Chương
6
Quán Thế Âm
Bồ Tát và Thế Giới Ngày Nay
Như
chúng ta đã thấy, trong năm chương được trình bày trước
đây thật sự chưa hề có một phương pháp nào có tính hệ
thống và rõ ràng cho việc thực hành lý tưởng Bồ Tát nói
chung, và hành trì giáo lý Avalokitesvara (Quán Thế Âm) nói riêng
được đưa vào ứng dụng. Do vậy, trong chương này chúng
ta sẽ dành hết thời gian để bàn đến việc áp dụng lý
tưởng này vào trong xã hội hiện nay của chúng ta, một xã
hội vốn đang bị bạo động và sự cạnh tranh dày xé.
Khuynh
hướng tu tập hiện nay của Phật giáo đồ
Không
ai có thể phủ nhận sự kiện rằng hiện nay có một vài
khuynh hướng nổi cộm đang thống trị toàn bộ tổ chức
Phật giáo, và trong số ấy sở thích mang tính phổ quát nhất
của tín đồ Phật giáo là việc hành trì lễ nghi và thờ
cúng. Trong thực tế, từ quan điểm tôn giáo người ta có
thể nói rằng sự hành trì trên là rất tự nhiên vì nó là
một trong những yếu tố cốt lõi nhất tạo thành cái gọi
là “tôn giáo”, mà theo đó Phật giáo cũng không thể ngoại
lệ. Tuy nhiên, chắc chắn phải có một vài điểm khác nhau,
tách biệt rõ ràng về việc thể hiện nghi lễ và thờ cúng
giữa Phật giáo và tất cả các tôn giáo như chúng ta có thể
nhận ra một cách dễ dàng qua các chỉ dẫn mà Ðức Phật
đã giảng giải cho Sigàla, chàng thanh niên dòng dõi Bà La Môn,
như được ghi lại trong Sigàlovàda-sutta (kinh Thiện Sanh hay
còn gọi là Ca Thi La Việt)[1]. Vấn đề này có lẽ lại trở
nên ý nghĩa hơn khi chúng ta nghiên cứu đến kinh Bộ Tương
Ưng (Samyutta Nikaya). Kinh Tương Ưng ghi lại rằng một lần
nọ Ðức Thế Tôn trú tại Ràjagaha (thành Vương Xá), ở nơi
vườn nuôi dưỡng sóc. Trong khoảng thời gian đó, một vị
Tỳ kheo trẻ tên là Vakkali bị bịnh nặng, không thể đi đến
yết kiến và hầu hạ Ðức Phật được. Tuy nhiên, Tỷ kheo
Vakkali đã nhờ các vị Pháp hữu của mình đi thỉnh cầu
Bậc đạo sư vì lòng từ mẫn đến thăm Vakkali vào thời
điểm sắp mạng chung của Tỷ kheo ấy, và Ðức Phật đã
yên lặng nhận lời. Khi Bậc Giác Ngộ đến trú xứ của
Vakkali ở, đang nằm trên giường bệnh Vakkali đã kính cẩn
thưa với Ngài rằng “Ðã lâu lắm rồi, bạch Ðức Thế
Tôn, con mong mỏi được diện kiến Bậc Ðạo Sư, nhưng vì
thân mang trọng bịnh, con không đủ sức khỏe để đi đến
yết kiến Như Lai...”, và Ðức Phật đã đáp lại như sau:
“Thôi đi, này Vakkali! Có gì đáng xem trong cái thân thể thối
tha này của Ta? Này Vakkali, ai thấy Pháp người ấy thấy Ta;
ai thấy Ta người ấy thấy Pháp. Một cách đúng đắn, thấy
Pháp là thấy Ta; thấy Ta là thấy Pháp.”[2] Câu chuyện này
hẳn phải đã để lại lý do để chúng ta xem xét lại khuynh
hướng tu tập, hành trì việc thờ cúng hiện nay của giới
Phật giáo; bởi vì, như chúng ta có tể thấy, ngay cả với
tâm thức phụng thờ chính Ðức Phật đang trú thế mà không
hiểu biết Chánh Pháp cũng không được Bậc Ðạo Sư ca ngợi
và khuyên khích, còn nói chi đến một niềm tin thuần túy
lễ bái xá lợi và hình tượng!
Tuy
nhiên, thật vô cùng quan trọng để chúng ta lưu ý rằng nếu
việc hành trì trên được áp dụng một cách thích đáng với
ý thức sâu sắc và đúng đắn nhắm đến việc tập trung
tâm thức của hành giả, phù hợp với một trong mười đối
tượng của thiền quán, tức sự trầm tư hay tưởng niệm
đến Ðức Phật như đã được thảo luận trong Chương V,
Mục “Các điều kiện thiết yếu để được cứu độ về
Cảnh Giới Cực Lạc”, thì hoàn toàn được khuyến khích,
vì ấy cũng là pháp môn thực hành thiền định. Nhưng khuynh
hướng tu tập hiện nay của tín đồ Phật giáo dường như
không phải như thế. Trái lại, nếu được nghiên cứu và
thẩm tra thực chất của nó; khuynh hướng hành trì vừa nêu
có vẻ phản ánh một thứ gì ấy tương tự với lối cầu
nguyện, lễ bái của các tôn giáo hữu thần. Lập luận này
có lẽ sẽ trở nên rõ ràng hơn khi được phát biểu như
sau: sự hành trì lễ nghi hiện nay của giới tín đồ Phật
giáo đã vô tình hỗ trợ cho việc đồng hóa Ðức Phật và
các vị Bồ Tát trở thành đấng sáng thế, hay một loại
thần thánh gì đó. Biểu mẫu đặc trưng cho khuynh hướng
thịnh hành này có thể thấy được qua nội dung của cuốn
sách tựa đề “Lý Thuyết và Sự Thực Hành Phật Giáo: Ðức
Phật là Con Người hay Thần Thánh”[3]. Công trình nghiên cứu
này được học giả người Ðức, tiến sĩ Richard F. Gombrich,
thực hiện ở Tích Lan nơi mà Phật giáo Thượng Tọa Bộ
(Theravàda), theo truyền thống, đã và đang chiếm giữ vai trò
Quốc giáo hơn hai ngàn năm qua.
Song
hành với khuynh hướng tu tập bao phủ vô số yếu tố thần
thoại của các tín ngưỡng và tôn giáo hữu thần là mối
quan tâm của giới tín đồ liên hệ đến vấn đề tái sinh!
Có lẽ không có gì sai lầm khi người ta nói rằng Phật tử
của thời đại ngày nay đang thực sự ước ao và nỗ lực
tu tập để được tái sanh về những thế giới tốt lành,
ví dụ như cảnh giới cực lạc. Tuy nhiên, dường như ý tưởng
như thế không phù hợp lắm với tinh thần chân chính về
tính thực tiễn của Phật giáo vì như kinh Nhứt Dạ Hiền
Giả (Bhaddekarattasutta)[4] đã ghi rằng:
“Quá
khứ không truy tìm,
Tương
lai không ước vọng,
Quá
khứ đã đoạn tận,
Tương
lai lại chưa đến,
Chỉ
có pháp hiện tại,
Tuệ
quán chính ở đây...
Không
ai điều đình được,
Với
đại quân thần chết,
Trú
như vậy nhiệt tâm,
Ðêm
ngày không mệt mỏi,
Xứng
gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc
an tịnh, trầm lặng.”
Như
chúng ta đã biết, Phật giáo cũng tin vào thuyết tái sinh,
nhưng sự tái sinh ấy hoàn toàn tùy thuộc vào nghiệp của
mỗi cá nhân. Ðể vấn đề này trở nên một cách rõ ràng
đối với hàng đệ tử, Ðức Phật đã thuyết giảng một
bài kinh về “Gương Chân Lý”[5] và xuyên qua bài kinh này
người ta có thể biết được họ sẽ tái sinh vào cảnh giới
nào trong tương lai bằng cách xem xét các loại hành động
(nghiệp) mà họ đã làm trong lúc sanh tiền. Như là hệ tự
luận tự nhiên phát sinh từ bài pháp trên, một vài gợi ý
có ý nghĩa liên hệ đến việc thực hành thích hợp với
tín ngưỡng Avalokitesvara (Quán Thế Âm) có thể được rút
ra ở đây. Nghĩa là, nếu người nào thực sự mong ước được
tái sinh vào một quốc độ nào đó sau đời sống hiện tại,
đặc biệt là sinh về thế giới cực lạc của Ðức Phật
Amitàbha (A Di Ðà) như hầu hết các Phật tử đang hằng ngày
ước nguyện, người ấy phải tu tập và nghiêm túc tuân thủ
giáo lý và các điều kiện tương ứng do thế giới cực lạc
chủ trương. Do đó, có lẽ là rất ý nghĩa để lưu ý rằng
trong bản sớ giải của Ðại Phẩm Di Ðà, còn gọi Di Ðà
Sớ Sao, danh hiệu của Ðức Phật Amitàbha (A Di Ðà) bao hàm
ba ý nghĩa: (1) Amitàbha (Vô Lượng Quang) (2) Amitàguna (Vô Lượng
Công Ðức). Quan trọng hơn nữa, theo hầu hết các bình luận
gia và các nhà Phật học, Amitàbha trong ngữ cảnh của Sukhavàti-vyùha
(kinh A Di Ðà) có nghĩa là vô lượng quang, Amitàyus có nghĩa
là vô lượng thọ, và Amitàguna có nghĩa là vô lượng công
đức. Dĩ nhiên, đây không chỉ ba phẩm chất đặc thù của
riêng Ðức Phật A Di Ðà, mà tất cả chư Phật đều hội
đủ toàn bộ ba tánh chất này. Như vậy, ở khía cạnh triết
lý, vô lượng thọ, vô lượng quang, và vô lượng công đức
phải ám chỉ một điều gì ấy rất là biểu tượng, trong
đó vô lượng quang biểu tượng hóa của trí tuệ (prajna),
vô lượng thọ biểu tượng cho thiền định (samàdhi) và vô
lượng công đức biểu tượng cho giới (sìla). Nói khác đi,
bất cứ ai thực sự mong ước được sanh về cảnh giới
cực lạc của Phật A Di Ðà cần phải áp dụng những yêu
cầu thiết yếu của thế giới này vào trong cuộc sống hằng
ngày của họ, và các đòi hỏi ấy không gì khác hơn là các
yếu tố truyền thống của giáo lý Phật giáo, tức giới,
định, tuệ. Chính ngang qua việc thực hành chúng mà chúng
sanh có thể cảm nghiệm được cảm giác hạnh phúc tại đây
và ngay bây giờ, ngay trong thế giới này. Hiển nhiên rằng
quan điểm trên không những là phù hợp với con đường trung
đạo của Phật giáo mà còn phản ảnh được tính thống
nhất về giáo lý của hai bộ phái Phật giáo chính; đó là
Phật giáo Nam Truyền hay Thượng Tọa Bộ và Phật giáo Bắc
Truyền hay Phát Triển.
Tuy
nhiên, sự thật không thể chối cãi là hiện có một khuynh
hướng nổi cộm đang vận hành trong hầu hết các tổ chức
Phật giáo của thế giới đương đại; đó là một số thuật
ngữ Phật học như giới, định, tuệ, v.v... dường như đã
trở nên quá uy nghiêm và quá khó khăn để cho giới tín đồ
đưa vào áp dụng, và các danh từ ấy được xem là chí thích
hợp với lối sống cách ly của giới tu sĩ khổ hạnh ở
trong rừng. Trong thực tế, tín đồ Phật giáo không đặt
nhiều chú tâm đến những phương pháp trên trong cả lãnh
vực tu tập lẫn chứng ngộ, dù rằng hằng ngày họ vẫn
thường tranh cãi, biện luận rất nhiều về các chủ đề
này. Thay vào đó, công tác mang tính tôn giáo được tín đồ
Phật tử nhiệt tâm thực hiện là chú tâm đến công tác
từ thiện. Tất nhiên, khi làm các việc ấy, giới Phật tử
nghĩ rằng họ đang tích lũy công đức để được tái sanh
vào một thế giới tốt đẹp trong tương lai. Trong ý nghĩa
thực tiễn thông thường của lãnh vực nhân đạo và nhân
văn, việc làm ấy tất nhiên là rất đáng biểu dương và
ca ngợi; nhưng trong một khía cạnh sâu sắc khác của vấn
đề có lẽ đã gợi lên trong tâm thức chúng ta một hiện
tượng như đã gợi lên trong tâm thức chúng ta một hiện
tượng như đã được bàn luận ở trong Chương III của cuốn
sách này. Giống như tình huống trong thế kỷ thứ hai trước
Công nguyên, toàn bộ diễn đàn của cuộc sống, bao gồm cả
diễn đàn tôn giáo trong thời đại văn minh ngày nay đã và
đang bị quá tải bởi xu hướng lý thuyết, duy lý và tư biện
khiến người ta trở nên rất mệt mỏi với không khí và
môi trường như thế. Hệ quả là hầu hết mọi người trong
lãnh vực tôn giáo, gồm cả Phật giáo, có khuynh hướng hiến
dâng hết năng lượng và nỗ lực các hình thức lễ hội
ấy, các nét đặc trưng mang tính thực tiễn của đạo Phật
như là tinh thần trách nhiệm cá nhân, tinh thần tự chủ,
tự tín và tự nỗ lực v.v... dường như không đóng một
vai trò quan trọng nào cả. Quả thật, chỉ cần thoáng nhìn
qua bộ mặt thật của Phật giáo Ấn Ðộ ngày nay, lập luận
vừa nêu có lẽ không cần bất cứ chứng cứ nào thêm nữa
để biện minh cho nó. Khuynh hướng phụng thờ cúng kiến này
có thể cũng khiến chúng ta dể dàng nhớ lại tình huống
lịch sử (như đã được đề cập trước đây), qua đó một
làn sóng hòa hợp tôn giáo nhắm đến động cơ đồng hóa
Phật giáo vào đạo Hindu đã xảy ra. Tiếp đến, Ðức Phật
và chư Bồ Tát cũng được cho là hiện thân của thần Visnu
và Krisna. Một số nhà sử học tin tưởng rằng[6] chính tiến
trình đó đã đóng vai trò chính trong việc làm suy tàn và
biến mất của Phật giáo không chỉ ở đất nước Ấn Ðộ
mà còn ở Nepal, Malaysia, và Indonesia. Từ đây, người ta có
thể nghĩ rằng ắt phải có một vài thay đổi quan trọng
nào đó về cách nhìn của tín đồ Phật tử. Như người
ta thường nói, Phật giáo là một nghệ thuật sống tích cực,
đầy sinh lực, mạnh mẽ và năng động. Với tính ưu việt
của giáo lý về tinh thần thực tiễn và năng động, Phật
giáo có thể vượt qua mọi tình huống bất lợi mà không
một tổn thương, và nhờ thế tồn tại với vô số thử
thách như Phật giáo đã từng đối mặt trong quá khứ. Sự
thẩm xét cẩn thận về lịch sử hơn 2500 năm của Phật giáo
sẽ là những chứng cứ hùng hồn cho sự thật ấy. Từ nhận
định trên chúng ta có thể đi đến giả thuyết rằng việc
áp dụng lý tưởng Bồ Tát, đặc biệt là ứng dụng lý tưởng
Avalokitesvara (Quán Thế Âm) vào trong cuộc sống hằng ngày
hy vọng sẽ đóng góp nhiều phương pháp mới và khả thi trong
cả lãnh vực học hiểu và thực hành khi Phật giáo cùng tồn
tại với mọi tôn giáo trên thế giới trong thời kỳ đầy
cạnh tranh và bại lực như hiện nay.
Như
người ta đã biết, Avalokitesvara (Quán Thế Âm) là vị Bồ
Tát được biểu tượng hóa của lòng từ bi (metta-karuna).
Do thế, để có thể nhận được sự gia hộ do Bồ Tát Quán
Thế Âm trao tặng, giới Phật tử hướng thẳng lòng thành
tín của họ vào các hoạt động từ thiện, cứu thế nhằm
phù hợp với những đặc tính chân chính của Bồ Tát Quán
Thế Âm. Bằng cách làm như thế, họ có thể tích lũy công
đức với hy vọng là họ sẽ được tái sanh trong một thế
giới lý tưởng, tức cõi cực lạc (Sukhavàti-vyùha). Trong
thực tế, chúng ta có thể nói rằng không bao giờ có
thể vắng mặt được tư tưởng, cảm xúc và cảm nghiệm
tôn giáo trong đời sống bất tận của con người cho dù khoa
học có thể bông đùa, nhạo báng lối tư duy như thế. Chắc
chắn rằng, đối với số đông nhân loại, luôn có một năng
lực siêu phàm và xuất thế hiện hữu khắp nơi mà họ thường
gọi với nhiều danh xưng khác nhau như Bồ Tát, thánh, thần...
Tuy nhiên, giống như cái ti vi được trang bị các thiết bị
cần thiết để có khả năng đón nhận tín hiệu phát ra từ
vệ tinh nhằm tạo ra âm thanh thích hợp và hình ảnh được
truyền đến. Cũng thế, trong lãnh vực tôn giáo người tiếp
nhận cũng buộc phải nỗ lực trang bị một số điều kiện
tất yếu nhằm thỏa mãn các nhu cầu của người cho. Nghĩa
là, bất cứ ai ước mong nhận được sự hộ trì của Bồ
Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) mà tác giả ví như là một
vệ tinh tâm linh, người ấy cần phải tạo ra các thiết bị
tương ứng luôn có sẵn trong thân thể vật lý của họ nhằm
để tự liên kết với đặc điểm cao đẹp của Bồ Tát
Quán Thế Âm, đó là lòng từ bi. Phương pháp để tạo ra
hoặc để xây dựng các thiết bị tâm linh nhằm đón nhận
tín hiệu từ bi được ban phát từ vệ tinh tâm linh – Quán
Thế Âm – là phải tu tập lòng từ bi. Kết quả người ta
có thể chờ đợi là việc tu tập lòng từ bi không những
sẽ không tạo ra bất cứ mâu thuẫn, xung đột nào với môi
trường hiện nay chúng ta đang sống, mà việc làm ấy rõ ràng
còn soi sáng cách hiểu biết và nắm bắt của tín đồ Phật
giáo về lý tưởng Bồ Tát cũng như sự chứng ngộ lý tưởng
ấy trong cuốc sống hằng ngày bằng cách thực hành các thiện
nghiệp.
Sự
ứng dụng thích đáng về Bồ Tát Quán Thế Âm
Tuy
nhiên, có lẽ sẽ rất vô ích nếu người ta nghĩ rằng một
loại lý thuyết hay triết lý nào đó có thể trở thành biểu
mẫu lý tưởng cho đời sống của nhân loại; bởi vì như
trong mọi trường hợp của tất cả lãnh vực đời sống,
hay chúng ta lấy lãnh vực giáo dục làm ví dụ, học giả
người Pháp, Emile Durkhein nói rằng trong một xã hội cụ thể
nào đó, vì có nhiều môi trường khác nhau nên đòi hỏi phải
có nhiều mẫu thức giáo dục khác nhau.[7] Lời phát biểu
trên rõ ràng đã đưa ra một ý tưởng vô cùng quan trọng;
đó là, giáo dục không phải là một thứ gì ấy bất biến,
không thay đổi, mà giáo dục luôn luôn tùy thuộc vào trình
độ hiểu biết của con người để một lý thuyết hay hệ
thống giáo dục nào đó có thể được tạo ra. Vấn đề
này có thể được hiểu trong ý nghĩa của giáo lý “Duyên
Sinh” (Pratityasumtpàda), Phật giáo, với mẫu thức ngắn gọn
của nó là “do cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái
kia sinh”. Quan trọng hơn nữa, vì Emile Durkheim còn phát biểu
thêm rằng tất cả chúng ta đều dựa trên một nền tảng
chung và không có bất cứ ai trong chúng ta mà không có chung
một số ý tưởng, tình cảm và hành động.[8] Từ đó, trên
nguyên lý của cơ sở chung nhất đó, người ta có thể nói
một cách chắc chắn là loài người có thể chấp nhận được
“những tiêu chuẩn mang tính toàn cầu, hay nếu chúng ta có
thể nói, “một hệ tư tưởng chung cho toàn thể nhân loại”.
Nói khác đi, điều ấy hàm ý rằng có một thỏa hiệp nhất
thống giữa loài người chúng ta về phương cách chung để
tạo nên các tiêu chuẩn phổ quát mang tính khả thi trong mỗi
một nhân cách nhằm vào mục tiêu phát triển hài hòa thiện
tính của con người. Như mọi người đã biết, đối với
Phật giáo, trí tuệ (prajna) và từ bi (mettà-karuna) là hai tiêu
chuẩn rõ rệt nhất là đáng chú ý nhất. Dĩ nhiên, hai phẩm
chất đó là bất khả phân khi nào một trong hai yếu tố ấy
được toàn thiện (như đã được bàn luận). Tuy thế, vấn
đề không thể chia cắt này sẽ trở nên rõ ràng hơn qua lời
phát biểu của học giả vĩ đại Ấn Ðộ, Krishnamurti, khi
ông giải thích về mối quan hệ của chúng như sau[9]: “Bất
cứ ở đâu có sự thương yêu, ở đấy có từ bi; và từ
bi có khía cạnh trí tuệ riêng của nó. Ðó là hình thái siêu
việt của trí tuệ, nhưng không phải là sự hiểu biết về
các ý tưởng, sự khôn ngoan gian xảo, dối trá, lừa bịp,
và những thứ tương tự như thế; mà ở đó chỉ là sự
yêu thương và lòng từ bi trọn vẹn và một sự siêu việt
về trí tuệ vốn không phải là loại hiểu biết máy móc.”
Do đó, sự áp dụng thích đáng tư tưởng Avalokitesvara (Quán
Thế Âm) được gợi ý ở đây hy vọng sẽ được một số
tín đồ Phật giáo chấp nhận.
Tu
tập lòng từ ngang qua hạnh bố thí (dàna)
Ðức
Phật giải thích lý do tại sao người ta phải tu tập và nuôi
dưỡng lòng từ qua đoạn kinh sau đây:
“Này
Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu
tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được
trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ.
Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng từ cái gì thuộc
hại tâm sẽ được trừ diệt.”[10]
Thêm
vào đó, người nào với tâm giải thoát ngang qua việc tu tập
và nuôi dưỡng lòng từ có thể đạt được tám điều lợi
ích:
“Ngủ
được an lạc, dậy được an lạc, không thấy ác mộng, được
người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên hộ trì,
lửa hay thuốc độc, hay kiếm không gia hại, nếu không thông
đạt thượng vị, đạt được Phạm thiên giới.”[11]
Trong
ý nghĩa phổ quát và hầu như chấp nhận được, người ta
có thể nói rằng các điểm lợi lạc vừa đề cập ở trên,
có nguồn gốc từ việc tu tập lòng từ, là ước mong chung
của toàn thể mọi người. Tuy nhiên, cho đến nay có rất
nhiều ý kiến khác nhau liên hệ đến thuật ngữ “mettà”
(từ) và karunà (bi) trong cả hai lãnh vực lý thuyết và thực
hành. Do vậy, có lẽ chúng ta sẽ không lạc đề khi bàn thảo
một cách ngắn gọn về hai từ ấy.
Theo
Bộ Bách Khoa Phật Giáo, karunà (bi) là sự biệu hiện của
khái niệm về lòng trắc ẩn, do đó nó được diễn tả như
là ước mong loại trừ những gì bất hại và không hạnh
phúc đối với người khác. Thêm vào đó, ngài Buddhaghosa (Phật-âm)
cũng cho chúng ta biết rằng “cảm giác khiến cho thiện tâm
của con người bị xúc động khi thấy nổi khổ đau của
người khác gọi là karunà (bi hay lòng trắc ẩn) (paraduke sati
sàdhunam hadayakamnam karotì tì karunà)[12].
Còn
theo định nghĩa của Từ Ðiển Pali-English, mettà (từ) được
biết đến như là lòng yêu thương (love), quan hệ thân thiện
(amity), sự thông cảm (sympathy), sự thân thiện (friendliness),
sự quan tâm tích cực đến người khác (mejjati metta siniyhati
attho). Sự ứng dụng của từ này biểu thị nhiều ý nghĩa
khác nhau như là tâm chứa đầy tình thương (mettà-sahagatena
cetasa, hay mettà-cittam), hay sự thân thiện hoặc thông cảm
với (mettà karoti), hay thiền quán về lòng yêu thương (mettà-jhàna).[13]
Trong khi ấy, karunà có nghĩa là mong ước đem lợi ích và
điều tốt lành đến cho đồng loại của mình (ahita dukkha
apanayakamata), hay ước mong loại bỏ các độc hại và thống
khổ cho đồng loại của mình; hoặc karunà cũng biểu thị
trạng thái cao đẹp của lòng yêu thương đối với tất cả
chúng sanh (paradukhe sati sadhunam hadaya kampanam karoti).[14]
Từ
một vài định nghĩa vừa đề cập ở trên, chúng ta có thể
thấy rằng có một sự nối kết không thể tách biệt giữa
mettà và karunà. Trong thực tế, hai đặc tính này bổ sung
cho nhau, vì chính mettà (từ hay sự yêu thương) đã hàm ẩn
ý nghĩa của karunà (bi hay lòng trắc ẩn), và ngược lại.
Thêm vào đó, theo truyền thống của Phật giáo Phát triển,
mettà và karunà thường được gộp chung thành mettà-karunà
(từ bi). Cũng tương tự như thế, chúng ta có thể dễ dàng
tìm thấy những lời dạy của Ðức Phật về sự tương tác
và mối quan hệ bất khả phân của mettà và karunà qua bài
pháp Mettasuttam (kinh Từ Bi) trong Suttanipàta của Phật giáo
Thượng Tọa Bộ.
Do
thế, sự thực hành bố thí rõ ràng là một trong những phương
pháp tốt nhất để nuôi dưỡng và phát triển tâm từ bi.
Hiển nhiên, không chỉ tư tưởng vị tha có thể sinh khởi
trong người hành trì xuyên qua các việc làm như thế, mà các
tư duy sai lầm, bệnh hoạn như khát ái, sân hận, ích kỷ...
làm tổn thương đến cá nhân và tập thể cũng được kiểm
soát và loại trừ khi tâm từ bi phát sinh. Chắc chắn rằng
khi những căn nguyên khổ đau được đoạn tận cũng là lúc
hành giả cảm nghiệm được cảm giác hạnh phúc ngay chính
trong cuộc sống này. Từ đây, chúng ta có thể nói một cách
tự tin rằng tâm từ bi do việc tu tập bố thí đem lại đóng
một vai trò thiết yếu trong việc tạo ra một mối quan hệ
không biên giới trong lãnh vực nhân đạo và vị tha giữa
toàn thể nhân loại. Ðó là lý do tại sao Ðức Phật không
ngừng ca ngợi và khuyến khích việc thực hành giáo lý bộ
thí, và xem công hạnh đó như là một trong những phương tiện
ưu việt nhất để thành tựu mục đích giải thoát sau cùng.
Tuy nhiên, điều có ý nghĩa và thú vị hơn nữa liên quan đến
chủ đề trên là phương cách bố thí, hay nghệ thuật cho,
mà theo giáo lý Phật giáo, chúng ta có thể chia nó thành ba
loại; đó là (1) bố thí vật chất (tài thí), (2) bố thí
pháp (pháp thí), và (3) bố thí sự không sợ hãi (vô úy thí).
Ba phương cách ấy thật sự có lẽ mở ra cơ hội thuận lợi
cho người ta chọn lựa nhằm phù hợp với những căn cơ khác
nhau cũng như điều kiện cá nhân của từng người.
Bố
thí tài vật (Amisadàna)
Chúng
ta có thể nói rằng hình thức bố thí tài vật là thích hợp
nhất đối với bất cứ ai muốn nuôi dưỡng tâm từ bi. Giải
thích theo ngữ cảnh của nội dung đang được thảo luận,
phương pháp tu hay nghệ thuật cho này là rất lợi ích trong
lãnh vực đời sống tâm linh. Nghĩa là, nếu bất cứ ai mong
muốn có được sự gia hộ của Bồ Tát Avalokitesvara (Quán
Thế Âm) bằng việc chuẩn bị sẵn sàng các thiết bị tâm
linh nhằm để tương ứng với lời thệ nguyện của Ngài.
Cách tu tập này cũng biểu thị một sứ mệnh vô cùng ý nghĩa
trong lãnh vực đời sống xã hội xuyên qua sự ảnh hưởng
thực tiễn của nó trên cuộc sống của người nghèo, người
bệnh, người cần sự cứu giúp v.v... Chắc chắn rằng nhiều
khoảng cách về vật chất cũng như tinh thần trong xã hội
loài người hy vọng cũng được thu hẹp lại ngang qua việc
ứng dụng thích đáng và cụ thể nghệ thuật bố thí trên.
Quả thật, việc bố thí vật chất là hoàn toàn thực tế
và có ý nghĩa, vì tất cả mọi người đều có thế áp dụng
phương thức cho này tùy theo hoàn cảnh của từng cá nhân.
Vấn đề giàu, nghèo, hay bất cứ lý do vì khác, đều không
đóng vai trò quan trọng việc hành trì như thế, đặc biệt
là trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Vì như chúng ta đã
biết, theo lý thuyết nghiệp của Phật giáo, yếu tố chủ
đạo để tạo thành một hành động (nghiệp lực) nào đó
là sự tác ý hay chủ ý của hành động. Do vậy, bất cứ
loại tài vật nào, ví dụ như một sợi chỉ, hoặc cây kim,
đều có thể là một món quà có ý nghĩa nếu nó được cho
với thiện tâm. Có vô số ví dụ biểu trưng trong kinh điển
Phật giáo diễn tả về những tác dụng ưu việt của sự
bố thí tài vật, nhưng có lẽ 85 câu chuyện trong tập Vimànavatthu[15]
là được chính Ðức Phật đặc biệt giải thích cặn kẽ
và hạnh bố thí. Nổi bật và đáng chú ý hơn ở đây là
việc phân biệt và làm tách bạch khía cạnh manh tính tâm
lý liên hệ đến vấn đề từ bi (mettà-karunà) giữa
giáo lý Phật giáo và các hệ thống tư tưởng khác. Ðó là,
nếu bố thí tài vật được thực hiện với tâm từ bi thì
tác dụng của nó có thể lớn hơn nếu so sánh cùng việc
bố thí tài vật mà với các dụng tâm khác. Lời dạy sau
đây của Ðức Thế Tôn sẽ soi sáng lập luận trên:
“Không
phải chỉ nhờ vào năng lực của tài vật khiến cho việc
bố thí có được kết quả đặc biệt, nhưng đúng hơn là
ngang qua lĩnh vực tư duy và năng lực tư duy đặt vào vật
cho khiến cho công việc bố thí đạt được lợi ích lớn.
Do vậy, ngay cả chỉ một nhúm gạo, một mảnh giẻ rách,
hay một ít có lá... được cho với tấm lòng chân thành nhắm
đến người thọ nhận chúng, hành động bố thí ấy sẽ
có được công đức to lớn, chói sáng...”[16]
Lý
do cho vấn đề trên có thể được hiểu một cách dễ dàng,
bởi vì khi tâm từ bi hiện hữu, lập tức lúc ấy những
tư tưởng độc ác, nguy hiểm, bạo động, hận thù, ganh tị,
v.v... biến mất khỏi tâm thức của con người. Hiển nhiên
rằng an lạc và hạnh phúc sẽ hiện hữu và tồn tại trong
xã hội nào, nơi mà từ bi (mettà-karunà) là một thành tố
tất yếu của nó và luôn được nuôi dưỡng và phát triển.
Bố
thí Pháp, nghĩa là lời nói ích lợi và tốt lành (dharmadàna)
Phương
thức bố thí tiếp theo là bố thí Pháp, nghĩa là cho những
lời nói tốt đẹp và có ích lợi. Phương thức bố thí này
rõ ràng có thể đem lại nhiều kết quả tốt, có tác động
đến đời sống của nhân loại hơn cách bố thí thứ nhất,
vì kết quả thật sự của bố thí pháp được giáo lý Phật
giáo diễn đạt như sau:
“Này
các Tỷ kheo, có hai loại bố thí: bố thí tài và bố thí
Pháp. Này các Tỷ kheo, đây là bố thí tối thượng trong hai
loại bố thí này, tức là bố thí Pháp...
Này
các Tỷ kheo, có hai sự phân phát này: Phân phát tài vật và
phân phát Pháp. Ðây là phân phát tối thượng trong hai loại
phân phát này, tức là phân phát Pháp...
Này
các Tỷ kheo, có hai loại nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật
và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ kheo, đây là nhiêu ích tối
thượng trong hai loại nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp.”[17]
Tại
sao bố thí Pháp lại có thể đem lại nhiều lợi ích và ảnh
hưởng hơn bố thí tài vật? Người ta không thể phủ nhận
sự kiện rằng yếu tố có nghĩa và mang tính nhân văn nhất
trong việc bố thí là cách cho mà không phải là tài vật được
cho. Nghĩa là, bố thí luôn phụ thuộc vào cách thực hiện,
cách nói năng, cách trao tặng tài vật, sự kính trọng, thông
cảm v.v...; hay nói một cách chính xác hơn, tùy thuộc vào
của cải, vật chất mà người nhận có thể cảm nhận được
các cảm giác thoải mái và hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời
đại ngày nay, nghệ thuật sống như vậy dường như ít thấy
và ít được chú trọng. Ngược lại, do ảnh hưởng nếp
sống thực dụng, con người thời nay đang dần dần tách ly
nghệ thuật sống mang tính nhân văn, tức sự toàn thiện nhân
cách. Một thoáng nhìn qua các nạn nhân của thảm họa thiên
tai, chiến tranh, nghèo đói, v.v... quanh khắp thế giới chúng
ta đang sống hẳn sẽ làm sáng tỏ hành vi, cử chỉ và lối
tư duy của con người trong thời đại văn minh vật chất.
Ðây là lý do tạo sao triết gia nổi tiếng người Ðức, Immanuel
Kant, cho rằng sự thành thật là hơn tất cả cách chính sách.[18]
Rõ ràng, sự chân thành chỉ có thể hiện hữu trong mối quan
hệ của con người khi nào con người hiểu biết và thương
yêu nhau thực sự. Nói cách khác, sự chân chính là kết quả
của nghệ thuật sống gồm đủ hai yếu tố từ bi và trí
tuệ. Do đó, giáo lý bố thí, cụ thể là bố thí pháp, hy
vọng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong xã hội đương
thời, đặc biệt khi nếp sống con người đang ngập chìm
trong ngỗn loạn và rối rắm. Tất nhiên, nếu việc tu tập,
hành trì ấy được thực hiện trong mỗi cuộc sống chúng
ta, chắc chắn rằng cá nhân, gia đình, cũng như xã hội sẽ
có thể nuôi dưỡng và phát triển sự hài hòa mỗi ngày mỗi
tốt đẹp hơn giữa các thành viên của nó.
Thí
vô úy, tức cho sự không sợ hãi (Abhayadàna)
Tuy
thế, phương pháp tốt nhất có thể tạo ra một môi trường
hạnh phúc và an bình chân thật là thí vô úy hay cho không
sợ hãi; bởi vì, trong ý nghĩa sâu thẳm nhất của nó, trạng
thái vô úy (không sợ hãi) được xem là đồng nghĩa với
giải thoát và hạnh phúc. Nhưng ai có thể là người ban tặng
sự vô úy? Dĩ nhiên, trước hết người ấy là Ðức Phật,
vì giống như bà mẹ lấy chính mạng sống để bảo vệ đứa
con duy nhất của mình, Ðức Phật xuất hiện trong cuộc đời
này là vì lòng từ bi vô lượng của Ngài luôn luôn được
hướng đến tất cả chúng sanh.[19] Tuy nhiên, như đã được
bàn thảo ở Chương V, Ðức Phật là một nhân cách toàn thiện
cả hai đức tính từ bi (mettà-karunà) và trí tuệ (prajnà);
nghĩa là, vô úy hay sự không sợ hãi là kết quả của lòng
từ bi và trí tuệ. Ðây là lý do tại sao, trong phẩm thứ
24 của Saddharmapundarika-sutra (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa) Bồ Tát
Avalokitesvara (Quán Thế Âm) được gọi là “Thí Vô Úy Giả”
tức người bố thí sự không sợ hãi. Bên cạnh nhân cách
lý tưởng trên, chúng ta thấy rằng còn có một mẫu người
thứ hai cũng có thể đem sự không sợ hãi đến cho chúng
sanh. Ðó là những người ngang qua nỗ lực cao đẹp và phi
thường của tự thân đạt được sự trọn vẹn về giới,
định, tuệ, giải thoát, và tri kiến giải thoát (hiểu biết
về việc chứng đắc giải thoát). Chúng ta sẽ trích dẫn
lời xác chứng của Ðức Thế Tôn nhằm minh chứng cho lập
luận vừa nêu và đồng thời cũng cố niềm tin cho những
ai có cơ hội liên hệ với con người toàn thiện các đức
tính như thế:
“Này
các Tỷ kheo, những Tỷ kheo nào đầy đủ giới, đầy đủ
định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải
thoát tri kiến..., Ta tuyên bố rằng chỉ thấy các vị như
vậy là lợi ích nhiều cho cho các Tỷ kheo ấy; này các Tỷ
kheo Ta tuyên bố rằng chỉ nghe các vị như vậy..., chỉ thân
cận các vị như vậy, ... chỉ nhớ nghĩ đến các vị
như vậy là lợi ích nhiều cho các Tỷ kheo...”[20]
Nói
khác đi, bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu mà hận thù,
đấu tranh, giết hại lẫn nhau, v.v... hiện hữu, cùng lúc
đó các sự kiện vừa nêu cũng nói lên rằng trong thời đại
ấy và trong không gian ấy không có những nhân cách toàn thiện.
Như
người ta đã thấy, nếp sống có thể tạo nên mẫu người
tiêu biểu toàn thiện như thế được sản sinh từ con đường
“Trung đạo” của Phật giáo, vì chính ngang qua việc thực
hành giáo lý Trung đạo mà dục vọng, hận thù, và vô minh
(ba cội nguồn chủ yếu của khổ đau) của con người hy vọng
được loại trừ từng bước; và những hành tố đối lập
của chúng, tức vô tham, từ bi và trí tuệ, xuất hiện trong
tâm thức của hành giả, giống như bóng tối bị xóa tan khi
mặt trời ló dạng.
Huấn
luyện lòng từ bi ngang qua việc tu tập thiền định
Như
người ta thường nói, mọi thành tựu mang tính sáng tạo luôn
luôn là kết quả của một sự kiên nhẫn phi thường và một
sự tập trung cao độ. Mọi sáng tạo, có thể là công trình
khoa học, nghệ thuật, âm nhạc v.v..., đều là sản phẩm
của sự tập trung (thiền định) tột cùng. Tất nhiên, trong
lãnh vực chứng đắc tâm linh việc này lại rõ ràng hơn.
Sự kiện chứng ngộ độc đáo, vô song của Ðức Phật Gotama
(Cù Ðàm) dưới cội cây Bồ Ðề (Bodhi) tại Bồ đề đạo
tràng (Boghayà) sau 49 ngày đêm thực hành thiền định có thể
được xem như là một biểu mẫu cụ thể và hùng hồn nhất
cho sự thật đó. Ðiều quan trọng hơn nữa mà chúng ta cần
phải lưu ý ở đây là vai trò của mettà-karunà (từ bi) trong
quá trình tu tập thiền định. Theo kinh Bộ Tương Ưng, nếu
một hành giả tu tập bảy chi phần của thánh đạo (thất
giác chi) cùng với bốn thứ tâm vô lượng (tứ vô lượng
tâm), tức mettà (từ), karunà (bi), mudita (hỷ) và upeka (xả),
vị ấy có thể dễ dàng thành tựu các cấp độ thiền định
hơn người chỉ tu tập bảy chi phần thánh đạo.[21] Quả
thật, qua việc tu tập tứ vô lượng tâm một cách đúng đắng
người ta có thể chứng đắc giải thoát sau cùng như được
diễn tả trong kinh Trung Bộ:
“Vị
ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ,
cũng vậy phương thứ hai,... phương thứ tư. Như vậy, cùng
khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ,
cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm
câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không
sân...
Vị
ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng,
có sự giải thoát vượt qua các tưởng. Do vị ấy biết như
vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu,
tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát
được khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát,
trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, những việc nên làm đã làm xong, không còn trở
lui trạng thái này nữa.”[22]
Cũng
giống như đời sống tâm linh, sự tu dưỡng về cái nhìn
từ bi ngang qua thực tập thiền định được tin là có một
vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của quần chúng.
Như mọi người thường công nhận khái ái, sân hận và ngu
dốt là ba cội rễ chính của mọi khổ đau, trắc trở đối
với con người; và chúng chỉ hiện hữu và tồn tại trong
cái tâm hẹp hòi, ích kỷ và hiểm ác. Tuy nhiên, những thứ
ấy có thể từng bước được loại trừ khi nào ý niệm
từ bi xuất hiện trong tâm thức người ta. Nói khác đi, tư
tưởng từ bi chắc chắn sẽ khiến cho phiền não, lậu hoặc
biến mất trong tâm thức con người. Trong ý nghĩa đó, rõ
ràng ý tưởng từ bi có thể đem lại an lạc và hạnh phúc
cho cả đời sống tôn giáo và xã hội nếu như chủ ý hay
tác ý chính của hành động (nghiệp) thật sự được lèo
lái bởi việc thiền quán về từ bi.
Huấn
luyện cái nhìn trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm
Có
lẽ sẽ không có gì sai khi chúng ta nói rằng nếp sống của
con người luôn luôn tùy thuộc vào cấp độ về cái nhìn
của người ấy. Quan điểm này hy vọng sẽ trở nên rõ ràng
hơn ngang qua ý nghĩa của câu danh ngôn Việt Nam: “Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Như thế, do vì cái nhìn
buồn rầu, sầu muộn của con người khiến cảnh vật chung
quanh người ấy mang khoác một màu sắc ảm đạm tương tự.
Nói cách khác, chính tự ngã của một người đưa người
ấy đến trạng thái hạnh phúc hay sầu muộn. Nhưng bản chất
thật của tự ngã ấy là gì? Theo Phật giáo, đó là một
sự kết hợp của năm thành tố được gọi năm uẩn hay năm
nhóm, bao gồm sắc (vật chất), cảm thọ, tưởng, hành (tri
giác), và thức. Khi năm thành tố này nối kết lại với nhau,
nó được gọi là “cá nhân”, “tôi”, “chúng sanh”,
v.v... Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy được
bất cứ một cái ngã bất biến thường hằng nào trong sự
phối hợp như thế, và dĩ nhiên ngay cả trong từng chi phần
của chúng. Vì thế nên Ðức Phật đã dạy như sau “Tất
cả pháp hữu vi (tức những thứ tồn tại có điều kiện
– all conditioned things) là vô thường (sabbe samakhàrà
anicà); tất cả các pháp hữu vi là khổ (sabbe samakhàrà dukkhà);
và tất cả các pháp hữu vi là vô ngã (sabbe samakhàrà anttà)”[23].
Như vậy, ngay tự thân năm uẩn hay năm nhóm này chỉ là các
pháp hữu vi (sự vật tồn tại có điều kiện), vậy thì
làm thế nào để chúng ta tìm ra một thực ngã trong các vật
như thế? Trong thực tế, do không nhận thức được sự thật
này, tức ngang qua việc nhận thức sau lầm về tự ngã, con
người phải khổ đau trong vòng sinh tử, luân hồi.
Ngược
lại, cái nhìn trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm có thể giúp
con người nhận ra được thực chất của cuộc sống và của
mọi sự vật với kết quả là tư tưởng và cảm giác giải
thoát sinh khởi và hiện hữu ngay trong đời sống của họ,
tại đây và bây giờ. Tuy nhiên, “Cái nhìn là gì? Cái nhìn
trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm là gì?”
Như
người ta thường hiểu, “nhìn là cái thấy với sự hiện
diện của ý thức”; hay nói khác đi, tâm nhìn sự vật ngang
qua nhãn căn (con mắt). Ngang qua lập luận trên chúng ta có
thể nói rằng tâm nhìn sự vật ngang qua nhĩ căn (lỗ tai),
tỉ căn (lỗ mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân thể)
và ý căn (thức). Với ý nghĩa trên của cái nhìn, định nghĩa
cái nhìn liên hệ đến thuật ngữ Avalokitesvara (như được
chỉ rõ trong Chương IV) có thể được gợi ý là “vị lắng
nghe tiếng nói của cuộc đời”. Sự gợi ý này rõ ràng
có tương quan mật thiết với sự chuyển dịch thường thấy
của ngôn ngữ Trung Hoa, đó là Quán Thế Âm. Tất nhiên, ở
đây người ta có thể thắc mắc rằng “cuộc đời đang
nói cái gì? Hay các pháp hiện hữu đang nói cái gì?” Hoa
nở để rồi tàn; trăng tròn để rồi khuyết; mây tụ để
rồi tán v.v... Rõ ràng, mọi sự vật đang nói tiếng nói vô
thường, khổ và vô ngã; nghĩa là chúng đang nói về ba đặc
tánh chân thật (tam pháp ấn) của tất cả pháp hữu vi. Do
đó, bất cứ ai có thể lắng nghe được những tiếng nói
ấy như thật, người ấy chắc chắn sẽ đi ra khỏi sự chấp
thủ về một cái ngã sai lầm. Không có các “ý tưởng về
“tôi”, “của tôi”, “và tự ngã của tôi” trong tâm
thức con người, hiển nhiên khổ đau cũng không có nơi trú
ẩn. Ðây là những gì mà Ðức Phật đã dạy trong bài Bát
Nhã Tâm Kinh:
“Trong
khi trầm tư sâu xa vào trong sự toàn thiện của trí tuệ (prajnàparamità)
và nhận thức được năm uẩn (tức sắc, thọ tưởng, hành,
và thức) là không có tự ngã, Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế
Âm) vượt qua được tất cả chướng ngại và khổ ách”
(Quán
Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu
kiến giai không độ nhất thiết khổ ách).[24]
Hoặc,
“Sắc
ví với bọt nước,
Thọ
ví bong bóng nước,
Tưởng
ví ráng mặt trời,
Hành
ví như cây chuối,
Thức
ví với ảo thuật,
Ðấng
bà con mặt trời,
Ðã
thuyết giảng như vậy”[25]
Ngang
qua phương pháp tuệ quán (cái nhìn trí tuệ) ở trên, hiển
nhiên tâm giải thoát và trí tuệ giải thoát có thể được
mong chờ như là hệ quả của nó qua lời tuyên bố sau đây
của Ðức Phật:
“Thấy
vậy, này các Tỷ kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán
đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối
với hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy
ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát,
trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát... không còn trở lui trạng
thái này nữa’.”[26]
Như
thế, xuyên qua việc huấn luyện cái nhìn Quán Thế Âm (Avalokitesvara),
hay nói một cách chính xác hơn ngang qua tuệ quán (cái nhìn
trí tuệ vipassanà) hành giả có thể nhận chân được sự
thật của mọi sự vật, đó là vô thường, khổ và vô ngã.
Nhờ vậy, sự chứng ngộ chân lý sẽ sinh khởi trong tâm thức
của người ấy như thể họ đang được Bồ Tát Quán Thế
Âm gia hộ, và làm cho họ có thể cảm nghiệm được hạnh
phúc và giải thoát mà không hề có chấp thủ. Trong thực
tế, đây không chỉ là mục tiêu cao nhất của lý tưởng
Bồ Tát nói chung, và giáo lý Quán Thế Âm nói riêng, mà còn
là trí tuệ độc đáo, vô song mà ngang qua đó Ðức Phật
đã chứng ngộ chân lý tối hậu, tức giáo lý Duyên Sinh (Pratityasamutpàda),
và tuyên bố chứng đắc Phật quả. Do đó, không hề do dự
người ta có thể nói rằng mục tiêu này là nơi hội tụ
thật sự của cả hai hệ thống giáo lý Phật giáo, tức Phật
giáo Nam Truyền hay Thượng Tọa Bộ và Phật giáo Bắc Truyền
hay Phát Triển. Ðây cũng chính là phương pháp tu tập chủ
đạo của tín đồ Phật giáo:
“Do
vậy, hãy nhìn các pháp hữu vi,
Như
là ngọn đèn, là huyển cảnh, là vì sao,
Như
trò ảo thuật, như hạt sương, bọt nước,
Như
giấc mộng, như ánh chớp, đám mây.”[27]
Và
“Hãy
nhìn như bọt nước,
Hãy
nhìn như huyển cảnh,
Quán
nhìn đời như vậy,
Thần
chết không bắt gặp.”[28]
Hai
nghệ thuật sống
Dường
như đang có một sự ngộ nhận nào đó về tư tưởng từ
bi (mettà-karunà) giữa đại đa số quần chúng, vì người
ta thường nghĩ rằng nếu ai có thể bố thí tài vật gì đó
cho kẻ khác, ví dụ bố thí thức ăn, quần áo, thuốc men,
v.v... cho người nghèo, người bịnh, trẻ mồ côi..., hành
động bố thí ấy có thể được xem là công tác từ thiện.
Nói khác đi, hoạt động từ thiện có thể được thực hiện
như là một cách thức biểu hiện một số đặc tính đạo
đức và đức hạnh của người ta. Bên cạnh ấy, hành động
như thế trong lãnh vực tôn giáo cũng thường được xem là
cách để tích lũy công đức vì lợi ích cho kiếp sau. Tuy
nhiên, chúng ta có thể giả định rằng dù thế nào đi nữa,
trong ý nghĩa sâu rộng, chân giá trị của từ bi (mettà-karunà)
cũng như chân giá trị của con người không chỉ bị giới
hạn mà còn bị tổn thương. Do thế, chúng ta cần phải xem
xét lại ý nghĩa của chúng, đặc biệt trong phạm trù của
giáo lý Phật giáo.
Như
Aristole, triết gia và là nhà khoa học thời danh của Hy Lạp
cổ đại, đã từng thừa nhận, mục đích của cuộc sống
không phải là cái hay, cái đẹp, mà là hạnh phúc. Theo quan
điểm của Aristole, khác với mọi chủng loại hữu tình, hạnh
phúc con người là nằm ở chồ toàn thiện những đức tính
của con người[29]. Trong cùng cách suy nghĩ, G.Banseladze, nhà
đạo đức học đương đại của Nga, cho rằng vấn đề lý
tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống cốt yếu là vấn
đề hạnh phúc.[30] Như thế, chúng ta có thể nói rằng bất
cứ khi nào công tác từ thiện xã hội được thực hiện,
cả hai phía, tức cả người cho lẫn người nhận, đều gặt
hái lợi ích từ việc làm ấy. Giải thích một cách cụ thể
hơn, rõ ràng người cho có thể hưởng được cảm giác hạnh
phúc nhờ vào nỗ lực của tự thân trong việc hoàn thiện
các phẩm chất đặc biệt của con người. Cùng lúc ấy, người
nhận cũng có được lợi ích nhờ bởi chính công việc ấy.
Tuy nhiên, theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị về sự
kiện này đã được công bố, người cho cảm nhận được
nhiều hạnh phúc hơn người nhận trong ý nghĩa thời gian.[31]
Kết luận quan trọng trên sẽ làm chúng ta ngạc nhiên khi sự
so sánh về triết lý giữa hai hệ thống triết học Ðông
phương và Tây phương về quan điểm này được thực hiện;
bởi vì theo Phật giáo, cảm thọ (hay cảm giác) liên hệ đến
vật chất chỉ có giá trị bằng một phần mười sáu (1/6)
so với cảm thọ (cảm giác) hạnh phúc do tu tập lòng từ
đem lại.[32]
Thêm
vào đó, Spinoza, triết gia nổi tiếng của Do Thái sống sau
thời đại Aristotle khoảng chừng 200 năm, cho rằng hạnh phúc
là mục đích của mọi hạnh động. Theo định nghĩa của
Spinoza, hạnh phúc là một thứ gì ấy rất đơn giản và có
thể nhận thức được; ấy là sự hiện hữu các cảm giác
thoải mái, và vắng mặt tất cả cảm giác khổ đau. Nói
khác đi, mục tiêu của cuộc sống con người, bao gồm cả
hai lãnh vực xã hội và tôn giáo, là kiếm tìm hạnh phúc.
Tuy có vô số khái niệm hạnh phúc, và do đó có rất nhiều
phương thức kiếm tìm hạnh phúc khác nhau, nhưng người ta
hy vọng rằng khuynh hướng sống phổ biến nhất sau đây của
con người trong thời đại ngày nay có lẽ xứng đáng được
nghiên cứu và xem xét. Ðó là, giới tín đồ tôn giáo theo
khuynh hướng thứ nhất, với niềm tin truyền thống vào Thượng
Ðế hay Thánh Thần như là đấng tạo thế, ủy thác và giao
phó tất cả trách nhiệm về hành động (nghiệp) của họ
cho các đấng sáng tạo thế gian. Ðối với họ, vấn đề
thiện hay ác, lành hay dữ trong tương lai luôn tùy thuộc vào
ý muốn của Thượng Ðế hay Thánh Thần; đức hạnh tốt
nhất mà họ có thể làm là vâng theo ý muốn của những đấng
sáng thế ấy. Về đặc điểm đời sống xã hội của nghệ
thuật sống trên, theo lời phát biểu trong tác phẩm nổi tiếng
của Erich Fromm “là trao đổi và tiếp nhận, là đổi chác
và tiêu thụ; tất cả mọi thứ, cả tinh thần lẫn vật chất,
đều trở thành đối tượng để đổi chác và tiêu thụ.”[33]
Ngang qua lý tưởng sống và phương tiện giải trí vật chất
phục vụ cho nó, có thể không có gì để tranh cãi khi người
ta nói rằng mục tiêu của khuynh hướng sống này là nhắm
vào việc thoả mãn dục vọng riêng tư cá nhân trong chừng
mực cao nhất mà người ta có thể có được và cho đến
khi nào con người đạt đến mục tiêu ấy. Rõ ràng, khuynh
hướng sống trên, như mọi người đã biết, không chỉ đang
thống trị xã hội các nước Âu Mỹ hiện nay, mà còn được
các dân tộc Ðông phương, gián tiếp hoặc trực tiếp, hoan
nghênh chào đón. Tuy nhiên, một sự kiện dường như chân
thật là khuynh hướng sống đó luôn mang theo với nó một
sự giới hạn liên hệ đến vấn đề thời gian khiến cho
tín đồ của nó không bao giờ có được cảm giác thật sự
thỏa mãn trong niềm khoái cảm hạnh phúc. Ðiểm này sẽ trở
nên rõ ràng qua lời phân tích và lý giải sau đây của nhà
đạo đức học người Nga, G.Banseladze: “Trong lãnh vực khoái
cảm vật chất, cảm giác khoái cảm của nó càng cao thì thời
gian càng ngắn. Cường độ khoái cảm trong lãnh vực vật
chất luôn tỷ lệ nghịch với thời gian.”[34] Tất nhiên,
khi dục vọng không được thỏa mãn, với khát vọng nóng
bỏng thiêu đốt thúc dục người ta tiếp tục tiến về phía
trước để tìm kiếm những cảm giác mới, và dĩ nhiên cường
độ của chúng phải mạnh hơn các cảm giác trước đó. Ðể
đạt được điều ấy, vô số phương tiện giải trí về
vật chất, thậm chí một số loại thuốc kích thích làm tổn
thương đến sức khỏe con người, ví dụ như thuốc phiện,
côcain, v.v... được sản xuất hằng ngày để thỏa mãn mục
đích như thế. Mỉa may thay, dường như không những người
ta không thể đạt được mọi thức họ đang kiếm tìm, mà
càng đắm chìm vào trong các thứ lạc dục như thế người
ta càng cảm thấy thèm khát vì sự thiếu thốn cảm giác.
Tình huống này có thể ví như người đang khát nước mà
lại vốc nước biển để uống; và dĩ nhiên người ấy sẽ
không bao giờ cảm thấy đã khát. Nghiêm trọng hơn thế nữa,
do vì không thỏa mãn được trạng thái cảm xúc tình cảm
trong hiện tại, số người ấy lao đầu vào trong một số
phương tiện giải trí gây chết người. Hành động ấy, trước
hết, không những kết liễu cuộc đời của họ do vì khủng
hoảng cảm xúc, mà thật sự còn làm cho các nguồn tài nguyên
thiên nhiên đi đến cạn kiệt vì luôn bị khai thác để phục
vụ cho các nhu cầu bức xúc đó.
Trái
lại với lối sống trên, nghệ thuật sống đòi hỏi cả
tình thương lẫn trí tuệ mà dường như chỉ được một
số ít người mến chuộng là khuynh hướng sống điển hình
thứ hai trong thế giới hiện nay. Lời phát biểu ngắn gọn
sau đây của Paracelus có thể tóm tắt triết lý sống của
thiểu số người này “Người không biết gì thì chẳng yêu
thương bất cứ gì. Người không biết làm gì, sẽ chẳng
hiểu gì cả... Nhưng người nào hiểu biết, người ấy yêu
thương, chú ý, lãnh hội... Kiến thức càng quy tụ vào một
đối tượng, tình yêu càng to lớn...”[35] Hiển nhiên, khái
niệm thánh thần hay đấng tạo thế, rõ ràng không chiếm
vai trò quan trọng trong lối sống trên. Không có gì để ghi
ngờ về sự kiện rằng trách nhiệm cá nhân đối với mọi
việc làm (nghiệp) là kim chỉ nam cho tất cả hành động họ.
Theo quan điểm sống của khuynh hướng thứ hai, hạnh phúc
có thể tìm thấy được trong cả hai lãnh vực của cuộc
sống, đó là vật chất lẫn tinh thần. Lập luận sau đây
hy vọng sẽ soi sáng cho tư tưởng vừa nêu. Trước hết, cảm
giác hạnh phúc về tâm linh hay tinh thần sẽ sinh khởi và
tồn tại ngang qua việc trau dồi và cải thiện hai đức tính
đặc thù, đó là sự hiểu biết (trí tuệ) và tình yêu thương
(từ bi), tức mục tiêu lý tưởng của cuộc sống. Thêm vào
đó, như học giả G.Banseladze đã chứng minh, yếu tố thời
gian trong lãnh vực cảm xúc tinh thần hay tâm linh có một vai
trò khác biệt nếu so sánh với lãnh vực khoái cảm vật chất.
Cường độ cảm xúc tâm linh thì tỷ lệ thuận với thời
gian. Cảm xúc khoái cảm càng cao thì thời gian tồn tại của
nó càng được kéo dài.[36] Do vậy, sự toàn thiện hai đức
tính từ bi (lòng yêu thương) và trí tuệ (sự hiểu biết)
là mục tiêu tối hậu của nghệ thuật sống này.
Tuy
nhiên, như đã được các danh nhân thế giới như Bertrall Russell[37],
Mahatma Gandhi, Erich Frommm[38], Toynbee and Ikeda[39] v.v... vạch rõ,
nhu cầu thiết yếu thật sự của thế giới đương thời
là sự mở rộng và phát triển tình yêu thương (lòng từ
bi). Nguyên nhân là do vì bị ảnh hưởng lối sống chủ nghĩa
vật chất thực dụng, con người thời đại đang càng ngày
càng trở nên xa lạ với chính họ, đang tách ly dần dần
khỏi đồng loại và thế giới tự nhiên. Xuyên qua việc nới
rộng và phát triển tình yêu thương, người ta hy vọng là
sẽ nhận thức giá trị con người. Dường như, theo thiển
ý của tác giả, Elbert Einstein, nhà khoa học vĩ đại của
thế kỷ thứ 20, đã từng cảm nghiệm về chúng khi ông phát
biểu rằng: “giá trị chân chính của một con người chủ
yếu được xác định bằng các tiêu chuẩn và ý nghĩa trong
đó người ấy đã đạt tới sự giải thoát khỏi cái ngã.”[40]
Theo
định hướng và mục đích của nghệ thuật sống thứ hai
người ta có thể thấy ra rằng nghệ thuật sống của Phật
giáo ngang qua lý tưởng Bồ Tát nói chung, và giáo lý Avalokitesvara
(Quán Thế Âm) nói riêng, đã thực sự hiển bày những đặc
tính tương tự. Do thế, rõ ràng đã đến lúc cho giới tín
đồ Phật giáo nói riêng và con người nói chung tự chọn
lựa cho mình một trong hai cách sống như đã được bàn luận
và vạch ra ở trên.
[1]
Xem Ðại Tạnh Kinh VN, Kinh Trường Bộ, tập III, tr.529-547.
[2]
Xem Ðại Tạng Kinh, Kinh Tương Ưng Bộ, tập III, tr.219
[3]
Xem Richard. F.Gombrich, Buddhist Precept and Practice, Motilal Bamarsidass,
Delhi, 1998, tr.121-165.
[4]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập III, tr.442.
[5]
Kinh Trường Bộ, tập II, Kinh Ðại Bát Niết Bàn.
[6]
Xem Edward Conze, A Short History of Buddhism; và Sir Charles Eliot,
Hinduism and Buddhism.
[7]
Emile Durkheim, Education and Sociology, (tr.) Sherwood D.Fox, The Free
Press, Glencoe, Illious, 1958, tr.67.
[8]
Sđd. tr.69.
[9]
Peter Michel, Krishnamurti: Love and Freedom, Motilal Barnasisdass Publishers,
Delhi, 1996, tr.152.
[10]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập II, tr.190.
[11]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tăng Chi Bộ, Tập III, tr.488.
[12]
Yotiya Dhirasekera, Encyclopadia of Buddhism, Vol. IV, The Government Press,
Ceylon, 1979, tr.201.
[13]
T.W. Rhys David and William Stede, The Pali Text Society’s Pali English
Dictionnary, London and Boston, 1989, tr.540.
[14]
Sđd, tr.197.
[15]
Thiên Cung Sự.
[16]
The Vimànavatthu, p.1-2.
[17]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Tập III, tr.430.
[18]
Xem “Gennady Batygin, Newtimes, USA, No.46 (tháng 11, 1998).
[19]
Xem Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Kinh Tập – Sutta Nipata.
[20]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Tập III, tr.441.
[21]
Ðại Tạng Kinh VN. Kinh Tương Ưng Bộ, tập V.
[22]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập I, tr.91-92.
[23]
Kinh Pháp Cú, kệ 277, 278 và 279.
[24]
Trung Hoa Ðại Tạng Kinh, Tập VIII, Kinh Bộ Bát Nhã, trang 848.
[25]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tương Ưng Bộ, Tập III, tr.256.
[26]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tưong Ưng Bộ, Tập III, tr.256.
[27]
Kinh Kim Cang:
“Nhứt
thiết hữu vi pháp,
Như
mộng huyễn bào ảnh,
Như
lộ diệc như điển,
Ưng
tác như thị quán.”
[28]
Tỷ Kheo Thích Minh Châu (dịch), Kinh Pháp Cú, kệ số 170, Nhà
xuất bản Tôn giáo-Hà Nội-2544-2000.
[29]
Xem thêm “Will Durant, The Story of Philosophy”, Washington Squar
Press, 1961 (Reprints), tr.75.
[30]
Xem “G. Banseladze, Ðạo Ðức Học, Nhà xuất bản Giáo Dục,
Hà Nội, Việt Nam, 1979, tr,266-267.
[31]
Sđd, tr.268.
[32]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tăng Chi Bộ, Tập IV.
[33]
Erich Fromm, The Art of Loving, Thoons An Imprint of Harper Collins Publishers,
London, 1995.
[34]
G. Banseladze, Ðạo Ðức Học, nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội,
1979, tr.268.
[35]
Erich Fromm, The Art of Loving, Thoons An Imprint of Harper Collins Publishers,
London, 1995, tr.vi.
[36]
Xem G.Banseladze, Ðạo Ðức Học, nhà xuất bản Giáo Dục Hà
Nội, tr.269.
[37]
Xem Bertrall Russell, Why I am not a Christian, tr.49.
[38]
Xem Erich Fromm, The Art of Loving, tr.65-83.
[39]
Xem Toynbee and Ikeda, Man Himself Must Choose, tr.331-339.
[40]
Albert Einstein, Ideas and Opinion, Rupa & Co., London, 1995, tr.12.