Chương
hai
Khái Niệm
Bồ Tát
Khái
Niệm Bồ Tát Qua Kinh Tạng Nikàya
Ðịnh
nghĩa thuật ngữ Bồ-tát (Pàli: Bodhisatta-Sanskri: Bodhisattva)
Nói
chúng, như người ta thường hiểu, thuật ngữ “Bodhisattva)
(Bồ-tát) có hai phần cấu thành; đó là Bodhi và Satta hay Sattva.
Có rất ít bất đồng ý kiến trong giới học giả về
từ “Bodhi” với ý nghĩa là “sự chứng ngộ hay giác ngộ”,
nhưng lại quá nhiều tranh cãi liên quan đến ý nghĩa và sự
ứng dụng của từ “satta hay sattva” trong phạm trù liên
hệ.
Bộ
Bách Khoa Tôn giáo nói rằng, “theo từ nguyên học, Bodhisattva
(Bồ-tát) là thuật ngữ được ghép thành từ chữ Bodhi, với
ý nghĩa là “sự giác ngộ hay chứng ngộ [của một vị Phật],
và sattva, có nghĩa là “chúng sinh”. Như thế, Bodhisattva đề
cập đến hoặc một người đang mưu cầu giác ngộ (Bodhi)
hoặc “một chúng sinh giác ngộ (Bodhi being), nghĩa là chúng
sinh ấy chắc chắn sẽ chứng đắc quả vị Phật. Sự giải
thích khác về nó như “một chúng sanh mà tâm của người
ấy đã trở nên vững chắc ở sự giác ngộ, cũng được
truyền thống công nhận”.[1]
Trong
khi ấy, Bộ Bách Khoa Phật giáo định nghĩa từ ngữ này như
sau: “Bodhisattva (Pàli: Bodhisatta) là một chúng sinh thiết tha
đối với sự giác ngộ (Bodhi). Theo tử nguyên, thuật ngữ
này có thể tách biệt thành hai phần, đó là Bodhi và sattva.
Bodhi, có gốc từ chử Budh, tức tỉnh ngộ, nghĩa là “sự
tỉnh ngộ” hay “giác ngộ”, và sattva, bắt nguồn từ saint,
hiện tại phân từ của nó với ý nghĩa là “sự hiện hữu”
hay sự tồn tại (to be or being); hay theo nghĩa đen, “sattva
là một chúng sinh”. Do vậy, từ ngữ này mang ý nghĩa là
“một chúng sinh có bản chất là giác ngộ, hoặc một vị
Phật tương lai. Cũng có sự gợi ý rằng thuật ngữ satta
của Pàli có thể bắt nguồn từ Bodhi và satta (Sanskrit Sakta
có gốc từ Sanj), nghĩa là “một người gắn bó hay khao khát
để đạt đến sự giác ngộ”.[2]
Trong
một nghiên cứu tỉ mỉ về giáo lý Bồ-tát, sau khi nêu lên
một số định nghĩa về thuật ngữ “sattva” từ một số
tự điển và giải thích của các học giả, giáo sư Har Dayal
đi đến kết luận rằng “sattva (giống đực) có thể mang
ý nghĩa là chúng sinh hay hữu tình (Skt. Dicy. M. W). Từ Pàli
“satta” có thể có nghĩa là chúng sinh, hay sinh vật, hữu
tình, hay con người (Pàli, Dicy. S.v). Hầu hết các học giả
chấp nhận sự giải thích này”.[3]
Har
Dayal tiếp tục phát biểu rằng “Người ta có cảm giác thuyết
phục khi tin rằng từ Pàli “satta” thực sự có thể biển
hiện cho từ Sakta của Sanskrit, vì giải thích trên dường
như định ra phẩm chất chính của con người thiết tha với
sự giác ngộ. Nhưng cách an toàn nhất cho một học giả nghiên
cứu đối với vấn đề này là phải quay về với ngôn ngữ
Pàli mà không quá gắn chặt tầm quan trọng với các nhà từ
điển học và triết gia đời sau. Như vậy, từ Bodhisatta trong
kinh điển Pàli dường như có nghĩa là “một chúng sinh giác
ngộ” (Bodhi-being). Tuy thế, satta ở đây không hàm nghĩa là
một hữu tình bình thường, và hầu như từ ngữ ấy liên
hệ chắc chắn với từ của Vedic “Krieger”, có nghĩa là
“một người mãnh mẽ hay dũng cảm, tức anh hùng hay chiến
sĩ”. Trong cách này, chúng ta cũng có thể hiểu được thuật
ngữ “dpah” của tiếng Tây Tạng vốn cùng có ý nghĩa như
thế. Satta trong Pàli nên phải được giải thích là “một
người anh hùng, hay một chiến sĩ tâm linh”. Từ này gợi
lên hai ý tưởng: sự hiện hữu và chiến đấu, mà không
chỉ đơn thuần là ý niệm về sự hiện hữu đơn nhất”.[4]
Trên
cơ sở của một vài ý kiến vừa đề cập ở trên, người
ta có thể phát biểu rằng thuật ngữ Bodhisatta (Bồ-tát) có
nghĩa là một chúng sinh tha thiết đạt được sự giác ngộ.
Tuy nhiên, trong chừng mực mà thông số của tác phẩm này
có liên hệ, sự nhấn mạnh cần phải cọng thêm vào đây
là: tác giả quan niệm tất cả con người bình thường là
anh hùng, chiến sĩ, với sức mạnh tâm linh, tiềm tàng như
Ðức Phật Gotama trước ngày chứng ngộ, và những con người
bình thường này có khả năng để loại trừ mọi ác nghiệp
và khổ đau của họ, và cũng sẽ đạt được giải thoát
tối hậu như Ðức Thế Tôn đã làm, nếu người ta nỗ lực
tối đa thực hành theo con đường mà Như Lai đã khám phá
và giảng dạy.
Ý
Nghĩa Thần Thánh Và Bồ-Tát Trong Phật Giáo Nguyên Thủy
Trước
khi đi vào nghiên cứu chủ đề Bồ-tát, việc quan trọng trước
tiên đối với chúng tôi là phải hiểu rõ và phân biệt rõ
một số nét đặc thù khác nhau giữa ý nghĩa Bồ-tát và các
loại hình thánh thần. Một sự kiện không thể tranh cãi là
bối cảnh tôn giáo Ấn Ðộ thời tiền Phật giáo là một
thế giới quan đầy ngập các loại nam và nữ thần. Tất
nhiên, Phật giáo cũng chấp nhận sự hiện hữu của các loại
thần thánh đó, vì các bằng chứng rõ ràng về họ đã hiện
hữu trong cả kinh điển Pàli của Phật giáo Nam Truyền, và
văn điển Sanskrit lẫn Trung Hoa của Phật Giáo Bắc Truyền.
Tuy nhiên, trong Phật giáo, vị trí của thánh thần quả thật
không quan trọng như hầu hết các tôn giáo khác, bởi vì đạo
Phật chủ trương rằng tất cả thần và thánh ấy cũng chỉ
là chúng sinh với phẩm loại phước đức khác nhau. Mặc dù
nhờ vào những thiện nghiệp trong đời sống quá khứ, các
thần thánh ấy thắng vượt loài người trong lãnh vực uy
quyền và điều kiện sống, nhưng họ thật sự chưa tự giải
thoát mình ra khỏi quy luật vô thường, vì vậy họ cũng bị
luân hồi chi phối, cũng sẽ bị sinh già, bệnh, chế. Lời
dạy sau đây của Ðức Phật sẽ minh họa cho lý luận trên:
“Thuở
xưa, này các Tỳ kheo, Thiên chủ Sakka đang thuyết giảng cho
chư Thiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba, trong khi ấy nói lên
bài kệ như sau: Ngày mười bốn, ngày rằm,… Vị ấy giống
như Ta.
…
Bài kệ ấy, này các Tỳ kheo, đã bị Thiên chủ Sakka hát
sai, …, Vì cớ sao? Thiên chủ Sakka, này các Tỳ kheo, chưa
ly tham, chưa ly sân, chưa ly si… Ta nói rằng Thiên chủa Sakka,
này các Tỳ kheo, chưa giải thoát sanh, già, bệnh chết, sầu,
bi, khổ ưu, não…”[5]
Trong
kinh Bộ Tương Ưng, vị vua trời tên Sakka, chú tể của chư
thiên, đã tự giải thích rằng bất cứ vị thiên nào quy
y Ðức Thế Tôn và thực hành lời dạy của Ngài thì sẽ
sáng chói hơn các vị thiên khác. Ðây cũng là nội dung chính
của câu chuyện dưới đây. Sau khi chứng quả giác ngộ, Ðức
Phật Gotoma trầm tư suy nghĩ rằng giáo pháp mà Ngài chứng
đắc thì nghĩa lý thâm sâu, rất khó cảm nhận, khó hiểu,
khó thấy. Giáo pháp ấy an tịnh, thù thắng, tế nhị, vượt
lên trên luận lý, chỉ có người trí mới có khả năng học
hiểu; và nếu Ngài dạy giáo pháp này cho hàng chúng sinh tâm
đầy khát ái và tham dục, việc làm ấy ắt chẳng được
quần chúng dễ dàng chấp nhận, mà còn làm Ngài bực mình
và phí sức. Vì vậy tâm của Ngài hướng đến Niết
bàn. Sau khi biết được tâm của Ngài hướng đến Niết bàn.
Sau khi biết được tâm của Ðức Phật bằng tâm của mình,
Phạm Thiên Sahampati, vị vua trời được đạo Bà-la-môn (Brahmanism)
xem là đấng sáng thế, đi đến Ðức Phật, thỉnh cầu Ngài
giảng dạy Chánh Pháp vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên
và loài người.[6]
Hơn
thế nữa, theo giáo lý của Phật giáo, trong một khía cạnh
nào đó vị trí của thần thánh được xem là thấp hơn và
là cấp dưới so với vị trí con người. Câu chuyện được
ghi lại trong Itivuttaka sutta (Phật Thuyết Như Vậy) của Tiểu
Bộ Kinh sau đây sẽ soi sáng quan điểm trên:
“Này
các Tỳ kheo, khi nào một Thiên nhân mệnh chung, từ bỏ thân
chư Thiên, có năm suy tướng xuất hiện ra trước: ‘Các vòng
hoa héo úa, áo quần bị uế nhiễm, mồ hôi chảy ra từ nách,
thân sắc trở thành xấu xí, Thiên nhân không hoa hỷ tại
chỗ ngồi chư Thiên.’ Này các Tỳ kheo, chư Thiên sau khi biết
Thiên tử này sắp mệnh chung, nói ba lời để cổ vũ: ‘Từ
đây, Hiền giả hãy đi đến cõi lành! Sau khi đi đến cõi
lành, hãy nhận được những gì khéo nhận được. Sau khi
nhận được những gì khéo nhận, hãy an trú…!
…
Này các Tỳ kheo, được địa vị làm người được gọi
là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm
người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết
giảng, này các Tỳ kheo, đây được gọi là nhận được
những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được
nhập vào, được an trú thành gốc rễ, …, thì được gọi
là khéo an trú của chư Thiên.”[7]
Như
vậy, thánh thần hay chư thiên thật sự cũng có nhu cầu Phật
Pháp nhằm để tu tập và tự giải thoát mình ra khỏi nghiệp
lực tương tự như loài người. Nói khác đi, thần thánh và
chư Thiên cũng chỉ là chúng sinh với những hình thái khác
nhau, nhưng nhờ kết quả của thiện nghiệp trong đời sống
quá khứ nên họ thắng vượt loài người. Hay giải thích
một cách biểu tượng và thực tiễn hơn, thánh thần và chư
thiên ví như giới thượng lưu trong xã hội, có cuộc sống
với nhiều thoải mái, tốt đẹp và thuận lợi trong lãnh
vực vật chất. Trong khi ấy, loài người, có thể ví như
dân nghèo, do làm các nghiệp không tốt trong đời trước,
nên phải chịu khổ sở trong đời này do thiếu thốn về
vật chất đối với hạnh phúc của cuộc sống tạm thời.
Nhưng về phương diện tâm lý cả hai loại người trên đều
đang khốn khổ về chuyện sinh tử đang cận kề.
Sau
khi thông qua sự bàn thảo ở trên, hy vọng sẽ có nhiều thích
thú hơn nữa đối với chúng ta qua việc tiếp tục nghiên
cứu tầm quan trọng khác nhau giữa khái niệm thánh thần và
khái niệm Bồ-tát với một vài luận chứng sau đây. Ðó
là, thánh thần cũng chỉ là một loại chúng sinh đang hưởng
thụ và đắm chìm trong các loại dục lạc khác nhau nhờ vào
thiện nghiệp mà họ đã nỗ lực tu tập từ quá khứ; nhưng
số thánh thần ấy lại không biết đến quy luật vô thường
hoặc sự đoạn diệt không thể tránh được của các loại
hạnh phúc như thế. Trong khi ấy, Bồ-tát không chỉ thấy
và hiểu như thật được hoàn cảnh của họ, mà còn cố
gắng để đi theo con đường của Ðức Phật với mục đích
tự giải thoát cho chính mình, cũng như giúp chúng sinh trong
thế giới khổ đau đi theo con đường chân chánh này. Tuy nhiên,
điều cực kỳ quan trọng để lưu ý ở đây là khái niệm
Bồ-tát được đề cập trong giáo lý của Phật giáo, cả
Phật giáo Nam Truyền (Theravàda) và Phật giáo Bắc Truyền
(Mahàyàna) chỉ chuyển tải cùng một nội dung và ý nghĩa
như đã được thảo luận ở trên. Nghĩa là, thuật ngữ Bồ-tát
(Pàli: bodhisatta; Sanskrit: bodhisattva) chỉ là một danh từ chung,
nhằm chỉ đến một chúng sinh (con người) đang đi trên con
đường hướng đến giác ngộ, và không có bất cứ ý nghĩa
bí mật hay đặc biệt nào ẩn tàng đằng sau nó. Những lời
dạy sau đây của Ðức Thế Tôn hy vọng sẽ soi sáng lập
luận vừa nêu một cách rõ ràng:
“Và
này các Tỳ kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các
Tỳ kheo, có người tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự nguy
hại của sinh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi
các khổ cách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ
sự nguy hại của già, tìm cầu cái không già, vô thượng
an ổn khởi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bịnh…,
cái không bệnh… tự mình bị chết… cái bất tử… tự
mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau
khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không
ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Này các Tỳ kheo, như vậy gọi là Thánh cầu.”[8]
Và
sau đây chúng ta hãy lắng nghe Ðức Phật nói về chính Ngài:
“Này
các Tỳ kheo, Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng
Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại
tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại đi tìm cầu cái
bị già, tự mình bị bịnh… tự mình bị chết… tự mình
bị sầu… tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô
nhiễm…”[9]
Trên
cơ sở của những điều vừa được đề cập, một vấn
đề trở nên hoàn toàn rõ ràng là chính Ðức Phật đã tuyên
bố rằng không có gì khác nhau giữa Ngài trước ngày chứng
ngộ và một chúng sinh đang đi trên con đường hướng đến
giải thoát, Niết-bàn. Do vậy, nếu có điều gì đó bí mật
hàm chứa trong thuật ngữ (Bồ-tát) này, theo ý kiến của
tác giả, phần bí mật ấy hẳn phải là của riêng chúng
ta, và trong phạm trù rộng lớn, bí mật ấy được tạo ra
từ sự tưởng tượng của chúng ta do bởi khát vọng, vị
kỷ. Từ đó, có lẽ sẽ vô cùng hợp lý để người ta chấp
nhận sự kiện rằng nếu Phật giáo Nam Truyền hay Theravàda
đặc biệt dùng thuật ngữ ‘bodhisatta’ (Bồ-tát) để nhằm
chỉ Ðức Phật, sự thật là vì lòng tôn trọng và sự kính
ngưỡng của hàng đệ tử đối với đấng giáo chủ hay bậc
đạo sư. Thái độ tương tự cũng diễn ra tương tự đối
với Phật giáo Bắc Truyền hay Mahàyàna, và điều này sẽ
được minh chứng trong các chương sau.
Trong
chừng mực của sự bàn thảo chi tiết mà chúng ta đã nỗ
lực thực hiện, điều có thể nêu rõ ở đây là khái niệm
Bồ-tát không chỉ là tư tưởng đặc quyền của Phật giáo
Bắc Truyền, mà thật ra, nó đã xuất hiện trong kinh tạng
Nikàya của văn điển Pàli. Nói khác đi, trong một chừng mực
nào đó, giáo lý Bồ-tát đã là một phần của toàn bộ giáo
điển Theravàda hay Nam Truyền Phật giáo. Trong thực tế, hiện
nay có rất nhiều học giả công nhận sự kiện vừa nêu.
Ví dụ, mặc dù không thể trình bày được những giai đoạn
phát triển quan trọng của giáo lý Bồ-tát, giáo sư Har Dayal
đã khẳng định rằng từ ngữ Bồ-tát (mà không phải là
‘khái niệm hay giáo lý Bồ-tát) đã xuất hiện và được
sử dụng nhiều nơi trong kinh tạng Nikàya. Tuy nhiên, do một
vài nguyên nhân, hoặc ảnh hưởng học thuyết của các tôn
giáo đương thời, hoặc vì nhu cầu thực tế của con người
ở một số thời điểm nhất định, hoặc do âm mưu của
ngoại đạo với mục tiêu làm suy yếu Phật giáo, khiến Phật
giáo bị chia chẻ thành nhiều bộ phái nhỏ, như Tiểu thừa
(Hinàyàna) và Ðại thừa (Mahàyàna), Mật thừa (Tantrism), v.v…,
và tạo nên một số tư tưởng gây nhiều tranh cãi liên hệ
đến giáo lý Bồ-tát. Hay nói một cách cụ thể hơn, tư tưởng
Bồ-tát vẫn là một thực tế mỉa mai, đau xót đang vận
hành âm ỉ đằng sau các tổ chức Tăng đoàn Phật giáo trong
hầu hết các quốc gia, như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam,
Hàn Quốc, Tây Tạng, cả đến các nước Thái Lan, Tích Lan,
Miến Ðiện, v.v… Hy vọng chúng ta sẽ có cơ hội trở lại
vấn đề trên khi thích hợp trong tác phẩm nghiên cứu này.
Các
Loại Bồ-tát Trong Văn Ðiển Pàli
Trong
thực tế, thuật ngữ “Bồ-tát” (Bodhisatta) là một từ
rất xưa, đã được đề cập trong các kinh Trường Bộ, Trung
Bộ, Kinh Tập (Sutta-nipata) và Bổn Sanh (Jataka) thuộc Tiểu
Bộ Kinh của Nikàya. Nhưng cho đến nay, chưa có nỗ lực nào
được đầu tư để làm ‘ý tưởng này’ được chấp nhận
như là một lý tưởng sống cho giáo lý của Phật giáo Nam
Truyền giống như Phật giáo Bắc Truyền chủ trương. Việc
đó hẳn đã để lại đủ lý do bình luận về một vấn
đề có tầm quan trọng như thế.
Tuy
nhiên, trước khi bước vào thảo luận khía cạnh triết lý
của sự kiện trên, chắc chắn sẽ có giá trị và ý nghĩa
nếu chúng ta dành chút thời gian tìm hiểu lịch sử niên đại
hình thành của năm bộ Nikàya.
Trong
tác phẩm “Buddhist India” của mình, T. W. Rhys Davids đã giới
thiệu một biểu đồ về niên đại của văn điển Pàli như
sau:
1.“Những
lời tuyên bố giản dị của giáo lý Phật giáo được tìm
thấy trước nhất trong nhiều từ ngữ giống nhau, và trong
các đoạn văn hoặc kệ được ghi lại trong sách.
2.
Các đoạn hoặc hồi được tìm thấy trong những lời giống
nhau, ở hai hoặc nhiều sách hiện có.
3.
Giới (Sìla), Pàràyana, Octades (Khổ thơ tám đoạn), Pàtimokka
(Ba-la-đề-mộc-xoa).
4.
Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng.
5.
Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Cảm Hứng
Ngữ, Tiểu Tụng…”[10]
Sự
phân loại trên dường như được phần lớn các học giả
có uy tín, như Maurice Winternitz, tác giả của bộ “Lịch sử
Văn chương Ấn Ðộ”, hoặc H. Nakamura, tác giả cuống “Phật
giáo Ấn Ðộ”, v.v… chấp nhận; trong khi ấy, tiến
sĩ Bimala Churn Law lại trình bày niên đại hình thành của
các Nikàya trong một biểu đồ khác với nhiều chi tiết khác
nhau. Theo ý kiến của B.C. Law, niên đại của văn học Pàli
có thể được phân loại như sau:
1.
“Những lời tuyên bố giản dị của giáo lý Phật giáo được
tìm thấy nhất trong nhiều từ ngữ giống nhau, và trong các
đoạn văn hoặc kệ được ghi lại trong sách.
2.
Các đoạn hoặc được tìm thấy trong những lời giống nhau,
ở hai hoặc nhiều sách hiện có.
3.
Giới (Sìla), Nhóm Paràyana của mười sáu bài thơ không có
lời mở đầu; nhóm Atthaka của bốn hoặc mười sáu bài thơ,
và Sikkhàpadas.
4.
Trường Bộ tập I, Trung Bộ, Tương Ưng, Tăng Chi, 152 giới
điều của giới bổn Pàtimakkha ban đầu.
5.
Trường Bộ tập II và III; Trưởng Lão Tăng Kệ; Trưởng Lão
Ni Kệ; Tuyển tập 500 câu chuyện tiền thân (Jataka)…[11]
Theo
ý kiến của chúng tôi, bảng phân loại chi tiết của giáo
sư B.C. Law, liên quan đến một vài biến đổi về thứ tự
niên đại của Trường Bộ Kinh tập II và III đối với Trung
Bộ Kinh, dường như rất có lý và có thể chấp nhận được,
do vì nó đặc biệt liên quan đến việc phát triển về ngôn
ngữ, ý nghĩa và triết lý của các bộ Nikàya (sẽ được
bàn thảo trong chương II). Sự phân loại trên cũng gợi lên
một ý tưởng quan trọng đối với chúng ta. Ðó là, kinh Trung
Bộ là những lời dạy nguyên thủy của Ðức Phật, hay ít
ra cũng gần gũi với lời dạy của Ðức Phật (Buddhavacana)
hơn kinh Trường Bộ II và III. Cũng cùng một lập luận như
vậy khi chúng ta nói đến kinh Trường Bộ và Bổn Sanh (Jataka)
của kinh Tiểu Bộ. Quan điểm này có thể trở nên dễ hiểu
và dễ nắm bắt hơn khi chúng ta xem xét ý nghĩa triết lý
đặc thù về Bồ-tát qua ba loại kinh vừa nêu.
Trong
một bài kinh khác thường và đặc biệt với tên là “Bài
giảng về những phẩm chất phi thường và kỳ diệu” trong
kinh Trung Bộ, trước hết từ ngữ “Bồ-tát” phản ảnh
một cách cụ thể đời sống của Ðức Phật Gotama trước
ngày thành đạo, khi Ngài còn là thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa)
của kinh thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Nghĩa là, Ngài cũng
là một chúng sinh phải chịu khổ đau trong vòng sinh tử như
chúng ta, nhưng rồi từ bỏ cuộc sống thế tục giàu sang
để trở thành đạo sĩ lang thang tìm cầu chân lý như chính
lời dạy sau đây của Ðức Phật:
“Này
Aggivessana, sao có thể không như vậy được? Ở đây, này
Aggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng
Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau…”[12]
“Và,
này các Tỳ kheo, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng
Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh tử lại tìm cầu
cái sanh…”[13]
Tuy
nhiên, với một số yếu tố mang khoác màu sắc huyền thoại
vốn không tìm thấy ở các kinh kiết tập thời gian trước,
ý nghĩa của từ ngữ ‘Bồ-tát’ như được diễn tả trong
kinh Trường Bộ đã bị biến đổi. Giờ đây thuật ngữ
này nhằm chỉ đến cuộc đời sau cùng ở cung trời Tusita
(Ðâu-suất) của bảy vị Phật, bao gồm Ðức Phật Gotama:
“Này
các Tỳ kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi
giã từ cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác
nhập vào mẫu thai…”[14]
Một
bước biến đổi quan trọng hơn nữa liên quan đến ý nghĩa
triết lý của thuật ngữ ‘Bồ-tát’ trong kinh tạng Pàli
có thể được nhận thấy một cách rõ ràng trong những bộ
Nikàya kiết tập ở thời đại về sau, đặc biệt là kinh
Bổn Sanh (Jataka) thuộc Tiểu Bộ Kinh. Tầm quan trọng của
nó nằm ở sự diễn đạt vô số đời sống trước của
Ðức Phật Gotama. Chuyện tiền thân này, theo ý kiến của
Hòa thượng tiến sĩ Thích Minh Châu, có thể tóm tắt trong
bốn loại khác nhau. Ðó là, (1) chuyện hiện tại của Ðức
Phật liên quan đến kiếp quá khứ (Paccuqanna-Vatthu); (2) Chuyện
quá khứ nối kết với các nhân vật trong hiện tại (Ativathu);
(3) Giải thích một số kệ hoặc từ ngữ có liên hệ chuyện
quá khứ (Veyyàkaranà); và (4) Kết hợp chuyện quá khứ và
hiện tại, sau đó chỉ ra nhân vật trong quá khứ và vạch
bày mối quan hệ giữa các nhân vật giữa chuyện hiện tại
và quá khứ (Samodhana). Sau đây là một vài chuyện tiêu biểu
trích từ kinh Bổn Sanh (Jataka) để minh họa cho bốn loại
trên:
“Thuở
xưa, trong nước Kasi, tại thành Ba La Nại, có một vị vua
tên là Brahmadatta. Khi ấy, vị Bồ-tát được sanh trong gia
đình chủ đoàn lữ hành (thương gia)…”[15]
Thủơ
xưa, tại nước Magadha, trong thành Ràjagaha, một vị vua Magadha
đang trị vì. Lúc ấy, Bồ-tát tái sanh trong bài thai con nai…”[16]
Với
nhận định ngắn gọn về ý nghĩa của ba loại Bồ-tát như
vừa bàn thảo ở trên, chúng ta có thể nhận ra một sự kiện
quan trọng. Ðó là không những thuật ngữ ‘Bồ-tát’ (bodhisatta)
thực sự xuất hiện trong Thánh điển của Phật giáo Nam Truyền
hay Theravàda qua quá trình sưu tập và chuyển dịch của kinh
tạng Nikàya, mà triết lý của khái niệm Bồ-tát rõ ràng
cũng đã được ứng dụng và chỉnh lý với nhiều cấp độ
thay đổi khác nhau để phù hợp môi trường và hoàn cảnh
trong một vài thời điểm nhất định như được thấy trong
kinh Trung Bộ, Trường Bộ và Bổn Sanh. Khuynh hướng này (sẽ
được bàn thảo trong chương III) có lẽ đã đóng vai trò
mở đường cho tất cả phương pháp phân tích, giải thích
và ứng dụng lời dạy của Ðức Phật mà các bộ phái Phật
giáo đã phát triển sau này.
Hơn
nữa, theo tác phẩm nghiên cứu so sánh của Hoà Thượng tiến
sĩ Thích Minh Châu[17], thuật ngữ ‘bodhisatta’ (Bồ-tát) đã
không xuất hiện trong các bản dịch xưa nhất của Thánh điển
Pàli, mà nó chỉ được thêm vào trong văn học Pàli ở các
thời đại về sau, do bởi sức ép của khuynh hướng mang tính
bè phái thuộc các bộ phái Phật giáo phát triển xảy ra trong
chính tổ chức tăng đoàn Phật giáo mang lại. Quan điểm vừa
nêu dường như rất hợp lý và có thể được chấp nhận
vì nó phù hợp với tiến trình lịch sử của sự hình thành,
sưu tập và phát triển của văn điển Pàli. Ðiều này cũng
chuyển tải một tư tưởng rất có ý nghĩa và cho phép chúng
ta đi đến một gợi ý vô cùng quan trọng. Ðó là đã có
một số chuyển động cải tiến về khía cạnh tư tưởng
trong thời kỳ kiết tập và biên soạn văn điển Pàli. Nghĩa
là trong ý nghĩa sâu rộng, Theravàda hay Nam Truyền Phật giáo
có thể đã hàm ngụ những nét đặc thù của Phật giáo Bắc
Truyền hay Phật giáo Phát Triển. Hay nói một cách cụ thể
hơn, Phật giáo Nam Truyền đã là một mẫu thức nào đó của
Phật giáo Phát Triển. Tại sao vấn đề ấy được nêu lên
ở đây? Lý do thật là đơn giản. Theo thói quen xưa nay, với
niềm tin khá cực đoan và sai lầm, Phật giáo Nam Truyền hay
Thượng Tọa Bộ (Theravàda) thường tự xem mình là chính thống,
và giới tín đồ của họ luôn tuyên bố rằng Thánh điển
Pàli mới là lời dạy chân chính của Ðức Phật, và phần
kinh điển còn lại của các bộ phái Phật giáo là ngụy tạo
và bịa đặt. Sự suy nghĩ như thế không chỉ được giới
Phật tử truyền thống của Thượng Tọa Bộ ủng hộ, mà
ngay cả một số lượng lớn học giả cũng tán đồng. Như
là kết quả tự nhiên của khuynh hướng đó, sự ngộ nhận
nghiêm trọng và sự phân hóa trong toàn bộ cơ thể Phật giáo
cũng như giáo lý đạo Phật rõ ràng đã nảy sinh, hiện hữu
và tồn tại.
Tuy
nhiên, dù thế nào đi nữa ngày nay đại đa số học giả
đều thừa nhận rằng niềm tin như thế quả thực là cực
đoan và sai lầm; đặc biệt khi nó được thẩm xét bằng
các minh chứng lịch sử. Nhưng một tác phẩm với sự trình
bày có hệ thống nhằm giải thích rõ ràng và hợp lý đặc
tính thống nhất giáo lý của Phật giáo nói chung, và lý tưởng
Bồ-tát nói riêng từ kinh tạng Nikàya của Thựơng Tọa Bộ
sang kinh tạng Phật giáo Phát Triển quả thật là rất hiếm.
Bởi vậy, công việc khảo sát mang tính phương pháp luận
về giáo lý Bồ-tát tự thời điểm phát sinh đến giai đoạn
phát triển trọn vẹn của nó sẽ là mục tiêu chính của
tác phẩm nghiên cứu này với niềm hy vọng rằng tác giả
sẽ cống hiến một điều gì đó mới mẽ cho cả lãnh vực
nghiên cứu Phật học lẫn phương diện hành trì của người
Phật tử.
Hình
Tượng Bồ Tát Trong Văn Ðiển Pàli-Những phương pháp giải
thích khác nhau về giáo lý Phật giáo
Bị
kích động và ảnh hưởng theo lối sống văn minh khoa học
kỹ thuật, theo dòng thời gian khuynh hướng đòi hỏi tính
thực tiễn, và thực dụng, giá trị, sự thật, tính chính
xác và các loại tương tự như thế của mọi sự vật đã
chiếm hữu một vị trí siêu việt trong tâm hồn của con người
khắp thế giới. Tất nhiên, tôn giáo cũng chẳng có sự ngoại
lệ trong tình huống như thế. Không có lý do gì để phủ
nhận sự thực rằng tình thức mới nhất của hầu hết mọi
tôn giáo (nếu chúng ta có thể nói) là đang cố gắng để
chứng thực tính lịch sử chân thật của mình nhằm phù hợp
với nhu cầu của thế giới đương thời. Trong khả năng có
thể, bằng công việc cụ thể hóa và phổ thông hóa một
vài bằng chứng về nguồn gốc lịch sử của đấng giáo
chủ mình, các tôn giáo hy vọng rằng họ sẽ gặt hái được
nhiều sự ủng hộ và nhờ vậy con người từ mọi ngõ ngách
của cuộc sống sẽ trở thành tín đồ của họ càng ngày
càng đông, cho dù lịch sử ấy là chân thật, mơ hồ hay hư
ngụy. Rõ ràng Phật giáo cũng đang bị cuốn vào trong dòng
chảy này. Tuy nhiên, cũng có một vài khác biệt giữa Phật
giáo và các tôn giáo khác trong việc làm ấy; bởi vì trong
thực tế, ít ra cũng có hai huynh hướng hoàn toàn đối lập
lẫn nhau đang vận hành trong thực thể Phật giáo. Trước
tiên, khuynh hướng phổ thông và thịnh hành nhất mà Phật
giáo đồ ứng dụng để truyền bá giáo lý thì cũng giống
các tôn giáo đương thời. Ðó là, giới Phật tử xem Ðức
Phật Thích Ca như là một vị Phật ở cõi trời, hay là một
vị Bồ-tát siêu thế với vô số huyền thoại bí mật và
thần thông phủ đầy diện mạo cũng như lời dạy của Ngài.
Cho dù như thế, nhưng nhờ đáp ứng được nguyện vọng và
nhu cầu của tín đồ, trường phái này đang chiếm giữ vai
trò quan trọng trong tổ chức Phật giáo, và có một số lượng
Phật tử rất đông. Tụng đọc và quán tưởng một số kinh
điển, chú thuật, hoặc niệm danh hiệu của chư Phật và
các vị Bồ-tát thuộc thiên giới được xem là việc tu tập
chính đối với giới tín đồ của khuynh hướng vừa nêu.
Họ làm việc đó với lòng mong ước rằng Phật và Bồ-tát
sẽ ban thưởng phước đức cho họ, nhờ thế họ sẽ có
một đời sống hạnh phúc trong tương lai. Trái lại, số lượng
tăng ni, Phật tử và giới học giả nghiên cứu ủng hộ khuynh
hướng thứ hai rõ ràng là không nhiều, vì đường hướng
của họ là nhắm vào việc khôi phục và làm rõ tính chân
thật về biên niên sử của Phật giáo và Bậc-đạo-sư. Mục
tiêu chính của nhóm thứ hai là nỗ lực phục hồi mọi nét
đặc trưng chân chính về Ðức Phật lịch sử và giáo lý
của Ngài trong chừng mực chân thật nhất. Nói khác đi, niềm
tin của họ là như vầy, Ðức Phật Gotama (Cù Ðàm) là một
con người lịch sử chân thật như chúng ta; những gì Ngài
thực hiện và thành tựu trong tư cách con người cũng sẽ
hiện hữu trong cuộc sống của bất cứ ai, nếu người ta
thực sự nghiêm túc đi theo đạo lộ của Ngài. Nói một cách
cô đọng hơn, con đường Trung Ðạo, bao gồm Giới (Sìla),
Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pãnnã) có thể được xem là các
thành tố chính cho sự hiện hữu của nó. Như thế, bất cứ
điều gì cần phải làm đối với một người đi theo con
đường chân chánh đó để theo đuổi mục tiêu tối hậu
của Phật giáo, tức giác ngộ (bodhi) đều được gọi là
“nhiệm vụ hay sứ mệnh của Bồ-tát”. Với cùng tư tưởng
như thế, trong Bách Khoa Phật giáo[18] người ta đã viết rằng
nếu chúng ta mong muốn để hiểu “Bồ-tát là ai”, trước
hết chúng ta cần phải biết “Phật là ai”. Theo Phật giáo
Nam Truyền (Theravàda), Ðức Phật Gotama (Cù-đàm) không phải
là con người thuộc dòng dòi thần thánh ở cõi trời, cũng
không phải là đối tượng để tô điểm phụng thờ. Ngài
không phải là một lý thuyết gia siêu hình và càng không phải
là một nhà duy vật chủ nghĩa. Ngài không phải đấng giáo
chủ tôn giáo, như Thượng Ðế, Ðấng Cứu Thế, hay Sáng
tạo, đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối với tín đồ.
Trái lại, Ngài chỉ là một con người đã tự hoàn thiện
bản thân bằng việc nhận thức được ‘bản ngã’ chân
thật của con người ở cấp độ cao nhất. Nói một cách
chính xác và nghiêm túc, Ngài chỉ được ca ngợi và tôn vinh
lên địa vị Phật kể từ thời điểm chứng ngộ ở Bồ-đề
đạo tràng (Bodhagàya). Mọi sinh hoạt của Ngài trước sự
kiện này được gọi là cuộc đời của một vị Bồ-tát.
Trong
phương các như thế, ý nghĩa vừa được đề cập ở trên
nhằm chỉ cuộc đời và hạnh nguyện của vị Bồ-tát trong
chính Chương II ngang qua một số minh họa về cuộc đời của
Thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) từ lúc xuất gia đến thời
điểm chứng ngộ chân lý như đã được ghi lại trong các
kinh tạng Nikàya của Phật giáo Nguyên Thủy. Những bước
phát triển về sau phát sinh trong ý nghĩa của thuật ngữ Bồ-tát
dĩ nhiên sẽ được minh họa và giải thích trong các chương
sắp tới.
Công
Hạnh Của Bồ Tát Theo Phật Giáo Nguyên Thủy
Mahàvaga
(Ðại Phẩm) của Luật Tạng Pàli và kinh Trung Bộ ghi lạI
rằng Thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) là con của vua Suddhodhana
(Tịnh Phạn) và hoàng hậu Mahàmaya (Ðại Ma-da) trị vì kinh
thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) thuộc nước Sàkya (Thích-ca).
Ngài sanh ra, lớn lên và được giáo dục trong môi trường
và hoàn cảnh vô cùng thuận lợi, cả mặt vật chất lẫn
tinh thần. Vợ của Thái tử, tức công chúa Yasodhara (Da-du-đà-la),
được thừa nhận là một trong những phụ nữ đẹp nhất
vào thời điểm ấy. Rahula (La-hầu-la) là kết tinh của cuộc
hôn nhân hạnh phúc giữa hai nhân cách này. Tuy nhiên, sau một
thời gian dài tự thân hưởng thụ, thực nghiệm và trải
qua mọi thức cảm giác và khoái lạc của thế gian, Thái tử
Siddhattha nhận chân được bản chất không thật, vô thường
và sự nguy hiểm của chúng. Như là hệ quả, tư tưởng từ
bỏ mọi cảm thọ tạm bợ đó thường sinh khởi trong tâm
của hoàng tử, vì:
“Làm
sao có thể vui cười được, làm sao có thể thích thú được
khi cuộc đời đang bị thiêu đốt. Mãi bị tối tăm che phủ,
tại sao các ngươi không đi tìm ánh sáng?”[19]
Ðến
năm 29 tuổi (theo truyền thống của Phật giáo Nam Truyền),
quyết định phi thường để trở thành vị Bồ-tát đi tìm
cầu chân lý mới nở rộ trong tâm khảm Thái tử khi Ngài
nhận thức thấu đáo được sự ràng buộc và cảnh tù túng
của cuộc sống thế tục.
“Ở
đây, này Aggivessana, trước khi ta giác ngộ, chưa chứng Chánh
Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: ‘Ðời
sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời.
Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó
sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ,
hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Ta
hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia
đình, sống không gia đình…”[20]
Và,
“Trói
buộc sống gia đình,
Tụ
hội mọi bụi đời,
Phóng
khoáng đời xuất gia,
Thấy
vậy nên xuất gia”[21]
Trong
giai đoạn khởi đầu của cuộc tìm cầu chân lý, Thái tử
Siddattha lang thang khắp các làng mạc núi rừng, gặp hầu hết
các vị đạo sư tôn giáo tiếng tăm của thời bấy giờ,
thực hành giáo lý của họ, và chứng đắc những mục tiêu
lý tưởng mà các bậc thầy ấy nhắm đến. Trong suốt quãng
đường tâm linh lịch sử ấy, có ba dấu ấn nổi bật cần
đề cập ở đây. Trước hết, đó là cuộc gặp gỡ đầu
tiên giữa du sĩ khổ hạnh Gotama và đạo sĩ Alàra Kalama, một
trong nhiều bậc đạo sư tôn giáo lỗi lạc đương thời.
Sau một thời gian ngắn chấp nhận Alàra Kalama là thầy và
tu tập dưới sự hướng dẫn của ông, du sĩ khổ hạnh trẻ
tuổi Gotama đã chứng đắc cấp độ tâm linh cao nhất, ngang
bằng cấp độ mà vị giáo chủ của giáo phái này đạt đến.
Nhưng sự thành tựu phi thường đó không làm Bồ-tát Siddattha
thoả mãn bởi vì nó không phải là mục tiêu tối hậu mà
ngài nhắm đến. Do vậy sau khi từ chối lời để đề nghị
cao quý sau đây: “… Giáo pháp mà ta nhận biết chính là
giáo pháp mà ngài nhận biết. Giáo pháp mà ngài nhận biết
chính là giáo pháp ta nhận biết. Tôi như thế nào, ngài như
thế ấy; ngài như thế nào tôi như thế ấy; hãy đến đây
này bậc đáng kính ngài với ta hãy trông nom pháp hội này”,
con người thánh thiện ấy đã từ giả Alàra Kalama và tiếp
tục chuyến hành trình cực kỳ khó khắn trong mục tiêu tìm
cầu chân lý. Tiếp đến, Uddaka Ralama, với uy tín và danh vọng
lớn lao hơn Alàra Kamaputta, đã trở thành vị thầy tâm linh
thứ hai của du sĩ lang thang Gotama. Tuy nhiên, cũng một tiến
trình tương tự đã xảy ra trong cuộc hội ngộ kỳ diệu
này như trong trường hợp của Alàra Kalama. Thêm một lần
nữa, sau khi để lại sự kính trọng tột cùng trong tâm khảm
của thầy và trò của giáo phái thứ hai, vị đạo sĩ trẻ
phi thường đã từ giã họ và đi vào rừng. Tại đó, cùng
với nhóm năm anh em tôn giả Kondana (Kiều-trần-như) Bồ-tát
đã tu tập khổ hạnh ép xác để tìm cầu chân lý. Chỉ trong
một thời gian ngắn, đạo sĩ Gotama được nhóm này tôn xưng
làm thầy vì ngài là người nghiêm khắc nhất trong việc thực
hành nếp sống tôn giáo đó. Trong khoảng thời gian sáu năm,
ngài tu tập, rèn luyện một cách tha thiết và nghiêm ngặt
bằng tất cả phương pháp khổ hạnh ép xác cho đến khi thân
thể ngài chỉ còn lại một bộ xương. Nhưng vào một ngày
nọ, đạo sĩ Gotama nhận thức được rằng việc kiêng cử
và khổ hạnh của ngài thật sự là vô ích, không hề đưa
ngài đến bất cứ sự tiến bộ xa hơn nào về mặt trí tuệ
cũng như cái thấy đối với giải thoát tối hậu. Do vậy,
ngài từ bỏ lối tu hành ấy, bắt đầu ăn uống trở lại
để phục hồi sức khỏe, và đi đến làng Uruvelà (Ưu-lâu-tần-loa)
thuộc lãnh thổ của Vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà). Tại
đây, ngài tìm thấy một dãi đất thoáng mát đẹp đẽ nằm
cạnh khu rừng nhỏ dễ thương dọc dài theo dòng nước trong
xanh và một khu làng nhỏ tọa lạc cách đó không xa. Du sĩ
Gotama biết rằng đây chính là nơi lý tưởng để ngài tu
hành, tìm cầu giải thoát:
“Bên
sông Ni-liên-thuyền,
Ta
tinh cần, tinh cần,
Cố
gắng Ta thiền định,
Ðại
an ổn khổ ách”[22]
Từ
thời điểm đó cho đến khoảng khắc lịch sử của sự chứng
ngộ dưới gốc cây Bồ-tát tại Bodhagaya (Bồ-đề đạo tràng),
đạo sĩ Siddhattha đã liên tục nổ lực thiền định, bằng
phương pháp riêng của tự thân. Tuy nhiên, sự kiện mang tính
tâm lý sau đây đã xảy ra một cách tự nhiên đối với thân
thể của ngài. Ðó là, bản năng dục vọng của con người
như sự thích thú nhục dục, khát khao hay thèm muốn khoái
lạc, lòng bất mãn, đói khát, lười biếng, mệt mõi, sợ
hãi, nghi ngờ, tính bướng bỉnh, thái độ giả dối, danh
vọng tiếng tăm,[23] v.v…, những thứ được nhân cách hóa
với danh nghĩa là Ma (Mara) đã không dễ dàng chìu theo ý muốn
thánh thiện của ngài. Như là một nhu cầu thiết yếu và
khẩn cấp đối với cái thân suy nhược, yếu ớt mà vốn
là hệ quả của việc giày vò, hành hạ xác thân lâu ngày
qua lối sống khổ hạnh, các thứ chướng ngại nói trên thường
xuyên xuất hiện trong tâm trí của ngài, ngăn cản ý chí tìm
kiếm quả vị giác ngộ. Có lẽ không sai lầm khi người ta
nói rằng trong tình huống như thế hầu hết mọi người sẽ
từ bỏ cuộc chiếc và quay trở về với đời sống đầy
tiện nghi vật chất. Tuy nhiên, đối với đạo sĩ Siddhattha
sự việc không phải là như vậy. Trong thực tế, từ thời
điểm ấy trở về sau cho đến thời điểm cuối cùng của
hành trình tâm linh, ngài đã kiên định đối với mục đích
tìm cầu chân lý tối hậu. Ðạo sĩ Gotama đã phát lời nguyện
sau đây:
“Ôi,
này Na-mu-ci,
Ðây
là quân đội Ngươi,
Ðây
quân đội chiến trận,
Của
dòng họ Kanhà,
Kẻ
nhát, không thắng Ngươi,
Ai
thắng Ngươi được lạc…
Vững
thay đây đời sống,
Thà
ta chết chiến trận,
Tốt
hơn, sống thất bại.”[24]
Bằng
nguyện lực bất động và phi thường, từ đây Bồ-tát Gotama
tập trung cao độ để trầm tư lại toàn bộ lộ trình mà
ngài đã kinh qua nhằm vào mục tiêu kiếm tìm con đường đưa
đến giải thoát hoàn toàn. Chính nhờ một số kinh nghiệm
quá khứ ngài đạt được trong thời niên thiếu mà một pháp
môn diệu kỳ và thật sự đầy hứa hẹn đã phát sinh trong
tâm của ngài. Vị thánh lịch sử Siddhattha bắt đầu nỗ
lực theo lộ trình vừa chói sáng này. Nhờ vào kinh nghiệm
đã tích lũy qua sự hiểu biết riêng của tự thân và những
kinh nghiệm học hỏi được từ các bậc đạo sư tôn giáo
trước đó, cả trong cuộc sống vật chất lẫn lãnh vực
tâm linh, và bằng sự phát huy mạnh mẽ năng lực trí tuệ
tiềm tang của mình, đạo sĩ Gotama phát hiện ra phương pháp
thiền định mới. Trên căn bản của loại thiền này, Bồ-tát
Gotama quyết tâm đeo đuổi và nỗ lực không ngừng nghỉ cho
đến khi chứng đắc giải thoát dưới cội cây Bồ-đề (theo
truyền thống của Phật giáo Nam Truyền) lúc ngài vừa đúng
35 tuổi. Theo Sutta-Nipata (Kinh Tập)[25], con đường mà ngài
tu tập bao gồm giới (sìla)[26], thí (dana), nhẫn (ksati)[27],
tinh tấn (virya)[28], thiền định (dhyana) và trí tuệ (pãnnã)[29].
Giải thoát mà ngài chứng đắc được gồm có bốn cấp độ
thiền định và ba loại trí tuệ siêu thế.[30] Sau sự kiện
lịch sử chứng ngộ kỳ diệu đó, Bồ-tát Siddhattha, giờ
đây được người đời tôn xưng là Phật, Bậc Giác Ngộ,
Thế Tôn, Như Lai, v.v…, cũng vẫn ở trong vị trí con người,
nhưng là một con người đã giác ngộ, hay con người toàn
thiện của lịch sử nhân loại. Cuộc sống của con người
này siêu việt mọi phạm trù liên quan đến khát vọng bình
thường của thế nhân. Cả cuộc đời của người là vì
lợi ích, an lạc cho toàn thể nhân loại ngang qua sứ mệnh
truyền bá giáo lý giải thoát hay còn gọi là con đường trung
đạo cho đến khi trút hơi thở cuối cùng tại thế giới
Ta-bà. Con người giác ngộ này có thể ví như một bông sen,
sinh ra trong nước, lớn lên trong nước nhưng không bị nước
làm cho ô nhiễm. Thật vậy, Thái tử Siddattha sinh ra và lớn
lên trong thế giới loài người, nhưng vượt lên trên cảnh
giới ấy mà không bị nó làm nhiễm ô.
Từ
khi trở thành Bậc giác ngộ ở Bodhgàya (Bồ-đề-Ðạo-tràng)
vào tuổi 35 cho đến lúc nhập Mahàparinibbàna (Ðại Niết-bàn)
tại Kusinara (Câu-thi-la) ở tuổi 80, đức Phật đã du hành
liên tục từ nơi này đến nơi khác, băng qua mọi ngõ ngách
của miền Nam Trung Ấn để truyền bá giáo pháp mà Ngài đã
phát hiện và chứng ngộ vì lợi ích và hạnh phúc của quần
sanh cho đến khi trút hơi thở cuối cùng không hề khởi lên
một ý niệm mệt mỏi. Bậc giác ngộ đã áp dụng rất nhiều
phương pháp trong việc giảng dạy chánh pháp ngõ hầu phù
hợp với vô số căn cơ, trình độ khác nhau của giới tín
đồ. Do vậy, sau khi lắng nghe và thu hoạch lợi ích từ giáo
huấn của Ngài họ thường cảm thán rằng: “Thật vi diệu
thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như
người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi
bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người
bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những
ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được
Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích…;
từ nay trở đi cho đến mạng chung con trọn đời quy ngưỡng.”[31]
Mặc
dù thế, sứ mệnh tôn giáo của Ngài không dễ dàng chút nào.
Trải qua 45 năm thuyết pháp độ sanh, Bậc giác ngộ thường
xuyên đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ do các hệ
thống tôn giáo khác nhau tạo ra tưởng chừng không thể vượt
qua; đặc biệt là các chướng duyên do lớp người không thích
Ðức Phật, giáo lý và con đường tu tập của Ngài gây nên.
Do đó, tuỳ thuộc vào bối cảnh tôn giáo, chính trị và xã
hội của từng địa phương cụ thể mà Ðức Phật áp dụng
nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau; về sau giới Phật
giáo Bắc Truyền gọi chúng là “Upàya-Kaúsalya” tức “Phương
tiện thiện xảo”. Quả thật, chính tinh thần phương tiện
thiện xảo ấy đã đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn
dắt con người hướng đến con đường giải thoát. Sau đây
là ví dụ điển hình về giáo lý trên:
“Rồi
Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upali, tức là
thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ
liệt, sự nhiễm ô các dục lạc, những lợi ích của xuất
ly. Khi Thế Tôn biết gia chủ Upali tâm đã sẳn sàng, tâm đã
nhu
thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được
hoan hỷ Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán
dương đề cao: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo…”[32]
Nhưng
thật vô cùng quan trọng để lưu ý rằng, dĩ nhiên giáo lý
phương tiện thiện xảo là nhắm đến lợi ích của chúng
sinh, nhưng bất cứ điều gì đi ngược lại hay xung đột
với tinh thần giải thoát của con đường trung đạo đều
lập tức bị Ðức Phật bác bỏ. Giữa vô số loại tu hành
mê tín khác nhau của thời bấy giờ, chúng ta hãy quan sát
một vài lời dạy sau đây của Ðức Phật về các việc bói
tướng, tụng đọc các thần chú, mật chú, và cầu nguyện
thánh thần.v.v…”
“Chớ
có dùng bùa chú,
A-thar-va
Vệ-đà,
Chớ
tổ chức đoán mộng,
Coi
tướng và xem sao,
Mong
rằng đệ tử Ta,
Không
đoán tiếng thú kêu,
Không
chữa bệnh không sanh,
Không
hành nghề lang băm.”[33]
Và:
“Tự
mình làm điều ác,
Tự
mình làm nhiễm ô,
Tự
mình ác không làm,
Tự
mình làm thanh tịnh,
Tịnh,
không tịnh tự mình,
Không
ai thanh tịnh ai.”[34]
Không
có gì để nghi ngờ rằng chính quang Thánh đạo tám ngành
này, không những trong lúc còn tại thế Ðức Phật đã có
thể giúp đỡ con người sống một đời sống an lạc và
hạnh phúc, mà sau ngày Ngài nhập Niết-bàn, hàng đệ tử
cũng hưởng vô số lợi lạc cho thân tâm bằng cách thực
nghiệm con đường đã được trắc nghiệm đó. Giá trị của
nó vượt lên trên sự đo lường của thời gian. Di sản trí
tuệ và bức thông điệp giải thoát của Ngài có thể khiến
người ta ngạc nhiên hơn qua lời trích dẫn sau đây của một
học giả rất nổi tiếng:
“Không
có người nào có sự tác động và ảnh hưởng về mặt phát
triển tâm linh đối với nhân loại to lớn hơn Siddhattha Gotama.
Sinh ở Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ sáu trong một dân tộc khát
khao cảm nghiệm tâm linh, Ngài đã thuyết minh một loại giáo
lý tôn giáo đạo đức mà cho đến tận ngày hôm nay vẫn
đem đến an lạc và giải thoải mái cho những ai thực hành
nó.”[35]
Nghiên
cứu ngắn gọn và khiêm tốn trên về cuộc đời và công
hạnh vị Bồ-tát rút ra từ giáo lý của kinh tạng Nikàya
có lẽ vừa đủ để cho chúng ta thấy được ý nghĩa và
tầm qua trọng của nó. Ðức Phật Gotama là một con người
lịch sử, và lịch sử cuộc đời của con người này chúng
ta biết khá đầy đủ chi tiết. Ngài không phải là người
đến từ thế giới khác với nhiều bí mật và huyền thoại.
Bồ-tát Siddattha cũng sống một cuộc đời thế tục, cảm
nghiệm đầy đủ mọi niềm vui, dục lạc vốn có giữa trần
gian. Sau đó, Ngài tự thân tu tập và thực nghiệm những hình
thái đời sống tôn giáo khác nhau, và cuối cùng từ bỏ tất
cả chúng; và Ngài đã làm sáng tỏ một sự kiện mà toàn
thể nhân loại mãi trăn trở và suy tư qua vô số thế hệ:
“cuộc sống hiện tại sẽ dẫn chúng ta về đâu”. Nếu
so sánh với mọi tôn giáo, Phật giáo là tôn giáo được xây
dựng trên kinh nghiệm thật của con người, mà không phải
là một sản phẩm tưởng tượng mang tính phù phép và huyền
thoại, hay các giả thuyết chưa được thử nghiệm. Do vậy,
bất cứ ai tìm kiếm giác ngộ (bodhi) qua việc thực hành con
đường thánh đạo này đều đầy đủ tư cách để được
gọi là Bồ-tát. Những ý kiến hay khái niệm cho rằng cho
có một vị Bồ-tát trong Phật giáo Nguyên Thủy, tức Bồ-tát
Siddhattha, đều là tư tưởng một chiều, khó có thể chấp
nhận, và cần phải được duyệt xét lại.
Liên
quan đến ý kiến vừa nêu, hy vọng chúng ta sẽ không lạc
đề khi trích dẫn ra đây lời phát biểu của nhà nghiên cứu
Phật học người Nhật, D.T.Suzuki, từ tác phẩm “Ðặc Ðiểm
của Phật Giáo Ðại Thừa” để suy nghiệm. D.T. Suzuki viết
rằng: “Giống như đức Sakyamuni (Thích-ca-mâu-ni) là Bồ-tát,
trong tiền kiếp đã được thọ ký sẽ thành Phật; cũng vậy
chúng ta là những Bồ-tát, hay trong ý nghĩa nào đó, thậm
chí là Phật khi chúng ta nhận thức được rằng tất cả
hữu tình chúng sanh, bao gồm cả Ðức Phật, chỉ là một
Pháp thân (Dharmakaya). Pháp thân biểu hiện trong chúng ta như
là sự giác ngộ (bodhi) vì giác ngộ vốn là bản chất của
chư Phật cũng như Bồ-tát.”[36] Dù còn nhiều giới hạn
trong lãnh vực triết lý Phật giáo, tác giả vẫn cho rằng
tư tưởng trên của tiến sĩ D.T.Suzuki quả thật là khá lạ
lùng và phi lý khi chúng được đặt bên cạnh giáo lý nghiệp
(karma) và tinh thần thực tiễn của Phật giáo. Thêm vào đó,
dường như chính ý tưởng đó đã làm giới Phật tử ngộ
nhận và dễ dàng xao lãng trong việc tu tập và huấn luyện
theo con đường trung đạo nhằm loại bỏ nghiệp quá khứ
của mình. Ðể chứng minh lập luận của chúng ta hợp lý,
một vài thí dụ được nêu ra ở đây hy vọng là thích đáng.
Quả thật, trên bình diện lý thuyết, không ai có thể bác
bỏ sự kiện rằng tất cả mọi người đều sở hữu tiềm
năng để trở thành giáo viên, bác sĩ, hay nhà khoa học, v.v…
Tuy nhiên, trong thực tế, sự thật không phải như vậy, bởi
vì sự cố gắng đúng mức, sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn
bền bỉ cần phải có để đạt đến các mục tiêu như thế
mới là yếu tố chủ đạo đóng vai trò thành hay bại ở
đây. Rõ ràng, thành quả chúng ta sẽ có thể đạt được
thì luôn luôn tùy thuộc vào sự đầu tư của chúng ta trong
một loại sứ mạng đặc thù nào đó. Chính hành động có
tác ý hay nghiệp (karma) là sự phản ánh về vị trí thực
của chúng ta. Ðây là yếu tố chủ đạo trong việc mở ra
các lãnh vực khác nhau về triết lý, giáo dục, tôn giáo.
Dĩ nhiên, chúng ta sẽ có thể là Bồ-tát nếu chúng ta ước
muốn như thế với điều kiện chúng ta phải luôn luôn nuôi
dưỡng lòng quyết tâm ấy và không ngừng nỗ lực hành trì
để đạt được mục tiêu trên. Từ đây, kết luận hợp
lý cho tư tưởng này phải là như vầy: Trên bình diện lý
thuyết, mọi chúng sinh đều có tiềm năng để trở thành
Bồ-tát, thậm chí thành Phật, nhưng trong thực tế, quả thật
chưa mấy ai đạt đến vị trí đáng được mong ước đó.
Như
vậy là cuộc đời và hạnh nguyện vị Bồ-tát được minh
họa trong ánh sáng của kinh tạng Pàli, phản ánh được giáo
lý căn bản về lý tưởng Bồ-tát ngay từ khởi nguyên của
Phật giáo. Tuy nhiên, theo dòng thời gian và với sự phát triển
của Phật giáo, triết lý Bồ-tát đã từng bước được
thay đổi, bổ sung, và ứng dụng ngõ hầu làm cho nó phù hợp
với vô số căn cơ, trình độ hiểu biết, ước muốn và
nhu cầu khác nhau ở từng thời điểm lịch sử cụ thể nào
đó. Khuynh hướng mở rộng triết lý đó chắc chắn đã đóng
một vai trò vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển và
truyền bá lâu dài của Phật giáo; bởi vì không có bổ sung,
thay đổi về mặt giáo lý, có lẽ Phật giáo đã đánh mất
vị trí của mình. Trong thực tế, để có thể tồn tại và
phát triển cùng lịch sử mọi tôn giáo cần phải có những
bước chuyển tiếp tư tưởng nhằm đáp ứng phù hợp nhu
cầu đổi mới của nhân loại, như lời nhận xét của đại
đức Edkins như sau: “Nếu sự khởi nguyên của các tôn giáo
thế giới là những chủ đề có ý nghĩa và rất đáng được
quan tâm nghiên cứu, thì sự tiến triển và mở mang của chúng
cũng không kém phần quan trọng. Vô số nguyên nhân tác động
nhằm hợp lực hỗ tương cho việc truyền bá Phật giáo, nếu
nghiên cứu cẩn thận, sẽ là một sự cống hiến có giá
trị đối với lịch sử con người.”[37]
Tư
tưởng Phật học đã được tăng trưởng và nở hoa theo chiều
dài lịch sử hơn 2500 năm của nó. Trên bình diện thiển cận
chúng ta có thể nói rằng sự mâu thuẫn trong triết học Phật
giáo đã xảy ra suốt thời kỳ lịch sử và các vùng địa
lý khác nhau nào đó. Nhưng ở cốt lõi, giáo lý Phật giáo
chỉ là một sợi chỉ hồng xuyên suốt, và lý tưởng Bồ-tát
cũng là một khái niệm như thế. Cho dù giới học giả đã
đưa ra nhiều lý thuyết trái ngược và nhiều lúc xung đột
lẫn nhau trong phạm trù bản chất và phạm vi của giáo lý
Bồ-tát, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy rằng thật ra khái
niệm này xác định được những căn cứ thống nhất đầy
đủ thẩm quyền đối với toàn bộ tư tưởng và triết học
Phật giáo. Chính lý do này tạo ra cơ hội hợp lý để chúng
tiếp tục tìm hiểu xem bằng cách nào lý tưởng Bồ-tát đã
phát triển theo dòng thời gian. Chúng ta sẽ xúc tiến việc
này bằng việc nghiên cứu một cách chi tiết quá trình phát
triển của nó trong chương ba.
[1]
Mircea Eliade, The Encyclopaedia of Religion, Collier Macmillan Publishers,
New York, 1987, tập II, trang. 265.
[2]
G.P Malalasekera, O.B.E., The Encyclopaedia of Buddhism, Ceylon, 1971,
tập III, p. 224.
[3]
Har Dayal, The Buddhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature, Motilal
Banarsidass, Delhi, 1975, trang 5. Ðể tiện cho việc nghiên cứu
của giới độc giả, sau đây tác giả xin trích một số định
nghĩa tiêu biểu và giải thích mà giáo sư Har Dayal đã trình
bày trong tác phẩm trên.
Theo
sự nghiên cứu của HarDayal, (1) sattva có thể có nghĩa
là “bản chất, thực chất hoặc sự tồn tại thực sự”
(Skt. Dicy. M.W). Từ Pàli “satta” cũng có thể có nghĩa là
“tính chất” (Pàli Dicy. S.v). Những nhà từ điển học lớn
thời nay dường như giải thích sattva theo ý nghĩa này. Bohtlingk
và Roth, giải thích “Bodisattva” là “(adj.) desen Wesen Erkenntniss
ist; (mas.) der im Beitz des Wesens der Bodhi Seinde”, và Monier William
dịch như sau: “Chúng sinh sở hữu sự giác ngộ hay trí tuệ
toàn hảo trong bản chất của họ” (tr.688b). E. Burnouf dường
như giải thích thuật ngữ này giống như Bohtlingk và Roth.
Theo C. Iliot, “sattva có nghĩa là con người với bản chất
là trí tuệ”. (Eliot, II, trang 7) Theo D. Hackmann, “sattca có
nghĩa là người với bản chất được định sẵn sự giác
ngộ” (Buddhism, tr. 52).
(2)
“Sattva” (giống đực) có thể có nghĩa là “một chúng
sinh hữu tình” (Saht, Dicy. M.W), “ein lebendes Wesen (Skt. Dicy
Pbg.). Từ Pàli “satta” có thể có nghĩa “con người, hữu
tình, hay một con người hay chúng sinh hữu tình có trí năng”
(Pàli Dicy, s.v.) Theo. Kern, “Sattva có nghĩa là một hữu tình
hay một sự sống có lý trí, sở hữu sự giác ngộ (Manual,
trang. 65, line II). Theo Rhys Davids và W.Stede, “sattva là một
chúng sinh giác ngộ (bodhi being), nghĩa là một chúng sinh chắc
chắn đạt được giác ngộ trọn vẹn (Pàli Dicy, s.v). Theo
L. D. Barnet., “Sattva là một hữu tình giác ngộ (“Path”,
trang 20). Theo M. Anesaki, “sattva là một chúng sinh mưu cầu
giác ngộ (ERE., V. 450). Theo E.J. Thomas, “sattva là một chúng
sinh giác ngộ, hay chắc chắn giác ngộ (“Buddha”, trang, 2,
ghi chú I).Theo D.T. Suzuki, sattva là một con người thông thái
(“Outline”, trang, 277). Theo Csona de koros, sattva là một linh
hồn thanh tịnh và uy dũng (Scoma, trang 6). Tác giả của kinh
Samadhi-raja giải thích sattva là một chúng sinh, một hữu tình,
nhưng nghĩ rằng thuật ngữ bodhisattva (Bồ-tát) có nghĩa là
người khuyên bảo, hay thúc đẩy tất cả chúng sinh (bodheti
sattvan… Sam.Rà.Fol.25q, 4). P. Ghosa dường như giải thích sattva
là con người, nhưng phân tích toàn bộ từ này trong một cách
đặc biệt “bodhi sa casau maha-krp-asayena sattvalambanat sattvas
ceti bodhisattvah…” Câu này có nghĩa rằng con người vừa
là bodhi (giác ngộ) vừa là vattva (chúng sinh)!
(3)
“Sattva” có thể có nghĩa là linh hồn, là tâm, là tri giác,
là thức “Geist” (Skt. Dicy, M.W. and Pbg.) Từ Pàli “satta”
cũng có thể có nghĩa “linh hồn” (Pàli Dicy. S.v.). I. De la
Valee Poussin, nhà từ điển học của Ấn Ðộ, cũng giải thích
sattva như là một biểu tượng của citta (tâm) hay vyavasàya
(quyết định hay quyết tâm). Bình luận về B.C. Ava, tác phẩm
Prajnakaramati nói rằng: “tatra (bodhau) sattvam abhipraya syeti bodhisattvah”.
P. Ghosa trích dẫn lời của một cựu luận sư, giải thích
rằng sattva có nghĩa là abhipraya (ý định hay mục đích): “bodhau
sattvam abhipaya yesam te bodhisattvah” (Pr. Pà. Sata., trang 2., ghi
chú 2). Như vậy từ ngữ này có nghĩa là “người với tâm,
ý định hay ý nghĩ, hay ước muốn đã gắn chặt với giác
ngộ (bodhi). P. Oltramare không thừa nhận giải thích trên vì
ông cho là quá gượng gạo và không đúng; nhưng L. de la Valee
Poussin thì dường như có khuynh hướng chấp nhận nó, cùng
lúc ấy ông ta thừa nhận rằng ý nghĩa nguyên thủy của thuật
ngữ này có thể nguồn từ “ý niệm thực chất hay bản
tính cố hữu”.
(4)
Sattva có thể có nghĩa là “thai tạng” (Skt. Dicy. M.W.); H.S.
Gour dịch là “Trong con người mà sự hiểu biết còn tiềm
ẩn và chưa phát triển” (Buddhism”, trang xi).
(5)
Sattva có thể có cùng ý nghĩa vì ở trong tác phẩm Yoga-sastra
(Luận Du-già) nó ngược lại với từ purasa (người) và có
ý nghĩa là “tâm hay sự hiểu biết”. Giải thích ấy thường
được E. Senart tin tưởng rằng Phật giáo bị ảnh hưởng
sâu sắc bởi hệ thống Yoga (Du-già)… Thực sự rằng sattva
xuất hiện rất thường trong Yoga sutram và G. Jha dịch là nguyên
tắc tư duy hay tâm” (Yo, Sù. II 41, trang. 109, “sattva-suddhi-saumanasy-aikagry-endriya-jay-atma-darsana-yogyatvani
ca). E. Senart chỉ ra rằng sattva được nói là khác với purisa
(người) trong Ypga sutra. (III. 55, “sattva-purusyoh suddhi-samye”,
trang. 174). Do vậy ông ta đưa ra sự trích dẫn ở trên, nhưng
chúng tôi (Har Dayal) thú nhận rằng tôi thực sự không hiểu
những điều mà E. Senart muốn nói ở câu “sattva de la bodhi”.
Ý kiến của Kern là thành phần thứ nhất “bodhi” có thể
có liên quan đến thuật ngữ “buddhi” của hệ thống Yoga
(Du-già), vì thuật ngữ buddhisattva đặc biệt được tìm thấy
trong văn học Yoga (Du-già). Như vậy, Bồ-tát có thể là
một nhân vật cách hóa sự hiệu biết tiềm tàng (trong chúng
sinh)
(6)
Sattva có thể là một hình thức Sanskrit hóa sai của thuật
ngữ Pàli ‘satta’, và từ Pàli này có thể tương hợp với
từ Sanskrit “Satka”. Như vậy, từ chữ “boddhisatta” của
Pàli, theo đó tiếng Sanskrit bắt nguồn sẽ là bodhi-satka, có
nghĩa là “người tận tụy với hay gắn chặt với giác ngộ
(bodhi)”. Satka (từ căn gốc sanj) có nghĩa là “bám vào, níu
lấy, hay gắn chặt vào, nối kết lại, liên kết với, say
mê với, tận tụy với, thích thú, miệt mài” (Skt. Dicy. M.W).
Theo từ điển Pàli, thuật ngữa Pàli ‘satta’ cũng có liên
hệ với những từ của Sanskrit, như ‘sattva, sapta, sakta, và
sapta. Có người đã gợi ý rằng từ Pàli ‘satta’ có liên
hệ với từ Sanskrit ‘Sukta’ mà không phải là ‘sùtra’,
vì từ sùtra là một chọn lựa không thích hợp đối với
những bài kinh dài dòng và rườm rà của Phật giáo. Các nhà
Phật học rất chú trọng đến tầm quan trọng của những
lời dạy tốt (subhasita), và theo họ từ Pàli sutti thì không
tương hợp với từ Sanskrit sùkti (Pàli, Dicy. S.v.). Tuy nhiên
điều có thể là người ta có thể lập luận một cách hợp
lý rằng từ Bdhi-sakta của Sanskrit thì có thể tương đồng
với từ Pàli bodhisatta. Ý kiến của các học giả Phật giáo
chọn sự diễn dịch sattva không cần phải xem là quyết định
tuyệt đối trong vấn đề này, vì chắc chắn họ đã cho
chúng ta những hình thức Sanskrit sai lầm khác, ví dụ smrupasthàna
(thay cho từ Pàli), samyak-prahàna (thay thế cho từ Pàli sammappadhàna),
v.v…; bodhisattva cũng có thể thuộc về những thuật ngữ
Sanskrit sai lầm này. Tuy thế, P. Oltramare loại bỏ cách giải
thích trên, vì động từ sanj thì không được dùng để biểu
thị sự gắn bó với những lý tưởng đạo đức và tâm
linh, và các nhà văn về sau cũng không thể tạo ra “một
lỗi lầm kỳ cục” như thế trong việc phiên dịch Pàli sang
Sanskrit.
(7)
“Santtva” có thể có nghĩa là “sức mạnh, năng lực, khí
lực, quyền lực, can đảm” (Skt. Dicy, M.W, trang. 1052). Từ
ngữ bodhisattva cũng sẽ có nghĩa là “người mà năng lực
và sức mạnh hướng đến sự giác ngộ (bodhi); Sattva trong
ý nghĩa này thường xuất hiện trong Avadàna-kalpa-làta của
Ksemendra (trang.4,5,6,7.) v.v…
[4]
Har Dayal, The Bodhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature, Delhi,
1975, tr. 9.
[5]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tăng Chi Bộ, Tập I, tr. 257-259.
[6]
ÐạI Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập I, tr.376.
[7]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Tập I, tr.401-402.
[8]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập I, tr.366.
[9]
Sđd., tr.336.
[10]
T.W Rhys Davids, Buddhist India, Delhi, 1993, tr. 188.
[11]
Bimala Churn Law, A History of Pali Literaure, tập I, Indological
Book House, 1983, p. 42.
[12]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập I, tr.527.
[13]
Sđd., tr.366.
[14]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Trường Bộ, Tập I, tr.448.
[15]
Thích Minh Châu (dịch) Kinh Bổn Sanh, Tập I, Tu Thư Vạn
Hạnh, 1980, tr.5.
[16]
Sđd., tr.53
[17]
Bhiksu Thích Minh Châu, The Chinese Madhyama Agama and the Pàli Majjhima
Nikàya, Delhi, 1991, trang. 33-34.
[18]
G.P. Malalasekera O.B.E., The Encyclopaedia of Buddhism, Cylon, 1971, Tập
III, trang.225
[19]
Kinh Pháp Cú, Kệ số 146.
[20]
Ðại Tạng Kinh, Kinh Trung Bộ, Tập I, tr. 527.
[21]
Ðại Tạng KinhVN, Kinh Tiểu Bộ, Tập I, tr. 596.
[22]
S đd.tr.600
[23]
Sđd, tr. 602
“Dục,
đội quân thứ nhất,
Thứ
hai gọi bất lạc,
Thứ
ba, đói và khát,
Thứ
tư, gọi tham ái,
Năm
hôm trầm thụy miên,
Thứ
sáu, gọi sợ hãi,
Thứ
bảy gọi nghi ngờ,
Tám,
dèm pha ngoan cố,
Lợi
danh và cung kính,
Danh
vọng được tà vạy,
Ai
tự đề cao mình,
Hủy
bang các người khác.”
[24]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Tập I, tr 603.
[25]
Trong mục này tác giả chỉ dựa vào Sutt-Nipata (Kinh Tập) để
rút ra sáu pháp môn tu tập của Bồ-tát vốn được đề cập
rất nhiều nơi trong các kinh Nikàya khác. Sáu pháp này về
sau được gọi là “lục độ” hay “sáu ba la mật” (Pàramitas).
[26]
Ðại Tạng Kinh VN, Tiểu Bộ Kinh, tr. 530.
[27]
Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, tr.518.:
“Ai
luôn luôn đủ giới,
Có
tuệ khéo thiền định
Tâm
hướng nội chánh niệm
Vượt
bộc lưu khó vượt.
[28]
Sđd, tr. 525.
“Hãy
hỏI các vị khác,
Sa
môn, bà la môn,
Nếu
có pháp nào khác,
Ở
đời, lại thắng hơn
Sự
thật và nhiếp phục
Bố
thí và kham nhẫn”
[29]
Sđd, tr. 523.
“Với
tín vượt bộc lưu,
Không
phóng dật vượt biển,
Tinh
tấn vượt đau khổ
Với
tuệ được thanh tịnh”
Và:
“…
dầu thịt có hủy hoại
Tâm
ta càng tịnh tín,
Ta
lại càng vững trú,
Niệm,
tuệ và Thiền định”. (Sđd.tr. 602)
[30]
Xem Kinh Trung Bộ, tập I
[31]
ÐạI Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập II, tr. 68-69
[32]
ÐạI Tạng Kinh VN, Kinh Trung Bộ, Tập II, tr.96.
[33]
ÐạI Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, Tập I, tr.748.
[34]
ÐạI Tạng Kinh VN, Kinh Tiểu Bộ, tập I, tr.64.
[35]
H.W. Schumann, The Historical Buddha, Penguin Arkana, London, The back
cover paper.
[36]
D.T. Suzuki, Outlines of Mahàyàna Buddhism, Schocken Books Inc. London,
1963, tr. 290.
[37]
N.Dutt, The Spread of Buddhism and The Buddhist Philosophy, Rajesh Publication,
New Delhi, Allahabad, 1980, tr. Ix.