Từ
Bá Linh, thành phố nơi tôi sinh ra đến thiền viện Buddha-Haus
(Ngôi Nhà Phật) ở Allgau, Đức nơi tôi đang trú ngụ, rất
xa. Thật ra khoảng cách không gian giữa hai nơi chỉ có
chín trăm kilomét, nhưng giữa hai khoảng cách đó là cả cuộc
đời tôi. Năm mười lăm tuổi, tôi phải rời bỏ nước
Đức ra đi vì tánh mạng người Do Thái ở Đức lúc ấy luôn
bị đe dọa, khiến tôi không còn lựa chọn nào khác.
Giờ tôi đã bảy mươi bốn tuổi đời, lại khoát trên người
màu áo nâu quen thuộc của một tu sĩ Phật giáo.
Tôi
đã chứng kiến, đã sống nhiều qua những năm tháng đó,
và cuộc hành trình tôi đã chọn giúp tôi tìm được sự
thanh thản, để có thể bỏ lại đằng sau tất cả những
gì đã xảy ra cho tôi và gia đình tôi. Dấu mốc đó
giúp tôi hoàn tất vòng trầm luân của mình. Tôi đã
đến được điểm cuối của cuộc hành trình ở thế giới
bên ngoài cũng như cuộc hành trình nội tâm, để về lại
với quê hương ban đầu của mình.
Bạn
bè, đồng nghiệp, đệ tử của tôi đã nhiều lần yêu cầu
tôi viết hồi ký. Tôi luôn từ chối, vì nghĩ đã là
tăng ni thì phải lo thuyết giảng giáo lý của Đức Phật,
không nên lo nói về mình.
Nhưng
cuối cùng tôi đã chấp thuận. Tôi đã để họ thuyết
phục tôi rằng biết đâu chính câu chuyện đời tôi có thể
là một động lực thúc đẩy người khác đi theo con đường
tôi đã đi. Không kể những hoàn cảnh ngoại lệ, đây
chỉ là câu chuyện của một phụ nữ bình thường, sống
bao nhiêu năm trong thế giới trần lao tầm thường, nhưng đến
một ngày, người phụ nữ đó đã thoát ra được, để tiến
lên một đời sống cao cả hơn.
Cuộc
đời của tôi đầy những phiêu lưu bất ngờ. Nhưng
những điều đó không do tôi chọn lựa. Hồi tưởng
lại, tôi nhận thấy mình chẳng có quyền lực gì đối với
tất cả những gì đã xảy ra. Tất cả mọi việc đều
đã được sắp đặt cho tôi, tôi chỉ tuân theo dòng chảy.
Trong
cuộc đời này, tôi đã đóùng rất nhiều vai trò: tôi đã
từng là một cô bé rất được nuông chiều, che chở; một
cô gái nhút nhát nơi xứ lạ quê người; một thiếu nữ cô
đơn trên chuyến tàu hàng đến Thượng Hải; tôi đã từng
làm vợ, làm mẹ, làm người du lịch khắp năm châu, làm nhà
nông, và cuối cùng là một nữ tu sĩ Phật giáo.
Đã
có khoảng thời gian tôi sống phong lưu trong một ngôi nhà
thuộc ngoại thành, ở tiểu bang California với vườn tược,
nhà để xe và cả máy rửa chén trong bếp.
Rồi
có lúc, tôi chu du khắp quả địa cầu: Bắc Mỹ, Ấn Độ,
Pakistan, Nepal, Kashmir, Hunza. Đó là khoảng thời gian
tôi đang đi tìm một cái gì đó mà chính tôi cũng không biết,
và tôi cũng không biết rằng mãi mãi về sau tôi mới
tìm được.
Tôi
đi làm ở một ngân hàng ở Los Angeles, nhưng lại có nông
trại ở Úc, nơi chúng tôi nuôi loại ngựa Shetland. Theo
tôi, một chú ngựa con Shetland mới sinh, hơi lớn hơn con chó
một ít, là con vật dễ thương nhất thế giới.
Tất
cả giờ đã qua; đã là quá khứ, và chỉ còn trong kỷ niệm.
Có lẽ những sự đổi thay, mất mát này đã giúp tôi thấy
sự cần thiết của xả ly. Đối với tôi, biểu tượng
sống động nhất của việc xả ly là cắt bỏ mái tóc của
mình, mười tám năm về trước khi tôi quyết định trở thành
người tu. Mái tóc dầy, thướt tha, đen bóng đó đã
được cạo láng đến tận da đầu. Theo truyền thống
Nguyên thủy, tôi cầm nắm tóc trong tay, suy gẫm về tính huyễn
hóa của thân. Sau đó tôi bỏ nắm tóc đi không thương
tiếc, thật ra tôi còn cảm thấy nhẹ nhỏm là khác.
Bớt đi một thứ để bám víu.
Giờ
tôi xin bắt đầu câu chuyện của đời tôi, mà tôi gọi là
Quà Tặng Cuộc Đời (I Give You My Life), vì tôi có cảm tưởng
mình đang gửi gắm tâm sự riêng tư đến với từng người
đọc. Tôi hy vọng là bạn cũng sẽ đọc nó với một
tấm lòng.
Mỗi
chương được bắt đầu bằng những vần thơ mà tôi nghĩ
là có thể minh hoạ cho giai đoạn đó của đời tôi.
Những vần thơ được lấy từ Kinh Pháp Cú (Dhammapada), là
một tổng hợp các câu kệ của Đức Phật giáo huấn chúng
sanh. Những lời nói đầy trí tuệ này đã ảnh hưởng
đến tôi rất nhiều.
Tôi
muốn câu chuyện đời tôi sẽ là món quà từ trái tim gửi
đến cho bạn đọc.
Tháng
3, 1997
Ayya
Khema
Buddha-Haus,
Allgau
Chương 2
Thời Thơ Ấu
ở Bá Linh
Chẳng
phải nhờ cha mẹ
Hay
thân bằng quyến thuộc
Nhưng
chính tâm hướng thiện
Giúp
ta tốt hơn lên.
Kinh
Pháp Cú - 43
Tôi
sinh ngày 25, tháng 8, 1923. Cha mẹ tôi, Theodor Kussel và
Lizzi Rosenthal, đã đặt tên tôi là Ilse. Theo tử vi phương
tây, tôi là một Virgo (Trinh Nữ). Tuy nhiên qua năm tháng,
những đặc tính của Trinh Nữ (Virgo) -tận tụy, chăm chỉ,
hiểu biết- đã chuyển đổi thành những đặc tính háo thắng
của Sư Tử (Leo). Tôi đã biến thành một con sư tử
(Leo).
Thế
giới thượng lưu tôi đã được sinh vào, ngày hôm nay không
còn nữa. Chúng tôi từng sống trong một ngôi nhà có
mười hai phòng gần một sở thú -một khu vực dân cư đẹp
nhất ở tây Bá Linh. Chúng tôi có người nấu ăn, có
kẻ giúp việc, một bảo mẫu và một anh tài xế lái xe đưa
tôi đi học. Các bữa ăn thường được cô giúp việc
mặc áo đen, choàng yếm (apron) trắng, có cột dây ở phía
sau, dọn lên. Vách tường được lót giấy hoa, ghế bọc
nhung, sàn trải thảm Ba Tư, các bộ trà đều bằng bạc.
Mỗi ba tháng, một toán thợ lại đến nhà để lau chùi các
bóng đèn thủy tinh.
Tôi
kể cho các bạn nghe những điều này vì một hoàn cảnh sống
như thế đã tạo cho tôi ảo tưởng là không có gì bất hạnh
sẽ có thể xảy ra cho tôi: "Tất cả mọi thứ đều được
đảm bảo; thế giới đầy yên ổn, tươi đẹp". Tôi
vẫn còn nhớ cái cảm giác này rất rõ. Nhưng chẳng
lâu sau đó, tôi biết tất cả chỉ là hư ảo.
Cha
tôi là một nhà bán chứng khoán ở thị trường chứng khoán
Bá Linh. Ở đó chỉ có bảy nhà chứng khoán tự định
ra giá cả của các cổ phần dựa vào cung cầu, do đó họ
rất có ảnh hưởng. Đó là một dịch vụ dân sự.
Có lần tôi hỏi cha: "Cha, gia đình mình có giàu không?"
Ông trả lời tôi, "Rất khá, có thể nói là giàu".
Một
ngày kia, cha đặt tôi ngồi lên gối của người và nói với
dáng buồn bả: "Con cưng ơi, nhưng gia đình ta là người Do
Thái". Tôi hỏi ông, "Điều đó có gì xấu không?"
Ông trả lời: "Bình thường thì không sao, nhưng hiện tại
thì không hay". Đó là lần đầu tiên tôi được biết
rằng chúng tôi là người Do Thái, một điều rất đặc biệt.
Vì cho đến lúc đó, không có ai nói gì về đạo Do Thái trong
gia đình tôi. Cha mẹ tôi là những người được coi
là cấp tiến. Những người Do Thái cấp tiến không quan
tâm lắm về các truyền thống của người Do Thái chính thống.
Họ đã hoàn toàn hòa nhập vào môi trường quanh họ, đã
không khác gì mọi người chung quanh. Có người còn rửa
tội, biến thành người Kitô giáo hay Tin lành. Riêng gia
đình tôi, chúng tôi không đi xa đến thế, có lẽ vì
cha mẹ tôi không coi tôn giáo là quan trọng.
Cha
mẹ tôi tự coi mình là người Đức. Cha tôi đã nhận
được huân chương anh dũng bội tinh trong thế chiến thứ
I, và ông rất hãnh diện về điều đó. Ông đã nói
với tôi rằng ngài Frederick Vĩ đại của Prussia đã dẫn dắt
người Do Thái ra khỏi chốn tối tăm. Họ muốn sống
đâu cũng được. Như thế, có nghĩa là mọi người có
quyền theo đuổi hạnh phúc riêng của mình. Có thể đó
là lý do tại sao người Do Thái quá sốt sắng để hoà nhập
vào tầng lớp thượng lưu. Họ rất trung thành với xứ
sở, đó là cách bày tỏ lòng biết ơn của họ.
Tôi
còn nhớ rất rõ cha tôi thường nói, thật là hạnh phúc được
sống an ổn trong một xứ sở như nước Đức. Có lẽ
đó là lúc tôi còn rất nhỏ khi ông nói những lời này, vì
chẳng bao lâu sau đó, mọi việc đều đổi thay, hoàn toàn
đổi thay.
Ông
ngoại tôi có một tiệm bán quần áo trẻ con ở Bá Linh, trên
góc đường Rankestrasse - Taurentzienstrasse, đối diện với nhà
thờ Kaiser Wilhelm, mà nay là đài tưởng niệm hoà bình, vì
một phần của nhà thờ còn lại sau trận bom được coi là
chứng tích của chiến tranh.
Năm
ngoái, sau bao tháng năm, tôi trở lại thăm Bá Linh lần đầu
tiên, tôi đã đi tìm ngôi nhà đó. Nhưng nó không còn
nữa. Tôi cũng không thể tìm ra ngôi nhà tôi đã từng
sống với cha mẹ. Có thể nói, thời thơ ấu của tôi
đã bị xóa đi, không để lại dấu tích gì. Không còn
gì để tôi trở lại nữa. Không còn mồ mả ông bà.
Có lẽ vì thế mà hình ảnh đứa bé gái trong những bức
hình tôi tìm lại được có vẻ xa lạ quá. Đó là một
đứa trẻ bụ bẫm với gương mặt tròn trịa -với đôi gò
má hồng hào, tôi còn nhớ như thế. Tôi vẫn còn nhớ
như thế cho đến ngày hôm nay.
Trước
cửa tiệm bán quần áo trẻ con Jakob Rosenthal có bến xe ngựa.
Mỗi thứ bảy, ông tôi thường đưa tôi đến sở thú trong
những cổ xe ngựa như thế. Ở sở thú, họ thường
đem các con thú ra biểu diễn cho trẻ em xem. Nếu muốn,
trẻ em có thể cưỡi các con thú này. Tôi hay chọn cưỡi
voi (vì tôi thấy rất thích khi được ngồi trên cao chót vót,
lúc la lúc lắc như đang trên tàu ra biển), đôi khi tôi chọn
cưỡi dê. Cũng rất vui. Ngoài ra, ở sở thú người
ta còn bày ra những cái máy bỏ tiền vào thì mua được một
viên kẹo. Sau khi ra khỏi sở thú, ông cháu tôi ra về
cũng trên các cổ xe ngựa đó. Những buổi chiều thứ
bảy được đi chơi với ông đối với tôi thật hạnh phúc.
Mẹ tôi là con gái duy nhất của ông, nên ông cũng chỉ có
tôi là cháu. Ông rất thương tôi và tôi cũng rất thương
ông.
Trong
tiệm của ông, ở bàn làm việc, loại bàn thật cao, có tấm
biển đề: "Không cần biết bạn đã làm gì, nhưng bạn đã
sai". Có lần tôi hỏi ông câu đó hàm ý gì. Ông trả
lời: "Có nghĩa là ta không thể làm vừa ý hết mọi người".
Ông
tôi là người vui vẻ, yêu đời. Khi ông mất, thế giới
của tôi lần đầu tiên bị xáo trộn. Hôm ấy tôi đến
nhà ông bà ăn trưa như mọi ngày chủ nhật khác. Sau
buổi ăn, ông đi nằm và không bao giờ trở dậy nữa.
Người ta bảo với tôi là ông đã đi ngủ. Bà tôi không
thể chịu đựng nổi sự mất mát đó. Hai năm sau bà
cũng ra đi.
Sau
này chúng tôi nói, "Thật may". Thật may là sự ra đi của
ông đã xảy ra đúng lúc. Năm ông tôi mất là năm 1933,
khi tôi vừa được mười tuổi.
Tôi
tiếp tục sống trong ảo tưởng về một thế giới an toàn
một thời gian nữa. Nếu cha mẹ tôi có điều lo lắng,
họ không bao giờ nói trước mặt tôi. Tôi theo học trường
tư và sau đó vào trường trung học tiểu bang Augusta Lyceum.
Tôi vẫn thường tổ chức sinh nhật của mình với bè bạn,
và cô đầu bếp, Flora Brambor, vẫn là chủ trong nhà bếp.
Tôi thường trêu ghẹo bằng cách gọi chệch tên cô vì cô
không bao giờ cho tôi bước chân vào ‘vương quốc’ của
cô.
Thế
vận hội Olympics năm 1936, đó là lần đầu tiên tôi được
thấy Adolf Hitler tận mặt. Cha tôi có vé cho mọi chương
trình biểu diễn ở sân vận động Olympics. Khi cha không
có thì giờ đi, tôi thường thế chỗ cha. Đó là một
chỗ ngồi rất tốt, không xa mấy chỗ của Hitler.
Dầu
tôi đã quên rất nhiều thứ trong thời thơ ấu, tôi vẫn
không thể quên được buổi chiều hôm ấy. Nhất là
tôi không thể quên được những âm thanh vang dội bên tai
khi hàng ngàn người đồng thanh hô lên: "Heil Hitler!" (Chào
Hitler!). Mọi người đều đứng dậy, vung cao tay trong
không khí. Chỉ có tôi ngồi yên trên ghế. Vì là
người Do Thái, tôi không được quyền chào ông. Đồng
thời tôi cũng cảm thấy sợ hãi khi nghĩ rằng người ta có
thể kéo lôi tôi ra khỏi ghế vì đã không tôn trọng Hitler.
Cũng may tôi chỉ là đứa trẻ, nên không ai để ý đến tôi.
Adolf
Hitler đứng lên chào đám đông, rồi tuyên bố vài lời vào
cái loa. Cách ông ta phát biểu, dằn từng tiếng, và giọng
nói hùng hồn làm tôi càng thêm sợ hãi. Tôi cảm thấy
một mối đe dọa trùm phủ cả người tôi.
Sau
thế vận hội Olympics, chính sách của chính phủ đối với
người Do Thái càng ngày càng trở nên khắt khe. Người
Do Thái không còn được giữ chức vụ dân sự nữa, vì thế
cha tôi không còn được làm ở thị trường chứng khoán.
Lúc đầu, ông vẫn được tiếp tục làm việc với tính cách
là người thầu độc lập, nhưng tiền thu nhập đã giảm
rất đáng kể.
Chúng
tôi phải dọn đến một căn hộ nhỏ hơn, phải bán xe và
cho người tài xế thôi việc. Thêm nữa, người Do Thái
không được mướn người không phải là Do Thái. Điều
đó có nghĩa là chúng tôi phải cho cô đầu bếp và cô giúp
việc nghỉ làm. Tiếp đến, trẻ em Do Thái không được
đi học cùng trường với trẻ khác. Nên tôi phải chuyển
qua trường Do Thái được thành lập để chữa cháy cho hoàn
cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Thành
thật mà nói, việc đổi trường đối với tôi không quan
trọng. Nhưng điều quan trọng mà tất cả bà con, bạn
bè chúng tôi nói đến là di dân. Đó là đề tài nóng
sốt hơn là chuyện học hành: chúng tôi có phải dọn đi nơi
khác không, nếu có, chúng tôi sẽ đi đâu? Đến Czech,
nơi dượng Leo của tôi đang sống hay đi đâu?
Dượng
tôi, Leo Kestenberg, cưới em của ba tôi. Dượng là Bộ
trưởng về Giáo dục Aâm nhạc Czech, có nghĩa dượng là công
chức của chính phủ, và giờ cũng vì những lý do tương tự,
dượng đã bị mất chức. Dượng đã từng là thầy
dạy piano cho Yehudi Menuhin, và cũng dự tính dạy tôi đàn.
Có lần khi chúng tôi đến viếng thăm dượng, dượng đã
đánh piano một bản nhạc để tặng tôi. Lúc đó đáng
lý ra tôi phải tập đánh theo dượng, nhưng tôi không làm
được. Nên dượng cho là tôi bị điếc âm thanh, không
học được đàn piano được.
Czech
cũng không phải là một lựa chọn tốt -vì như chúng ta đều
biết, không lâu sau bọn Đức quốc xã lại lần đến đó.
Dượng Leo chạy thoát qua được Do Thái cùng với gia đình.
Ở đó dượng thành lập dàn nhạc Người Do Thái Yêu Aâm
Nhạc (Israeli Philharmonic Orchestra). Dượng, mợ Grete và
các con là một trong số ít những thân nhân của tôi đã thoát
khỏi cuộc tàn sát người Do Thái.
Cha
tôi đã có suy nghĩ sai lầm là Hitler sẽ không thể tồn tại
lâu ở Đức với chính sách tàn sát người Do Thái như thế.
Cha cho rằng một dân tộc đã sản sinh ra những Goethe, Schiller,
Kant và Nietzche, Bach, Beethoven -là những người cực kỳ tài
hoa, trí tuệ- dân tộc đó sẽ không cho phép bất cứ chính
phủ nào đưa nó đến những hành động dã man như thế.
Và cha tôi cũng không phải là người duy nhất suy nghĩ như
thế. Có rất nhiều người cũng nói: "Dĩ nhiên đó chỉ
là những tin đồn phóng đại. Chúng ta sẽ ở lại; dầu
gì đi nữa đây cũng là quê hương của chúng ta; tóm lại,
tất cả chúng ta đều là dân Đức".
Sau
đó là đến cái gọi là thuế dành cho người Do Thái.
Theo luật thì đây là một loại thuế mà người Do Thái phải
trả cho nhà nước. Thực tế đây là một hình thức
để chiếm đoạt tài sản của người Do Thái. Tôi cũng
đi với cha đến văn phòng của Bộ tài chánh. Khi ra khỏi
phòng, cha bật khóc. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn
thấy cha khóc. Ngay lúc đó cảm giác an toàn của tôi
lần đầu và mãi mãi đổ vỡ. Từ đó trở đi tôi biết
rằng thế giới không phải là chỗ lúc nào cũng an toàn, vững
chắc. Tôi đã ráng hết sức mình an ủi cha tôi, tôi
còn nhớ rõ ràng như thế. Nhưng tôi cảm thấy mình quá
bất lực, và cha tôi cũng thế.
Cuối
cùng chúng tôi cũng phải trả nhà, và dọn vào ở với cô
Wally. Cô là em của cha, và lập gia đình với một người
Kitô giáo. Ngay khi đạo luật về người Do Thái ra đời,
chồng cô đã bỏ ra đi. Chúng tôi sống ở đó cho đến
một ngày, người bảo vệ đứng từ dưới thang lầu hét
lên cho chúng tôi biết. Có một toán người đi ủng đang
tiến về phía cầu thang, có lẽ họ là những tên chuyên săn
lùng người Do Thái. Vì chúng tôi là người Do Thái duy
nhất trong tòa nhà đó, chúng tôi có thể dễ dàng đoán ra
họ đang đi tìm kiếm ai. Cha tôi chạy ra thang lầu phía
sau, và nhảy qua hai mái nhà đến chỗ dì Lieschen. Dì
là em của mẹ. Cha đã ẩn náu ở đó.
Một
ngày sau Kristallnacht, khi khắp nơi trên đất nước, các nhà
thờ của người Do Thái bị phóng hỏa, các cửa hàng Do Thái
bị cướp phá, tôi tình cờ đi ngang qua một nhà thờ đang
bị đốt ở Fasanenstrasse. Tôi không quan tâm về
tôn giáo mấy, nhưng tôi biết ngã tư và khu phố đó.
Một đám đông người vứt các kinh thánh vào lửa. Một
vài người Do Thái bị bắt buộc chứng kiến đã oà khóc.
Đó là một kinh nghiệm khủng khiếp, một cú sốc đối với
tôi. Khi về được đến nhà, mặt tôi tái nhợt; đôi
má không còn hồng hào nữa.
Giờ
thì rõ ràng rồi -chúng tôi phải trốn đi thôi. Nhưng
dường như đã quá trễ. Cha tôi mua được một thông
hành đi Uruguay, nhưng đó là thông hành giả. Khi người
ta điêu đứng, có bao nhiêu cách để làm tiền người ta.
Điều đó đúng lúc bấy giờ, và đúng cho cả bây giờ.
Trung
Hoa là nước duy nhất tiếp nhận người Do Thái mà không cần
đòi hỏi thông hành. Vì thế cha tôi mua hai vé tàu, một
cho cha, và một cho mẹ, trên chuyến tàu đi từ Trieste đến
Thượng Hải ở trạm Triestino của thành phố Lloyd. Mỗi
vé tốn mười ngàn mác. Cái giá khủng khiếp đó, gần
như ngốn hết tất cả những gì chúng tôi còn lại sau khi
chịu thuế đánh vào người Do Thái. Cha đã thu xếp để
tôi đi theo một đoàn thiếu nhi di tản qua Anh quốc, nơi một
người cậu tôi đang sống. Theo ý của cha mẹ tôi, Anh
quốc dầu gì cũng an toàn cho một đứa con gái mười lăm
tuổi như tôi hơn là hải cảng Thượng Hải tăm tiếng.
Tôi
đưa cha mẹ ra ga để đi Trieste. Khi mẹ tôi vừa lên
đến được toa xe, bà đã ngất xỉu. Tôi đứng bên
ngoài toa xe; cha tôi vẩy vẩy tay chào bên cửa sổ. Tôi
ước mình cũng có thể ngất đi được vì sợ hãi khi phải
ở lại Bá Linh một mình.
Cô
Wally còn ở lại với tôi. Cô quan tâm lo lắng cho tôi
đến cảm động. Một ít bạn bè của tôi cũng còn ở
lại. Nhưng cũng còn đó nỗi sợ hãi -tôi sẽ phải làm
gì nếu Đức quốc xã đến bắt tôi? Lúc đó tôi chưa
biết gì đến các trại tập trung, cũng như những gì đang
xảy ra trong các trại đó. Tôi chỉ biết sợ hãi một
cách chung chung. Từ lúc chứng kiến cảnh đốt phá nhà
thờ, tôi chỉ có cảm giác là tương lai rất mờ mịt, khủng
khiếp. Mỗi ngày qua, niềm sợ hãi, âu lo dường như
tăng trưởng thêm.
Kiếm
một chuyện gì đó để làm cho khuây khỏa, tôi bắt đầu
học tiếng Tây Ban Nha ở một trường sinh ngữ.
Vào
tháng 4, 1939, cuối cùng tôi nhận được tin từ một tổ chức
Cộng đồng Do Thái ở Bá Linh rằng đã có chỗ cho tôi trong
đoàn trẻ em được di tản. Tôi xếp theo ít đồ -mấy
cái áo, ít sách thiếu nhi mà tôi thích. Một túi đeo
vai, và một valise nhỏ là tất cả hành lý tôi được quyền
mang theo. Không được mang theo tiền, vàng bạc, nữ trang
-không được mang thứ gì có giá trị. Bằng cách đó
chín mươi ngàn đứa trẻ đã được cứu sống, trong khi chín
mươi ngàn đứa khác bị giết đi.
Lần
nữa tôi lại ra ga, lại có con tàu chờ đợi. Chúng tôi
sẽ được chở đến thành phố Hamburg trước. Rồi từ
đó lên thuyền đi Dover. Tôi là đứa lớn nhất trong
số hai trăm đứa trẻ trèo lên tàu với túi đeo lưng và valise
xách tay. Và tôi là đứa duy nhất phải bị cảnh sát
khám xét người. Nhưng họ không khám thấy gì.
Mấy
đứa trẻ tuổi từ hai đến mười lăm. Phần lớn la
khóc khản giọng. Cha mẹ chúng đứng đằng sau hàng rào;
họ không được phép lên tàu. Rồi tàu cũng rời ga,
chiếc tàu đầy nước mắt. Đám trẻ áp mặt lên các
khung cửa sổ, kêu khóc. Tôi không khóc. Tôi đã
chia tay với cha mẹ rồi. Giờ chỉ còn cô Wally ở lại
sau đám dây kẽm gai đó, nhưng nỗi hãi hùng như đã qua đi.
. . .
Tôi
không bao giờ gặp lại cô Wally nữa, cũng không còn gặp bà
con, bạn bè những người đã ở lại Bá Linh lúc đó nữa.
Sau chiến tranh, tôi đã tìm họ qua Chữ Thập Đỏ, nhưng hoài
công. Gần đây, một quyển sách tưởng niệm các nạn
nhân Do Thái của Đảng Quốc Gia Xã Hội được Trung Tâm Nghiên
Cưú Khoa Học Xã Hội của Đại Học Tự Do Bá Linh in
-một quyển sách dày đến 1450 trang. Tên của các nạn
nhân, với địa chỉ, ngày tháng năm sinh, ngày bị đi đày,
nơi đày, ngày bị giết, nếu có. Phần đông là đề
“Không rõ".
Tôi
tìm thấy tên cô Wally trong quyển sách này. Wally Seidl,
họ Kussel, sinh ngày 27 tháng 9, 1883, tại Bá Linh, địa chỉ:
69 Stromstrasse; đi đày ngày 5 tháng 3, 1943 ở Auschwitz; nơi mất
Auschwitz. Ngày chết: Không rõ.
Và
cả dì Lieschen mà cha tôi đã từng trốn ở nhà dì. Sinh
ngày 27 tháng 10, 1861, tại Gentin, thị trấn Saxony; đày đi
Theresienstadt. Nơi mất: Minsk. Ngày chết: Không rõ.
Ngoài
họ, tôi cũng đã tìm thấy tên của bao bà con, bạn bè.
Tôi không còn hình ảnh gì của họ, không biết mồ mã.
Chỉ có quyển sách đó và bao kỷ niệm trong ký ức của tôi.
Chương 3
Cuộc Sống
Tha Hương
Các
hành đều vô thường
Ai
biết được điều đó với trí tuệ
Sẽ
thoát khỏi bao khổ đau.
Kinh
Pháp Cú – 277
Cả
cuộc đời, tôi chưa bao giờ cảm thấy cô đơn bằng lúc
đi trên chuyến tàu từ Bá Linh đến Hamburg. Tôi cảm
thấy như cả thế giới bỏ rơi chúng tôi. Tất cả phó
mặc chúng tôi cho số mệnh dung rủi. Tôi đã không khóc
được; tất cả trong tôi như đông cứng một nỗi hãi sợ.
Nhưng tôi còn gì để mất nữa chứ, tôi đã mất: mái ấm
của cha mẹ, gia đình, quê hương. Tôi hoàn toàn không
biết điều gì sẽ xảy ra cho tôi trong tương lai.
Có
được một quê hương là điều khiến người ta cảm thấy
gắn bó, bảo bọc. Nhưng kể từ đó, tôi không bao giờ
cảm thấy đâu là nhà nữa. Sự quen thuộc, ấm áp, tin
cậy -tất cả chỉ còn là những tình cảm của quá khứ.
Tất cả tôi đã bỏ lại với Bá Linh, mãi mãi. Tôi đã
nói hiện giờ tôi sống rất thanh thản ở Allgau. Đó
là sự thật, nhưng bất cứ lúc nào tôi cũng có thể sẳn
sàng khăn gói lên đường, đến sống ở một nơi nào khác,
bất cứ nơi nào trên thế giới.
Ý
nghĩ có một cái gì thuộc về 'của tôi' không còn nữa trong
tôi -như quê tôi, nhà tôi, tài sản của tôi. Tôi không
bao giờ còn nghĩ có cái gì đó thuộc về mình hay mình thuộc
về cái gì đó. Hôm nay tôi nói những lời này không
hối tiếc, vì đó là tình cảm chân thật từ đáy lòng tôi.
Đức Phật, chắc chắn, đã dạy con người từ bỏ mọi sở
hữu, nhưng tôi đã biết đến tình cảm này trước đó rất
lâu, trước khi tôi biết chút gì về Phật giáo.
Chúng
tôi đến Anh trên một chiếc tàu chiến của Đức với thủy
thủ đoàn người Đức. Các thủy thủ rõ ràng là rất
tội nghiệp lũ trẻ. Họ rất tử tế với chúng tôi,
dẫn chúng tôi đi xem cả chiến thuyền từ phòng chiếu bóng
xuống đến hầm máy, bất cứ thứ gì để dỗ nín chúng
tôi. Họ trang trí phòng ăn bằng các giấy màu, và còn
có cả kem để cho chúng tôi tráng miệng. Nhưng vô ích
đối với những em còn quá nhỏ. Chúng không chịu ăn
gì cả, và luôn khóc đòi cha mẹ. Trong cabin của chúng
tôi, có khoảng sáu đứa trẻ. Mỗi đêm đều có một
người thủy thủ đến kể chuyện cổ tích, chuyện thần
thoại cho đến khi chúng tôi thiếp ngủ. Tôi sẽ không
bao giờ quên lòng từ ái của các thủy thủ này đối với
chúng tôi. Nhưng dưới mắt của chính phủ họ, chúng
tôi chỉ là một loài bẩn thỉu.
Đến
Dover, chúng tôi lại lên tàu hỏa đi Luân Đôn, nơi chúng tôi
được một phái đoàn Do Thái đón tiếp. Họ gồm khoảng
ba mươi phụ nữ đứng ở những chiếc bàn dài, với nước
chanh, bánh ngọt, bánh mì. Họ đọc tên chúng tôi cùng
với một địa danh: "Kussel, Ilse - Glasgow".
Thế
là tôi phải đến Glasgow với hai em bé gái nữa. Một
phụ nữ nói tiếng Anh dẫn chúng tôi lên tàu. Bà còn
cho tôi ít tiền bỏ theo người, một hay hai bảng Anh gì đó,
với một túi đồ ăn.
Tôi
không nói được tiếng Anh trừ chào buổi sáng, buổi chiều,
xin vui lòng và cảm ơn, mà ở đây thì không có ai nói tiếng
Đức. Tôi tự hối là đã không học tiếng Anh thay vì
tiếng Tây Ban Nha ở trường sinh ngữ Bá Linh. Hơn thế
nữa, tôi hoàn toàn không hình dung nỗi Glasgow ở đâu, dầu
đó là thành phố lớn nhất nước Tô Cách Lan. Ở mỗi
trạm xe lửa, tôi đều nhìn qua cửa sổ để xem có phải
là Glasgow không. Mỗi lần như thế tôi đều thấy tấm
biển đề: "Players please". Đó là tên loại thuốc lá
nổi tiếng nhất ở Anh, nhưng dĩ nhiên là lúc đó tôi không
biết. Tôi chỉ thấy ngạc nhiên sao thành phố nào cũng
gọi là: "Players please".
Trên
các toa xe rất lạnh, và trời tối nhanh, nhưng xe lửa cứ
đi tới, đi tới. Rồi một người soát vé đến chỗ
chúng tôi. "Glasgow?", tôi hỏi ông. Ông ráng giải thích
để tôi hiểu rằng Glasgow là trạm cuối cùng. Ngay sau
đó mắt tôi ríu lại, vì tôi hiểu rằng khi nào tàu còn chạy,
chúng tôi còn có thể ngồi yên một chỗ.
Sáng
hôm sau, chúng tôi đến trạm cuối cùng. Gia đình người
bảo trợ đón chúng tôi ở sân ga. Hai vợ chồng và bảy
đứa con. Họ không nói được tiếng Đức nào, họ nói
tiếng Yiddish. Vì Yiddish là tiếng địa phương dựa trên
tiếng Đức, nên gia đình này nghĩ là tôi phải biết Yiddish.
Yiddish thường được sử dụng trong các gia đình theo đạo
Do Thái chính thống, nhưng như tôi đã giải thích, gia đình
tôi không theo Do Thái chính thống.
Gia
đình người bảo trợ tôi đến từ Do Thái-Nga. Việc
tôi không thể nói cùng thứ tiếng với họ là một điều
bất hạnh, dầu nhỏ. Vấn đề nằm ở một điểm khác.
Họ đã ký tên bảo lãnh tôi vì họ cần người đỡ việc
cho người mẹ với bảy đứa con trong gia đình. Nhưng
thực tế là họ đã chọn phải một người hoàn toàn không
thích hợp với công việc này. Cũng do cô đầu bếp ở
nhà tôi lúc trước không cho tôi được bước chân vào bếp,
mà tôi không biết nước sôi là như thế nào. Tôi phải
thay các áo gối, nhưng tôi cũng chưa từng làm việc đó trong
đời. Tôi phải coi và nhóm bếp lửa ngoài trời, mà
tôi không biết cần phải có giấy, người ta mới nhóm được
lửa.
Người
vợ càng ngày càng khó chịu với tôi, nhưng ông chồng thì
nói: "Thôi bỏ đi, dầu gì nó cũng chỉ là một đứa trẻ".
Họ nói bằng tiếng Yiddish, nghĩ rằng tôi không biết nói
thì không thể hiểu được. Nhưng tôi hiểu được vì
rất giống tiếng Đức.
Nhưng
ở trường thì tôi không hiểu được chữ nào. Vì thế, nơi
tôi học tiếng Anh là những rạp chiếu bóng. Vé rẻ
nhất là sáu pence (tiền xu của Anh), và tôi có thể mua được
vé với số tiền ít ỏi của mình. Sau ba tháng, tôi nói
tiếng Anh lưu loát, vậy ra đi coi hát cũng có ích chứ.
Có
khả năng hiểu hết mọi thứ cũng không phải hoàn toàn có
lợi. Có lần một cô bạn mời tôi đến dự tiệc sinh
nhật ở nhà cô, tôi hiểu rất rõ khi mẹ cô nói: "Con nhỏ
di dân kia đừng hòng bước chân vào nhà tao!". Nhưng đó
không phải là sự kỳ thị duy nhất đối với tôi. Một
bạn trai định mời tôi đi dự tiệc khiêu vũ ở trường
đại học. Lúc bấy giờ, tôi đã mười sáu tuổi, và
đã trở thành một cô gái không đến nỗi xấu xí. Mẹ
của anh ta ta nói: "Bao nhiêu người, sao con lại chọn cô bé
người nước ngoài này?" Anh trả lời: "Cô ta khác gì
với mấy cô gái kia đâu?"
Điều
khác biệt giữa tôi và các cô gái khác có thể nói gọn bằng
một câu: Tôi bất hạnh. Tôi không thuộc vào thế giới
mà tôi bị đẩy vào này. Tất cả mọi thứ đều lạnh
lùng, xa lạ, không chỉ nói về con người mà cả thời tiết
cũng thế, lạnh và ẩm ướt. Nhưng tôi có rất nhiều
nghị lực, nên đã quyết định như đinh đóng cột -tôi sẽ
cố gắng thêm một năm nữa xem sao, nhưng từ giờ cho đến
lúc đó, phải chấp nhận tất cả không than vãn.
Năm
tháng qua đi, giữa năm đó, chiến tranh bùng nổ. Tôi
viết thư cho cha ở Thượng Hải, kể cho ông nghe hoàn cảnh
tôi khổ sở thế nào. Tôi viết, "Con muốn được ở
cạnh cha mẹ".
Thời
gian dần trôi, cuối cùng mùa hè năm 1940, câu trả lời đã
đến. Trái bom Đức đầu tiên đã nổ ở gần Edinburgh.
Cha tôi trả lời thư: "Nếu con không được thoải mái, thì
hãy đến đây". Lúc đó cha mẹ tôi đã có được một
căn hộ ở Thượng Hải. Cha tôi đã mở một tiệm quần
áo may sẵn, khá phát đạt. Quần áo may sẵn ở Trung
Hoa lúc đó là một điều mới lạ. Trừ việc cha mẹ
tôi phải sống ở một nơi không được sầm uất, mọi thứ
khác đều ổn thỏa.
Đáng
lý cậu tôi ở Luân Đôn phải mua vé đi tàu thủy cho tôi,
nhưng chờ mãi không thấy. Cuối cùng vào tháng 11 năm
1940, tôi mới được vé. Tôi báo cho gia đình bảo trợ
là tôi muốn đi thăm cha mẹ. Nhưng họ hiểu là tôi muốn
bỏ ra đi. Có lẽ họ cũng mừng tôi ra đi, nhưng họ
không nói gì.
Cậu
tôi, người mà tôi chưa gặp bao giờ, gửi cho tôi vé xe buýt
đi từ Glasgow đến Luân Đôn. Đến Luân Đôn, cậu lại
đi lo các giấy tờ cần thiết cho chuyến đi của tôi.
Cuối cùng, tôi là người không có quê hương, vì người Đức
đã lấy lại thông hành Đức tịch của tôi.
Tôi
còn nhớ rất rõ: Đó là vào buổi chiều khi tôi từ giã gia
đình người bảo trợ ở Glasgow. Họ không hề hỏi tôi:
"Con có tiền mang theo mình không?" Một mình tôi đi bộ
trong bóng tối ra trạm xe buýt, lưng đeo túi vải, tay mang valise
nhỏ mà tôi đã mang đến. Khi cánh cửa nhà đóng sập
lại sau lưng, tôi cảm thấy hoàn toàn lạc lỏng -một kẻ
không ai trông đợi, không tiền, không một giấy tờ tùy thân,
cô đơn giữa những người xa lạ trong một xứ sở xa lạ.
Ngày
nay nhìn lại tôi thấy là tôi đã không làm vừa lòng gia đình
người bảo trợ. Tôi không vừa lòng về họ, và họ
cũng không vừa lòng về tôi. Vài năm trước đây, tôi
đã tìm lại địa chỉ của Mimmie, đứa con gái trong gia đình
mà tôi thân thiết nhất. Tôi viết thư cho cô, cảm ơn
cô và gia đình. Dầu gì, nếu họ không tiếp nhận tôi,
tôi đã chết như chín mươi ngàn đứa trẻ khác ở Bá Linh.
Từ đó, chúng tôi trao đổi thư từ. Cô thấy cuộc đời
tôi cũng khá thú vị.
Chuyến
đi mười hai tiếng từ Glasgow đến Luân Đôn thật là khủng
khiếp đối với tôi, vì tôi quá đói. Các hành khách
khác cứ chốc chốc lại xuống các trạm dọc theo đường
đi để mua thức ăn. Nhưng tôi không có một xu ten.
Khi đến Luân Đôn tôi phải xin một người xa lạ tiền để
gọi điện thoại. Giờ, tôi mới biết đó cũng là một
hình thức ăn xin. Anh ta cho tôi chút đỉnh, không nhiều.
Điều
đó gợi tôi nhớ lại một việc đã xảy ra khi tôi còn là
một cô bé được yêu thương, chiều chuộng. Tôi đi
với cha đến sở thú. Chúng tôi đi qua Cổng Voi, nơi
có một người ăn xin đang ngồi. Tôi nhìn thấy ông rõ
ràng trước mắt tôi. Ơng chỉ còn một chân và giữ
một chiếc hộp nhỏ trên đùi, trong đựng bút chì để bán.
Cha tôi đặt một đồng xu lên chiếc hộp, và tôi đã nghĩ:
Đó cũng có thể là tôi. Điều đó cũng có thể xảy
ra cho tôi. Tôi có thể là người ăn xin ngồi đó, xin
tiền thiên hạ. Có lẽ tôi là một cô bé ngoan ngỗn,
nên tôi chưa đến nỗi phải làm thế.
Lúc
đó, tôi được năm tuổi, chưa biết gì về tôn giáo, và
dĩ nhiên là không biết tí gì về Phật giáo. Nhưng điều
mà tôi cảm nhận được một cách trực giác là nghiệp lực,
nhân quả, mà mãi sau này tôi mới biết tên gọi. Hành
động ác sẽ mang lại nghiệp ác. Nếu bạn làm điều
xấu, chuyện xấu sẽ xảy ra cho bạn, giống như người ăn
xin kia. Lạ lùng là cuộc gặp gỡ đó đã để lại dấu
ấn sâu đậm trong tôi.
Cậu
tôi là một luật sư ở Luân Đôn. Cậu đã di tản khỏi
Đức rất sớm từ những năm 1933, ra là cậu có cái nhìn
rộng rãi hơn cha tôi. Cậu không sống ngay tại Luân Đôn,
nhưng ở gần đó. Cậu hướng dẫn qua điện thoại
cho tôi đường đến nhà cậu; cậu sẽ trả tiền tàu hỏa
khi tôi đến nơi. Đó là một buổi sáng ảm đạm, và
tôi cảm thấy mệt mỏi vô cùng. Mọi chuyện lớn, nhỏ
trong đời tôi hình như luôn đầy khó khăn. Giống
như không dễ dàng gì để giải thích với nhân viên
hỏa xa là vé của tôi sẽ được trả khi tôi đến trạm
dừng. Không có gì dễ dàng, không có gì xảy ra mà không
đòi hỏi ta phải cố gắng. Tôi chưa quen được
điều đó.
Cậu
tôi đứng đón ở sân ga. Người soát vé được cậu
cho tiền bồi dưỡng, và đó là lần đầu tiên tôi có cảm
giác được đón chờ. Thật là một cảm giác sung sướng.
Tôi
ở với cậu và em họ tôi, Steffi, vài ngày. Cậu tôi đã lo
được giấy chứng minh tạm trú cho tôi ở một văn phòng
chuyên lo thủ tục cho người nước ngoài. Cậu đưa cho
tôi một ống điếu bằng vàng, và một vài vật có giá trị
cho cha tôi. Rồi tôi lại một mình lên xe lửa. Đó
là vào tháng mười hai. Tháng tám vừa qua, tôi được
mười bảy tuổi.
Tàu
đậu ở bến cảng Liverpool. Khi nhìn thấy nó, tôi bỗng
sợ. Đó không phải là con tàu người ta cảm thấy thoải
mái để đi trên đó vượt qua đại dương. Nó giống
như mấy chiếc tàu sắp bị đắm trong các phim cướp biển:
Rĩ sắt, hoen ố. Người ta gọi nó là Haruna Maru.
Trên boong tàu, một lá cờ Nhật Bản bay phất phới.
Châu Aâu đang có chiến tranh. Không còn chiếc tàu nào
dành chở dân sự.
Con
tàu Haruna Maru nặng mười ngàn tấn, khá nhỏ. Trên thuyền
đầy các thủy thủ Nhật Bản. Rất nhiều các bao tải,
các thùng được mang lên tàu. Nhưng chỉ có mười hai
hành khách -một vị truyền giáo người Anh, hai thương nhân
người Pakistan và một bác sĩ người Aán. Trên chuyến
đi, vị bác sĩ đã ngỏ lời cầu hôn với tôi. Tôi là
người phụ nữ trẻ duy nhất trên tàu. Thật khó để
nói cho ông ta biết lúc bấy giờ tôi không hề nghĩ đến
chuyện hôn nhân.
Tôi
nhớ, cuộc hành trình là một chuyến đi đầy khủng khiếp
mà lãng mạn. Tôi chưa từng đi biển bao giờ. Thật
là một cảm giác kỳ lạ khi chỉ nhìn thấy nước và trời,
mấy con cá thỉnh thoảng nhảy vọt lên khỏi mặt nước.
Màu trời thay đổi từ xanh, xám, đến xanh lục, tất cả
gợi cho ta cảm giác một chuỗi màu sắc, ẩn hiện ở chân
trời. Nhưng đe dọa trùm phủ lên tất cả. Một
lần, giữa biển, chúng tôi cứu được những người sống
sót từ một chiếc tàu Thụy Điển đã bị Đức đánh bom.
Đó không phải là tàu chiến, nhưng vẫn bị đánh chìm.
Các nạn nhân la hét giữa dòng nước. Sau đó tôi không
còn mấy tin tưởng ở chiếc cờ Nhật Bản to tướng trên
tàu nữa. Ai đảm bảo được rằng chúng tôi sẽ không
là mục tiêu tấn công? Ban đêm tàu đi trong bóng tối
đen ngòm. Tất cả các lỗ thông hơi đều được sơn
đen. Vượt biển trong bóng tối như thế khiến tất cả
mọi người trên tàu đều cảm thấy thần kinh căng thẳng.
Có
một thủy thủ không thể chịu đựng nổi, anh ta phát điên.
Anh ta chạy tán loạn trên boong tàu, đập vỡ tất cả mọi
thứ trong tầm tay. Tôi đang ở trong cabin, nghe ồn mở
cửa ra định xem chuyện gì. Ngay lúc đó, anh ta chạy
về hướng tôi. Hai tay cầm hai mảnh chai vỡ, miệng sủi
đầy bọt nước miếng, anh ta la hét cuồng loạn. Ai đó
vội đẩy tôi trở vào cabin. Cuối cùng người ta khống
chế được người thủy thủ điên và nhốt anh ta lại suốt
cuộc hành trình. Nhưng tôi không thể nào quên gương
mặt của người ấy. Giờ thì tôi hiểu phát điên là
như thế nào: tâm bất ngờ tán loạn, bao thú tính của một
con vật hung bạo đều phát ra ngoài.
Tất
cả mười hai hành khách. Mỗi người đều có một cabin
nhỏ, có giường, tủ, ngoài ra không có gì nữa. Khi dùng
bữa, chúng tôi đến một căn phòng có những bàn sắt nhỏ,
với những lò lửa nhỏ được đặt ở khoảng cách giữa
các bàn sắt. Khi muốn nướng cá hay rau củ, bạn có
thể ngồi trên mấy cái ghế nhỏ đặt trên sàn để tự
nướng cho mình.
Tôi
không thể nào chịu nỗi điều đó. Tôi không nuốt nỗi
thức ăn nửa chín, nửa sống đó. Tôi cũng không nhớ
mình đã sống bằng gì trên suốt chuyến đi. Có lẽ
chỉ nhờ bánh lạt, may mà thỉnh thoảng nhà bếp cũng làm
bánh. Tôi không cảm thấy khỏe suốt chuyến đi.
Ngay bây giờ nhớ tới cuộc hành trình đó, tôi vẫn còn muốn
bịnh. Đó là một cuộc tra tấn dã man nhất.
Lại
còn nóng nữa chứ! Lúc chúng tôi bắt đầu đi từ biển
Đại Tây Dương vào Kênh Suez, hãy còn là mùa đông. Nhưng
sau đó trời bắt đầu nóng. Tàu dừng ở Bombay, ở Colombo,
mỗi nơi hình như càng lúc càng nóng hơn. Tôi không được
quyền rời tàu với các hành khách khác. Giấy tờ của
tôi không phải là thông hành chính thức, vì thế tôi phải
ở lại đằng sau trong chiếc tàu nhỏ, kín bưng, nằm nướng
mình trong ánh nóng mặt trời.
Chương 4
Thời Chiến
Tranh ở Thượng Hải
Thực
chân nghĩ đó thực chân,
Phi
chân biết đó phi chân mới là.
Tư
duy chẳng chút vạy tà,
Người
như thế ấy mới là đạt chân (1).
Kinh
Pháp Cú - 12
Sau
Kristallnacht năm 1938, giữa những người Do Thái ở Bá Linh
có một câu chuyện tiếu lâm thường được kể: Hai người
Do Thái đang đứng xếp hàng để xin hộ chiếu. Một
người muốn đi Mỹ. "Còn anh định đi đâu", anh ta hỏi
người bạn. Người kia trả lời: "Đến Thượng Hải".
Người thứ nhất nói: "Xa dữ vậy sao?". "Xa tính từ
đâu?", người bạn trả lời.
Phải
có đầu óc khôi hài người ta mới nghĩ ra được những chuyện
cười châm chọc đó. Đặc biệt người Do Thái
có biệt tài đó -có lẽ vì trong lịch sử, họ có quá nhiều
những sự bất hạnh. Có hàng trăm chuyện cười về
người di dân Do Thái và những hoàn cảnh trớ trêu của họ.
Như tôi đã nói, Thượng Hải lúc đó là chỗ nương thân
cuối cùng của người Do Thái ở Châu Aâu. Phần lớn
các nước khác đều đóng cửa biên giới. Uruguay gửi
trả một thuyền đầy dân di tản trở về Đức. Mỹ
và Úc thì chỉ nhận vào một số công dân đặc biệt.
Theo
một ký kết hằng trăm năm về trước giữa Anh-Trung Hoa, Thượng
Hải trở thành một thành phố tự do, nghĩa là ai vào cũng
không cần hộ chiếu. Giữa những năm 1938-1941, hai mươi
ngàn người Do Thái đã đến lánh nạn tại đây. Một
nơi rất xa quê hương, nhưng sau này chúng tôi biết rằng như
thế cũng chưa xa đủ.
Cha
mẹ tôi đứng đợi dưới bến tàu khi chiếc Haruna Maru cập
bờ. Khi nhìn thấy họ, một tảng đá -không, mười tảng
đá- đang đè nặng trên tim tôi, bỗng biến mất. Cha
tôi mặc chiếc áo khoác đen, ông vẫn thường mặc ở Bá
Linh. Chúng tôi trèo lên hai chiếc xe kéo cùng với hành
lý, trong có chiệc hộp đựng thuốc bằng vàng của cậu tôi
(ở Luân Đôn) được giấu kín trong đó. Trời rất lạnh;
các ngọn gió rét mướt từ các thảo nguyên Mông Cổ thổi
qua các đường phố Thượng Hải như cắt da. Dầu vậy,
áo hai người phu kéo xe vẫn đẩm ướt mồ hôi, đến đổi
giống như hơi nước toát ra từ thân họ bay lên. Tôi
không quen ngồi trong những xe kéo bằng người. Tôi được
biết rất ít người làm nghề này sống lâu, ai cũng chết
vì bịnh nghề nghiệp. Nhưng đó là cách người ta kiếm
sống ở Thượng Hải. Không ai có thể thay đổi được
điều đó -nhất là tôi. Cũng may sau này người ta đổi
qua người đạp xe.
Chúng
tôi đi qua khu vực dành cho người Pháp. Thượng Hải
lúc đó là một cửa khẩu quốc tế tự do, có khu dành cho
người Pháp, người Anh, Mỹ và Trung Hoa. Tôi nhận thấy
đó là một thành phố tồi tàn trong một ngày mùa đông, chỉ
trừ nơi có các ngân hàng, khu thương mại của người Anh
thì khá hơn.
Hai
người phu xe dừng trước một tòa chung cư khá đẹp.
Tôi trèo lên các nấc thang với cha mẹ, cha tôi mở cửa ra,
và tôi bước vào một căn phòng với đồ đạc bàn ghế từ
Bá Linh. Không biết bằng cách nào đó, sau khi ra đi, cha
mẹ tôi được người ta gửi tàu ra cho họ một ít bàn ghế,
tranh, và mấy tấm thảm Ba Tư. Thật là một cảnh tượng
lạ lùng, những đồ đạc quen thuộc ở một nơi xa lạ.
Cha
tôi cùng với ba người Do Thái di tản từ Bá Linh đã mở
được một tiệm quần áo may sẵn cho phụ nữ.
Đó là một cửa hiệu sang trọng, nằm cạnh bên khách sạn
Palace, cửa hàng rất phát đạt. Các phụ nữ Thượng
Hải rất thích các loại quần áo Tây phương này, họ chưa
từng thấy trước đó bao giờ. Tôi cũng được dịp
sắm sửa từ cửa tiệm của cha. Quần áo tôi mang từ
Bá Linh qua Tô Cách Lan, rồi từ Tô Cách Lan qua Trung Hoa đã
trở nên quá ngắn, quá chật.
Tôi
không có bằng cấp, không học vấn, không có gì cả.
Cha tôi gửi tôi đi học ở trường kinh doanh Thượng Hải.
Ông nói: "Nếu con được học đánh máy, sẽ có ích cho con
suốt đời". Đó là cái nhìn rất sâu rộng. Đến
bây giờ, hằng ngày tôi vẫn còn ngồi làm việc với chiếc
bàn máy. Ngoài ra tôi cũng học kế toán, tốc ký, nhờ
đó, sau này tôi có thể kiếm sống nuôi gia đình trong bao
nhiêu năm.
Buổi
chiều, sau giờ học, tôi đi chơi tennis. Trong một thời
gian ngắn ở Thượng Hải, tôi đã có thể sống tự do, yêu
đời như thuở nào.
Vào
tháng 12, 1941, chiến tranh bùng nổ ở Thái Bình Dương.
Nhật chiếm Thượng Hải cũng như một số nơi khác.
Vào tháng 2, 1943, họ ra nghị quyết: Người di tản Aâu
châu -có nghĩa là người Do Thái- phải bị hạn chế
trong khu vực thành phố Hongkew; một khu ổ chuột, không có
tường rào, nhưng đầy dây kẽm gai, và phải chịu sự cai
trị của lực lượng quân sự Nhật Bản. Đó là do áp
lực của chính phủ Đức. Nhật là đồng minh của Đức,
và đối với Đức quốc xã, Thượng Hải cũng như bao nhiêu
chỗ khác, không phải là quá xa đến nỗi họ không thể với
tới, người Do Thái sống ở đó cũng không thể tránh khỏi
sự trừng phạt của họ.
Đối
với chúng tôi, điều đó có nghĩa là lại phải từ bỏ nhà
cửa, công việc kinh doanh. Cha tôi lần nữa lại bị cướp
đi cơ hội kiếm sống. Tôi tin rằng điều đó ảnh hưởng
rất lớn đến người. Vì giờ, cha tôi không còn trẻ
nữa.
Chúng
tôi thuê hai phòng ở Hongkew, mang theo bàn ghế, thảm và một
ít bộ ly pha lê. Cũng nhờ bán dần những thứ này
mà chúng tôi có thể nuôi sống bản thân.
Trong
thời gian đó, tôi nghiệm thấy rằng dù trong hoàn cảnh khắc
nghiệt thế nào, cuộc sống vẫn tiếp tục. Trong khu
ổ chuột của chúng tôi, với gần mười tám ngàn dân từ
các nơi như Đức, Czech, Hoà Lan, Aùo, và những nơi mà Hitler
cai trị, đã mọc lên một cộng đồng có nhà thương, trường
học, nhà hát, các quán càphê Viennes, nơi bạn có thể mua
bánh nướng và nước táo. Chúng tôi cũng có báo chí,
và các chương trình xã hội phục vụ trẻ con và người già.
Con số trẻ em chết ở Hongkew vì môi trường thiếu vệ sinh,
không có sữa, lên rất cao.
Mỗi
sáng tôi rời khu ổ chuột, đến tối lại trở về.
Tôi kiếm được việc làm với một công ty xuất khẩu.
Tất cả tiền kiếm được tôi đều đưa cho cha. Chúng
tôi sống rất cần kiệm. Có một quán cơm xã hội, chúng
tôi có thể đến. Đồ ăn nấu cũng được, chỉ có
điều các món không thay đổi: lúc nào cũng là kasha súp, với
ít rau củ lội trong đó. Chúng tôi còn được phát cho
loại bánh mì mà người già không thể nào ăn nổi vì nó
cứng như đá. Vào các ngày lễ, chúng tôi mới dám mua
khoảng hai mươi gram pâté hay một lạng càphê. Chúng
tôi phải trả giá rất đắc cho những thứ này.
Cha
tôi có một tấm bản đồ dán trên tường, trên đó ông đánh
dấu những bước tiến của quân đội Đồng Minh bằng những
cây kim nhỏ. Chúng tôi không được có radio. Nhưng
đám con trai tự ráp radio lấy, giấu dưới nệm. Nhờ
vậy, chúng tôi được biết quân Mỹ đã tiến đến đâu,
và hy vọng là cơn ác mộng sẽ sớm chấm dứt.
Một
ngày kia bom nổ ở khu ổ chuột. Nghe một tiếng động
lớn, tôi chạy ra trước cửa nhà. Trước mắt tôi là
một người quen, anh ta như bị đất chôn vùi, rồi tiếp theo
tiếng nổ lớn , là một cột đất, và người đàn ông biến
mất. Lúc đó, lần đầu tiên trong đời, tôi hoảng sợ
đến mất cả tự chủ. Tôi cứ hét lên, không thể ngừng
được cho đến khi cha tôi tát cho tôi một cái. "Chúng
ta không làm được gì cả đâu. Hãy im ngay!", cha tôi
quát.
Và
tôi bình tĩnh trở lại. Từ đó không bao giờ tôi hoảng
loạn như thế cả -tánh cách của tôi không giống như thế.
Nhưng những gì tôi đã chứng kiến thật quá sức chịu đựng
của tôi. Tôi vừa đứng cạnh một người, rồi ngay
trước mắt tôi, anh biến ra thành những mảnh vụn. Anh
là một nhạc sĩ trong các quán càphê Do Thái. Tôi vẫn
thích nghe anh chơi nhạc.
Rất
nhiều trái bom đã nổ trong ngày hôm ấy, rất nhiều người
bị giết. Con đường trước cửa nhà tôi, máu chảy
như nước mưa. Quân đội Mỹ định đánh phá đài phát
thanh của Nhật, nhưng bị chệch mục tiêu.
Có
lẽ từ kinh nghiệm đó, tôi trở nên không còn sợ hãi sự
chết nữa. Từ lúc đó, tôi không còn lo sợ không biết
mình sẽ sống hay chết. Người ta sống phút này, phút
sau đã chết. Tôi đã biết điều đó rất sớm.
Vào
tháng 8, 1945, trước khi trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima,
Nagasaki và chiến tranh chấm dứt, cha tôi bắt đầu bị đau
vì những điều kiện sống khốc liệt. Bác sĩ chẩn
đoán ông bị sỏi thận, và buộc phải giải phẩu, vì thế
cha tôi đến bịnh viện. Dĩ nhiên, mọi phương tiện
trong bịnh viện cũng chưa được hoàn bị, nhưng chúng tôi
ai cũng nghĩ là ông sẽ qua khỏi. Vào ngày dự định
mổ thì cha hơi sốt nhẹ. Cuộc giải phẩu phải đình
lại. Hôm sau tôi vào thăm cha. Một vị bác sĩ đã
gặp riêng tôi, nói: "Cha cô sẽ không qua khỏi cuộc giải
phẩu này đâu". Lúc ở trong bịnh viện, cha bị nhiễm
trùng não lây từ một người lính Nhật đã được mang vào
trong tình trạng bịnh sắp chết. Không có thuốc chữa
cho bịnh này. Lúc đó chưa có những thứ như thuốc kháng
sinh.
Tôi
vào phòng thăm cha. Ông đang nằm trên giường, có vẻ
rất yếu. Có lẽ cha biết mình sẽ không qua khỏi.
Có lẽ những người sắp chết đều biết. Cha rất tỉnh
táo. Tôi nói với cha: "Cha ơi, con sẽ trở lại ngay.
Con sẽ đi kêu Mẹ". Nói rồi tôi chạy như điên về
nhà, nước mắt tuôn đầy trên mặt.
Khi
trở lại bịnh viện, tôi cố đút cha ăn vài muỗng súp.
Cha tôi đã không còn nuốt được nữa. Nhưng cha rất
bình tĩnh. Cha nói: "Con biết cha thương con đến dường
nào!". Cha chúc tôi tất cả mọi điều tốt đẹp nhất
trong đời và nói sẽ tiếp tục lo lắng, bảo vệ tôi.
Tôi
hoàn toàn không thể chịu đựng nỗi. Tôi không thể
chấp nhận việc cha sắp ra đi -chỉ vài ngày trước đây
thôi, cha vẫn còn là người khỏe mạnh. Sự ra đi của
cha là một mất mát thật sự đối với tôi. Cái chết
của nạn nhân chiến tranh đã là một cú sốc, nhưng lúc đó
có cha đứng cạnh tôi, để khuyên tôi bình tĩnh.
Đối
với tôi, cha là điểm tựa của cuộc đời tôi. Tôi
đứng bên ngoài nghe Mẹ nói lời từ giã với cha. Một
vài người bạn thân cũng đến. Rồi cha nhắm mắt.
Tôi không thể khóc nữa. Phải thật lâu sau, tôi mới
có thể khóc được.
Năm
ngày sau đó, chiến tranh chấm dứt. Cha tôi đã mong đợi
hoà bình biết bao nhiêu, nhưng ông đã không còn sống để
đón hoà bình.
Mẹ
tôi như tê liệt, bà không còn làm gì được nữa. Tôi
phải lo tất cả, từ đám táng đến ổn định lại cuộc
sống của chúng tôi. Quân đội Mỹ tiến vào Thượng
Hải. Những người lính Mỹ phát kẹo cho chúng tôi.
Nhưng ngay họ cũng không thể cho chúng tôi được một căn
hộ. Chúng tôi phải tiếp tục sống trong hai căn phòng
tồi tệ đó.
Hai
năm trước đó, vì người Nhật, chúng tôi đã bị mất cửa
tiệm, và hầu hết tài sản. Tôi cố gắng đòi lại
phần nào, nhưng vô ích. Tất cả đều đã mất.
Vài
tháng sau, mẹ tôi lập lại gia đình với một người bạn
từ thời thơ ấu ở Bá Linh. Ơng ta cũng sống trong khu
ổ chuột này. Từ đó trở đi, tôi hoàn toàn cô đơn,
không cha, không mẹ -vì bà đã dành hết mọi tình cảm cho
cuộc hôn nhân mới. Tôi không thể hiểu được điều
đó. Tôi nghĩ là mẹ cần có thời gian để quên nỗi
đau mất chồng. Nhưng giờ tôi có thể nhìn sự việc
dưới khía cạnh khác. Mẹ tôi là người đàn bà hiền
hậu, nhưng bà rất yếu đuối, sợ hãi. Bà không thể
tự lo cho cuộc sống của mình, cũng như nhiều phụ nữ khác
thuộc thế hệ của bà. Bà cần có ai đó để bảo vệ,
che chở.
Tôi
đã hai mươi hai tuổi, và đã trở thành một thiếu nữ khá
xinh đẹp, nếu tôi có thể nói thế từ những bức ảnh tôi
còn giữ lại. Có thể bức ảnh cũng đã được tôn
tạo, vì trong đó lông mi của tôi dài một cách giả tạo.
Nhưng cũng có thể nói tôi là một thiếu nữ khá xinh đẹp.
Một ngày kia tôi gặp một người đàn ông lớn hơn tôi mười
bảy tuổi. Ơng cũng là người Do Thái từ Đức đến; tên
ông ta là Johannes.
Có
thể ông đã thay thế hình ảnh cha tôi trong lòng tôi.
Bạn bè, người quen đều nói là ông không xứng với tôi.
Nhưng tôi không nghĩ thế -thế là tôi lập gia đình với ông
ta. Chúng tôi dọn vào một căn hộ bé tí ở Hongkew.
Có điện, nhưng nước thì chỉ có ở phía sân sau nhà.
Chúng tôi có một lò sưởi nhỏ để sưởi ấm. Nhưng
không bao giờ tôi đốt được lò sưởi, vì thế nhà tôi
lúc nào cũng lạnh vào mùa đông.
Chồng
tôi có phần hùn với người em họ ở một xưởng may áo
chemise, làm ăn cũng khá. Tôi tìm được việc, làm thư
ký cho quân đội Mỹ đang đóng ở đây, được hai trăm đô
một tháng. Đó là một số tiền rất lớn ở Trung Hoa
thời đó, có thể nuôi cả gia đình hai mươi nhân khẩu.
Nghĩa là chúng tôi trở nên khá giả hơn. Tôi được
quyền mua sắm đồ ở PX, cửa hàng chỉ dành cho nhân viên
sở Mỹ. Có rất nhiều thứ ở đó, thí dụ như kem đánh
răng, xà-phòng thơm, sữa bột. Tôi còn mướn được
một amma, bà vú Trung Hoa. Tôi học được ít tiếng Thượng
Hải từ bà, thứ tiếng địa phương mà người nơi khác không
thể hiểu được. Khi tôi sanh Irene, con gái tôi vào năm
1947, bà vú giúp tôi rất nhiều. Việc nặng nề khó nhọc
nhất là bà giúp tôi giặt bao nhiêu là tả ở sân sau nhà.
Hầu
hết người Do Thái sống trong các trại tập trung ở đây
đều muốn được qua Mỹ. Người Mỹ cũng chấp nhận
chúng tôi, nhưng giấy tờ hành chánh thì quá nhiêu khê.
Các chuyến đi Mỹ phải đi cùng với quân đội Mỹ trên
các chiến hạm, chúng tôi chờ đợi đến vô vọng. Mẹ
tôi và chồng bà được đi trước cả chúng tôi.
Cuối
cùng khi quân đội của Mao Trạch Đông tiến vào Thượng Hải,
lúc đó mới tới lượt chúng tôi. Chúng tôi rời Thượng
Hải trên chiến hạm cuối cùng vào năm 1949. Những ai
không lên được chuyến tàu đó đều bị bắt lại.
Như thế tôi vẫn còn may mắn. Như tôi đã may mắn được
lên chuyến tàu cuối cùng đưa trẻ con ra khỏi Đức
vào năm 1939.
Các
chiến hạm có thể chứa khoảng từ một ngàn rưỡi đến
một ngàn tám trăm người, đàn ông đàn bà ở riêng.
Chúng tôi gồm sáu người mẹ và sáu em bé ở trong một cabin.
Mấy đứa bé như đã hợp đồng, không khóc cùng một lúc,
mà cứ hết đứa này khóc thì đến đứa kia. Chúng tôi
hầu như không thể chợp mắt được.
Dầu
gì chúng tôi cũng trên đường vượt Thái Bình Dương!
Trên đường đến San Francisco! Tôi còn nhớ lần đầu
tiên tôi nhìn thấy chiếc cầu Golden Gate, đẹp tuyệt vời
qua lớp sương sớm. Trên bến, một ban nhạc đang chơi
bài hát nổi tiếng: "San Francisco, hãy mở cầu Golden Gate".
Lần
nữa, một cuộc đời mới lại bắt đầu. Không biết
đã bao nhiêu lần như thế rồi? Dần dần tôi học đứng
trở dậy trên đôi chân mình khi vấp ngã, giống như thằng
người đồ chơi mỗi lần bị đấm ngã, lại chồi trở dậy.
Giờ tôi là một phụ nữ đã có chồng con, hai mươi sáu tuổi,
vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp, nhưng đã có chút đỉnh
tiền để dành. Tuy nhiên tôi có cảm giác như chưa được
yên: còn cứ phải chống chọi với bao nghịch cảnh, và phải
cắn răng chịu đựng. Nhưng để làm gì chứ?
Chương 5
Thế Giới
Mới, Cách Sống Mới
"Đây
là con của ta, tài sản của ta", Kẻ ngu tự làm khổ với
cách nghĩ đó Ta còn không làm chủ được ta Hỏi làm gì tiền
bạc với con ta?
Kinh
Pháp Cú - 62
Tháng
6, 1949. Trời lạnh như cắt khi tàu chúng tôi cập bờ
cảng San Francisco. San Francisco hình như lúc nào cũng gió,
cũng lạnh. Chúng tôi, một ngàn tám trăm người Do Thái
đến từ Thượng Hải đứng ở lan can tàu, nước mắt vui
mừng, nhưng răng đánh vào nhau lập cập. Dưới bến
tàu -giống như mười năm trước ở Luân Đôn- có gần bốn
trăm phụ nữ của tổ chức cộng đồng Do Thái đang chờ
đón chúng tôi. Họ xếp những chiếc bàn dài dọc theo
các nhà kho, phát cho chúng tôi những ly càphê nóng hổi cùng
với bánh mì, bánh ngọt. Lại cũng những danh sách cùng
các địa chỉ nơi chúng tôi phải đến.
Cộng
đồng Do Thái lo lắng cho chúng tôi một cách chân tình.
Có lẽ vì trước đó những người Do Thái định cư ở Mỹ
không tin các thông tin từ Đức. Họ không thể tin là
dân họ có thể bị thủ tiêu hàng loạt như thế.
Nhưng giờ thì họ đã tin, vì chính quân đội Mỹ đã đến
tận các trại tập trung, và chứng kiến những sự thật không
thể tưởng tượng nỗi ở các nơi đó.
Chúng
tôi nhận được tờ giấy có tên khách sạn chỗ trọ của
chúng tôi. Ngoài ra chúng tôi còn được phát bảy mươi
đô la một tháng để mua thực phẩm. Lúc đó, số tiền
này khá lớn. Họ còn tặng quần áo, vì chúng tôi chỉ
có những bộ đồ mặc trên người. Cả cộng đồng
quyên góp quần áo mới, cũ cho chúng tôi. Và chúng tôi
được quyền chọn lựa.
Quần
áo được chất thành đống lớn. Chưa bao giờ tôi thấy
quần áo nhiều như thế. Chúng tôi lựa các quần áo
ấm. Tôi chọn thêm một cái bóp. Khi mở ra, trong
đó có một tờ mười đô. Tôi mang tiền đến trả lại
cho người phụ nữ phụ trách việc phát quần áo, nhưng bàø
nói, không, người ta cố ý làm như thế. Ai mà được
cái bóp thì được luôn tiền. Điều đó làm tôi thấy
rất cảm động vì sự quan tâm của họ. Tôi vẫn nhớ
lại tất cả với sự biết ơn. Tất cả giống như một
phép lạ.
Tôi
bắt đầu cuộc tìm kiếm những người thân ở Bá Linh.
Tôi đến Hội Chữ Thập Đỏ. Nhưng không có dấu hiệu
họ còn sống sót. Tất cả đều đã chết. Lúc
ở Thượng Hải, tôi đã thấy nhiều người Do Thái, đặc
biệt là những người già rất thù ghét người Đức.
Tôi thông cảm hoàn cảnh của họ; người Đức đã cướp
đoạt của họ tất cả. Nhưng tôi không thể chia sẻ
tình cảm thù hận của họ. Tôi còn nhớ đã nghĩ là
chính họ đã hủy hoại cuộc sống, phần đời còn lại quí
báu của họ với lòng hận thù.
Đức
Phật có nói: "Không có ngọn lửa nào bén bằng lòng tham;
không có bàn tay nào xiết chặt hơn hận thù; không có lưới
nào rối rắm bằng ảo tưởng, không có ngọn sóng nào cao
bằng ngọn sóng ái dục". Và Đức Phật cũng nói hận
thù không thể cởi bỏ hận thù, chỉ có tình thương mới
làm được điều ấy. Lúc đó, tôi chưa biết gì về
Phật giáo. Tuy nhiên, tôi cũng suy nghĩ giống như thế.
Tôi thấy rất rõ là người ta cần hàn gắn và tha thứ.
Lúc đầu tôi không làm được điều đó, nhưng sau một thời
gian, tôi đã làm được, dầu sau này tôi có nghe người ta
kể thêm về những tội ác của người Đức.
Tôi
tự nhủ mình: tất cả đã qua. Chỉ có nỗi đau mất
cha là không nguôi. Lúc còn ở Thượng Hải, tôi có chụp
ảnh ngôi mộ của cha, nhưng cho tới ngày nay tôi không tìm
ra được bức ảnh. Vì tôi đi đây đi đó, chuyển đổi
chỗ ở quá nhiều, tôi đã để thất lạc bao hình ảnh, giấy
tờ.
Cuối
cùng chúng tôi đã có mặt ở Mỹ, đất nước tự do.
Ở đây, tôi chỉ biết một người bạn học cùng trường
ở Los Angeles. Các nhà bảo trợ trong tổ chức Cộng Đồng
Người Do Thái khuyên chúng tôi đi qua miền đông, nơi có nhiều
cơ hội kiếm việc hơn, nhưng tôi muốn đi Los Angeles.
Chúng tôi được tặng vé xe buýt Greyhound đi Los Angeles, khi
đến nơi tôi đã nhanh chóng tìm được một căn hộï ở
thành phố rộng mênh mông ấy. Nhưng căn hộ của chúng
tôi quá nhỏ, chỉ có một phòng, quá chật hẹp đối với
một gia đình có con. Tuy nhiên giá mướn không quá mắc,
và lại có sẵn đồ đạc. Chúng tôi đâu có của cải
gì ngoài một ít tiền dành dụm được ở Thượng Hải, vừa
đủ để chúng tôi có thể trả tiền mướn phòng trong một
thời gian.
Chồng
tôi được nhận làm thợ cắt trong một xưởng may chemise.
Lương ít nhưng dầu gì cũng là một nguồn thu nhập ổn định.
Tôi chạy tìm một căn nhà nhỏ có thể mua được với một
ít tiền đặt cọc, mỗi tháng cũng không phải trả nhiều.
Cuối cùng chúng tôi cũng mua được một căn nhà nhỏ, có
vườn để con gái nhỏ của chúng tôi, Irene, có chỗ để
chạy chơi. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Lần đầu
tiên chúng tôi có một mái nhà, mà không ai có thể đuổi
chúng tôi ra được. Nhà chúng tôi có phòng khách, nhà
bếp với đủ các thứ đồ điện gia dụng, và nước, không
giống như ở Thượng Hải, không phải đi đâu xa mới có.
Nhiều năm sau, có lần đi ngang qua căn nhà cũ, khi nhìn thấy
nó, tôi đã phải kêu lên: "Trời ơi, sao mà nó nhỏ đến
thế!" Nhưng lúc đó, đối với tôi, nó là một phép
lạ.
Tôi
cũng tìm được việc làm. Không khó lắm, vì tôi đã
từng được huấn luyện nghề thư ký văn phòng. Ngân
hàng Bank Of America ở Los Angeles mướn tôi ngay lập tức.
Sau đó tôi lấy bằng lái xe, tậu xe hơi, một chiếc xe hơi
cũ kỹ không còn chạy được bao nhiêu lâu nữa. Tôi
còn nhớ nỗi kinh hoàng khi lần đầu tiên lái xe đi làm ở
Los Angeles. Ở thời đó, xe cộ ở Los Angeles đã đông
đúc. Khi tôi tới được chỗ làm thì chỗ ngồi đã
ướt đẩm mồ hôi vì căng thẳng, sợ hãi. Dầu gì,
tôi cũng đã tới nơi an toàn.
Không
khí làm việc trong ngân hàng rõ ràng là kỳ thị đối với
phụ nữ. Các phòng trên lầu đều dành cho nam giới.
Mỗi sáng tôi chở Irene đi học mẫu giáo. Cô bé không
thích đi học, nhưng không có lựa chọn nào khác. Chồng
tôi làm việc ở hãng may chemise chỉ được bảy mươi xu một
giờ. Rõ ràng là không thể đủ để nuôi con với đồng
lương đó. Vì thế tôi không còn lựa chọn nào khác
ngoài phải đi làm. Dầu cho con bịnh, tôi cũng phải có
mặt đúng giờ ở chỗ làm, không thể sai trái. Những
lúc đó, tôi đều phải nhờ mẹ giúp đỡ. Lúc đó mẹ
tôi sống ở San Diego với người chồng thứ hai. Bà phải
lái xe hơi hơn một tiếng rưỡi để đến Los Angeles.
Khi
công ty của chồng tôi dọn về San Diego, tất cả chúng tôi
dọn theo. Con trai tôi, Jeffrey sinh ra ở San Diego. Lúc
đó Irene đã được gần mười tuổi. Lúc trước, khi
tôi ao ước có thêm đứa con nữa, các bác sĩ bảo điều
đó khó thể xảy ra vì tôi bị bướu. Khi tôi mang thai,
bác sĩ riêng của tôi không mấy hài lòng, vì điều khó thể
xảy ra đã xảy ra. Nhưng cũng may, tôi sinh Jeffrey chỉ
trong vòng nửa tiếng, mẹ tròn con vuông không có vấn đề
gì cả.
Sau
đó tôi phải nghỉ việc. Chồng tôi làm việc cũng đã
nhiều lương hơn, vả tôi có hai đứa bé cần được săn
sóc. Irene bắt đầu vào trung học, tôi tham gia vào ban
phụ huynh học sinh ở trường. Tôi cố gắng làm tròn
tất cả mọi bổn phận của mình, giữ gìn nhà cửa, vườn
tược sạch sẽ, ngăn nắp. Bận rộn suốt từ sáng đến
tối, đó cũng là chuyện bình thường vào hoàn cảnh của
tôi. Tôi cảm thấy rất thích thú trong việc chăm sóc
vườn tược, cũng như chăm sóc cho sức khỏe của hai con tôi.
Tuy
nhiên, dần dà, tôi cảm thấy trong tôi có những triệu chứng
lạ, ban đầu là cảm giác hơi đau -một cảm giác rất mơ
hồ báo cho tôi biết một điều chẳng lành. Tôi đã
có tất cả những gì mình ao ước. Nhưng hình như vẫn
còn thiếu một cái gì. Cái gì, chính tự tôi cũng không
thể biết được. Tôi chỉ mơ hồ cảm thấy còn thiếu
một cái gì đó. Ước muốn tìm kiếm cái gì đó cứ
ngày càng lớn mạnh trong tôi, như một căn bịnh nội tâm.
Lúc
đó tôi ba mươi bốn tuổi. Bao biến cố đã xảy ra,
giờ bỗng nhiên ước mơ được có một cuộc sống bình dị
của tôi đã thành hiện thực. Nhưng tôi không thể hình
dung mình sẽ tiếp tục sống như thế này mãi. Tất cả sẽ
tiếp tục như thế này mãi sao? Tất cả chỉ có vậy
thôi sao? Hay là còn có một cái gì cao xa hơn tất cả
những ước muốn tầm thường của cuộc sống?
Chắc
chắn là phải có cái gì đó nửa! Tôi bắt đầu chúi
đầu vào sách -triết học, tâm linh, bất cứ thứ gì tôi
có thể khám phá ra. Có nhiều vấn đề tôi chưa thông
suốt, nhưng tôi không ngại. Tôi tự nhủ: "Không sao,
rồi ta cũng sẽ hiểu được thôi". Từ đó, tôi chú
trọng đến cuộc sống tâm linh hơn; đó là cái tôi muốn
tìm hiểu, muốn khám phá.
Với
những tư tưởng, tình cảm đó, tôi hoàn toàn cảm thấy cô
đơn. Hình như quanh tôi không có ai chia sẻ cùng tôi những
suy nghĩ này. Mỗi lần tôi mang vấn đề này ra bàn luận
ở
gia đình, là chồng tôi nổi giận. "Em còn muốn gì nữa
chứ?", ông ta la lối, giận dữ. Tôi muốn gì? Một
cách sống khác. Một cách sống theo con tim của tôi.
Nhưng tôi không biết phải làm gì với những điều suy nghĩ
của mình.
Một
buổi chiều nọ, tôi đến thăm mẹ. Trong phòng khách
nhà mẹ có hai chiếc xe đạp bị tháo rời nằm ngỗn ngang.
Tôi hỏi: "Mẹ định mở tiệm sửa xe đạp sao?" "Không",
mẹ trả lời, "Hai chiếc xe đạp là của hai chàng trai sau
hè kìa". "Hai chàng nào?", tôi tò mò hỏi. Mẹ tôi
đáp: "Họ cũng quen con mà. Ở Bá Linh hồi đó, họ vẫn
cùng con đi dự sinh nhật các bạn bè. Đó là Hanschen
và Gerd. Hanschen là con trai của người bạn thân của
mẹ, còn Gerd là em họ của cậu ấy".
Tôi
chỉ nhớ có Hanschen, còn người kia thì mơ hồ có biết.
Hanschen nhỏ hơn tôi vài tuổi, và đối với bọn trẻ, đó
là một điều rất quan trọng. Anh đã di tản khỏi Bá
Linh đến Luân Đôn ở với người cậu. Lúc đi lính
trong quân đội Anh, anh đã tìm lại được cha mẹ mình ở
Theresienstadt, một nơi đóng quân anh đã đi qua. Sau đó
cả gia đình di dân qua Canada.
Gerd
cũng đi khỏi Đức qua ngã Glasgow như tôi, trên các chuyến
di tản trẻ em. Cha mẹ chàng đều đã bị thủ tiêu ở
Auschwitz. Ở Glasgow, cũng như ở Bá Linh, chúng tôi cùng
đi học chung trường, nhưng chưa bao giờ biết nhau. Sau
khi tôi đã đi Thượng Hải, anh lên đại học, theo ngành kỷ
sư điện ở Glasgow. Giờ đã tốt nghiệp, anh cùng Hanschen
từ Canada đi xe đạp xuyên suốt nước Mỹ.
Cuộc
đời có những bước rẽ kỳ hoặc. Trong Phật giáo,
ta nói về những trường hợp như thế như là duyên nghiệp,
nhưng lúc ấy tôi làm gì biết chuyện đó. Tôi đã gặp
Gerd ở tại nhà mẹ tôi, không ngờ đó là cuộc gặp gỡ
của định mệnh. Ngay buổi đầu tiên gặp gở, chúng
tôi đã thấy có rất nhiều điểm tương đồng về quan niệm
cuộc sống. Chúng tôi hiểu nhau một cách lạ kỳ, có
lẽ vì chúng tôi cùng hướng về cuộc sống nội tâm.
Cuộc
gặp gỡ đó như cho tôi thêm sức mạnh, vì tôi hiểu còn
có một người nữa chia sẻ cùng một quan niệm sống với
tôi. Tôi cố gắng đưa ra một số đề nghị để thuyết
phục chồng tôi về việc tôi sẽ theo đuổi mục đích của
mình. Nhưng mọi ý kiến, đề nghị đều bị chồng tôi gạt
ngang, như thể anh không nghe tôi nói gì. Anh không muốn
tôi thay đổi, không muốn cuộc sống hay bất cứ thứ gì
thay đổi. Vì thái độ đó của anh, sự liên hệ tình
cảm của hai chúng tôi đi đến chỗ bế tắc. Tôi thấy
mình không còn lựa chọn nào hơn là phải tự quyết định
lấy cuộc sống của mình, phải chia tay với anh. Không
thể tiếp tục mãi một cuộc sống như thế. Chỉ làm
cho cả hai chúng tôi đau khổ.
Khi
tôi báo cho anh về quyết định ly hôn, anh rất bực tức,
giận dữ. Anh không bao giờ tha thứ cho tôi về quyết
định này. Anh không thể hiểu anh và tôi đã quá xa cách
trong cái nhìn về cuộc sống.
Đó
không phải là một quyết định dễ dàng cho tôi. Irene
mười ba tuổi, Jeffrey mới ba tuổi, và mái ấm này thực sự
là mái ấm đầu tiên của tôi kể từ khi trưởng thành.
Tôi
để lại mọi thứ -từ nhà cửa, đồ đạc, sách vở, xe
cộ cho đến quần áo. Irene sống với cha ở San Diego,
một phần có lẽ vì bà ngọại cháu cũng sống ở đấy.
Cháu phải học cho xong trung học ở đó. Tôi dọn đến
Rancho La Puerta, ở Tecate, Mễ Tây Cơ. Đó là một nông
trại, cách San Diego khoảng hơn một giờ rưởi lái xe, được
sử dụng như một trung tâm phục hồi sức khỏe, ở ngay cạnh
biên giới Mỹ-Mễ. Giáo sư Edmund Szekely làm giám đốc
ở đó. Ơng đã viết hơn bảy mươi đầu sách chuyên
về sức khỏe tâm sinh lý. Ở nông trại đó ông dạy
về triết học của Essenes, dạy ăn uống thực phẩm thiên
nhiên và cách sống theo thiên nhiên. Essenes là một hệ
phái thuộc đạo Do Thái, rất phát triển vào thời Chúa Jesus.
Họ có những luật lệ riêng cho giáo hội của họ, như là,
không được kết hôn, không được có của cải
riêng. Họ không ăn thịt, và rất ôn hòa, khác hẳn với
các hệ phái khác của đạo Do Thái.
Thật
là một nơi thú vị. Có rất nhiều các vị khách nổi
tiếng được mời đến nói chuyện, thí dụ như Aldous Huxley.
Và các thành viên đến tham dự trại cũng không phải là những
người đến đây chỉ vì những phòng tắm hơi saunas, hay các
thức ăn chay. Họ đến đây để tìm những món ăn tinh
thần.
Ngay
ở đây, tôi bắt đầu những bài học đầu tiên về tâm
linh. Tôi đặt mua nguyệt san Tự Khám Phá Mình (Self-Realization
Fellowship, do Swami Yogananda sáng lập), trong đó luôn có những
bài viết công phu, các trang giải đáp thắc mắc. Tôi
rất vui mừng tìm được những người có cái nhìn rất giống
tôi, dầu chỉ là trên sách báo. Dầu còn xa vời, nhưng
tôi có linh cảm một ngày nào đó tôi sẽ tìm được suối
nguồn tâm linh để thỏa mãn cơn khát của tôi.
Tuy
chân lý sâu xa, vi diệu nhất tôi chỉ có thể tìm thấy mãi
sau này. Nhưng tôi đã hấp thụ, học hỏi được rất
nhiều vấn đề ở Rancho La Puerta, từ giáo sư Szekely, từ
những người đã đến đây thuyết trình, từ tạp chí Self-Realization,
từ những thành viên đến dự trại và từ các bạn đồng
nghiệp. Một thế giới mới vừa mở ra cho tôi, một
thế giới đầy hứng thứ, say mê đối với tôi.
Tôi
làm thư ký bán thời gian cho vợ của giáo sư Edmund Szekely.
Để đổi lại, tôi được bao ăn ở tại đó, có người
săn sóc cho cháu Jeffrey (chúng tôi học được tiếng Mễ từ
bà bảo mẫu này) và một ít tiền xài vặt. Mỗi cuối
tuần, Irene đều đến thăm chúng tôi. Tôi viết những
lá thư đầy phấn khởi đến Gerd.
Một
năm sau, Gerd cũng đến sống ở nông trại. Anh cũng làm
việc bán thời gian ở phòng tiếp tân, làm công việc anh thích,
thỉnh thoảng lại có được tiền bồi dưỡng.
Cuối cùng chúng tôi quyết định kết hôn. Đám cưới
được cử hành trên một ngọn đồi phía sau căn nhà nhỏ
của chúng tôi, với rất nhiều khách mời là những công nhân
người Mễ, có sự chứng kiến của một vị rabbi (LND: Giống
như vị sư trong Phật giáo), với Jeffrey và một chú chó con.
Tôi còn nhớ là mọi thứ đều rất lãng mạn. Cuộc
sống của chúng tôi rất tự do, tuyệt vời.
Người
chồng trước của tôi cũng được nhiều điều may mắn. Ông
trở về Đức (tôi đã giúp ông nhiều trong việc này), tìm
lại người yêu của thời tuổi trẻ, mà ông đã thất lạc
tung tích từ thời Đức quốc xã. Cuối cùng ông tìm
gặp được bà. Hai người trở về lại Mỹ, và họ
đã sống với nhau hơn bốn mươi năm nay. Giờ ông đã
tám mươi chín tuổi.
Tôi
thấy cuộc sống riêng tư của mình cũng không có gì đáng
kể, nhưng chúng là chứng tích của sự trưởng thành của
tôi. Chúng cho thấy là qua một thời gian dài, tôi cũng
sống cuộc sống bình thường như bao phụ nữ khác, với những
vấn đề, những gúc mắc như họ, với bao bất bênh trong
chia lìa, thay đổi. Nhưng muốn tiến được đến sự
tự do tuyệt đối, ta cần phải có can đảm đối mặt với
tất cả những vấn đề này.
Sống
ở Rancho La Puerta, cả ba chúng tôi đều trở thành những người
ăn chay, và còn giữ được như thế mãi cho đến bây giờ.
Tôi trở nên rất thích thú với đề tài sức khỏe và dinh
dưỡng. Tôi đã đọc và học rất nhiều về đề tài
này. Nông trại rất đẹp, với các vườn rau cải, các
cây leo bao quanh. Trong trại có hồ bơi, có nhiều loại
cây, những tàng cây lớn, và một chỗ đốt lửa trại
rất to, nơi chúng tôi thường tụ tập vào mùa đông.
Ở nơi đây, tôi được học hỏi rất nhiều về sự liên
hệ giữa thân và tâm, giữa cuộc sống và tâm linh.
Tôi
vẫn chưa biết gì về Đức Phật. Tôi chỉ biết là
có cái gì đó trong tôi -một làn sóng, một tiếng gọi, một
lý tưởng cao cả thôi thúc. Tôi chưa thể đặt tên cho
nó là gì. Nhưng cảm giác đó có mặt, và thật may mắn
cho tôi, Gerd cũng chia sẻ cùng cảm giác. Tuy nhiên, lúc
đó chúng tôi vẫn nghĩ điều quan trọng nhất trong đời là
một cuộc sống trong sạch hơn, lành mạnh hơn, và chúng tôi
tin tưởng rằng cuộc sống đó sẽ đưa chúng tôi đến hạnh
phúc nội tâm.
Chúng
tôi sống ở Rancho la Puerta được hai năm. Rồi Gerd nghĩ
rằng chúng tôi cần đi khắp Trung và Nam Mỹ. Anh là một
nhà thám hiểm và rất thích khám phá ra những điều mới
lạ, ngày nay anh vẫn thường đi du lịch. Tôi cũng không
an tâm sống mãi thế này. Tôi nghĩ có lẽ là do chúng
tôi đã bị tước mất đi sự ổn định trong cuộc sống
với cha mẹ ở lứa tuổi còn quá nhỏ. Chúng tôi không
có khả năng liên hệ với một nơi chốn nào như là quê hương
để cắm rể xuống đó. Chúng tôi không cảm thấy đâu
là nhà, mà nhà cũng là ở khắp nơi.
Vì
thế, chúng tôi mua chiếc xe jeep hiệu Willys, bốn mã lực.
Chúng tôi nhận được ít tiền đền bù từ Đức. Hơn
thế nữa, lúc đó tôi còn có thông hành của Mỹ. Được
làm công dân Mỹ, có nghĩa là tôi được có những quyền
của một người công dân, sau bao năm làm người không có
quê hương, xứ sở.
Chúng
tôi sửa sang chiếc xe để có thể ngủ luôn trên đó.
Và chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình -trước tiên là Mễ
Tây Cơ. Và sau đó là những nơi khác nữa. Jeffrey
đi theo chúng tôi. Irene ở lại San Diego. Cháu đã
được mười sáu, chỉ còn một năm là vào đại học.
Sau
đó, cháu lên đại học, nhưng không hoàn tất chương trình
học, vì cháu lập gia đình năm mười tám tuổi. Cháu
lập gia đình với một người bạn học, cùng tuổi.
Cả hai đều không có việc làm, dĩ nhiên ai cũng chống đối
cuộc hôn nhân đó, kể cả tôi. Chúng tôi nói không thể
nào cuộc hôn nhân này có kết quả.
Vậy
mà sau này đó là cuộc hôn nhân thành công nhất mà tôi được
biết trong số ít các cuộc hôn nhân thành công. Từ kinh
nghiệm đó, tôi thấy rằng có lẽ chúng ta nên để con cái
đi theo con đường chúng lựa chọn. Ta phải biết buông
xả. Đó là bài học tôi thực sự hiểu ra sau này, trong
một trường hợp khác.
Chúng
ta chỉ là những người khách trên trái đất này, không thể
sở hữu được thứ gì -kể cả những gì thân yêu nhất
của ta.