Chương
Bốn
Avalokitesvara:
Sự Phát Triển
Về Ðặc Tính Ngôn Ngữ Và Ngữ Nghĩa
Ðịnh
nghĩa
Một
trong những vấn đề khó khăn nhất trong việc nghiên cứu
đề tài này nằm ở thuật ngữ ‘Avalokitésvara’ và nguồn
gốc của nó, vì cho đến nay chưa hề có sự nhất trí nào
giữa giới học giả về từ ngữ trên. Bộ Bách Khoa Phật
Giáo ghi rằng hình thức từ ghép của thuật ngữ Avalokitésvara
vốn bắt nguồn từ hai chữ Avalokita và ísvara. Khi tách biệt,
ý nghĩa của mỗi từ hoàn toàn rõ ràng, nhưng khi xem
xét chúng trong hình thức từ ghép, ý nghĩa trở nên khá mơ
hồ. Một số giải thích tiêu biểu sau đây được bộ Bách
Khoa này đề cập là: “đấng tối thượng mà chúng ta nhìn
thấy, hay được biểu hiệu, hay có thể thấy được khắp
nơi”...[1] Bộ Bách Khoa Tôn Giáo cũng nói rằng danh hiệu
Avalokitésvara là một từ ghép của tiếng Sanskrit có gốc từ
‘avalokità và ‘ísvara’, nhưng phiên dịch của bộ Bách
Khoa Tôn Giáo về thuật ngữ trên lại khác với bộ Bách Khoa
Phật Giáo. Nó được dịch là “đấng tối thượng mong được
nhìn thấy, hay “vị chúa tể đang quan sát, đang nhìn”[2].
Tuy
nhiên, một số định nghĩa dưới đây về thuật ngữ này
được học giả Har Dayal giới thiệu trong tác phẩm “Giáo
Lý Bồ Tát trong Văn Học Phạn Ngữ Phật Giáo”[3] là cần
phải được lưu tâm. Ðó là “vị chúa với cái nhìn đầy
từ ái”, “vị chúa tể của những người đã chết và
đang chết”, “vị chúa tể được nhìn thấy từ trên cao”
(nghĩa là bởi Ðức Phật A Di Ðà, vì một hình Phật nhỏ
được đặt trên trán Bồ Tát Quán Thế Âm), hay “vị chúa
tể nhìn từ trên cao” (nghĩa là từ trên núi, nơi Ngài cư
ngụ), “vị chúa tể đang quan sát”. Har Dayal cũng đề cập
đến cách phiên dịch của Ngài Sangavarman, Dharmarakasa, và của
các nhà phiên dịch ban sơ sang tiếng Trung Hoa như kuan-shih-ying
(chiếu sáng hay giảng giải tiếng nói của cuộc đời); và
phiên dịch của J.Edkins như kuan (nhìn ngắm), shih (vùng, miền
hay địa phương của người đang khổ đau), yin (tiếng kêu
cứu của vô số chúng sanh đang khổ đau và cầu xin sự cứu
vớt đã chạm vào trái tim của vị Bồ Tát đầy lòng từ
bi)...
Theo
học giả Kenneth K.S. Ch’en, từ Avalolitésvara bao gồm hai phần:
‘avalo’, quá khứ phân từ ở thể thụ động với ý nghĩa
là được thấy, và ‘ísvara’, có nghĩa là ‘vị chúa tể’.
Một vài phiên dịch tiêu biểu của Kenneth. K.S.Ch’en là “vị
chúa tể có cái nhìn từ ái”, “vị chúa tể mà người
ta thấy”. “người nhìn với đôi mắt”...[4]
Theo
cuốn Từ Ðiển Phật Học và Thiền (Zen) của nhà xuất vản
Shambhala[5], nghĩa đen của thuật ngữ Sanskrit ‘avalokiteshvara’
hay ‘avalokiésvara’ là “vị chúa tể nhìn xuống”, ở đó
thành phần sau cùng của danh hiệu được cho là ‘ìshvara’,
tức “người nghe âm thanh (tiếng khóc) của cuộc đời”,
hoặc “âm thanh làm sáng tỏ thế giới”, trong đó ‘svara’
tức ‘âm thanh’ được xem như là thành phần sau cùng của
danh hiệu đó.
Những
trích dẫn vừa minh họa ở trên hy vọng cung cấp vừa đủ
một số định nghĩa tiên biểu về danh hiệu Avalokitesvara
(Quán Thế Âm); tuy vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và xem
xét lại số định nghĩa ấy. Trong thực tế, khi đặt vào
bối cảnh lịch sử của nó, do bị ảnh hưởng học thuyết
hữu thần, việc thực hành tín ngưỡng Bồ Tát của Phật
giáo đồ, đặc biệt phụng thờ đức Quán Thế Âm, được
thấy như là thực thể có thật. Nói khác đi, trong Phật giáo,
có một vị thần hay một đối tượng tín ngưỡng có thể
làm thỏa mãn chúng sinh đang đau khổ với một số điều
kiện nào đó. Ý niệm này không những đưa đến một định
hướng sai lầm trong lãnh vực nghiên cứu, mà còn làm cho lý
tưởng Bồ Tát trở thành giáo lý mang tính hữu thần, đối
nghịch lại toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo. Do vậy,
tác giả mạo muội đề xuất một cách hiểu khác về thuật
ngữ Avalokitésvara (Quán Thế Âm). Ðó là, trên căn bản của
định nghĩa: “He who hears the sounds (outcries) of the world”,
nghĩa là “vị nghe âm thanh (hay tiếng kêu cứu) của cuộc
đời”, người ta có thể chuyển dịch thuật ngữ Avalokitésvara
là “vị lắng nghe (listen to) (thay vì nghe-hear) tiếng nói (voices)
(thay vì âm thanh-sounds) của cuộc đời. Ðiều vừa gợi ý
trên chuyển tải một tư tưởng vô cùng quan trọng liên quan
đến chủ thể của toàn bộ định nghĩa, tức “người hành
trì, thay vị chúa tể” (he or the practitioner. e.g., the subject,
instesd of Lord), và động từ “lắng nghe thay vì nghe” (hear
replaced by lister to). Ðịnh nghĩa mang tính thử nghiệm trên
hy vọng sẽ làm cho chủ đề trở nên nhiều thú vị và ý
nghĩa hơn khi thuật ngữ ‘Bodhisattva’ (Bồ Tát) được kết
hợp với nó để trở thành ‘Avalokitésvara Bodhisattva’ (Bồ
Tát Quán Thế Âm), với ý nghĩa là “người mong muốn đạt
đến sự giác ngộ bằng công việc lắng nghe hay quán sát
âm thanh của cuộc đời”. Tác giả cho rằng định nghĩa
đó cũng có thể sẽ mở ra một phương pháp tư duy mới trong
phạm trù tín ngưỡng Quán Thế Âm.
Vấn
đề nguồn gốc của thuật ngữ Avalokitésvara
Song
hành với vô số định nghĩa khác nhau về thuật Avalokitésvara
là nghi vấn về nguồn gốc ban đầu của nó. Trong thực tế,
giới
học giả thường không nhất trí với nhau về ba từ sau đây,
được cho là nguyên thủy nhất; đó là: ‘avalokita’, ‘avalokitésvara’,
và avalokitásvara’.
Theo
ý kiến của Sir Charles Eliot, avalokita là một trong những hình
thức của từ đầy đủ ‘avalokitésvara’, thường ám chỉ
là ‘vị chúa tể nhìn xuống (từ cõi trời). Học giả này
cũng giới thiệu danh hiệu tiêu biểu thứ hai, đó là Lokitésvara,
với ý nghĩa là ‘vị chúa tể của trần gian’[6]. Trong khi
ấy, Edward J. Thomas cho rằng[7] Avalokita, một trong hai danh hiệu
(danh hiệu thứ hai là Lokitesvara) của Avalokitesvara, bắt nguồn
từ động từ avalokayati với ý nghĩa là ‘nhìn hay quan sát’
(to look, to survey). Ông này nhận xét rằng hình thức ‘avalokita-svara’
được một số học giả Trung Hoa sử dụng, nhưng nó được
xem là vô nghĩa trong tiếng Sanskrit và cả tiếng Trung Hoa. Nói
khác đi, thuật ngữ ‘avalolkita-svara’ vị S.C. Eliot và E.J.
Thomas bác bỏ.
Tuy
nhiên, trong tác phẩm “Thousand-Armed Avalokitesvara” (Thiên Thủ
Quán Thế Âm), sau khi nghiên cứu một cách tỉ mỉ, học giả
Lokesh Chandra chỉ ra rằng thuật ngữ ‘avalokita’ đã xuất
hiện trong tập Bodhicaryàvatàra của Santideva. Theo giả thuyết
của nhiều học giả cuốn sách này được biên soạn vào
khoảng thế kỷ thứ bảy sau công nguyên. Trên nền tảng của
ba bộ tự điển khác nhau, gồm Trikàndásesa, Anekàrthasanraha,
và Medinì, Lokesh Chandra cũng đề cập đến nguồn gốc của
từ avalokita= avalokitesvara. Tác phẩm trên tiếp tục nói rằng
danh hiệu Avalokitesvara xuất hiện lần đầu tiên trong bản
kinh Sukhavàti-vyùha (A Di Ðà) bằng tiếng Sanskrit, và bản kinh
đó được ngài Sanghavarman dịch sang tiếng Trung Hoa vào năm
252 sau Công nguyên. Học giả này cho rằng danh hiệu Avalokitesvara
được cho là đã bị ảnh hưởng tín ngưỡng Siva=ísvara vào
các thời kỳ sau, và sự ảnh hưởng ấy biểu hiện mối
tương tác qua tín ngưỡng Saivism và việc phụng thờ Avalokitesvara.
Sau đó, bằng việc chấp nhận cách giải thích trích từ bài
báo của học giả N.D. Mironov xuất bản năm 1927, Lokesh Chandra
đã đi đến kết luận rằng danh hiệu đầu tiên bằng tiếng
Sanskrit là avalokita-svara. Theo ông ta, sau khi nghiên cứu đoạn
kinh văn viết bằng tiếng Sanskrit của bản kinh Saddharmapundarika
(Diệu Pháp Liên Hoa) thuộc thế kỷ thứ năm được tìm thấy
ở phía Ðông xứ Turkestan nhờ cuộc viễn chinh của Otani phát
hiện và đem về, học giả N.D. Mironov đã kết luận “vì
danh hiệu này xuất hiện năm lần trong một tờ kinh không
lành lặn, khả năng sai sót về việc biên chép là khó có
thể chấp nhận được... Người ta không thể nghi ngờ rằng
hình thức nguyên sơ của từ này là avalokitasvara, và về sau
được thay thế bởi avalokitesvara.”[8]
Một
cách gián tiếp, Har Dayal hình như đã có khuynh hướng đồng
ý với giả thuyết của bài báo trên khi ông ta tuyên bố rằng:
“Người ta có thể suy luận rằng người Trung Hoa nhận biết
hình thức avalokitasvara mà về sau đổi thành avalokitesvara bởi
vì sự nhằm lẫn giữa hai từ lokesvara và avalokitasvara”.[9]
Theo
nguyên cứu của chúng tôi, số lập luận trên xem ra không
mấy thuyết phục và không hợp lý lắm do vì một số lý
do sau đây. Trước hết, theo học giả N. Dutt[10], từ triều
đại vua Asoka (A Dục) cho đến vua chúa các đời sau đó, Phật
giáo và đạo Savism thực sự cùng hưng thịnh ở vùng Kasmir.
Vua chúa của những triều đại ấy đã xây dựng chùa miếu
cho cả thần Siva và Ðức Phật; đặc biệt khi Bồ Tát Avalokitesvara
và thần Tàrà cùng được thờ chung trên bàn thờ của Phật
giáo thì nhiều yếu tố siêu hình và thần thoại của thần
Siva và thần Durgà đã được chuyển tải vào trong triết
học Phật giáo. Nói khác đi, mối tương tác giữa hai tôn
giáo này tất nhiên phải xảy ra rất sớm như học giả Winternitz
đã chứng minh qua việc so sánh việc biên soạn bộ kinh Saddharmapundarika
(Diệu Pháp Liên Hoa), mà người ra tin là được sáng tác vào
khoảng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên[11]. Vì vậy, giả
thuyết được Lokesh Chandra đưa ra liên hệ đến luận cứ
“Ísvara=Siva” tạo ra hình thái “Avalokitesvara” hẳn trở
nên phi lý.
Tiếp
đến, một cách nào đó kết luận của N.D. Mironov về từ
“avalokita-svara” là từ nguyên thủy, hẳn cũng không rõ ràng
và cần phải xem xét lại. Do vì nếu chữ ‘avalokita-svasa’
được chép trong trang giấy không nguyên vẹn từ một số
mãnh đoạn của bộ kinh Saddharmapundarika trong thế kỷ thứ
năm sau công nguyên được giả định là hình thức nguyên
bản và chính xác, vậy thuật ngữ ấy hẳn đã trở nên phổ
biến trước thời kỳ đó, hoặc ít nhất chính ngay trong thế
kỷ thứ năm. Tuy nhiên sự việc không phải là như thế. Theo
học giả M.Winternitz, tín ngưỡng Avalokitesvara đã rất thịnh
hành trong thế kỷ thứ tư vì khi nhà chiêm bái học giả Pháp
Hiển (Fa-hien) đến Ấn Ðộ vào năm 399 sau Công nguyên, cầu
nguyện Bồ Tát Quan Thế Âm cứu giúp khi tàu thủy của ngài
đi từ Tích Lan (Ceylon) về Trung Hoa gặp cơn bão tố. Người
ta cũng giả định rằng Maurice Winternitz có thể đã xây dựng
quan điểm của ông trên một số dự kiện do ngài Pháp Hiển
để lại khi biên soạn câu chuyện trên. Như vậy, cách dùng
chữ ‘avalokitesvara’ của Maurice Winterniz, thay vì ‘avalokita-svara’,
hẳn cũng nhắm đến mục đích trên.[12] Thêm vào đó, theo
khẳng định của học giả người Nhật Bản R.Mano, tập kinh
Sukhàvati-vyùha (A Di Ðà), phiên dịch sang tiếng Trung Hoa lần
đầu tiên vào năm 253 sau Công nguyên, thật sự được biên
soạn vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên; và
từ ‘avalokitesvara’ mà không phải là từ ‘avalokita-svara’
được nói là xuất hiện trong bản kinh đó[13]. Nói cách khác,
hầu như rằng từ gốc của thuật ngữ quan trọng này phải
là Avalokitesvara.
Phiên
dịch của tiếng Trung Hoa về thuật ngữ ‘Avolokitesvara’
Phiên
dịch thuật ngữ ‘avalokitesvara’ sang ngôn ngữ Trung Hoa cũng
là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi. Theo học giả Lokesh Chandra,
sáu danh hiệu khác nhau về Avalokitesvara đã được tìm thấy
trong Văn học Phật Giáo Trung Hoa. Biên nên sử của sáu danh
hiệu bằng tiếng Trung Hoa với tiếng Sanskrit tương đương
trình bày như sau: (1) k’o-lou-hsuan = a-lo-sva? (2) K’uei-yin =
avalokita-svarara, (3) Kuan-shih-yin = avalokita-loka-svara, (4) Kuang-shih-yin
(không có từ Sanskrit tương đương, nhưng theo Lokesh Chandra,
từ này được ngài Dharmaraksa dịch từ bản kinh Saddharmapundarika;
do đó, hình thức Sanskrit của nó có thể giả định là Avalokitesvara),
(5) Kuan-yin = avalikita-yvara, và (6) Kuang-tzu-tsai = Avalokitesvara.
Theo
trình bày của giáo sư tiến sĩ Yu Chun Fang, đại học Liên
Hợp Rutgers, có năm danh hiệu bằng tiếng Trung Hoa của thuật
ngữ Avalokitesvara. Danh hiệu của Bồ Tát này xuất hiện theo
thứ tự biên sử như sau: (1) Kuan-yin, (2) Kuang-shih-yin, (3) Kuan-shih-yin,
(4) Kuan-shih-Tzu-Tsai, và (5) Kuan-Tzu-tsai.
Có
ba danh hiệu khác nhau về cách phiên dịch sang tiếng Trung Hoa
giữa hai dan sách vừa nêu trên cầu được xem xét trước
tiên. Ðó là: K’o-lou-yin, K’uei-yin, và Kuan-shih-Tzu-tsai. Chúng
ta nhận thấy từ ‘K’o-lou-yin’ xuất hiện trong kinh Sukhàvati-vyùha
(năm 147-186 A.D) có thể chỉ là sự chuyển ngữ lờ mờ hình
thức của từ Sanskrit “a-lo-sva” mà học giả Chandra đã
sưu tầm đâu đó. Bởi vì, từ ngữ này không những không
rõ ràng trong hình thức Sanskrit, mà ý nghĩa trong tiếng Trung
Hoa cũng không được giới học giả chấp nhận, và quần
chúng Phật tử không biết đến. Do vậy, vấn đề có vẻ
hợp lý ở đây là xem hình thức của từ ‘a-lo-sva’ như
là từ ngữ được biên tập lại không rõ ràng hoặc
có thể bị sai. Do vậy, nó được xem như vượt khỏi phạm
trù bình luận.
Theo
ý kiến của Lokesh Chandra, ‘K’uei-yin’[14] là danh hiệu được
áp dụng sớm nhất đối với Bồ Tát Avalokitesvara. (Quán Thế
Âm) cũng cần phải được bàn thảo lại. Lý do là vì, theo
biện luận sáu điểm đặt trên cơ sở trên bảng tóm tắt
về biên niên sử của bài nghiên cứu ấy, Lokesh Chandra đã
thừa nhận trong điểm thứ ba[15] rằng ông ta không có khả
năng biết chắc được sự áp dụng sớm nhất của từ ‘Kuan-yin’
là vào khoảng thời gian nào. Trong khi ấy, theo tác phẩm “Thần
Thánh trong Bắc Truyền Phật giáo”[16] và “Bách Khoa Phật
Giáo”[17] thuật ngữ ‘Kuan-yin’ được sử dụng vào khoảng
hai mươi lăm cuối của thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên.
Quan trọng hơn nữa, thuật ngữ ‘K’uei-yin’ là được học
giả Chih-ch’ien dịch từ kinh Vimalakirti-nerdesa (Duy Ma Cật),
và tiến trình biên soạn kinh này được cho xảy ra sớm nhất
là vào khoảng năm 200 hay 150 sau Công nguyên, tức khá muộn
nếu so với kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vì thế, lập luận trên
của Lokesk Chandra đã biểu lộ tính yếu kém của nó.
Liên
hệ đến danh hiệu “Kuan-shih-Tzu-Tsai” (Quán Thế Tự Tại),
vấn đề được Lokesh Chandra nêu ra có lẽ là hợp lý và
chấp nhận được. Bởi vì nghiên cứu ấy hẳn là đúng khi
ông ta nói rằng hình thái “Kan-shih-Tzai-Tsai”, trích từ tác
phẩm “Tây Du Ký” của Huyền Trang theo nghĩa đen có thể
biểu hiện cho từ ngữ “Avalokitesvara” (Quán Thế Âm) cũng
được chứng thực ở những chỗ khác trong Sanskrit; nhưng
danh xưng Trung Hoa này không thể được dùng để thay thế
một cách chắc chắn cho nhóm từ Avalokita-lokesvara. Tuy nhiên,
theo thiển kiến của tác giả, hầu như nhóm từ “Kuan-Shih-Tzu-Tsai”
(Quán Thế Tự Tại) có lẽ là một trong vô số danh hiệu
có ý nghĩa của Bồ Tát này, nhưng bị hai học giả Stael-Holstein
và Yu-chang-fang hiểu nhầm là sự phiên dịch của thuật ngữ
“Avalokitesvara”.
Bây
giờ chúng ta tiếp tục quan sát bốn danh xưng “Kuan-Tzu-Tsai”.
Liên hệ đến danh hiệu “Kuang-shih-yin” (Quán Thế Âm), bất
đồng với lập luận của Lokesk, Chandra, học giả Yu-chang
Fang[18] có ý kiến rằng “Kuang-shih-yin” là sự phiên dịch
từ thuật ngữ “Avalokitesvara” (Với ý nghĩa người chiếu
sáng hay giảng giải âm thanh của cuộc đời) của Dharmaraksa
từ phẩm “Phổ Môn”, phẩm thứ hai mươi ba, của Chánh
Pháp Hoa Kinh. Mặc dù việc tranh cãi về nhóm từ trên cho đến
nay vẫn còn tiếp diễn, dường như hiếm khi thấy danh xưng
“Kuang-shih-yin” xuất hiện trong văn học Phật giáo. Bên
cạnh ấy, giới tín đồ bình dân của Bồ Tát Quán Thế Âm
cũng không biết đến tên gọi này.
Về
phần danh xưng “Kuang-Tzu-Tsai” (Quán Thế Âm), người ta cần
phải lưu ý đến sự kiện rằng danh hiệu này chỉ được
các học giả và luận sư thuộc trường phái Hoa Nghiêm (Avatamsaka)
và Bát Nhã Ba La Mật (Prajnà-pàramità) sử dụng, mà không
phổ cập trong giới học giả nghiên cứu kinh Sukhàvati-vyùha
(A Di Ðà) và Saddharmapundarika (Diệu Pháp Liên Hoa). Ðiều ấy
có nghĩa rằng cách sử dụng danh hiệu “Kuan-tzu-tsai” có
thể là thiên hướng của hai trường phái vừa đề cập ở
trên. Giáo sư Yu Chang Fang dường như đã nhất trí với nhận
định trên khi ông đề cập rằng ngài Kumarajìva (Cưu Ma La
Thập), người nghiên dịch bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ
tiếng Sanskrit sang ngôn ngữ Trung Hoa vào năm 406 sau Công Nguyên,
đã biết rằng Bồ Tát này cũng được gọi là “Quán Tự
Tại” (Kuan-Tzu-Tsai), nhưng ngài đã dùng danh hiệu khác trong
bản phiên dịch của mình[19]. Nói khác đi, cách sử dụng
từ ngữ ‘Kuan-tzu-tsai’ (Quán Tự Tại) có thể phổ cập
trong lãnh vực của giới học giả, nhưng không lưu hành giữa
quần chúng bình dân.
Cuối
cùng, hai danh hiệu “Kuan-yin” (Quán Âm) và “Kuan-shih-yin”
(Quán Thế Âm) rõ ràng không những nổi tiếng và lưu hành
trong lãnh vực tín ngưỡng tôn giáo, mà cũng phổ cập giữa
giới nghiên cứu. Danh xưng “Kuan-yin” (Quán Âm) thường được
cả hai giới người này xem là cách viết tắt hay ngắn gọn
của tên gọi “Kuan-shih-yin” (Quán Thế Âm), được dịch
từ chữ Sanskrit “Avalokitesvara”. Trong thực tế, người ta
không có nhiều nghi ngờ về cách phiên dịch chính xác này
của tiếng Trung Hoa từ thuật ngữ “Avalokitesvara” giữa
tín đồ Phật giáo Châu Á.
Vấn
đề giới tính của Bồ Tát Avalokitesvara
Cho
đến nay có lẽ không hề có bất cứ nghi ngờ nào về giới
tính của Bồ Tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) trong giới Phật
giáo Ấn Ðộ. Ðối với cái tâm siêu hình của người Ấn
Ðộ thì Bồ Tát này tự nhiên phải thuộc nam giới (tính)
như tất cả mọi thần thánh quan trọng khác. Người ta không
dễ dàng gì tìm ra một dự kiện trong lịch sử Avalokitesvara
của Ấn Ðộ nêu lên vấn nạn rằng không biết vị Bồ Tát
ấy thuộc nam giới hay nữ giới! Trong nghệ thuật và văn
học Ấn Ðộ, tất cả hình ảnh và trang tượng về Bồ Tát
Quán Thế Âm đều được miêu tả và diễn đạt trong tư
thế và hình thái của nam giới. Khuynh hướng đó có thể
được cho là bị ảnh hưởng triết học thần thoại của
đạo Hindu, nơi mà mọi thần thánh quan trọng nhất dường
như luôn thuộc về nam giới, còn phụ nữ chỉ luôn đóng
vai trò Tàrà hay vợ con của họ. Quả thật, suốt lịch sử
truyền thống lâu đời, sự kiện Bà La Môn (tiền thân của
Hindu) bằng mọi cách không cho phép phụ nữ gia nhập đời
sống tôn giáo, tâm linh để trở thành tu sĩ có lẽ cũng hỗ
trợ cho quan điểm như thế. Từ đây, nếu có ý kiến cho
rằng sự biến đổi giới tính của Bồ Tát Avalokitesvara từ
nam sang nữ đã từng xảy ra trong Ấn Ðộ được xem là không
có cơ sở. Ngược lại, ngang qua tư duy thực tế của người
Trung Hoa, giới tính của vị Bồ Tát này dần dần bị chuyển
đổi sau khoảng 500 năm khi mà tín ngưỡng thờ cúng Quán Thế
Âm đã thật sự bắt rễ chắc chắn ở mảnh đất Trung Hoa.
Theo
ý kiến của học giả Edkins[20], người Trung Hoa thờ phụng
đức “Kuan yin” (Quán Thế Âm) sớm nhất có lẽ là vào
triều đại nhà Hán (25-220 sau Công nguyên). Nhưng theo nghiên
cứu của Alice Getty[21], việc thờ phụng Avalokitesvara được
truyền bá vào Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ nhất sau Công
nguyên, và lúc ấy Ngài được gọi là “Kuan-yin” (Quán Âm).
Cũng liên quan đến vấn đề trên, bộ Bách Khoa Phật giáo
có cùng quan điểm khi chỉ ra rằng khởi nguyên của việc
thờ phụng Quán Thế Âm có lẽ vào phần cuối của thế kỷ
thứ nhất sau Công nguyên. Tuy nhiên, điều quan trọng cần
phải lưu ý ở đây là, cả ba quan điểm có lập trường
giống nhau về thời điểm tín ngưỡng Quán Thế Âm du nhập
vào Trung Hoa đều chủ trương rằng, ban đầu Bồ Tát Quán
Thế Âm được tin là nam giới, và tiến trình nữ tính hóa
và Bồ Tát này có lẽ đã xảy ra trong khoảng thời gian dài
sau đó. Nhưng lý do tại sao, bằng cách nào, và khi nào sự
phát triển ấy xảy ra vẫn còn là một chủ đề đang được
giới học giả, nghiên cứu tranh cãi sôi nổi.
Một
trong những giả thuyết về thời gian có liên hệ đến vấn
đề giới tính cần được xem xét là ý kiến của Edkins[22]
và Daisy Lion-Goldchmidt[23]. Theo kết quả nghiên cứu của hai
học giả trên, tiến trình nữ tính hóa của Bồ Tát Avalokitesvara
đã xảy ra vào khoảng thế kỷ mười hai sau Công nguyên. Nhưng
trong thực tế, quan điểm ấy chỉ phản ảnh giai đoạn cuối
cùng của tiến trình chuyển đổi giới tính khi Bồ Tát Quán
Thế Âm được tin tưởng hoàn toàn rằng Ngài là “Nữ Bồ
Tát”.
Theo
Kenneth K.S. Ch’en[24], sau khi nghiên cứu con dấu (ấn) được
xác định vào thế kỷ thứ sáu sau Công nguyên, Eduard Erkes
đã xác nhận nội dung của con dấu ấy bao hàm hình ảnh một
nữ thần. Tuy nhiên, ông ta cũng thừa nhận sự phát hiện
ấy không hoàn toàn chắc chắn. Nghiên cứu trên tiếp tục
đưa ra ý kiến rằng việc chuyển đổi giới tính của Bồ
Tát Avalokitesvara có thể xảy đến do bởi ảnh hưởng của
Mật Tông Phật giáo, thịnh hành ở Trung Hoa trong khoảng thế
kỷ thứ tám sau Công nguyên. Ý kiến đó không những được
hỗ trợ qua nghệ thuật triều đại nhà Ðường, trưng bày
các tranh ảnh về một nữ thần có tên gọi là Bạch Y Quan
Âm[25], mà cũng tìm được sự nhất trí giữa giới học giả.
Tuy nhiên, người ta có thể giả định rằng kết quả ấy
cũng chỉ phản ánh được giai đoạn giữa của tiến trình
nữ tính hóa Bồ Tát Quán Thế Âm khi hầu như mọi tranh ảnh,
hội họa về Bồ Tát này được tìm thấy một cách rõ ràng
trong hình tượng thần nữ.
Trong
bài báo được công bố vào năm 1997, Yu Chun Fang nói rằng
quá trình chuyển đổi giới tính của Bồ Tát Quán Thế Âm
có lẽ xảy ra sớm nhất là vào thế kỷ thứ năm sau Công
nguyên trong thời đại Nam Bắc Triều, như học giả C.N Tay
đã giải thích trong Pháp Uyển Châu Lam (Fa Yuan Chu lin bộ Bách
Khoa Phật Học được biên soạn vào 668AD). Bài báo viết rằng,
vào giai đoạn đầu của Năm Triều Ðại, vào khoảng thế
kỷ thứ mười sau Công nguyên, ngài Quán Âm (Kuan Yin) càng
ngày càng chuyển đổi sang hình thái phụ nữ; rồi vào triều
đại nhà Minh, vị Bồ Tát này đã biến thành ‘Vị Nữ Thần
Từ Mẫn’[26]. Trong cùng cách lập luận, tập “Nguồn Gốc
Thánh Thần ở Trung Hoa” đã ghi lại rằng trong thời đại
Nam Bắc Triều (420-589 AD), Quán Âm (Guanyin) một vài khi được
diễn đạt trong hình thức nam giới, một vài khi nữ giới.
Nhưng bắt đầu từ đời Ðường, hình tượng của Bồ Tát
Quán Thế Âm được minh họa trong hình tướng nữ giới. Tác
phẩm trên cũng đề cập một sự kiện quan trọng, được
ghi lại trong bộ “Lịch Sử Triều Ðại Bắc Tùy” do nhà
sử học Li Baiyao biên tập vào lúc đầu của nhà Ðường.
Ðó là hoàng đế Wu-cheng (561-564AD) của triều đại Bắc Tùy
(550-577AD) một lần nằm mộng thấy đức Quán Thế Âm (Guanshiyin)
trong hình ảnh phụ nữ tuyệt đẹp. Không ai có thể biết
được nhà vua có giấc mộng như thế hay không, nhưng một
điều có thể khẳng định chắc chắn là, qua tranh ảnh và
hình tượng do các họa sĩ dân gian của thời đại Nam Bắc
Triều vẽ họa, Quán Thế Âm (Guanshiyin) được miêu tả là
nữ Bồ Tát.[27]
Hai
lý thuyết sau cùng về thời gian nối kết với việc thay đổi
giới tính của Bồ Tát Quán Thế Âm có thể xem là hợp lý
và chấp nhận được; đặc biệt khi chúng được xem xét
qua tiến trình thẩm nhập của Phật giáo trong lịch sử Phật
giáo Trung Hoa. Như mọi người đã biết, ngay từ thời điểm
du nhập, Phật giáo thật sự hấp dẫn quần chúng bản địa;
nhân dân Trung Hoa hoàn toàn bị lôi cuốn bởi loại tín ngưỡng
mới này. Do thế, Trung Hoa, một trong ba nền văn minh vĩ đại
nhất của nhân loại, đã chấp nhận tôn giáo ngoại nhập
nhưng với khuynh hướng riêng của nó. Quá trình Trung Quốc
hóa Phật giáo do người Trung Hoa chủ trương được tiến
hành từng bước và sản phẩm về mười tông phái Phật giáo
cũng như nhiều loại kinh điển ngụy tác được biên
soạn ở Trung Hoa hẳn phải được xem như là những bằng
chứng cho khuynh hướng đó. Tiến trình bản địa hóa Phật
giáo được giả định là vận hành ngay từ lúc Phật giáo
mới du nhập vào mảnh đất Trung Hoa, do sự phản ứng của
một số tôn giáo bản địa truyền thống, tức đạo Lão
(Taoism) và đạo Khổng (Confucianism). Giải thích theo cách khác,
cuộc cách mạnh giới tính về Bồ Tát Quán Thế Âm ở Trung
Hoa không phải tự nhiên được tạo ra, mà đặt cơ sở trên
những chủ đề có ý nghĩa cho việc tồn tại và phát triển
của nó nhằm phù hợp với bối cảnh xã hội và chính trị
của Trung Hoa. Tiến trình cách mạng đó được thấy là trải
qua ba giai đoạn phát triển chú yếu.
Người
ta có thể không ngần ngại để phát biểu rằng, trước hết
chuyển động Trung Quốc hóa tín ngưỡng Quán Thế Âm là yếu
tố quan trọng nhất trong quá trình thích nghi việc thực hành
giáo lý Bồ Tát ở Trung Hoa. Ở trong các hang động Long Môn
(Lung men) và Vân Cương (Ying kang), chúng ta có thể tìm thấy
hình tượng đức Phật Sakyàmuni (Thích Ca Mâu Ni), các vị
Bồ Tát được tạc và điêu khắc trong hình tướng nam giới
vào thời kỳ ban sơ, tức vào khoảng thế kỷ thứ tư và
thứ năm sau Công nguyên, và loạt tranh tượng điêu khắc đó
mang đặc tính bản địa. Quả thật, những tuyệt tác nghệ
thuật Trung Hoa ấy là chứng cứ hùng hồn về sự việc tự
chỉnh lý đối với sự ảnh hưởng lâu ngày của giả định
rằng từ động lực như thế mà sự biến đổi giới tính
của Bồ Tát Quán Thế Âm có lẽ đã xảy ra trong giai đoạn
này.
Thứ
đến, có lẽ không có gì sai lầm khi chúng ta nói rằng khuynh
hướng tư tưởng mới liên hệ đến quyền phụ nữ đối
với việc cải đạo (thay đổi niềm tin tôn giáo) và quyền
đi tu để gia nhập đời sống xuất gia đã ra đời và phát
triển sau khi Phật giáo bắt rễ vững chắc ở đại lục
Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ năm sau Công nguyên. Thật
ra, đây là yếu tố quan trọng và rất có ý nghĩa trong việc
góp phần nữ tính hóa Quán Thế Âm ở Trung Hoa, được cho
là xảy ra rất sớm, vào khoảng hai mươi lăm năm cuối của
thế kỷ thứ sáu sau Công nguyên. Theo nghiên cứu của học
giả Chen Manchao[28], trong thời đại Nam Bắc Triều (420-589AD),
số lượng người nữ đi tu và tín đồ nữ cãi đạo theo
Phật giáo gia tăng ào ạt. Theo dòng thời gian, đối với nữ
tín đồ Phật giáo ở Trung Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm (Kuan-shih-yin)
hay Vị Cứu Thế Ðại Từ Bi, hay Nữ Thần Từ Mẫn, đã thật
sự không còn là vị thần Ấn Ðộ, mà đã hoàn toàn trở
thành một phụ nữ Trung Quốc tuyệt đẹp và rất tao nhã.
Vai
trò tích cực và năng động của phụ nữ Trung Quốc vào thời
điểm đó trở nên rất rõ ràng khi sự chú tâm được đặt
vào triều đại của hoàng đế Hiếu Văn (Hsiao-wen 494 AD).
Văn học đương đại Trung Quốc ghi lại rằng chùa Dao Quang
(Yao-Kuang) được hoàng đế Hiếu Vũ (Hsiao-Wu) xây dựng là
nữ tu viện, đặc biệt dành cho phụ nữ của các gia đình
thuộc hoàng đế, và quý tộc sinh hoạt và tu tập, nếu họ
mong muốn trở thành được minh chứng là mạnh mẽ và có
hiệu quả hơn khi quyền lực của chính quyền rơi hoàn toàn
vào tay của nữ hoàng đế Ling trong năm 515 sau Công nguyên
sau cái chết của hoàng đế Hiếu Vũ (Hsiao-Wu). Nữ hoàng quả
phụ Ling là một phụ nữ phi thường, và là một tín đồ
thuần thành của Phật giáo. Bà cống hiến rất nhiều công
lực và tài lực cho Phật giáo, đặc biệt trong lãnh vực
xây dựng chùa chiền và khắc tạc tranh tượng. Chùa Vĩnh
Ninh (Yung-ning), một kiến trúc nguy nga, lộng lẫy nhất của
Phật giáo lở Lạc Dương (Lo-yang) với bảy tầng chánh điện,
cao hơn ba trăm bộ (feet) Anh, lồng lộng giữa trời cao, là
được nữa hoàng đế Ling tạo dựng nên.[29] Thêm vào đó,
theo học giải Nhật Bản, Tsukamoto Zenryù, chỉ trong khoảng
thời gian ngắn từ 510 đến 530 sau Công nguyên đã có đến
182 tượng Phật và Bồ Tát bằng đá (chỉ vài tượng xây
dựng, điêu khắc và chạm trổ trong hang động Vân Cương
(Yung-kang). Nhưng thật không may mắn, Tsukamoto Zenryù đã không
cung cấp hình ảnh cụ thể về số tượng đã được tạc
ấy cho chúng ta.[30] Tuy nhiên, trên cơ sở của chứng cứ lịch
sử, người ta có thể đồng ý rằng giả thuyết của C.N.
Tay và Eduard Erkes quả thật rất thuyết phục và đáng tin
tưởng. Hơn thế nữa, chúng ta có thể phát biểu một cách
tự tin rằng chính cuộc cách mạng của phụ nữ đã thực
sự mở đường cho việc thờ phụng và tiến trình nữ tính
hóa mạnh mẽ về Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara) trở
nên rõ ràng, cụ thể và phổ cập hơn; đặc biệt vào thời
điểm khi nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên (Wu-tse-t’ien), thị
hiện vào thế giới này, thực sự kế tục chính quyền của
triều đại nhà Ðường trong năm 638 sau Công nguyên. Mười
bốn pho tượng Quán Thế Âm (Kuan-shih-yin), niên đại từ 510
đến 530 AD, trong hang động Vân Cương (Yun-kang) và Long Môn
(Lung-men), đã gia tăng lên đến năm mươi hai tượng từ năm
540-690 có thể xem như là những bằng chứng xác đáng cho quan
điểm vừa nêu ở trên. Hiển nhiên rằng, chính xuyên qua tinh
thần bình đẳng của giáo lý Phật giáo trong lãnh vực xã
hội và tôn giáo về nam giới và nữ giới mà các chuyển
động về vai trò cách mạng của phụ nữ trở nên hiện thực.
Nói khác đi, khuynh hướng đó có thể là sự phản ánh khát
vọng thầm kín và sâu xa của phụ nữ trong đời sống thường
nhật của họ, và đã mở ra một lối tư duy mới về phụ
nữ trong xã hội Trung Hoa!
Một
điều cần nêu rõ ở đây là giáo lý Mật tông (Mật thừa),
thịnh hành ở Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ tám sau Công
nguyên, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi
giới tính của vị Bồ Tát này. Tuy thế, người ta cần phải
lưu ý rằng thật sự có một điểm khác biệt giữa Phật
giáo Mật Tông (Tantric Buddhism) và Phật giáo Phát Triển hay
Bắc Truyền (Mahàyàna) trong quá trình thích nghi, hấp thụ
các yếu tố mật giáo để đáp ứng nhu cầu của quần chúng
đương thời nhằm hội nhập với xã hội. Nói cụ thể hơn,
Phật giáo Mật Tông đã vay mượn quá nhiều quan điểm thần
thoại của đạo Hindu, ví dụ như thần chú, bùa phép, thờ
phụng thần thánh, v.v..., và số yếu tố vay mượn ấy, theo
học giả Edward Conze[31] và Sir Charles Eliot[32], đã khiến cho
Phật giáo trở nên quá khó hiểu. Theo ý kiến hai học giả
này, chúng chính là nguyên nhân chủ chốt không chỉ đóng
góp vào việc làm suy tàn Phật giáo ở Ấn Ðộ, mà dòng nước
suy thoái bắt nguồn từ những yếu tố trên cũng thổi bay
Phật giáo trong một số quốc gia như Malaysia, Indonisa..., nơi
mà Phật giáo, trước thời kỳ đạo Hindu du nhập, đã là
tôn giáo chính thống. Trong khi ấy, Phật giáo Phát Triển ở
Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v... cũng hấp thụ
các đặc tính của Mật giáo để thỏa mãn nhu cầu sâu xa
và bức thiết của quần chúng, nhưng với phương các khéo
léo (phương tiện thiện xảo). Nghĩa là, trong Phật giáo Phát
Triển hay Bắc Truyền (Mahàyàna) không thể có khái niệm vợ
chồng trong mối liên hệ với Phật và Bồ Tát như trong trường
hợp của Phật giáo Mật Tông (Tantric Buddhhism). Nói cách khác,
người ta có thể nói rằng vấn đề chồng hay vợ (consorts)
chỉ có thể nối kết với khái niệm thần, thánh, chư thiên,
vì lớp người đó vẫn còn bị sanh tử luân hồi, mà không
hề liên quan đến chư Phật và Bồ Tát, những nhân cách đã
hoàn toàn chứng ngộ. Vậy có vai trò nào của Phật giáo Mật
Tông trong quá trình chuyển đổi giới tính của Bồ Tát Avalokitesvara
chăng? Câu trả lời có thể được gợi ý như vầy: Sau tiến
trình phụ nữ hóa hoàn toàn vị Bồ Tát này, giáo lý Mật
Tông cũng đã đóng góp một số đặc tính thần thọai, đưa
đến việc thánh hóa đức Quán Thế Âm trở thành một đối
tượng tín ngưỡng tôn giáo thật sự ở Trung Hoa, sau đó
truyền bá sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, v.v... Các
yếu tố Mật Tông ấy được thấy trong các lãnh vực tín
ngưỡng, văn học, và nghệ thuật ngang qua các câu chuyện,
hình tượng, tranh ảnh về Bồ Tát Quán Thế Âm với mười
một đầu, ngàn tay, ngàn mắt, v.v... Giả thuyết như thế
được đưa ra ở đây bởi vì, theo giáo sư Janjirò Takakusu[33],
“Mật Tông hay Ðại Thừa” chỉ bắt đầu hoạt động ở
Trung Hoa trong thời kỳ của triều đại nhà Ðường (T’ang
713-765AD) sau khi ba vị đạo sư lỗi lạc của Mật Giáo từ
Ấn Ðộ đến Trung Quốc. Ðiều ấy có nghĩa rằng bước
chuyển biến ấy xảy ra tương đối khá trể nếu so với
giả thuyết của chúng ta; đó là tiến trình phụ nữ hóa
Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara) khởi sự từ thế kỷ
thứ năm hoặc thứ sáu sau Công nguyên. Tuy thế, ảnh hưởng
của Mật Tông trong việc thực hành tín ngưỡng Bồ Tát này
là rất sâu đậm và rộng rãi và hẳn sẽ là một thiếu
sót lớn nếu như chúng ta không thừa nhận vai trò của nó
như là bước chuyển biến thứ ba hướng đến sự hoàn thành
trọn vẹn hình ảnh nữ nhi của Bồ Tát Quán Thế Âm.
[1]
G.P. Malalasekera, Encyclopedia of Buddhism, Vol. II, Ceylon, 1996, tr.407.
[2]
Mircea Eliade, The Encyclopedia of Religion, Vol. II, Collier Macmillan
Publishers, New York, 1987, tr.11.
[3]
Har Dayal, The Boddhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature, Motilal
Banarsidass, Delhi, 1975, tr.47.
[4]
Kenneth K.S.Ch’en, Buddhism in China, Princeton University Press, New
Jersey, USA, 1964, tr.346.
[5]
Michael H. Kohn (tr.) The Shambhala Dictionary of Buddhism and Zen, Shambhala
Pubication Inc., Boston, USA, tr.14
[6]
Sir Charles Eliot, Hinduism and Buddhism, Vol. II, Routledge & Kegan
Paul, LTD, London, 1971, tr.13
[7]
Edwars J. Thomas, The History of Buddhist Thought, Routledge & Kean,
Paul, LTD, London, 1959, tr.189.
[8]
Xem “Lokesh Chandra, The Thousand Armed Avalokitesvara, tr.19; xem thêm
bài viết “Yu Chun Fang, Ambiguity of Avalokitesvara and the Scriptural
Sources for the Cult of Kuan-yin in China”, Chung Hwa Buddhist Journal,
No. 10, (1997), tr. 422.
[9]
Xem “Har Dayal, The Bodhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature,”
tr.48.
[10]
Nalikaksha Dutt, Mahàyàna Buddhism, Motilal Banarsidass, Delhi,
1978, tr.14-15.
[11]
Xem “Winternitz, History of Indian Literature, tr.291-292.
[12]
Xem “M. Winternitz, History of Indian Literature”, tr.291-292.
[13]
Sđd. tr. 293-294.
[14]
Xem “Lokessh Chandra, The Thousand –Armes Avalokitesvara”, tr.22.
[15]
Sđd. tr.22-23.
[16]
Alice Getty, The Gods of Northen Buddhism, Charles E. Tuttle Company, Japan,
1962, tr.58.
[17]
G.P. Malalasekera, The Encyclopedia of Buddhism, Vol. II, The Government
Press, Ceylon, 1966. tr.411.
[18]
Yu Chun Fang, The Ambiguity of Avalokitesvara and the Scriptural Sources
for the Cult of Kuan-yin in China, Chung Hwa Buddhist Journal, No.10, 1997.
[19]
Yu Chun Fang, The Ambiguity of Avalokitesvara and the Scriptural Sources
for the Cult of Kuan-yin in China, Chung Hwa Buddhist Journal, No.10, 1997,
tr.416.
[20]
Xem G.P. Malalasekera, Encyclopedia of Buddhism, Vol. II, tr.412.
[21]
Alice Getty, The Gods of Northern Buddhism, Charles E. Tuttle Company,
Tokyo Janpan, 1962, tr.58.
[22]
Xem “G.P. Malalasekera, Enclyclopedia of Buddhism” Vol. II, tr.412.
[23]
Daisy Lion Goldschmidt, Chinese Art, Rizzolo International Publicatins,
INC, New York, 1980, tr.144-145
[24]
Xem Kenneth K.S. Ch’en, The Chinese Transanssformation of Buddhism”,
Princetion University Press, New Jersey, USA, 1973, tr.7.
[25]
Xem Kenneth K.S. Ch’en, The Chinese Transanssformation of Buddhism”,
Princetion University Press, New Jersey, USA, 1973, tr.7.
[26]
Xem “Yu Chan Fang, Ambiguity of Avalokitesvara and the Scrupture Sources
for the Cult of Kuan-yin, Chung Hwa Buddhist Journal, No.10, 1997, tr.422.
[27]
Xem cuốn Cheng Manchao, The Origin of Chinese Deities, (tr.) Chen Dezhen,
Ang Zhinyun, Feng Huaxiu, tr. 3-4.
[28]
Chen Mangchao, The Origin of Chinese Deities, Foreign Languages Press,
Being, 1995, tr.4.
[29]
Xem “Keenneth K.S. Ch’en, Buddhism in China”, tr. 161.
[30]
S đd. tr.172.
[31]
Xem “Edward Conze, A Short History of Buddhism”.
[32]
Xem “Sir C. Eliot, Hinduism and Buddhism, Vol. II, Routledge & Kegan
LTD, London, 1971.
[33]
Janjirò Takakusu, The Essential of Buddhist Philosophy, Oriental Books
Reprint Corporation, New Delhi, 1975, tr.150.