờ đợi chúng tôi ở phía trước.
Từ
Lima, chúng tôi muốn đi đến vùng Amazon. Muốn vậy, chúng
tôi lại phải lấy xe buýt để đến Andes. Khi chúng tôi
trèo lên chiếc xe lung lay –như được buộc lại với nhau
bằng những sợi dây thun- chúng tôi ngạc nhiên khi thấy
tất cả các hành khách người bản xứ ai cũng mang theo nhiều
lát chanh, mà chốc chốc họ lại lấy ra bỏ vào miệng ngậm.
Lúc mà chúng tôi hiểu được giá trị của những miếng chanh
đó thì đã quá trễ.
Chiếc
xe buýt đã gầm rú leo lên đồi ở độ cao 4.700 mét.
Ở độ cao đó, bạn sẽ bị say sóng: đó là, bạn bắt đầu
thấy nhức đầu, muốn ói. Dân bản xứ đã biết ăn
chanh sẽ chặn được những triệu chứng đó không xảy ra.
Chúng tôi cũng mua lại được một ít chanh, nhưng đến lúc
đó thì chúng tôi đã quá say sóng, có chanh cũng không ích
lợi gì.
Tất
cả hành khách đều mệt lử khi xe lên đến đỉnh cao nhất.
Bác tài quyết định dừng lại cho chúng tôi nghỉ vài phút.
Dân bản xứ bày gà và bánh mì ra ăn. Sau đó, chúng tôi
xuống núi đến Pucallpa. Trên bản đồ, Pucallpa là một
thành phố, nhưng đến nơi, đó chỉ là một ngôi làng nghèo,
đông dân bên dòng sông Ucayali. Ucayali chảy ra nhập vào
với sông Maranon để tạo thành vùng tam giác Amazon.
Chúng
tôi muốn đi dọc theo dòng sông, xuống đến Amazon. Có
một chuyến tàu chạy bằng hơi xuôi dòng xuống đó trong thời
gian một tuần. Đó là chiếc tàu có những bánh lái quay,
chiếc tàu duy nhất còn xuôi ngược trên dòng Ucayali.
Tàu chạy bằng than đốt, và một bánh lái to bằng gỗ quay
chậm chạp. Chúng tôi đặt một phòng trên chiếc tàu
cổ xưa này.
Cuộc
hành trình trên sông không hoàn toàn êm ái. Tàu phải
cập bờ mỗi ngày để lấy thêm than. Trên tàu có một
phòng tắm cho khách, nhưng không sử dụng được vì người
ta nhốt các chú rùa trong đó, để mỗi ngày luộc một con
làm bữa ăn cho khách. Các chú rùa cần nước, vì thế
chúng chiếm đóng phòng tắm. Ngoài thịt rùa, những thức
ăn được dọn lên cho chúng tôi mỗi ngày là những món dở
nhất mà tôi được nếm qua. May mắn là chúng tôi có
mang theo ít thức ăn, chỉ có chuối là khá ngon.
Nhưng
có lẽ cái khổ nhất vẫn là nước. Người đầu bếp
múc nước từ dưới sông Ucayali lên nấu. Từ con sông
mà dân ở hai bên bờ và trên các tàu vẫn phóng uế xuống
đó. Chúng tôi phải nấu trà bằng nước đó. Vì
thế Jeffrey bị bịnh gấn chết. Cũng may tôi có mang theo
ít thuốc trụ sinh. Không có thuốc, chắc là cháu đã
chết. Kể từ đó, chúng tôi không dám uống ngụm trà
nào mà không bỏ vào bình trà ít viên thuốc tẩy trùng,
mà tôi đã mang theo trong túi thuốc du lịch của mình.
Một
lần khi Gerd sắp xuống sông tắm. Mọi người la lên:
"Piranhas, Piranhas!" Đó là những con cá nhỏ với những
chiếc răng bén như lưỡi dao lam, thường đi từng đoàn cả
trăm con một lúc. Kẻ nào không may gặp chúng thì sẽ
trở thành bộ xương chỉ trong vài phút sau. May mà Gerd
đã nhanh chân trèo dây trở lên thuyền.
Khi
tàu vào lấy than, chúng tôi cũng lên bờ, ngắm những ngôi
làng nghèo nàn ở quanh đó. Sự nghèo khổ không thể
diễn tả được trùm phủ khắp nơi này. Trái ngược
với cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời ở đây, bạn chỉ nhìn
thấy sự dơ dáy bẩn thỉu, bịnh hoạn và suy dinh dưỡng.
Rồi
một buổi sáng kia, cánh quay của tàu bị mắc cạn trong cát.
Chúng tôi vừa qua khỏi chỗ giáp của hai con sông Maranon và
Uyacali để tạo thành vùng Amazon. Lý do là vì lão thuyền
trưởng say rượu như mọi ngày, nên mới ra cớ sự.
Lúc
đó có cá Piranhas hay không, mọi người đều phải nhảy xuống
nước để đẩy tàu ra khỏi chỗ mắc cạn. Nhưng hoài
công. Tai nạn của chúng tôi được loan truyền nhanh chóng
đến dân ngụ cư dọc theo hai bên bờ sông như pháo nổ.
Những chiếc ghe nhỏ bắt đầu đổ ra từ mọi phía.
Hành khách, sau khi thấy không còn hy vọng gì, bèn lần lượt
trèo lên những chiếc ghe nhỏ này. Họ không cần biết
sẽ được chở tới đâu, miễn là ra khỏi nơi này.
Chúng
tôi hơi do dự, nhưng rồi sau cũng phải trèo lên một chiếc
ghe nhỏ tí teo, và được chèo đến một làng không có tên
trên bản đồ gọi là Orellana. Cuối cùng chúng tôi phải
ở lại làng Orellana, trong khu vực Amazon, đến bốn tuần.
Tôi đã viết một bài báo về biến cố này cho một tờ báo
Mỹ, kèm theo các bức ảnh trong đó tôi thường mặc cái váy
Mễ, với áo trắng. Vì ngoài cái quần nhung đen, đó
là tất cả quần áo tôi có. Tôi cứ phải luôn giặt
giũ chúng, vì không có cách gì tôi có thể mang thêm quần
áo trong cái túi đeo lưng nhỏ. Bài báo được đăng dưới
tựa đề: "Trăng trên dòng Ucayali".
Không
thể gọi Orellana là một thị xã với vỏn vẹn khoảng hai
mươi nhà và một nhà thờ. Chỉ có hai người đàn ông
có quyền hành ở đây: đó là nhà truyền giáo người Tây
Ban Nha và ông chủ hãng máy cưa gỗ. Ông chủ hãng máy
cưa rất giàu; ông có cả xe hơi. Ông nói với chúng tôi
ông là người Do Thái và con trai ông đang du học ở Glasgow.
Ông ta có thể nói được tiếng Anh. Thật là một cuộc
gặp gỡ hi hữu ở góc trời xa vắng này.
Ở
Orellana không có nhà trọ để lữ khách ở qua đêm, nên ông
chủ máy cưa phải dọn dẹp một nhà kho trống thành chỗ
ở cho chúng tôi. Ông còn cho chúng tôi muốn xài bao nhiêu
gỗ tùy ý. Gerd biến những miếng ván thành một chiếc
giường ngủ. Nhờ mấy cái túi ngủ, chúng tôi trải
lên giường thành một chỗ nằm êm ái. Vì nhà chứa
không có cửa sổ, nên lúc nào chúng tôi cũng phải để cửa
cái mở toang. Hẳn là người ta đồn nhau có mấy người
ngoại quốc sống ở đây. Nên lũ trẻ trong làng -tôi
nghĩ có lẽ là khoảng bốn mươi tất cả- kéo đến
đứng suốt ngày ở cửa để xem chúng tôi làm gì. Điều
đó không dễ chịu chút nào; chúng tôi hoàn toàn không có
chút riêng tư gì.
Sau
chúng tôi khám phá ra có một tiệm ăn ở Orellana nấu ăn cũng
tạm được, nên chúng tôi đều đến đó mỗi ngày để
ăn cá -phải có gì bỏ vào bụng thôi. Cá ở đây vừa
được bắt lên từ sông nên rất tươi, rất ngon. Chúng
tôi cũng được quen với vị truyền giáo. Ông hay dẫn
chúng tôi vào các khu rừng tìm những con bướm to mà tôi chưa
thấy ở nơi nào khác. Cánh của chúng có đến nửa thước,
với nhiều màu sắc rực rỡ. Ở đó cũng có rắn đủ
loại -nhỏ, to, đủ màu sắc. Dĩ nhiên là chúng tôi không
bao giờ dám đến gần chúng.
Vị
truyền giáo còn nói cho chúng tôi biết là đi sâu hơn nữa
vào rừng có những bộ lạc chuyên săn đầu người.
Cứ một vài năm họ lại đi gây chiến với các bộ lạc
khác, rồi cắt đầu những kẻ bại trận, đem phơi khô.
Khi thấy tôi kinh hãi quá, ông vội trấn an rằng nhưng cũng
phải còn lâu lắm họ mới trở lại, vì họ vừa kết thúc
một cuộc gây chiến gần đây. Có lẽ ông chỉ nói vậy
để xoa dịu nỗi sợ hãi của tôi thôi.
Sau
đó, chúng tôi lại thấy các đầu người phơi khô bày bán
trong các tiệm bán đồ lưu niệm ở các thành phố ở Amazon.
Chúng nhỏ bằng kích cở một trái táo, nhưng mặt người
thật có mắt, có tóc. Và bán với giá cắt cổ.
Những thứ đó thì chẳng bao giờ chúng tôi đụng tới.
Mỗi
ngày đều có tin là chuyến tàu của chúng tôi lại bắt đầu
xuôi dòng xuống cuối nguồn sông. Nhưng điều đó đã
chẳng bao giờ xảy ra. Rồi lại có tin một chiếc tàu
lớn sẽ đến giúp chúng tôi. Chiếc tàu đó có đến
thực, nhưng nó chẳng dừng lại cho chúng tôi lên. Cuối
cùng chúng tôi biết là nếu cứ chờ đợi, chúng tôi sẽ
không đi đến đâu cả. Phải tự lo cho mình thôi.
Chúng
tôi đành phải mướn một chiếc thuyền nhỏ, bằng cây, chạy
bằng motor, phiá trên có che mái tôn. Ít nhất chúng tôi
có thể ngồi trốn cái nắng chết người ở dưới mái tôn
đó. Chúng tôi dự định đến Iquitos, là một thành phố
lớn gần đó, dọc theo bờ sông.
Amazon
không phải là một con sông hiền hòa, êm ái. Mỗi lần
phải lướt qua những con sóng cao trên chiếc thuyền làm bằng
thân cây này là tôi không thể không thấy lo sợ. Tôi
lo sợ nhất là cho Jeff. Cũng may là cậu bé chỉ mãi chơi
đùa, vọc nước tìm cá. Không giống như tôi, cậu bé
tận hưởng thú vui trên sông nước.
Mỗi
khi chiều đến, chúng tôi phải lên bờ để ngủ, vì thuyền
nhỏ quá. Lúc nào cũng giống nhau: phải kéo thuyền lên
bờ, sợ nó trôi dạt theo sóng; vào sâu trong đất liền xa
đám bùn ở bến sông; rồi đốt lửa để vừa sưởi ấm
vừa đuổi những con muỗi to bằng con ruồi, lại là nguồn
gây bịnh dịch.
Lúc
nào cũng có các loại cây trôi dạt tấp vào bờ quanh đó
để chúng tôi dùng đốt lửa. Và người chủ tàu rất
giỏi dắn -anh ta có thể nhóm lửa cả với các thứ ẩm ướt
đó. Khi nào còn lửa, thì muỗi còn tránh ra xa. Nhưng
lúc chúng tôi gục ngủ, lửa lại tàn, thì đó là lúc chúng
bắt đầu tấn công. Vì thế không phải là chúng tôi
được yên ổn vào ban đêm.
Ban
ngày, chúng tôi thường phải ngừng đâu đó để mua đồ
ăn. Đó cũng là một vấn đề, vì người dân quanh đó
còn không có gì để ăn. Họ cũng muốn lấy được tiền
của chúng tôi lắm, nhưng thường họ không có gì để bán.
Chỉ vài trái chuối hay đu đủ. Một lần duy nhất chúng
tôi gặp được một lò nướng bánh mì thực sự có bánh
mì. Nhưng không hiểu sao, chúng tôi cũng chưa bị đói
bao giờ.
Sau
một tuần, chúng tôi đặt chân đến Iquitos. Điều đầu
tiên đập vào mắt chúng tôi khi vừa chui ra khỏi thuyền là
một người đàn ông đang dắt dây một con vật gì đó.
Một con vật chúng tôi chưa thấy bao giờ, có lông xù, và
mũi dài quắm. Thực ra nó giống như một con chuột xù,
mà sau này tra cứu tự điển bách khoa, tôi biết chúng thường
sống ở các vùng nhiệt đới của Nam Mỹ.
Nhiệt
đới cũng không phải là từ chính xác đễ diễn tả cái
nóng như điên dại ở Iquitos. Chúng tôi trả tiền người
chủ thuyền, rồi lê mình, cùng đồ đạc đến một khách
sạn nhỏ, rẻ tiền có tên là khách sạn Peru. "Hãy nhìn
kìa", tôi nói với Jeff khi lần đầu tiên sau bốn tuần lễ,
chúng tôi mới đặt chân đến một nơi có những điều kiện
khá văn minh, "khách sạn này mang tên xứ sở chúng ta vừa
đặt chân đến đấy".
Nhưng
trước khi đi tìm nhà hàng để ăn, chúng tôi chạy ngay đến
bưu điện để gửi cho mẹ tôi và Irene một cái điện tín.
Họ đã bặt tin chúng tôi quá lâu rồi, chắc là họ cũng
đang rất lo âu. Đó là một bưu điện rất cổ xưa với
các quầy tiếp khách bằng gỗ rất cao, làm một người không
cao lắm như tôi phải vất vả lắm mới với tới được.
Khi
tôi quay ra, thì Jeff biến đâu mất. Gerd ở phòng bên
đang gửi mấy cái thư chúng tôi đã viết từ lâu, cũng không
thấy cậu bé. Ngoài hành lang của bưu điện cũng không
có bóng cậu bé. Nó đã biến mất như thể đã chui trốn
xuống đất.
Những
giờ sau đó là một cơn ác mộng dài đối với chúng tôi.
Chúng tôi chạy khắp phố trong cái nóng không tưởng được,
hỏi thăm tất cả mọi người có ai thấy một cậu bé người
châu Aâu. Không có ai thấy cả. Tất cả mọi con
đường ở Iquitos đều tận cùng bằng bìa rừng như thể
đó là bức tường bao bọc, nhưng ở phía sau bìa rừng là
rắn rít và những con thú hoang dại khác.
Tôi
gần như sắp ngã gục vì sợ hãi. Gerd chạy báo cảnh
sát rằng chúng tôi đã lạc mất con. Người cảnh sát
hỏi: "Bao nhiêu tuổi?", "Năm tuổi", Gerd trả lời. Viên
cảnh sát nói, vừa cạo đất trong móng tay, "Không, tôi hỏi
anh, anh bao nhiêu tuổi?" Quá chán nản, chúng tôi bỏ mặc
viên cảnh sát ngồi đó, chạy trở lại khách sạn. Và
kìa Jeffrey đang ngồi trên ghế sofa trong phòng tiếp tân của
khách sạn. Cậu bé hỏi chúng tôi đầy trách móc: "Mẹ,
hai người biến đâu mất từ nãy giờ?" Cậu bé đã
ngồi đó gần bốn tiếng đồng hồ, mà cũng không nói với
nhân viên khách sạn rằng đã lạc cha mẹ. Thì ra khi
không thể tìm được chúng tôi ở bưu điện, cậu bé đã
nhờ người qua đường dẫn đến khách sạn có tên giống
như xứ sở chúng tôi đang có mặt.
Giờ
nhắc đến chuyện đó, Jeff không còn nhớ gì, nhưng tôi, thì
tôi vẫn nhớ như in từng giây phút đó. "Do ái sinh lo
lắng, do ái sinh sợ hãi". Tôi nghĩ là từ ngày đó, những
lời Phật dạy đã có trong tôi -nhưng do vô minh mà không nhận
ra.
Chúng
tôi ở lại Iquitos lâu hơn dự định. Một người thợ
hớt tóc, vừa là thợ nhồi các con thú, đã hớt tóc cho Gerd.
Trong 'xưởng' của anh ta có một con rắn còn sống, mà anh
ta rất hãnh diện đem khoe với Gerd. Anh ta nói, khi nào
có thì giờ anh ta sẽ làm thịt nó, rồi nhồi xác.
Đây
là một loại rắn lớn nhất Nam Mỹ, được gọi là anaconda.
Có con dài đến sáu thước, thân to đến khoảng hơn nửa
thước. Có màu da rất đẹp Trên lưng màu xanh nhạt
và đen, hai bên sườn lốm đốm những chấm vàng đậm lợt.
Gerd cảm thấy xót xa cho con vật. Nhưng rồi anh nghĩ,
nếu nó không chỉ ăn các sinh vật nhỏ bé, mà còn ăn cả
thịt người thì sao. Nhưng đối với người thợ hớt
tóc thì không có gì phải nghĩ ngợi về con rắn này cả.
Từ
Iquitos, chúng tôi bay trở về Lima. Đáng lý ra chúng tôi
cũng có thể lên tàu khác đi tiếp -chuyến đi dự định trong
hai tuần lễ- nhưng sau kinh nghiệm ờ vùng Amazon, chúng tôi
không có can đảm tiếp tục cuộc hành trình. Ai biết
rồi chiếc tàu chạy bằng hơi này sẽ lại bị mắc cạn
ở đâu nữa?
Từ
Lima, chúng tôi lại bay sang La Paz ở Bolivia, rồi từ đó qua
Brazil, chứ không dừng lại ở Argentina. Ở Brazil, tôi
có một ít bà con, nên ghé qua thăm họ. Họ quá đổi
kinh ngạc khi gặp lại tôi, vì họ tưởng tôi đã chết ở
Đức hồi ấy.
Ở
Brazil, người ta nói tiếng Portuguese. Từ lâu, tôi vẫn
tưởng tiếng Portuguese và tiếng Tây Ban Nha, không mấy khác
biệt đến nỗi có thể gây khó khăn cho chúng tôi. Nhưng
giờ tôi mới thấy mình hoàn toàn không hiểu một chữ tiếng
Portuguese, mà cũng không có ai biết nói tiếng Anh. Tình
thế cũng khá gay go. Nhưng dầu gì chúng tôi cũng đã
ở Rio, và muốn đi thăm Sugarloaf. Ở bãi biển Copacabana,
chúng tôi mua cho Jeff một con diều thật to, chú bé thích chí
cầm diều chạy qua chạy lại trên bãi biển. Từ đó
chúng tôi đi qua Sao Paulo, định là sau đó sẽ đến Brasilia.
Đó là thủ đô mới của Brazil, vừa tạo lập xong từ một
khu rừng già, hứa hẹn có nhiều điều đáng xem.
Nhưng
trước khi đi, chúng tôi ghé qua Đại sứ quán Mỹ để nhận
thư. Ở đó, người ta khuyên chúng tôi nên trở về càng
sớm càng tốt vì một cuộc cách mạng vừa nổ ra ở Brazil.
Nhưng vì không rành ngôn ngữ, chúng tôi không hề biết điều
đó. Vì thế sau đó, chúng tôi tiếp tục bay trở lại
Panama, nơi chúng tôi đã bỏ chiếc xe jeep lại.
Chỗ
dừng chân kế tiếp của chúng tôi là Úc. Trước đó
khá lâu, chúng tôi đã mua vé cho cuộc hành trình trên chuyến
tàu Pacific & Orient Line (Thái Bình Dương & Đông Dương).
Lúc ấy, chính phủ Úc cũng muốn tạo mọi dễ dãi cho khách
du lịch, vì họ muốn chiêu dụ người di dân đến xứ họ,
nên đã trả mọi chi phí cho chuyến đi, kể cả tiền chuyên
chở xe cho chúng tôi. Tôi chỉ phải trả thêm có mười
pounds (tiền Anh). Đó là tình trạng lúc bấy giờ, vì
bao nhiêu nhân mạng đã mất đi trong thế chiến thứ II.
Hiện nay thì rất khó cho người di dân đến được Úc. Châu
Aâu hay Mỹ.
Tôi
có thật sự muốn sống ở không? Lúc đó, tôi nghĩ tại
sao không. Nơi nào lại không thể là nhà. Vậy thì
không có lý do gì để không đến Úc? Thật ra, chúng
tôi cũng đã dự tính mua một nông trại nào đó, ở một
nơi nào đó, để có thể sống tự túc ở vùng quê.
Chuyến
đi thật tuyệt vời. Tôi lên năm kí lô vì ăn quá nhiều.
Trên tàu thì đủ cả: hồ bơi, phòng giải trí, phòng đọc
sách, nhà hát -mọi tiện nghi mà bạn có thể nghĩ ra.
Dĩ nhiên là chúng tôi chỉ đặt chỗ khách du lịch bình thường,
nhưng sau những tuần lễ gian khổ vừa trải qua, chúng tôi
có cảm giác như mình đang sống một cuộc sống của tầng
lớp thượng lưu. Có lúc tàu dừng lại ở Tahiti hai ngày.
Thật là một chỗ tuyệt vời trên mặt đất mà tôi được
đặt chân đến. Ở mỗi góc đường, đều có những
người lịch sự, đẹp , đeo vòng hoa, chơi guitar. Không
khí thoáng mát, sạch sẽ. Tôi nghĩ là thiên đàng cũng
chỉ đến như thế này. Tôi nghĩ đến họa sĩ Gauguin,
người đã tìm kiếm và gặp được thiên đàng ở đây.
Dầu vậy, ông đã không tìm được hạnh phúc trong cuộc đời.
Tôi
cũng mong được ở lại Tahiti, nhưng chắc không được rồi.
Vì đảo Tahiti là thuộc địa của Pháp, mà người Pháp không
sẵn lòng mở cửa đón khách như người Úc.
Bến
đổ kế tiếp là Auckland ở Tân Tây Lan. Vì người ta
báo cho chúng tôi là tàu phải được tu sửa vài ngày, chúng
tôi quyết định mướn xe đi tiếp. Như thế cũng là
dịp để chúng tôi thăm viếng Tân Tây Lan. Chúng tôi
đi qua đảo South Sea (Biển Nam) xanh rờn, phần lớn người
dân ở đây là dân da trắng, rất hiếu khách, thẳng thắng
và rất gắn bó với mảnh đất họ đang sinh sống. Người
ta nói ba triệu dân ở đây được nuôi sống nhờ vào da của
ba mươi triệu con cừu.
Chúng
tôi cũng viếng trại định cư Maoris của bộ lạc da đỏ
ở Tân Tây Lan. Họ cũng được đối xử như những người
da trắng ở đây, mà không hề bị một sự áp bức nào.
Có lẽ nhờ thế mà không khí ở Tân Tây Lan đầy bình yên.
Trên mỗi nhà đều được trang hoàng bằng những nét chạm
trổ, và những vũ điệu dân gian tưng bừng khắp nơi.
Nhưng
có lẽ nét quyến rủ nhất của Tân Tây Lan là các hồ.
Nước hồ khi xanh dương, lúc xanh lục, hay đen tùy theo đặc
tính của vùng đất. Có rất nhiều suối nước nóng,
tỏa hơi trên mặt nước. Nổi tiếng nhất là những
suối nước nóng chữa được bịnh ở Roturua, mở cửa cho
mọi người. Gần như không có nơi nào ở Tân Tây Lan
không có nước. Hầu như tất cả các khách sạn đều
có những con suối riêng. Nước từ các con suối này
đôi khi rất nóng, đến độ người ta phải làm các hàng
rào để du khách không đến gần, có thể bị phỏng.
Nhiều nơi nước và hơi nước phún lên cao như những ngọn
núi lửa. Thời xa xưa, dân Maoris dùng các loại nước
này để nấu ăn.
Đến
Wellington, chúng tôi bắt kịp tàu. Lần này khi đặt chân
đến Sydney, chúng tôi có đủ cả hành lý, và cả chiếc xe
jeep cũng được chuyển đến. Ngay lập tức tôi đã cảm
thấy an ổn ở lục địa mới này, vì chúng tôi có đủ mọi
trang bị. Giờ tôi không còn phải mỗi ngày giặt áo
quần để ngày hôm sau có mà mặc.
Ban
đầu chúng tôi được ăn ở miễn phí trong một trại tập
trung. Thật là một sự tiếp đón nồng hậu. Nhưng
chúng tôi đâu có muốn ở lại Sydney, mà muốn tìm một vùng
quê nào đó. Vì thế chúng tôi lại lên xe jeep, cũng là
nhà của chúng tôi, để tiếp tục đi sâu vào Uùc châu.
Chúng tôi lái xe dọc theo bãi biển về hướng đông với những
bãi biển trắng xoá tuyết, không bóng người. Sau đó
chúng tôi đi về phiá tây trong đất liền. Đây là vùng
đất sa mạc. Không có bóng người, thỉnh thoảng chỉ
thấy vài con thú hoang. Có lần chúng tôi đụng độ với
cả một bầy ngựa hoang. Ngoài ra thỉnh thoảng cũng có
vài con kangaroos và những chú két có lông màu sắc rực rỡ.
Đó
là vào tháng mười một. Và tháng này ở Úc nóng như
thiêu đốt. Sau ba tuần ở trong cái nóng đó, tôi hết
chịu đựng nỗi. Cuối cùng, chúng tôi dừng chân tạm
nghỉ vài ngày ở gần suối Alice, trong một phòng trọ có
máy lạnh. Ai biết về Úc châu, cũng biết đó là một
cuộc hành trình đầy gian nan. Cần phải có sự chuẩn
bị kỹ càng, vì nước và xăng không phải dễ dàng có.
Chúng
tôi bắt đầu tìm kiếm một 'chỗ ở' trong xứ sở rộng
lớn đó. Có nơi, một miếng đất, có thể lớn bằng
cả tiểu bang Texas. Trẻ con được giáo dục qua phương
tiện truyền thanh. Chúng tôi lái xe vào một trại
tập trung của người dân tộc, những người dân chính gốc
của Úc. Họ sống hai cuộc đời, nửa theo những phong
tục cổ truyền của họ, nửa theo những quy luật của người
da trắng tại đây. Nhiều người kiếm sống bằng cách
bán đồ lưu niệm cho du khách: những đồ chạm trổ bằng
tay, các hình tượng. Chúng tôi mua giúp họ, mỗi thứ
giá hai 'bob', khoảng bằng hai xu Anh, dù rằng trị giá tiền
tệ đó, không còn hiện hữu.
Chúng
tôi lại lên xe xuyên qua xa lộ Stuart từ Darwin, thành phố
tận cùng ở phía bắc, đến Adelaide. Khi trở về đến
Sydney, chúng tôi đã chọn được địa điểm để định cư.
Vùng đất chúng tôi thích nhất là ở miền nam của Queensland,
khoảng một giờ lái xe từ bắc thủ đô Brisbane, trong vùng
Nambour. Lúc đó, nơi này chỉ là một thành phố nhỏ,
giờ đã phát triển thành một thành phố lớn. Đây là
nơi chúng tôi muốn tìm mua một nông trại.
Nhưng
mọi việc đã xảy ra không như dự định, cũng như tất cả
những biến cố xảy ra trong đời tôi.
Chương 8
Trên Đảo
Indus
Nếu
gặp được người chỉ rõ lỗi mình
Như
thể chỉ lối vào kho báu
Là
bậc tri thức chỉ đường ngay
Hãy
kết làm tri kỷ
Bởi
những bạn hiền như thế
Làm
tốt cho ta, chẳng thể xấu bao giờ.
Kinh
Pháp Cú - 76
Ở
Sydney, một bức điện tín đang chờ đợi chúng tôi.
Bức điện tín từ công ty cũ của Gerd nơi trước đó anh
là kỹ sư điện của họ. Công ty mời anh hợp đồng
làm việc trong hai năm ở Pakistan. Về lương bỗng, chúng
tôi được trả rất hậu hĩnh. Nhưng còn công việc thì
quả là gian nan. Người ta cần xây một nhà máy điện
trên sông Indus, nơi hiện có một máy đập nước.
Chúng
tôi quyết định chấp nhận hợp đồng một cách nhanh chóng.
Công trình này nằm trong kế hoạch Colombo, một kế hoạch
phát triển đã được nhiều nước phát triển ký ở Colombo,
thủ đô của Sri Lanka. Các nước này cam kết sẽ thực
hiện các dự án công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển,
và họ sẽ tài trợ mọi thứ, từ nhân lực đến tài nguyên.
Nhà máy điện ở Indus là một trong những loại công trình
này, do Canada tài trợ.
Trước
khi khởi hành, chúng tôi phải trình bày sự việc với đại
diện chính quyền Úc về việc họ đã tài trợ cho chuyến
đi của chúng tôi đến Úc, nhưng giờ chúng tôi phải đi Pakistan
trong hai năm. Các nhà đại diện tỏ ra rất hợp tác.
Họ chỉ yêu cầu chúng tôi bỏ số tiền tài trợ đó vào
một ngân hàng. Trong hai năm, khi chúng tôi trở lại, thì
có quyền lấy số tiền đó ra.
Và
mọi chuyện đã xảy đúng ra như thế. Dầu rằng phải
năm năm sau, chúng tôi mới trở lại Úc, nhưng vẫn được
lấy tiền ở ngân hàng trở lại. Chính quyền Úc lúc
đó tỏ ra rất trọng đãi những người như chúng tôi: một
kỹ sư điện, với một vợ và một con có thể khiến
họ tin tưởng rằng chúng tôi khó thể bị hoàn cảnh khó
khăn nhấn chìm.
Chúng
tôi không phải là những người du lịch hiểu theo nghĩa bình
thường. Người du lịch sẽ quay trở về nhà, sau một
thời gian nào đó. Trong khi chúng tôi là những kẻ lang
thang cùng khắp trái đất, những kẻ không nhà.
Chúng
tôi đặt vé máy bay đi từ Úc đến Pakistan (vé do công ty
của Gerd đài thọ), có ghé ngang qua Do Thái. Gerd đã từng
sống một thời gian ở Do Thái, nói lưu loát tiếng Hebrew,
trước là một sĩ quan trong quân đội Do Thái, lại còn có
rất nhiều bà con thân quyến ở đây. Rõ ràng là có quá nhiều
lý do để chúng tôi phải ở lưu lại nơi đó vài tuần.
Ở
Do Thái, bao nhiêu nơi chốn trong kinh thánh lại trở thành hiện
thực đối với tôi. Tôi cảm thấy như lại được tiếp
xúc với truyền thống, nguồn gốc Do Thái của mình.
Nói về khảo cổ học, Do Thái đúng là một kho tàng cổ báu.
Mọi thứ đều gợi lên trong mắt du khách quá khứ đáng tự
hào của xứ sở Do Thái.
Sau
đó, chúng tôi bay đến Karachi. Pakistan chào đón chúng
tôi bằng thời tiết nóng không tưởng được. Thành
phố Sukkur, ở Sindh, nơi chúng tôi lái xe đến đầu tiên sau
khi rời Karachi, nằm giữa sa mạc Sindhi. Lúc đó, Sukkur
có khoảng trăm ngàn dân, nhưng đó không phải là một thành
phố bình thường như chúng tôi tưởng; đó chỉ là một tổng
hợp của những ngôi nhà xây trong một biển bụi cát.
Điểm nóng nhất trên thế giới chỉ cách đây khoảng ba mươi
dặm, ở sa mạc Sahara.
Từ
Sukkur, chúng tôi lái xe đến nơi nhận việc của Gerd, bên
dòng sông Indus. Đến nơi, chúng tôi mới biết không có
chỗ cho chúng tôi ở. Chỉ có công ty của Gerd là sung
sướng khi có một người như anh sẵn sàng chịu nhận làm
việc ở một nơi xa xôi như thế này. Bấy giờ không
có nhiều kỹ sư chấp nhận những điều kiện như thế.
Vì phần đông nếu có vợ con phải lo chỗ ở, nơi học hành
đàng hoàng cho con cái họ. Dầu vui mừng đón tiếp chúng
tôi, nhưng công ty hình như chẳng có chuẩn bị gì cho đời
sống của chúng tôi ở đây.
Một
bạn đồng nghiệp tương lai của Gerd cũng vừa đến trước
chúng tôi ít lâu, nhưng anh không có gia đình. Anh chỉ
mướn một căn phòng nhỏ để ở. Vì thế anh cũng chẳng
giúp gì được cho chúng tôi, ngoài lời khuyên chịu khó kiếm
tìm.
Chúng
tôi đành phải tự đi tìm, may thay gặp được một nhóm kỹ
sư Anh vừa sửa chữa xong một cây cầu bắc ngang sông Indus,
và chuẩn bị trở về nước. Họ có hai dãy nhà dài
trên một đảo trên sông Indus, tất cả đều là phòng đơn.
Chỗ ở khá xa xôi, bất tiện. Nhưng họ vui lòng để
lại cho chúng tôi tất cả. Không còn lựa chọn nào,
chúng tôi đành chấp nhận, và sửa sang để biến chúng thành
một nơi tạm trú khả dĩ. Trong mỗi phòng, đều có giường
và đồ dùng. Mọi thứ khác đều phải mua tận Sukkur.
Rồi
bỗng nhiên một toán nhân viên phục vụ dành cho chúng tôi
xuất hiện. Đó là do một bản hợp đồng đã ký kết
giữa công ty và chính phủ Pakistan. Không ai hỏi han gì
đến chúng tôi -họ tự động dọn vào nhà: một đầu bếp,
một thanh niên phụ việc, một người quét nhà, một người
giặt ủi, mấy người thợ máy để coi máy phát điện, và
ba nhân viên bảo vệ thay nhau bảo vệ chúng tôi trong hai mươi
bốn tiếng đồng hồ. Tất cả các nhân viên này đều
do chính phủ Pakistan trả lương. Chúng tôi phải nhận
họ vào làm việc dù có muốn hay không.
Người
đầu bếp thật là của báu. Anh đã từng làm đầu bếp
trong các gia đình người Anh, và nấu ăn rất khéo. Cậu
thanh niên phụ việc có nhiệm vụ bưng thức ăn, rửa chén.
Khi làm việc, cậu bé đội trên đầu một khăn quấn màu
vàng nghệ. Nhiệm vụ của người quét dọn là giữ cho
khu vực của chúng tôi sạch sẻ -một cách tương đối thôi,
vì nếu nhìn kỹ sẽ không thể bảo là sạch.
Nhưng
tệ hại hơn cả là người lo giặt giũ quần áo. Anh
ta làm quần áo chúng tôi hư hết. Ở đó người ta giặt
đồ theo một cách rất đặc biệt: Quần áo được nhúng
nước ướt, xong người ta đập chúng vào một tảng đá cho
đến khi 'sạch'. Dĩ nhiên không có gì có thể sạch được,
thêm vào không có dây để phơi đồ. Người ta phơi đồ
bằng cách trải đồ ra trên mặt đất. Mỗi lần giặt
đồ là có thứ này hay thứ kia bị hư hỏng. Có mấy
lần tôi định cho anh giặt đồ nghỉ việc, nhưng anh ta phủ
phục dưới chân tôi, xin được ở lại vì còn 'bảy con nhỏ'
Vậy là tôi không thể đuổi anh ta.
Nhân
viên bảo vệ cho chúng tôi cũng chẳng hơn gì. Một đêm
kia chúng tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng kêu thảnh thốt
“Ông ơi! Ông ơi!" , và tiếng dộng cửa phòng ngủ.
Thì ra đó là người bảo vệ ban đêm của chúng tôi.
Chân tay run cầm cập, anh ta đòi Gerd phải đi theo anh ta ngay.
Qua cử chỉ của anh, chúng tôi cũng đoán được là có một
con rắn hổ rất to nằm ngoài cửa nhà bếp. Gerd nói
rằng, bổn phận của người bảo vệ phải biết làm gì chứ.
Nhưng anh ta cứ kêu lên "Ông ơi! Ông ơi!" mãi. Cuối cùng
Gerd phải ra cửa bếp, thấy con rắn hổ đang nằm cuộn tròn.
Anh dùng đá chọi nó đi. Chúng tôi không bao giờ gặp
lại con rắn đó nữa. Suốt khoảng thời gian đó, độ
hơn nửa tiếng, anh chàng bảo vệ núp kín trong nhà bếp.
Ngoài
ra, chúng tôi cũng có một tài xế. Tuy bác tài không biết
lái chiếc xe jeep mà chúng tôi đã được tặng lúc đến Pakistan
(xe jeep của chúng tôi vẫn còn để lại ở Úc), nhưng bác
biết nói tiếng Urdu, là ngôn ngữ ở đây, và Pushdu, là ngôn
ngữ được sử dụng ở Bắc Pakistan. Vì thế bác tài
trở thành người phiên dịch và cũng là người bảo vệ của
chúng tôi.
Đó
là hoàn cảnh gia đình chúng tôi lúc đó. Tài liệu học
tập của Jeff tôi yêu cầu gửi từ Úc đến. Ở đây
người ta không những chỉ có những chương trình học qua
đài phát thanh cho trẻ ở những nơi định cư hẻo lánh, mà
còn có trường dạy chương trình hàm thụ qua bưu điện.
Tôi đã được trường học đó ở Pakistan phục vụ rất
chu toàn. Mỗi sáng, tôi đều kèm Jeff làm bài. Đó
không phải là một việc dễ làm, vì Jeff không chịu ngồi
yên để làm bài với tôi bên cạnh. Mãi sau, cậu bé
mới quen dần, có lẽ chính vì cậu rất thích đọc và viết.
Sau
khi sống ở đó một thời gian, tôi gửi Jeff đến một trường
ở Pakistan để cậu bé có thể giao tiếp với trẻ con đồng
lứa tuổi. Jeff được học tiếng Urdu ở đó, nhưng là
cậu bé ngoại quốc duy nhất giữa bảy trăm đứa trẻ khác,
nên Jeff cảm thấy rất khổ sở. Vì thế chẳng lâu sau, chúng
tôi lại phải để Jeff học ở nhà.
Gerd
có văn phòng riêng -và một cô thư ký chẳng biết tí gì về
nghiệp vụ của mình. Cuối cùng tôi phải đảm trách
việc của cô và trở thành nhân viên của công ty. Cũng
không phải là một giải pháp tồi, vì chúng tôi có thêm tiền
lương, và Gerd cần một người phụ tá đắc lực. Ngoài
những việc đó ra, tôi cũng không bận rộn lắm.
ì
thế tôi tự học chuyên môn về ống dẫn dây điện.
Công việc của Gerd là thiết kế hệ thống các đường dây
điện, thực hiện các bước khảo sát cần thiết trên mặt
đất, rồi vẽ các hoạ đồ để công nhân theo đó mà làm.
Ngoài ra, nhà máy phát điện nối với các hệ thống đường
dây này cũng được Gerd thiết kế chi li. Rồi anh cũng
phải tính toán về nguyên vật liệu cũng như tiền chi phí.
Nhà máy phát điện dự tính sẽ dùng sức nước của dòng
Indus, nơi đã được khai thác thành đập nước. Vật
liệu xây dựng đáng giá hàng triệu đô la được chuyên chở
trên lưng các con lạc đà. Thật là một cảnh tượng
khôi hài.
Đảo
chúng tôi ở có cầu bắc đến cả hai bờ sông. Một
đầu cầu nối đến Sukkur, đầu kia dẫn đến Rohri, là một
thị trấn láng giềng.
Mỗi
sáng, chúng tôi được đánh thức bởi tiếng xướng kinh vang
vọng đến tận nhà chúng tôi. Đó là tiếng xướng kinh
của một vị cố đạo ở trên đền cao, mỗi ngày năm lần,
kêu gọi các con chiên của mình. Ngày nay trong các thành
phố theo đạo Hồi giáo, người ta thường phát băng cassette
qua máy phóng thanh. Nhưng trong những ngày ấy, người
ta vẫn còn được nghe giọng thật, và giọng đọc kinh đó
thật tuyệt vời. Tôi thường chăm chú lắng nghe, trong
khi mắt tôi nhìn qua cửa sổ, sững sờ trước đàn lạc đà
và lừa đủng đỉnh qua cầu, rung reng những cái chuông treo
ở cổ, tạo thêm cho tất cả một vẻ hoàn toàn Á châu.
Ngoài
nhiệm vụ quan trọng trong giao thông, những chiếc cầu còn
mang các nhiệm vụ khác. Vì chúng là đầu nối giữa
hai thành phố -Sukkur và Rohri- những người ăn xin thường
tụ tập ở đó. Hàng chục người nằm, ngồi dọc theo
cầu, chìa những bàn tay, bàn chân thương tật, kêu xin người
qua đường bố thí. Tôi thường thấy dân địa phương
bố thí cho mỗi người một đồng tiền.
Tôi
hoàn toàn không biết phải phản ứng thế nào trong tình cảnh
đó. Vì tôi và Gerd mỗi ngày đều hơn một lần đi qua
đó, tôi cảm thấy tha thiết muốn làm gì đó cho họ, vì
họ trông quá khổ sở, đau đớn, tuyệt vọng. Mặt khác,
chúng tôi cũng không thể cho tiền họ mỗi ngày. Tôi
bèn bàn với anh đầu bếp xem phải làm gì cho ổn thỏa.
Anh
ta có một đề nghị rất thông minh, mà chúng tôi đã làm
theo trong suốt thời gian chúng tôi ở đó. Anh ta bảo
người giàu ở đây có thói quen hay mời cơm các thành viên
trong tổ ăn xin của thành phố, mỗi tháng một lần.
Anh ta bảo sẽ lo mua thức ăn, sửa soạn thức ăn cho họ.
Khi tôi hỏi anh về đội ngủ ăn xin là thế nào, anh giải
thích đó là một liên đoàn có chủ tịch, có các viên chức
và những người ăn xin được liên đoàn chỉ định chỗ
ngồi ăn xin đàng hoàng. Rồi anh chỉ cho tôi một người
ăn xin có dáng vẻ tội nghiệp nhất, và bảo đó là chủ
tịch của liên đoàn ăn xin, một người đàn ông khá giàu,
có đến mấy căn nhà ở Sukkur.
Tôi
lại lo lắng không biết làm sao để báo cho mấy người ăn
xin biết chúng tôi sẽ mời họ như thế? Anh đầu bếp
lại trấn an tôi là anh sẽ báo tin đó ở buổi chợ.
Và mọi việc đã xảy ra đúng như thế. Vào một ngày
nhất định, có khoảng năm trăm người ăn xin xuất hiện.
Họ chuyện trò vui vẻ, ăn uống tận tình tất cả những
món mà anh đầu bếp đã nấu dành cho họ. Anh đã phải
sửa soạn, nấu nướng cả ngày hôm trước đó, cuối cùng
không còn dư miếng nào. Có lẽ đó là cách tốt nhất,
vì từ đó, mỗi lần chúng tôi đi qua cầu, các người ăn
xin lại vẫy chào chúng tôi rất thân thiện, làm tôi cảm
thấy nhẹ cả lòng.
Trong
cuộc sống hằng ngày, kinh nghiệm của tôi đối với các
người phục vụ trong nhà khi còn là đứa trẻ ở Bá Linh,
đã giúp cho tôi rất nhiều. Tôi không thấy bỡ ngỡ,
xa lạ khi bảo ban họ, như là mấy bà vợ của các kỹ sư
ngoại quốc khác. Các bà vợ khác đôi khi phát bực khi
phải lo cho quá nhiều người phục vụ. Thật vậy, đó
không phải là một điều đơn giản. Lúc nào chúng tôi
cũng phải lo cho họ mọi chuyện. Con gái của bác tài
lập gia đình, tôi phải khuyên bác về việc mua sắm của
hồi môn. Nếu một trong những 'nhân viên' của tôi bịnh,
tôi phải kêu bác sĩ. Ngay cả khi họ cãi nhau, tôi cũng
phải làm người đứng ra dàn xếp.
Tôi
thường nhớ lại những thời gian cực khổ ở Thượng Hải,
khi tôi rất nghèo. Giờ tự dưng chúng tôi dư giả, nếu
không nói là giàu có. Tôi có bao nhiêu người giúp việc,
và có thể mua gì tùy thích. Nhưng tôi cũng không biết
phải mua gì cho mình. Một lần nữa cái cảm giác lạ
lùng lại dâng trào trong tôi, cái cảm giác làm tôi nghĩ rằng
phải có một cái gì đó cao hơn cái nghèo, cái giàu, cái có,
cái không. Phải có cái gì hơn thế nữa thì cuộc đời
mới có ý nghĩa hơn.
Rồi
cuộc sống của chúng tôi cũng ổn định thành những ngày
như mọi ngày. Jeff vẫn đi học, đi chơi. Gerd vẫn
đến văn phòng hay lái xe đi khảo sát xem các đường dây
cần được đặt ở đâu. Một lần anh trở về, kể
rằng đã gặp một người nông dân rất già, ngồi bên vệ
đường. Gerd xuống xe, hỏi ông lão đây có phải là
đất của ông không, vì anh cần khảo sát địa hình.
Người nông dân trả lời: "Không, đất đai này thuộc về
thần Allah, tôi chỉ là người giữ đất".
Đối
với tôi, đó là một câu trả lời đầy ý nhị. Sống
trên đảo, ngoài chúng tôi còn có một nhà truyền đạo Muslim,
có nhiệm vụ giống như một linh mục. Ông sống một
mình trong một ngôi đền nhỏ. Thỉnh thoảng chúng tôi
đến thăm ông mang theo bánh, trái cây. Vì chúng tôi không
nói tiếng Urdu, chúng tôi phải mang theo anh tài xế làm người
thông dịch. Tôi cảm thấy từ người truyền giáo này
toát lên sự bình an. Ông có thể trao đổi với chúng
tôi rất nhiều điều nếu như chúng tôi có thể trao đổi
trực tiếp, còn bác tài của chúng tôi thì có lẽ chẳng hiểu
gì về những điều chúng tôi muốn biết. Thật là uổng
phí, vì không dễ gì gặp được những vị cao đạo mà bạn
cảm thấy muốn gửi gắm những điều quan trọng.
Gerd
bỗng ngã bịnh sốt rét. Tôi chở anh trong tình trạng
nguy kịch, đến một bịnh viện của các bác sĩ quân đội
người Hà Lan. Họ chữa khỏi cho anh, nhưng cũng phải
mất mấy tuần trước khi Gerd có thể về nhà. Suốt
thời gian trong bịnh viện, tôi cũng kiếm việc phục vụ để
không cảm thấy mình vô tích sự. Nhưng phải thú thật
là tôi đã cố gắng lắm để không gớm ghiếc, nôn mửa.
Có lẽ tôi không thích hợp làm những công việc trong bịnh
viện, nhất là trong những điều kiện như thế này.
Những gì tôi mắt thấy, tai nghe ở nơi đây chỉ làm tôi
thêm buồn lòng. Cách quản lý thì tồi tệ, dụng cụ
y khoa thì thô sơ, không đảm bảo vệ sinh. Các bác sĩ
đã làm tất cả trong khả năng của mình, nhưng lúc nào hình
như cũng có quá nhiều bịnh nhân, quá nhiều căn bịnh.
Chúng
tôi càng thêm thất vọng. Vì chúng tôi nhận làm công
việc này không chỉ vì đồng lương, mà vì chúng tôi nghĩ
có thể giúp cho cuộc sống của những người dân nghèo khổ
ở đây được khá hơn, bằng cách đem đến cho họ ánh sáng
của nguồn điện. Nhưng cuối cùng đó chỉ là một giấc
mộng hảo huyền. Thực tế là chỉ có những điền chủ
giàu có mới được hưởng sự ích lợi đó, còn người nghèo
khổ thì chả được hưởng gì. Sau khi nhà máy phát điện
đã được hoàn thành, họ vẫn nghèo khổ như tự bao giờ.
Ở
địa vị của Gerd, anh còn phải có bổn phận trong các công
việc giao tiếp xã giao. Chúng tôi phải giao tiếp với
các đồng nghiệp trong ngành điện ở Pakistan, với các kỹ
sư cùng làm trong công trình, các nhà ngoại giao và nhân viên
ở lãnh sự quán. Chúng tôi thường phải tham dự các
hội hè ở Lahore và Karachi. Những lúc đó chúng tôi phải
nghỉ tại các khách sạn sang trọng, đắt tiền.
Những
loại công tác này không thích hợp với cá tính của chúng
tôi. Cả Gerd và tôi đều cảm thấy đó không phải là
cách sống của chúng tôi. Người ta tụ họp lại, xã
giao ba tấc lưỡi, rồi ăn nhậu -đó là phần quan trọng nhất.
Ngoài ra, chúng tôi ăn chay, mà trong các bữa tiệc này luôn
thừa mứa các món ăn làm từ bao nhiêu là thịt cừu, thịt
dê. Và các câu chuyện xã giao chúng tôi cũng chẳng thấy
thú vị gì. Vì thế, chúng tôi quyết định là sau hai
năm, chúng tôi sẽ không gia hạn hợp đồng làm việc.
Nhưng
ở Pakistan, điều làm tôi bức xúc nhất là vấn đề nữ
quyền. So với nam giới, họ chẳng có chút quyền hạn
nhỏ nhoi nào, ít nhất là ở thời điểm chúng tôi có mặt
ở đó. Có lẽ qua thời gian đã có nhiều thay đổi chăng,
tôi sợ là không được nhiều lắm. Nhất là ở vùng
thôn quê, nơi chúng tôi sống, tất cả phụ nữ Pakistan phải
mặc burka. Burka là loại áo trùm phủ người đàn bà
từ đầu đến chân. Chỉ chừa ra đôi mắt, để họ
đi không bị vấp ngã thôi. Chỉ có ở Karachi, thỉnh
thoảng tôi còn thấy các phụ nữ trẻ không che mặt.
Ban
đầu tôi quen ra phố với trang phục bình thường, nhưng đám
thiếu niên, hay ngay cả đàn ông lớn tuổi thường chọi đá
vào tôi. Phụ nữ mà để mặt ra đường, anh đầu bếp
cho tôi biết, bị người ta coi là gái điếm. Dầu tôi
là người ngoại quốc, họ cũng chẳng cần quan tâm.
Vì thế để khỏi bị lâm vào tình cảnh trên, cuối cùng
tôi cũng phải nhờ thợ may may cho một bộ burka. Mặc
loại áo đó thật là khốn khổ. Khó chịu nhất là bên
trong rất nóng, tôi lại không thể thấy gì nhiều. Vì
thế tôi cũng ít mặc nó ra đường.
Trong
kinh thánh Koran tôi được đọc, phụ nữ chỉ có thể để
lộ thân thể với chồng mình. Điều đó có nghĩa là,
ngay
cả với các bác sĩ, họ cũng không được phép cởi
bỏ quần áo. Chỉ khi người chồng có mặt, thì các
bác sĩ mới được quyền khám dưới lớp áo burka.
Phụ
nữ chỉ được xuất hiện nơi đám đông khi thật cần thiết.
Khi Gerd và tôi lái xe đi xuyên qua các vùng quê, chúng tôi thường
được các điền chủ, hay các ông chủ nhà máy dệt, ở dọc
theo lộ trình mời đến nhà. Không bao giờ trong các cuộc
đón tiếp có mặt người phụ nữ. Chỉ khi nào tôi yêu
cầu, thì mới được phép đến chỗ ở của họ. Những
lúc như thế, tôi thường nghe phụ nữ than thở về sự bất
hạnh của họ. Tóm lại, họ không được quyền làm
gì cả ngoài việc sinh con và ăn uống. Khi còn trẻ, họ
đẹp, nhưng vì không được đi đâu sau khi lập gia đình,
họ thường trở nên béo phì. Cuối cùng, niềm lạc thú
duy nhất của họ có lẽ chỉ là ăn uống.
Trong
những gia đình chúng tôi thăm viếng, tôi được gặp một
phụ nữ trẻ, con nhà gia giáo, có học, biết nói tiếng Anh.
Cha cô từng là nhà ngoại giao của Pakistan ở Mỹ. Cô
là dâu trong gia đình chúng tôi đến thăm viếng. Cuộc
hôn nhân của cô rất đặc biệt -đó là một cuộc hôn nhân
dựa trên tình yêu. Dầu vậy cô cũng rất khổ đau với
những gì xã hội áp đặt lên cô. Cô đã thành lập
một trường học cho các em bé gái, xem ra đó là ngôi trường
duy nhất dành cho bé gái. Cô đã mời tôi đến thăm và
dạy học ở đó. Nhưng việc không thành vì đám
trẻ không nói được tiếng Anh, và tôi cũng không thể dạy
chúng trong một thời gian quá ngắn. Rồi những ngày tháng
sống ở Pakistan của chúng tôi cũng dần hết hạn.
Trước
khi ra đi, tôi có đến viếng thăm cô bạn trẻ này đôi lần
ở trường, và thấy cô rất hạnh phúc trong công việc của
mình. Công việc này đã mang đến cho cô niềm tự tin
mà các chị em bạn dâu khác của cô không thể nào có được.
Họ chỉ biết ta thán về một cuộc sống buồn chán, tù túng.
Chỉ có bà mẹ chồng là cảm thấy mọi việc không có gì
đáng phàn nàn. Nhưng không biết khi còn trẻ, thì bà
có suy nghĩ như thế không?
Có
lần tôi mời họ đến nhà chơi. Họ đến trong những
chiếc burka lụa đen, mà khi vừa bước vào đến bên trong,
họ vội vàng cởi ra ngay. Đến khi thấy cậu bé giúp
việc mang cà-phê, bánh vào, họ thét lên chạy túa ra khỏi
phòng. Thì ra theo luật, cậu không được phép nhìn thấy
mặt họ! Tôi phải thề sống, thề chết với họ là
cả tôi cũng như cậu bé giúp việc sẽ chẳng ai dám hở chuyện
đó ra với ai. Cũng phải một lúc sau, họ mới hoàn hồn
để thưởng thức những chiếc bánh tôi đã đặc biệt dặn
làm cho họ. Khi họ ra về, tất cả đều hết sạch.
Tôi
hỏi họ có nghĩ đến việc thay đổi cách sống không?
Tôi đề nghị một vài thay đổi mà tôi đã có suy nghĩ qua.
Họ ừ hử, rồi hỏi tôi bằng cách nào? Hình như họ
không xem những điều tôi nói là nghiêm chỉnh, cũng như không
thực sự nghĩ rằng họ có thể thực hiện được. Rõ ràng
là họ chỉ muốn được tâm sự dù chỉ một lần những
bất hạnh của mình với một người mà họ biết chẳng bao
giờ đem nói đi, nói lại. Nhưng ngoài việc thở than,
họ chẳng muốn làm gì để thay đổi số phận cả.
Tôi sợ rằng cho đến bây giờ những người phụ nữ Pakistan
cũng vẫn phải chịu áp bức như ba mươi lăm năm trước,
khi tôi sống ở đó.
Tôi
còn nhớ rõ một cảnh tượng đã xảy ra ở Sukkur. Có
rất nhiều rạp chiếu bóng ở đó, và một ngày kia, người
ta quảng cáo một phim của cô đào Marilyn Monroe. Một
tấm biển đồ sộ chưng hình cô đào mặc áo tắm được
dựng lên! Chúng tôi tình cờ đi ngang qua, chứng kiến
hằng trăm người đàn ông đứng trước tấm poster, trố mắt,
há mồm ngắm nhìn thân thể của cô đào hát. Thật là
quái gở. Trong khi đàn bà của họ, đi qua đi lại trong
những tấm vải đen bịt bùng.
Gerd
rất thích chụp ảnh. Trước cảnh tượng đó, anh đưa
máy lên chụp. Hành động đó khiến anh xuýt bị no đòn,
nếu như anh đã không nhanh chân chạy thục mạng. Nhẹ
lắm thì chắc cũng bị họ đập nát máy ảnh. Có lẽ
Gerd cũng không nên chụp hình lúc đó, nhưng cảnh tượng đó
rõ ràng phản ảnh sự méo mó trong cuộc sống khi giới tính
này đàn áp giới tính kia.
Sau
hai năm, hợp đồng của chúng tôi chấm dứt, nhưng nhà máy
điện vẫn chưa xây xong. Dự án tiến triển quá chậm.
Các bản vẽ được thiết kế, thâu nhận, ký tên rồi chờ
đợi. Mấy chú lạc đà đã tốn công chở hằng triệu
đô la Canada tiền vật liệu trên lưng. Lạc đà đúng
là một phương tiện chuyên chở tốt trên sa mạc cát, nhưng
chúng cũng rất cứng đầu, cục tính. Nhiều con phải
bị niềng quai hàm, nếu không nó sẽ cắn cả chủ. Và
khi chúng không muốn di chuyển, chúng cứ nằm dài ra đường.
Người ta nói nếu bắt lạc đà chở quá sức, chúng sẽ không
đứng dậy. Sự lỳ lợm của chúng làm tôi phải ngạc
nhiên.
Chúng
tôi sống gần ở những nơi mà năm ngàn năm trước đây nền
văn minh của thung lũng Indus đã rộ nở. Nhưng cho đến
bây giờ, người ta cũng không giải thích được về sự lụn
bại của nó. Thí dụ như Mohenjodara, cách nơi chúng tôi
chừng bốn mươi kilomét. Người dân nơi đây từ thời
xa xưa đó đã có nhà tắm xây trong nhà, cũng như rất nhiều
nhà tắm công cộng. Họ đã có đường tráng nhựa, và
hệ thống xử lý rác. Quanh Mohenjodara là những cánh đồng
họ đã từng canh tác. Có giả thuyết cho rằng lý do
thành phố này bị bỏ hoang là vì những cánh đồng này dần
dần không cho hoa mầu, vì thế dân chúng cứ phải di dân dần
ra xa, khỏi xứ.
Chúng
tôi thường đến thăm viếng những nơi hoang tàn đó, vì chúng
rất nhiều trong vùng chúng tôi ở. Chúng tôi tìm thấy
những hộp đất sét, nữ trang và rất nhiều lu hũ trang trí
thẩm mỹ. Có lần chúng tôi khám phá ra một khu đồ
đá, đào được khá nhiều đồ, nằm gần như lộ thiên:
cung, nỏ, búa, dao. Chúng tôi lấy một ít và báo cho chính
quyền ở Karachi về sự khám phá đó. Bảo tàng viện
ở Karachi chở một đàn lừa đến chở đồ trong những chiếc
túi vải về thành phố. Những món đồ này có đến
hơn năm trăm năm, và có hình dáng giống như những đồ đá
tìm thấy được ở Aâu châu.
Jeff
thích đi lang thang khắp nơi trên đảo Indus. Cậu bé tìm
được rất nhiều thứ: các loại ốc, cây kiếng và lu hũ.
Chúng tôi thường nhờ bảo tàng viện ở Karachi định ngày
tháng của những cổ vật. Một lần Jeff tìm được những
miếng gạch bằng ceramic đẹp tuyệt vời. Có lẽ từ
một ngôi đền xây trên đảo từ thế kỷ thứ bảy.
Chúng tôi mang một ít gạch ngói này về Úc.
Lần
khác, Jeff về nhà, giấu hai tay sau lưng và nói: "Mẹ, đoán
xem con đã tìm được thứ gì?" Tôi không thể đoán được.
Đó là một con ngựa nhỏ bằng đất sét, dài khoảng mười
centimét, cao năm centimét. Sau này chúng tôi mới biết
con ngựa đó đã một ngàn năm tuổi!
Jeff
vẫn còn giữ con ngựa nhỏ đó ở nhà, trong một chiếc hộp
lồng kính. Đó là vật duy nhất khiến Jeff nhớ về Pakistan.
Ngoài ra không còn nhớ gì nữa cả -những con lạc đà, dòng
Indus, các người giúp việc, những buổi sáng tôi dạy con
học, tiếng xướng kinh của người giữ đền vào những buổi
mờ sáng. Tất cả đã chìm vào lãng quên.
Khi
thời hạn sống trên đảo đã hết, chúng tôi đóng tất cả
đồ đạc vào các thùng và gửi về Úc, nhờ người ta giữ
dùm. Gerd dự định sẽ bay qua Luân Đôn, mua một chiếc
xe van hiệu Land Rover để lái xuyên suốt Aâu châu, Á châu,
Kashmir, Ấn Độ, cho đến tận Singapore. Rồi từ đó
chúng tôi sẽ lấy tàu trở về Úc. Dĩ nhiên đó
chỉ là dự tính của Gerd, chứ không phải của tôi.
Tuy nhiên, cũng như mọi lần, tôi luôn làm theo ý anh.
Những
gì tôi muốn tìm kiếm, tôi cũng chưa khám phá ra. Có
thể tôi sẽ tìm được chúng ở một nơi nào đó, một ngày
nào đó.
Chương 9
Cuộc Sống
Tự Do
Đêm
rất dài đối với người thức trắng
Đường
rất xa với kẻ lữ hành
Dài
thăm thẳm kiếp luân hồi tiếp nối
Của
kẻ ngu si, chẳng biết Chánh Pháp.
Kinh
Pháp Cú - 60
Chúng
tôi đến Luân Đôn với rất ít hành lý. Nhân viên của
công ty Rover đón chúng tôi tại phi trường, trao tận tay Gerd
chìa khóa của chiếc xe van Land Rover, và nói: "Thượng lộ
bình an", rồi biến mất. Gerd chưa quen với chiếc xe mới,
và cũng chưa quen lái bên trái đường. Bạn có thể hình
dung ngày đầu tiên của cuộc hành trình của chúng tôi như
thế nào! Gerd cứ tìm và bật tín hiệu quẹo mặt,
trong khi tôi ngồi kế bên hét lên: "Trái! Trái!" vì anh cứ
theo thói quen làm ngược lại.
Jeffrey
ngồi ở phía sau, hoàn toàn không động đậy. Tôi không
nhớ, dù chỉ một lần, trong suốt các cuộc hành trình dài
dẳng, cậu bé khóc lóc, cằn nhằn hay la lối. Lúc nào
cậu cũng ngồi đằng sau xe, ngó ra cửa sổ. Có lần
chúng tôi hỏi có gì hay ở ngoài cửa sổ mà con cứ ngó hoài.
Cậu bé trả lời: "Giống như một cuốn phim vậy, mọi thứ
diễn ra bên ngoài cửa sổ, và con chỉ việc xem".
Chúng
tôi nhận được thư của mẹ và dì. Họ trách tôi cứ
mang đứa trẻ đi khắp địa cầu, không để cho nó có cuộc
sống bình thường với bạn bè, gia đình. Mọi đứa
trẻ đều cần có một mái nhà ổn định, họ nói. Không
thể phủ nhận điều ấy. Đó là cách suy nghĩ của nhiều
người. Nhưng con trai tôi, Jeff có vẻ thích thú lắm với
cuộc sống rày đây mai đó.
Ở
Luân Đôn, chúng tôi mướn được một khoảng đất trống
trong khu đậu xe kiểu nhà lưu động, và bắt đầu trang trí
bên trong chiếc Land Rover thành một chỗ ở ấm cúng, thoải
mái. (LND: Ở các nước phương Tây, có loại nhà
có thể di dời gọi là mobile home. Các ngôi nhà này không
có đất cố định mà phải mướn đất để 'đậu').
Các băng xe có thể xếp lại thành giường đôi. Có bàn,
có bếp, có các tủ chứa đồ và một chỗ làm bếp.
Trần xe có thể đẩy cao lên để có thể đứng thẳng trong
xe. Phía gần trần xe, có thêm hai giường ngủ. Jeff
ngủ ở đó. Khi xe chạy ta có cảm giác như đang nằm
trên võng, nên Jeff rất thích.
Chúng
tôi có rất nhiều thì giờ rổi rãi. Nếu thích, chúng
tôi có thể lái xe qua những ngôi làng nhỏ, dễ thương ở
Anh, đến Dover, rồi từ đó đi xuyên qua Pháp xuống bãi biển
Côte D'Azur. Chúng tôi không cần có một lịch trình nhất
định, vì không có ai chờ đón chúng tôi ở nơi nào
cả. Tôi nhớ rất rõ cảm giác tự do, thoải mái được
trôi theo thời gian. Cả tôi và Gerd đều có học
tiếng Pháp ở trường, nhưng thứ tiếng Pháp đó không giúp
chúng tôi giao tiếp được với ai. Cách phát âm của
chúng tôi quá tệ, khiến không ai hiểu được. Ngược
lại, người Pháp cũng chẳng muốn hay chẳng thể nói tiếng
Anh.
Ở
Monte Carlo, tôi muốn đi thăm sòng bạc để biết nó ra làm
sao,
coi như làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mình.
Jeff không đi, ở 'nhà' ngủ sớm. Tôi cho người bảo
vệ ít tiền, nhờ anh trông chừng dùm cháu và xe.
Nhưng Jeff như thường lệ, ngủ một mạch đến sáng.
Ở
các sòng bạc, tôi quá ngạc nhiên bởi vẻ lịch sự của
các tay đánh bạc, và mọi thứ ở đây đều phục vụ miễn
phí, khỏi trả tiền -nước uống, bánh mì sandwich, thuốc
lá, xi-gà. Nhưng có lẽ thú vị hơn cả là được xem
người ta đánh bạc. Bạn có thể nhìn thấy trên mặt
họ tràn đây lòng tham, mà trong cuộc sống thường ngày đã
được giấu kỹ. Ở đây không ai phải làm màu
với ai. Lòng tham được bộc bạch một cách trắng trợn
khiến tôi không thể không nghĩ đến hai chữ "Địa Ngục"
ngay tức thì. Trong tiếng Đức, danh từ chỉ nơi đánh
bạc là Spielholle, hay là "địa ngục bạc bài".
Điều
này làm tôi nhớ đến một kỷ niệm khác. Khi tôi bắt
đầu tu thiền, ngay ngày thứ hai là tôi đã có 'kinh nghiệm
về địa ngục". Tôi có cảm giác tôi bị những sinh
vật mỏng manh, dị hình, như những cành cây, nhún tôi lên
xuống trong những thùng dầu nóng đỏ. Vừa làm
như thế, chúng vừa nói bằng cái giọng the thé: "Đây là
con đường đi đến giải thoát. Đường đến giải thoát".
Tôi chỉ có thể vùng thoát khỏi chúng sau khi xả thiền.
Sau này tôi khám phá ra Đức Phật đã dạy, ai cũng phải một
lần trải qua kinh nghiệm khổ đau cùng cực như trong địa
ngục này để có thể bắt đầu bảo vệ mình khỏi những
hiểm họa của ác nghiệp.
Ở
Monte Carlo, tôi đặt hai đồng tiền xuống bàn roulette.
Người quay vòng hô lên: "Không ai đặt nữa", rồi thả trái
banh cho quay. Dĩ nhiên là tôi thua -may mà chỉ ít tiền.
Sau
đó chúng tôi lái xe đến Tây Ban Nha, rồi từ đó qua Ý, rồi
qua Aùo. Lý do duy nhất để giải thích sự đi lòng vòng
này là vì Gerd không muốn phải ghé qua Đức. Anh bảo
là anh không có can đảm đến đó. Đối với tôi, tôi
đã xả bỏ, nhưng anh thì chưa làm được. Dầu anh vẫn
nói tiếng Đức, nhưng anh không muốn trở về xứ sở nơi
cha mẹ anh đã bị giết. Mãi sau này, khoảng hai năm trước
đây, may mắn thay anh đã thay đổi, vì lòng hận thù, ghét
bỏ chỉ đem lại khổ đau -cho chính chúng ta và cho cả nhân
loại.
Chúng
tôi đã viếng thành phố Vienna, đã nhìn tận mắt bánh xe
khổng lồ Ferris ở thành phố Prater. Đã ghé qua Nam Tư,
viếng Dubrovnik, thành phố biển đẹp tuyệt vời (ít nhất
là đẹp ở thời điểm đó). Buổi tối, các đoàn vũ
công với những lễ phục truyền thống đầy màu sắc nhảy
múa trên mái lầu. Tất cả dân địa phương và khách
ngoại quốc đều ngồi trên những bực thềm của các con
đường dốc nhỏ hẹp, vừa chuyện trò, vừa thưởng thức
âm nhạc và các vũ điệu. Kỷ niệm đó bây giờ nhớ
lại chỉ gợi niềm đau vì cả thành phố giờ gần như đã
bị tiêu hủy hoàn toàn.
Sau
đó là Hy Lạp và Acropolis. Có lần chúng tôi đi dự một
buổi trình diễn ngoài trời: một vỡ kịch cổ điển Hy Lạp,
trình diễn bằng tiếng Hy Lạp. Chúng tôi không hiểu
một lời nào, nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng
là cảm giác được ngồi trên những viên đá hai ngàn năm
tuổi, ngắm nhìn các diễn viên trong những trang phục màu
trắng, nghe họ nói như hát. Cảm giác giống như một
giấc mơ tuyệt vời.
Sau
đó chúng tôi lái xe qua Bức Màn Sắt đến Bulgari. Mang
hộ chiếu Anh và Mỹ, chúng tôi không gặp khó khăn gì khi
nhập cảnh vào đây. Nhưng hóa ra chúng tôi không thể
mua gì ăn ở đây. Chẳng có gì cả! Cả cái siêu
thị to lớn trống trơn, trong khi chúng tôi phải mua thức ăn
Mỗi ngày, vì không có tủ lạnh để trữ đồ ăn. Khắp
nơi, chúng tôi thấy những tấm biển to lớn được dựng
lên để thông báo người này, kẻ kia đã là nhân viên lao
động xuất sắc trong tháng, và đã được huân chương.
Nhưng chúng tôi không tìm được cả đến một mẫu bánh mì.
Gerd
tăng tốc độ xe để chúng tôi có thể ra khỏi đây qua Thổ
Nhĩ Kỳ càng sớm càng tốt. Chúng tôi lái xe dọc theo
bờ Biển Đen, một bãi biển trải dài tuyệt đẹp, và chính
ở đây, chứ không phải ở nơi nào khác, chúng tôi gặp tai
nạn, lần đầu tiên trong suốt cuộc hành trình.
Dừng
xe van ở một chỗ đẹp nhất, giữa thiên nhiên, như thường
làm. Chúng tôi đang dùng bữa tối, thì thình lình một
người đàn ông xuất hiện, tay cầm một con dao lớn.
Hắn ta ra lệnh gì đó, mà chúng tôi không hiểu. Chắc
là hắn muốn đồ ăn, tôi nghĩ, nên đưa đồ ăn cho hắn.
Nhưng hắn không cần đồ ăn, mà ngó quanh quất, rồi leo lên
xe, lục tung đồ đạc, rồi trèo xuống. Lúc nào cũng
chỉa mũi dao về phía chúng tôi. Đang lúc chúng tôi nghĩ
nếu cứ như thế này thì nguy mất, thì bỗng nhiên hắn bỏ
đi.
Dĩ
nhiên, sau đó chúng tôi cũng lẹ làng chạy đi nơi khác, không
dám ở thêm một phút. Gerd lái mãi, lái mãi cho đến
khi chúng tôi đến một đồn điền hoa quả. Ở đó có
một người bảo vệ già, ông cho chúng tôi lái xe qua cổng,
rồi đóng lại. Ông nói chút ít tiếng Đức. Ông
cho phép chúng tôi ở lại qua đêm và muốn ăn bao nhiêu trái
cây tùy thích. Nhờ vậy, chúng tôi mới qua được một
phen sợ điếng hồn.
Từ
đó trở đi, suốt thời gian ở Thổ Nhĩ Kỳ, mỗi đêm chúng
tôi đậu xe trước cửa đồn cảnh sát để ngủ. Ai
lại dám đùa với số mệnh bao giờ.
Tính
từ nửa thế kỷ trở lại đây, có lẽ chúng tôi là những
người cuối cùng có thể du lịch một cách thong dong như thế
này. Không có gì hối thúc chúng tôi, không phải chạy
theo chương trình du lịch nào như những người du lịch ngày
nay. Đó là một cuộc hành trình rất dài, nhìn lại tôi
thấy giống như một tấm thảm đủ màu sắc.
Ở
Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi đi thăm Troy, một thành phố cổ đã
được Schliemann khám phá ra. Lúc đó ở Iraq đang có biến
loạn, nên chúng tôi nhanh chóng qua Iran. Ở Teheran, chúng
tôi bị chìm vào trong biển xe cộ hỗn loạn. Tôi nghĩ
chắc không có đâu mà tình trạng giao thông lại tệ hại
đến vậy. Tôi có cảm tưởng như các bịnh nhân tâm
thần đã trốn khỏi viện, ra đường lái xe, nhưng hình như
không có ai quan tâm sửa đổi. Vậy mà khi Gerd vừa phạm
lỗi quẹo vào con đường một chiều, lập tức một người
cảnh sát xuất hiện. Anh ta tỏ ra rất nghiêm khắc, và
xem đây là một trọng tội. Chúng tôi làm anh ta phát
bực khi cứ tiếp tục nói tiếng Tây Ban Nha. Anh ta không
hiểu được một chữ. Sau khoảng nữa tiếng, anh ta ra
lệnh bằng tiếng Anh, bảo chúng tôi lái xe đến một trụ
sở cảnh sát gần đó nhất. Rồi anh ta bỏ đi.
Dĩ nhiên là chúng tôi chẳng lái đến trạm cánh sát nào cả.
Điều
gây ấn tượng cho tôi nhất ở Teheran là các chợ. Ở
đâu cũng đầy mùi gia vị, dầu, và đầy các tấm thảm tuyệt
đẹp. Chúng tôi phải tự kiềm chế lắm để khỏi
tiêu xài quá đáng, vì chúng tôi muốn để dành tiền mua một
nông trại ở Uùc khi trở về đó.
Ở
Afghanistan lại có chiến tranh. Không ai được phép đến
đó. Vì thế chúng tôi qua Pakistan, nơi những thùng đồ
của chúng tôi đã được gửi đến. Vừa đến Pakistan
không lâu, thì Gerd lại bị sốt rét. Chúng tôi phải
đợi mất vài tuần trước khi anh hồi sức. Do đó, tôi
được có thì giờ đi thăm bạn bè, thăm viếng công trình
Indus, một công trình phát triển quá chậm chạp -cũng không
lạ gì nếu như bạn biết người ta đào các hầm hố để
làm nền như thế nào; bằng cách mướn các bà mặc áo dài
lượm thượm, đội trên đầu các giỏ nhỏ đựng cát đất.
Sau
đó đến Ấn Độ. Ở đó chúng tôi có hai chuyến đi
rất thú vị, một là đến Kashmir, hai là Hunza.
Để
đến được Kashmir, chúng tôi phải đi qua dãy Hy Mã Lạp Sơn
bằng những con đường qua núi. Trong suốt cuộc hành
trình, chúng tôi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi Everest
trong ánh sáng ban mai. Trên những con đường dốc đó,
tuyết phủ đầy. Có lần, bỗng nhiên, từ đâu xuất
hiện một chiếc xe chở quân đội Ấn Độ ở bên đường
ngược chiều. Gerd không thế thắng được vì tuyết.
Hai chiếc xe đụng nhau. Phía trước đầu xe của chúng
tôi bị móp khá nặng, nhưng đầu máy không hề gì, xe vẫn
chạy được. Tôi thì bị bầm một mắt, vì mặt tôi
đập vào kính cửa khi hai xe đụng nhau. Cả xâu chuỗi
đeo cổ bằng ngà của tôi cũng bị văng mất. Ngoài
ra, không có gì hệ trọng nữa.
Khi
đến được Kashmir, chúng tôi bỏ xe sửa. Người Kashmir
rất khéo trong các nghề thủ công. Họ làm ra những chiếc
khăn, những đồ thêu thùa, dệt, vẽ trang trí tuyệt vời.
Không thể tưởng tượng được sau khi xe sửa xong, chúng tôi
không thể tìm thấy được vết trầy nào trên xe.
Khi
chiếc Rover nằm ở garage sửa xe, chúng tôi mướn một chiếc
'nhà thuyền' đi chơi. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ.
Cả thuyền được trải đầy các tấm thảm. Có
thảm để ngồi, thảm để bàn, thảm treo tường, thảm trên
giường ngủ. Rồi trên thảm chất đầy những chiếc
gối êm ái. Nhìn vào thật tuyệt. Và một tuần
lễ trên đó giúp chúng tôi hồi phục sức khỏe nhanh chóng.
Thật vậy dầu đi du lịch tự do, nhưng ở trong chiếc Rover
với đứa trẻ, lại phải chăm lo dạy học cho nó, cũng làm
chúng tôi rất mệt.
Ở
Kashmir, chúng tôi rất tò mò về ngôi mộ của Chúa Jesus ở
không xa thành phố Srinagar lắm. Chúng tôi đã đến đó
thăm viếng, nhưng không thể tin vào sự trung thực của nó.
Có rất nhiều giả thuyết -và cả những chứng cớ- rằng
Chúa đã đến nơi này, nơi kia, sau khi mất ở Jerusalem (mà
theo những người này chỉ là một cái chết giả), sau đó
ngài trở về Kashmir.
Sau
đó chúng tôi lại đến vùng núi đá ở phía Bắc Kashmir:
đó là vùng Hunza. Ở đó trong một diện tích khoảng
tám ngàn thước vuông, có khoảng mười ngàn người sống,
mà vì cách sống của họ, đã có thể thọ đến -một trăm
hai mươi tuổi hay hơn thế nữa. Một dân tộc hạnh phúc
với ngôn ngữ và văn hoá riêng của mình.
Để
đến được nơi đó, trước hết chúng tôi phải lái tận
đến Gilgit, một thành phố nằm trên những con đường dẫn
qua Trung Hoa. Từ Gilgit trở đi, không có gì chắc chắn
cả. Chỉ có một con đường duy nhất dẫn vào Hunza -chữ
'đường' ở đây hình như hơi phóng đại quá. Đúng
hơn phải gọi đó là 'những dấu chân thần chết".
Nhưng
muốn gọi là gì, những con đường này cũng chỉ dành cho
người Hunza. Không ai khác được phép sử dụng chúng.
May
mà chúng tôi gặp được một chiếc xe Jeep nhà binh đang chạy
tới, còn ba chỗ trống trên xe. Bác tài, Jeff, đến tôi,
rồi Gerd, tất cả chèn vào băng ghế trước. Phía sau
chấp đầy những bao ngũ cốc, và sáu người Hunza ngồi trên
đó. Con đường rộng vừa đúng một chiếc xe, và rất
dốc. Xe đi dọc theo đèo. Nên phía bên mặt là vách
đá, bên trái thăm thẳm sâu là con sông Hunza. Có những
chỗ ngoặt quá gắt đến nỗi tài xế phải bám xe sát vào
thành núi mới có thể vượt qua. Chiếc xe cũng không
phải tốt lắm. Có vẻ như nó được lắp ráp từ rất
nhiều phần của các xe jeep khác nhau, mà có lẽ người ta
đã bỏ lại từ các cuộc hành trình.
Trước
khi khởi hành, bác tài ngừng xe lại ở một đền thờ, cầu
nguyện vài phút, rồi bỏ một đồng tiền vào cái tô.
Bác nói rằng, bác làm vậy để cầu cho chúng tôi không bị
lật xe, ngã xuống sông. Có lẽ vì tôi nhìn bác với
vẻ không tin, nên bác lại thêm rằng, tai nạn xảy ra thường
ngày như cơm bữa. Gần đây, một chiếc xe buýt nhỏ
đã rớt xuống đèo, ba mươi hành khách trên chuyến xe đều
chết hết. Nghe tới đó, tôi lẹ làng móc thêm một đồng
tiền nữa bỏ vào tô.
Phải
thú nhận rằng ở thời điểm đó, tôi chưa nghĩ đến cái
chết bao giờ, tôi vẫn còn tha thiết muốn sống lắm.
Ngày nay thì đã khác, nhưng lúc đó, ý tưởng phải biến
mất khỏi mặt đất là điều tôi khó chấp nhận. Ngoài
ra, tôi không muốn mất Jeffrey và Irene, tôi vẫn còn muốn
gặp lại hai con tôi.
Nói
gì thì nói, chúng tôi vẫn lên đường, và trái với dự đoán,
mọi việc đều an lành. Có lần chúng tôi đến một
con đường đã bị phá hủy. Một số người Hunza đang
sửa chữa. Chúng tôi phải đợi họ sửa xong, mới có
thể tiếp tục lên đường.
Cuối
cùng, chúng tôi cũng đặt chân đến được một làng đầu
tiên của người Hunza. Bác tài xế có rất nhiều bà
con quyến thuộc, bạn bè ở đây, họ mững rỡ đón tiếp
bác. Họ mời bác ta uống rượu. Khi tôi hỏi loại
rượu gì, bác nói đó là Hunzapani. Pani có nghĩa là nước,
nhưng Hunzapani lại không phải là nước, mà là rượu, và
bác tài của chúng tôi uống thả dàn.
Vài
người khách bắt đầu trèo xuống xe, khiêng theo các bao tải.
Rồi thêm vài người nữa, cho đến lúc chỉ còn có chúng
tôi và bác tài. Rõ ràng là bác tài đang rất yêu đời,
bác vừa lái, vừa ca hát ỏm tỏi. Nhưng con đường không
đổi tốt hơn. Vẫn dốc và quanh co như trước đó.
Tôi càng lúc càng thấy lo thêm.
Cũng
may mà chúng tôi đến Baltit an toàn. Thủ đô Baltit nằm
ở độ cao ba ngàn năm trăm thước. Chúng tôi mướn phòng
ở một quán trọ nhỏ. Không có đầy đủ tiện nghi,
nhưng là một nơi có cảnh trí đẹp tuyệt vời. Khó
thể tưởng tượng được một nơi đẹp như thế. Trước
mắt chúng tôi là khung cảnh của cả dãy Hy Mã Lạp Sơn.
Ở đây buổi sáng lúc mặt trời lên là một cảnh tượng
thiên nhiên khó thể diễn tả nổi.
Vừa
đến nơi không lâu, thì chúng tôi đã có người nhà của
ngài Mir đến thăm. Ngài Mir của Hunza, chính là vị vua
của đất nước này. Theo sự phân chia chính trị, thì
Hunza thuộc về Pakistan, nhưng thực tế nó được tự quản.
Chúng tôi được báo là nhà vua mời dùng cơm ngày mai.
Đúng là tin hay. Vì chún