Chương
Một
Tổng Quan
Duyên
khởi
Thành
tựu của cái gọi là “nền văn minh khoa học kỹ thuật”
của thế kỷ hai mươi đã làm cho nhân loại tin tưởng, có
lẽ sai lầm, vào một tương lai sáng chói và triển vọng.
Trong thập niên cuối của thế kỷ này hầu hết mọi quốc
gia trên thế giới đã say sưa với khẩu hiệu “bước vào
thiên niên kỷ mới bằng đội tiên phong của nền công nghiệp
hóa và hiện đại hóa”. Các quốc gia phát triển hy vọng
tiến thẳng về phía trước để từng bước thỏa mãn
khát vọng của mình ngang qua lợi thế của thành quả của
ngành khoa học kỹ thuật không gia điện toán. Trong khi ấy,
những đất nước đang phát triển nỗ lực thu hoạch các
mẫu mảnh, cả vật chất cũng như kiến thức, do bà con láng
giềng phát triển bỏ lại một bên như là loại thặng dư.
Nói chung, toàn bộ thế giới đang phô bày tất cả ham muốn
của mình trong tiện nghi và thoải mái vật chất do sự thành
tựu của nền công nghiệp và khoa học kỹ thuật mang lại;
và dường như họ đang trở thành kẻ miên hành trong thiên
đàng của vật chất trần thế.
Tuy
vậy, trong khi đại đa số con người trên hành tinh đang tắm
mình trong nắng ấm của các thành tựu từ việc ứng dụng
trí tuệ khoa học và tôn vinh nó như là một loại tôn giáo
mới: “Tôn Giáo Khoa Học Kỹ Thuật”, thì mỉa mai thay đã
có một sự nhất trí, ít nhất là giữa giới quan sát phê
bình, những chính trị gia tỉnh táo, và ngay cả nhiều khoa
học gia, cha đẻ hay trực tiếp hay gián tiếp các sản phẩm
này, rằng có một điều gì đó có hại, bất an tiềm ẩn
dưới tiến trình khoa học ấy, giống như mầm mống của
bịnh Sida đang đe dọa sự sống của nhân loại. Càng ngày
càng gia tăng không ngừng số lượng học giả quan tâm đến
sự thật vừa nêu. Họ suy nghĩ, tính toán và cân nhắc một
cách nghiêm túc việc bảo tồn sự sống và thật sự đã
có cảm giác sợ hãi sâu sắc về khuynh hướng chung mà nền
văn minh nhân loại đang diễn tiến. Số người ấy cảm thấy
nghi ngờ đến chính sự sống còn của nhân loại. Ðối với
họ, khuynh hướng này đang thực sự đưa nhân loại đến
một cuộc đối đầu nguy hiểm: “đối đầu với sự sống
còn của toàn bộ cuộc sống trên trái đất này”, nếu nó
không sớm được rà soát và đánh giá lại. Trên thực tế,
chính ngang qua lối sống hiện đại ấy mà con người đã
tạo ra vô số khủng hoảng cho chính họ cũng như cho thế
giới tự nhiên. Sau đây là một vài nét điển hình về cuộc
khủng hoảng mà các nền văn hoá được mệnh danh là “những
quốc gia phát triển hay các miền đất hứa” đã gây ra.
Khủng
hoảng lý tưởng sống- Khủng hoảng đời sống con người
Trước
tiên, Erich Fromm đã nêu ra một điểm qua trọng để chúng
ta suy nghĩ, khi ông nói rằng:
“Dùng
trí năng kiểm soát thiên nhiên và sự sản xuất càng ngày
càng nhiều đồ vật đã trên nên mục tiêu tối quan trọng
của sự sống. Trong tiến trình này con người đã tự biến
mình thành đồ vật, cuộc sống đã bị lệ thuộc vào tài
sản; quan niệm “hiện hữu” bị chi phối bởi quan niệm
“sở hữu”. Trong khi căn nguyên của nền văn hóa Tây phương,
bao gồm cả Hy Lạp lẫn Do Thái, xem mục tiêu của cuộc đời
là hoàn thiện con người, con người thời đại ngày nay chỉ
quan tâm đến hoàn thiện đồ vật, và học cách để tạo
ra chúng”.[1]
Hàng
loạt rắc rối nối kết theo như là hệ quả hiển nhiên từ
quan điểm trên hướng đến cuộc sống như đã được giáo
sư tiến sĩ Trover Ling trình bày trong tác phẩm triết học
so sánh: “Ðức Phật, Max, và Thượng Ðế” (Buddha, Max và
God). Theo Trover Ling, người phương Tây đã tạo ra vô số vật
chất của cải, nhưng đồng thời họ cũng đã giết hại
hàng triệu mạng sống của con người qua sự bùng nổ một
khối lượng bạo động khủng khiếp, mà một cách bóng
bẩy họ gọi là chiến tranh: Ðây là cái xã hội được mệnh
danh là xã hội tỉnh táo. Nhiều nghiên cứu văn bản học
có giá trị đã chứng minh rằng chính xã hội này đã phải
chịu sự tổn thương với tỷ lệ cực kỳ cao về hành động
tự tử, giết người, và rựợu chè; và các hiện tượng
đó đã chứng tỏ rằng phương Tây là một xã hội bệnh
hoạn. Sự giàu có gia tăng đi kèm với việc gia tăng số lượng
người nghiện rượu và tự vận. Căn cứ vào dữ liệu được
Liên Hiệp Quốc thống kê hằng năm, quốc gia có kỷ lục
tệ hại nhất về cả việc tự tử lẫn rượu chè là Hoa
Kỳ, Ðan Mạch, Tân Tây Lan, và Thụy Ðiển. Nói khác đi, những
đất nước được tự cho là dân chủ, an bình và thịnh vượng
nhất đó đang càng ngày càng trở nên khốn khổ với vô số
căn bệnh hiểm nghèo. Bình luận về tác phẩm “Xã Hội Tỉnh
Táo của Erich Fromm”, Trover Ling nhận định rằng hình ảnh
rõ ràng của một xã hội điên cuồng đặc biệt liên quan
đến Hoa Kỳ nhiều hơn là những quốc gia Châu Âu; nhưng thực
tế, khuynh hướng xã hội của các nước ở Châu Âu đang
diễn biến như tình huống ở Hoa Kỳ.[2]
Nhưng
đây không phải là tất cả! Trover Ling tiếp tục nói rằng,
giả thiết rằng thế giới này tránh được hiểm họa chiến
tranh, Erich Fromm đã cảm nhận được sự nguy hiểm khủng
khiếp mà nhân loại sẽ phải đối đầu khi thế giới của
con người trở thành thế giới người máy. Sự thật có thể
là những người mấy ấy sẽ nổi loạn khi chúng không còn
có thể chịu đựng được nổi buồn chán của một cuộc
sống hoàn toàn vô nghĩa, vì vậy chúng muốn huỷ diệt thế
giới và huỷ diệt cả chính mình. Erich Fromm kết luận rằng
Hoa Kỳ, đất nước tiến bộ nhất và thịnh vượng nhất
về vật chất, đã biểu hiện mức độ to lớn nhất về
sự mất cân đối tinh thần.[3]
Ngoài
hình thái hủy diệt mang tính thế tục, một số tôn giáo
cuồng tín nguy hiểm đã cộng thêm hàng loạt nguy cơ vào kỷ
nguyên mà chúng ta đang sống. Những việc làm cực kỳ nguy
hiểm của cái gọi là “Giáo Phái Ðộc Dược” và “Linh
Hồn Lưu Lạc”[4] là vài trường hợp điển hình. Giáo chủ
của tín ngưỡng ấy là một người Nhật, tên là Shoko Asahara.
Giáo phái này nổi lên ở Nhật Bản rồi lan tràn sang Hoa Kỳ,
Liên Xô và nhiều nơi khác. Tín đồ của họ không chỉ bao
gồm một số lượng lớn sinh viên, học sinh, mà còn có các
học giả, bác sĩ, giáo sư từ nhiều quốc gia khác nhau. Bên
cạnh những khủng hoảng điên cuồng vừa nêu, sự tan rã
tinh thần của tập thể Tổ Chức Máy Tính Hoa Kỳ, gọi là
“The Maker”[5], cũng đã góp phần chứng minh một cách hùng
hồn rằng chúng ta thật sự đang sống trong thời đại nguy
hiểm.
Khủng
hoảng thế giới tự nhiên
Nhân
loại ngày nay đang tự đặt mình trong tình huống thật là
liều lĩnh ngang qua hàng loạt việc làm vô nghĩa và tàn nhẫn,
không chỉ đối với chính họ mà có lẽ toàn bộ đời sống
trên hành tinh này cũng chung số phận và sẽ bị tiêu diệt!
Chúng ta ắt hẳn sẽ rùng mình khi nhìn thấy thoáng qua các
thảm họa mà con người khắp thế giới phải gánh chịu trong
thời gian vừa qua. Có lẽ đây là dấu hiệu rõ ràng cho sự
kiện trên. Không có gì để nghi ngờ về sự thật rằng,
lúc này chính thế giới tự nhiên với tư thế tự vệ đang
giận dữ chống lại con người ngang qua những hình thức bão
táp, sóng thần, lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa,
v.v… Có lẽ chúng ta sẽ không lạc đề khi trích dẫn lời
phát biểu của nhà sử học người Mỹ, Arnold.J. Toynbee, ra
đây để minh họa cho lập luận trên:
“Dường
như không có gì để ghi ngờ rằng quyền lực kiểm soát môi
trường của con người đã đạt tới một mức độ mà ở
đó quyền lực này sẽ dẫn đến sự tự diệt vong nếu như
người ta tiếp tục sử dụng nó để phục vụ tham vọng
của mình…”[6]
Như
vậy, thật sự chúng ta đang đối mặt với một tình huống
rất đáng sợ! Khủng hoảng là một sự thật không thể chối
cãi! Nhưng điều gì thực sự đã tạo ra tình huống như vậy?
Ðể trả lời cho câu đó, chúng ta cần phải nghiên cứu nguồn
gốc của cuộc khủng hoảng. Nói cách khác, chúng ta phải
tìm cho ra nguyên nhân đưa con người rơi vào cơn rối loạn
này.
Nguyên
nhân của sự khủng hoảng
Theo
ý kiến của các nhà đạo đức học, nguyên nhân chủ yếu
về nguồn gốc của cuộc khủng hoảng chết người này chính
là cuộc sống thực dụng, đắm chìm trong xa hoa khoái lạc
quá độ của con người khắp hành tinh này, đã đưa nhân
loại đến bờ vực của sự hủy diệt, cả vật chất lẫn
tinh thần.
Mặt
khác, giới học giả trong ngành tâm lý học cho rằng khủng
hoảng có lẽ phát sinh từ cái gọi là “malaise, ennui, mal
du siècle - phiền muộn, bực dọc, bệnh thế kỷ”. Ðó là
“sự tê liệt hóa cuộc sống, sự máy móc hóa con người,
sự cách ly khỏi chính mình, khỏi đồng loại và khỏi thiên
nhiên; và đó là kết quả của kiểu sống “hoàn thiện đồ
vật” như đã đề cập ở trên.[7]
Theo
ý kiến của giới khoa học xã hội và môi trường học, nguyên
nhân chính của cuộc khủng hoảng có thể nằm đằng sau nền
tảng của triết lý sống; nghĩa là sự khủng hoảng bắt
nguồn từ lối sống mất cân đối hiện nay. Ðiều này ngụ
ý rằng nền văn minh hiện đại cải thiện mọi lãnh vực
của cuộc sống, bao gồm kỹ thuật, khoa học, công nghệ,
để làm thỏa mãn mong ước của con người, nhưng nó lại
không hoàn thiện lãnh vực đạo đức nhân văn. Nói khác đi,
nhân loại đang thăng tiến về phương diện vật chất, nhưng
lại thoái hóa về phương diện tinh thần.
Dĩ
nhiên, còn rất nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn
đề này; tuy vật, có một sự nhất trí giữa hầu hết các
học giả rằng cuộc khủng hoảng hiện nay là khủng hoảng
sinh học, như lời của giáo sư Aurelo Peccei, chủ tịch Câu
Lạc Bộ Rom của nước Ý, đã phát biểu trong cuộc đàm luận
với giáo sư tiến sĩ Daisaku Ikeda của Nhật Bản. Theo ý kiến
rất thuyết phục của giáo sư A. Peccei, cuộc khủng hoảng
của thời đại chúng ta hiện nay không phải được định
sẵn trong bản chất cốt lõi của con người, do vậy không
phải không tránh được. Sau khi nghiên cứu một cách nghiêm
túc vấn đề ở mọi cấp độ, A. Peccei đi đến kết luận
rằng đó là cuộc khủng hoảng văn hóa, bắt nguồn từ truyền
thống Do Thái giáo thuộc Tây Nam Châu Á và Thiên Chúa giáo,
sau đó lan tràn khắp mọi nơi.
Sự
thật không thể tranh cãi là, trên thực tế tất cả nền
tảng văn hóa khắp thế giới này chịu ảnh hưởng rất nhiều
bởi triết lý tôn giáo của chúng. Nói khác đi, chúng ta có
thể không sai khi nói rằng không có dân tộc nào không có
tôn giáo; hoặc là, tôn giáo là nhu cầu của bộ phận quần
chúng rất đông đảo, nó tạo nên một mẫu thức sống có
định hướng và một đối tựơng để phụng thờ…
Từ
một số giải thích vừa nêu trên, chúng ta có thể an tâm
để đưa ra giả thuyết rằng tình trạng tiến thoái lưỡng
nan của thời đại ngày nay có gốc rễ từ tôn giáo. Lập
luận tiếp theo của giả thuyết này sẽ là: Tôn giáo là sự
biểu hiện nhu cầu của một dân tộc và bản chất của một
nền văn hóa. Vậy, khi một tôn giáo nào đó không còn thỏa
mãn được niềm tin và khát vọng của con người, nó sẽ
bị một hình thức tín ngưỡng hay tôn giáo khác thay thế
như là một hệ luận tất yếu. Như người ta thường nói,
tôn giáo là một nét văn hóa đặc trưng từ sự khám phá
hay tưởng tượng của con người ở một thời điểm lịch
sử nào đó. Tất cả hình thái tôn giáo giống như một loài
hoa quý hiếm trong vườn hoa của địa đàng trần gian, tức
thế giới này; nó là một bảo vật cần phải luôn luôn được
giữ gìn và trân trọng. Tuy vậy, trong thực tế không phải
mọi tôn giáo đều có ích và là điều đáng mong muốn đối
với nhân loại, vì như lịch sử đã minh chứng, phần lớn
các tín ngưỡng và tôn giáo là sản phẩm của một số tâm
hồn bất toàn, và chúng thật sự đã đưa con người đến
những tình huống vô cùng tổn hại, trong cả lãnh vực vật
chất lãnh tinh thần. Câu chuyện của một giáo phái ở Triều
Tiên “Ngày tận thế không đến” do Nhật báo Orange County
Register tường thuật lại vào ngày 29 tháng 10 năm 1992, làm
hàng trăm ngàn gia đình tán gia bại sản đã khiến người
ta sửng sốt; hoặc chuyện thương tâm của hàng ngàn người
Ðài Loan sống ở Mỹ, như Nhật báo “Times of India” đưa
tin, cũng sẽ chứng minh cho lý luận trên. Ðó là, sau khi bán
nhà cửa đất đai theo lời khuyên của giới lãnh đạo tôn
giáo, số người Ðài Loan ấy đã chờ đợi sự xuất hiện
của Ðấng Cứu Thế ở kinh truyền hình 18 của đài Truyền
hình Hoa Kỳ vào tuần thứ hai của tháng ba năm 1998, nhưng
cuối cùng họ thất vọng tự tử, vì biết rằng mình đã
bị lừa gạt.
Ðương
nhiên, sau khi bị đau khổ bởi niềm tin lầm lạc, con người
có khuynh hướng phản kháng, và sự phản kháng đó đã dẫn
đến một quá trình thay đổi hình thái tôn giáo. Ở nền
văn hóa Châu Âu, hai đổi thay vô cùng quan trọng đã diễn
ra trong lịch sử tôn giáo của nó và hai chuyển biến này
cũng là bước ngoặt lịch sử trong sự tiến bộ và phát
triển của nền văn minh Tây Âu.
Bước
thay đổi đầu tiên xảy ra vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên
khi Thiên Chúa Giáo thế chân tín ngưỡng La Mã Hy Lạp. Lần
chuyển đổi thứ hai là sự xuất hiện của một số loại
tôn giáo đặc thù vào thế kỷ thứ 17, đó là: Lòng Tin vào
sự tiến bộ khoa học, Chủ Nghĩa Dân Tộc v.v… Hai bước
thay đổi trên thật sự đã đưa nhân loại đến tình huống
hiện nay. Rõ ràng, mỗi lần khủng hoảng phát sinh ấy là
lúc tôn giáo không còn đáp ứng được lý tưởng sống cũng
như nhu cầu tâm linh của con người ở một thời điểm cụ
thể nào đó. Ví dụ, khi văn minh Hy Lạp-La Mã biểu hiện
sự yếu kém của nó trong việc thích nghi với tiến trình
mở mang hiểu biết của nhân loại, lập tức nó bị Thiên
Chúa Giáo tiếp quản. Cũng thế, khi giới tri thức Châu Âu
trở nên thất vọng với các giá trị của đạo Thiên Chúa,
sự thất vọng ấy đã khiến họ quay lưng với học thuyết
tôn giáo để dạy theo khoa học, và thờ ơ với những xung
đột tôn giáo chính trị để rồi say sưa trong tiến bộ của
kỹ thuật, như nhiều học giả lỗi lạc đương thời, đặc
biệt là hai triết gia và sự học gia Arnold J. Toynbee và Daisaku-Ikeda,
nhận định và đánh giá.
Nhưng
nguyên nhân chính yếu nào đã đưa các hình thái tôn giáo
tín ngưỡng đương đại đến sự sụp đổ? Tất nhiên, có
nhiều giải đáp cho câu hỏi vừa đặt ra. Tuy nhiên, nguyên
nhân chủ yếu nhất mà người ta thường nghĩ đến là sự
hiện hữu không có thật của Thượng Ðế, hoặc Ðấng
sáng thế; hay dùng câu nói thời danh của Nietzche, triết gia
vĩ đại của thế kỷ 20, “Thượng Ðế đã chết”. Nói
cách khác, sau một thời gian dài lang thang và khổ sở trong
bức màn tăm tối của sự thiếu hiểu biết, nhân loại đã
nhận thức được rằng ý tưởng về một vị Thượng Ðế
toàn tri, toàn năng chỉ là sự tưởng tượng sai lầm và vô
ích của con người và chính ý tưởng đó là cội rễ của
mọi sợ hãi. Thượng đế được tạo ra do vì con người
tự cảm thấy mình quá nhỏ bé và bơ vơ trong cái thế giới
vũ trụ lớn lao phía trước họ. Nhưng với sự tiến bộ
về tri thức, nhân loại đã liều lĩnh lao vào trong một loại
tôn giáo mới: Tôn giáo Trí Năng. Quả thực, cuộc cách mạng
này là thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng
nhân loại. Thực chất, sau khi loại trừ cái ảo giác về
Thượng đế, và sau khi cắt bỏ mọi hình bóng thánh thần
khỏi tâm tư của mình, con người đã chiến thắng mọi sự
vật ngang qua nỗ lực và hiểu biết của tự thân, và chính
niềm tin mới đó đã đưa đến thành công của nền văn minh
hiện nay.
Nhưng
bất hạnh thay, khi người ta loại bỏ cái ảo giác về Thượng
đế tuyệt đối, cùng lúc họ cũng từ bỏ hoàn toàn nhu cầu
thực tế về một tôn giáo chân chính với những mục tiêu
chân thật cho cuộc sống với hệ quả là nhân loại bắt
đầu sờ soạng trong thế giới không có định hướng. Tuy
nhiên, giờ đây con người sớm nhận thức được tính nghiêm
trọng của tình huống và cố gắng tối đa để tìm ra giải
pháp ngõ hầu thoát khỏi tình trạng đáng buồn này. Lý do
chính của vấn đề này là con người thật sự biết rằng
một cuộc sống có ý nghĩa không chỉ bao hàm khía cạnh vật
chất mà còn có khía cạnh tâm linh. Nhưng, như mọi người
đã biết, Tín ngưỡng Khoa học kỹ Thuật, Tín ngưỡng chủ
nghĩa dân tộc v.v… những loại tôn giáo mới của cuộc cách
mạng thứ hai, cũng không thể đáp ứng được nhu cầu bức
thiết cho nhân loại như đã được chứng minh. Tuy nhiên, trong
khi bàn thảo lại vấn đề này có lẽ sự trích dẫn sau đây
nhằm để cũng cố mạnh mẽ giả thiết trên hy vọng sẽ
có ích đối với chúng ta, vì các sự kiện đó đã xảy ra
ở Nhật Bản, một đất nước có thể xem là hùng cường
nhất trong mọi lãnh vực, không chỉ có thể làm tiêu biểu
cho lối sống hiện nay của các nước văn minh châu Âu mà
còn tiêu biểu cho Mỹ quốc, “Vùng Ðất Hứa” của nhiều
quốc gia đang phát triển:
“Những
điều tôi đang cố gắng để minh chứng là, mặc dầu chúng
là một phần của thế giới hiện đại trong đó người Nhật
đang sinh sống và làm việc, ở Nhật Bản niềm tin và sự
tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chủ nghĩa dân tộc… đã
không lấp đầy được khoảng trống tâm linh do việc suy thoái
niềm tin vào các tôn giáo truyền thống gây ra.”[8]
Thực
ra, khi sự hiện hữu của ý tưởng về đấng Thượng đế
đầy quyền uy không còn tác dụng nhiều đối với đại đa
số nhân loại, thì tư tưởng cứu độ và giải thoát trên
trần thế cũng tự động phai lạt dần trong tâm trí con người.
Người ta trở nên thờ ơ với mọi chuyện xảy ra giữa cuộc
đời, và sự thờ ơ đó đã mở đường cho một lối sống
tàn bạo, không công bằng và bạo động khiến Krishnamurti,
triết gia nổi tiếng Ấn Ðộ đã cảm thán như sau: “Người
biết cách để tách hạt nguyên tử nhưng không có lòng yêu
thương trong trái tim cũng giống như một con quỉ.”[9]
Quả
vậy, thật vô cùng mỉa mai khi chúng ta phải chấp nhận một
sự thật rằng khuynh hướng của các loại tân tôn giáo khởi
sinh trong thế kỷ mười bảy như đã giới thiệu ở trên
đã từng bước biến trái tim con người trở thành sỏi đá.
Nói khác đi, trên danh nghĩa của những loại tôn giáo này
nhân loại đã hoàn toàn tập trung năng lực của mình vào
chủ nghĩa vật chất và sự thoải mái của nó, bao gồm dục
vọng xác thịt, tiền bạc, danh dự, của cải, v.v… thay cho
giá trị của tình yêu thương, lo lắng, lòng trắc ẩn và
sự quan tâm. Con người đã đánh mất phương hướng về đời
sống tâm linh của họ như Erich Fromm đã từng nói:
“Không
thể trích dẫn ví dụ nào hay hơn để chỉ ra những người
bị điếc trước câu hỏi được đặt ra cho sự hiện hữu
bằng chính chúng ta, con người sống trong thế kỷ hia mươi
này.”[10]
Dự
Kiến Giải Pháp
May
mắn thay, khác với đại đa số quần chúng đang đắm chìm
trong thiên đàng vật chất, có một số lượng người tỉnh
táo, dù rất ít ỏi, sống rải rác khắp nơi quan tâm đến
tình huống nghiêm trọng mà nhân loại đang phải đối đầu.
Trong số đó, nhà vật lý học lỗi lạc Albert Einstein, một
nhân cách đã được nhân loại thừa nhận là tiêu biểu nhất
của thế kỷ hai mươi, nói rằng:
“Người
có thể sáng tạo ra khoa học phải là người hoàn toàn thấm
nhuần những ước ao hướng đến chân lý và sự hiểu biết;
tuy nhiên, nguồn cảm giác ấy lại bắt nguồn từ lãnh vực
tôn giáo. Ðối với việc này, chúng ta có thể tin rằng các
nguyên tắc có giá trị cho sự tồn tại của cuộc đời là
dựa trên lý trí, nghĩa là có thể nhận thức được lẽ
phải. Tôi không thể tưởng tượng được một nhà khoa học
chân chính mà không có niềm tin sâu sắc. Hình ảnh sau đây
có thể diễn đạt cho sự kiện này: Khoa học không có tôn
giáo là khoa học khập khiễng, tôn giáo không có khoa học
là tôn giáo mù quáng”.[11]
Qua
việc nghiên cứu cẩn trọng về nguyên nhân của sự xung đột
đang diễn ra hiện nay giữa các hình thức tôn giáo và khoa
học, tiến sĩ Albert Einstein nhận định rằng nguyên nhân xung
đột nằm ở ý niệm về đấng Thượng đế toàn trí toàn
năng, bởi vì đấng Thượng đế độc quyền như vậy, có
một tên gọi khác là “tôn giáo của sự sợ hãi”, chỉ
là nhu cầu nhất thời của nhân loại trong quá khứ khi họ
biết rất ít về mình và về thế giới tự nhiên. Tuy nhiên,
con người văn minh trong thế kỷ hai mươi rõ ràng đã vượt
lên trên cả cấp độ của “tôn giáo đạo đức”, tên
gọi khác của các tín ngưỡng Hy Lạp La Mã cổ đại, Do Thái
giáo và Thiên Chúa giáo, vì những tôn giáo, tín ngưỡng vừa
nêu chủ yếu xây dựng trên niềm tin.
Như
vậy loại tôn giáo nào có thể thích hợp với thời đại
hiên nay? Hay dùng câu hỏi của Trevor Ling, giáo sư tiến sĩ
môn Tôn Giáo Tỷ Giáo ở đại học Manchester, “Loại tôn
giáo nào là thích hợp nhất sinh khởi lên từ cuộc đấu
tranh sinh tồn này?” Tiến sĩ Trevor Ling cho rằng có thể sẽ
có nhiều lợi ích khi đặt vấn đề đó trong mối quan hệ
với Phật giáo, do vì một mặt Phật giáo là một hình thái
tôn giáo có thể tương hợp với xu thế thế tục hiện nay
hơn hầu hết các tôn giáo khác. Mặt khác, tính chất chuyển
hóa tư tưởng mà qua đó giới Phật tử vận dụng để vượt
qua những cạnh tranh đầy tính thế tục thì dường như Phật
giáo có thể xem là có ý nghĩa đáng kể nhất so với các
tôn giáo khác.
Còn
ý kiến của học giả trong các lãnh vực khác thì thế nào?
Trong việc đề ra phương pháp giải quyết cuộc khủng hoảng
tâm linh trầm trọng của thế giới châu Âu, Nietzche, triết
gia lỗi lạc người Ðức, đã nói rằng: “Phật giáo là
tôn giáo để đạt đến mục tiêu sau cùng và cho một nền
văn minh đã mòn mõi…” và “Phật giáo đang phát triển
một cách thầm lặng trong toàn bộ lãnh thổ châu Âu.”[12]
Cũng thế, nhà bác học vật lý Albert Einstein lập luận rằng
thời đại của chúng ta đang cần một loại tôn giáo gọi
là “tôn giáo cảm thọ toàn cầu”, và ông nói rằng “Phật
giáo, như chúng ta đã học được, đặc biệt từ các bài
viết tuyệt vời của Schopenhauer, chứa đựng những yếu tố
rất rõ ràng của loại cảm giác này.”[13]
Một
số gợi ý đề cập ở trên liên quan đến chủ đề của
tác phẩm nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ nhu cầu thật
sự của thế giới đương thời. Tuy thế, sự kiện này hy
vọng sẽ trở nên rõ ràng hơn đối với mọi người qua việc
lắng nghe cuộc đối thoại với chủ đề về nhu cầu tôn
giáo của thế giới hiện đại giữa hai học giả lão thành
Daisuka Ikeda và A.J. Toynbee. Ðề cập đến vấn đề nóng bỏng
trên, tiến sĩ D. Ikeda đưa ra lý luận rằng tôn giáo có thể
hướng đạo cho một nền văn minh ở cấp độ cao này phải
là tôn giáo kết hợp được cả khoa học và triết lý. Theo
ông, tôn giáo mà nhân loại ngày nay đang cần phải linh cảm
được tinh thần triết học và khoa học của con người và
có khả năng đáp ứng được những nhu cầu của thời đại
mới. Ðó phải là một tôn giáo có thể vượt lên trên các
điểm bất đồng giữa Ðông và Tây, nối kết nhân loại
thành một bộ phận thống nhất, cứu cho thế giới Âu Mỹ
ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay, và giúp cho thế giới
Ðông phương vượt qua gian khổ, đói nghèo. D. Ikeda cho rằng
phát hiện ra loại tôn giáo vừa nêu hẳn là một kỳ công
vĩ đại của nhân loại.
Ðáp
lại ý tưởng của D. Ikeda, giáo tiến sĩ A.J. Toynbee xác nhận
rằng:
“Con
đường hướng đến cuộc cách mạng kỹ thuật kinh tế đã
mở ra cuộc cách mạng tôn giáo trước đó ở giai đoạn cuối
của phương Tây thời cổ đại. Cuộc cách mạng tôn giáo
ấy là sự chuyển đổi từ độc thần giáo sang phiếm thần
giáo. Tôi tin tưởng rằng nhân loại cần phải trở về với
phiếm thần giáo… Tôi cảm nhận rằng những gì mà ngài
(tức tiến sĩ D. Ikeda) muốn nói thì rải rác đó đây trong
bản chất của Phật giáo, và chính vấn đề này mang tôi
trở về với thực chất của điều mà tôi gọi là tôn giáo
cao cấp. Bằng chính từ ngữ ấy, tôi muốn ám chỉ đến
loại tôn giáo có thể làm cho từng cá nhân tiếp xúc được
với thực tại tâm linh tuyệt đối, thay vì chỉ cho họ sự
tiếp xúc gián tiếp với thực tại đó ngang qua các phương
tiện như năng lực siêu nhân, hay các tổ chức bao gồm sức
mạnh của một tập thể con người. Tôn giáo cao cấp như
được định nghĩa ở đây là loại tôn giáo mà nhân loại
đang cần.”[14]
Xu
Hướng Hiện Nay Của Tôn Giáo
Sau
khi điểm xuyết qua một số tử tưởng tiêu biểu trong các
lãnh vực nghiên cứu để tìm kiếm một tôn giáo có thể
đáp ứng cho nhu cầu khẩn thiết của con người thời đại,
đến đây hẳn chúng ta đã có thể yên tâm để đi đến
giả thuyết rằng, trong tất cả tôn giáo hiện nay trên thế
giới, Phật giáo có lẽ là tôn giáo đầu tiên mà nhân loại
văn minh cần phải suy gẫm và chọn lựa cho mục đích giải
quyết các thảm họa sắp tới. Trong cái nhìn của chúng tôi,
Phật giáo, đặc biệt Phật giáo Bắc Truyền hay còn gọi
là Bồ Tát Ðạo với nền tảng giáo lý từ bi (Karunà) và
trí tuệ (pràjnã), dường như thích hợp nhất trong tình huống
tiến thoái lưỡng nan như thế này.
Quả
thật, một trong những giáo lý trọng tâm Phật giáo Bắc Truyền
là giáo lý Bồ-tát (Sanskrit: Bodhisattva; Pali: Bodhihsatta). Trong
thực tế, chỉ vài thế kỷ sau ngày nhập Niết bàn của Ðức
Phật Gotama (Cù-Ðàm) tư tưởng Bồ-tát đã truyền bá khắp
các thị trấn, đô thị ở Bắc Ấn Ðộ cũng như vùng Trung
Á và Viễn Ðông.
Cũng
chính ngang qua giáo lý Bồ-tát mà Phật giáo đã được hoan
nghênh đón tiếp, và cắm rễ sâu trong lòng một số lượng
lớn các dân tộc. Kể từ ngày xuất hiện, Phật giáo đã
có những ảnh hưởng lớn lao nhất định trong nền giáo dục,
văn hóa, đạo đức, văn minh của các quốc gia đó từ thời
quá khứ cho đến hiện nay.
Mặc
dù bắt nguồn từ Phật giáo Ấn Ðộ, với tinh thần phương
tiện thiện xảo (upàya hay upàya-kaúsalya) giáo lý Bồ-tát
đã mang nhiều ý nghĩ và hình ảnh đặc thù ở từng quốc
gia khác nhau. Nhưng điều quan trọng cần được cân nhắc
và suy nghĩ ở đây là, các vị Bồ-tát được đề cập trong
các kinh Bắc Truyền như Văn Thù Sư Lợi (Manjussri), Phổ Hiền
(Sàmanatabhadra), Quán Thế Âm (Avalokitésvara), v.v… đã trở
thành đối tượng tín ngưỡng. Nghĩa là, số Bồ-tát này
đã được tôn lên bàn thờ thần thánh như thánh thần của
mọi tôn giáo khác. Nghiêm trọng hơn thế nữa, tất cả Bồ-tát
được xem như là lớp người sở hữu quyền lực siêu nhiên,
có thể cứu độ chúng sinh đang khốn khổ trong cõi Ta-bà
nếu những chúng sinh ấy phụng thờ và cầu nguyện họ một
cách chí thành. Trong thực chất, cách hành trì ấy dường
như đã biến Phật giáo thành một loại tôn giáo hữu thần,
nhất đẳng thần, độc thần, hoặc đa thần. Nói khác đi,
khuynh hướng phát triển trên có thể đưa Phật giáo đến
bờ vực sụp đổ giống như tất cả mọi hình thái tôn giáo
đương thời đang phải đối mặt, và khiến toàn bộ tín
đồ của chúng phải mần mò tìm hiểu nghệ thuật sống của
văn hóa châu Á. Trong khi ấy, xuyên qua nền tảng giáo lý vô
ngã (anattà) và duyên khởi (pratyàsamutpàda) như là tinh túy
của mình, Phật giáo có thể được xem là tôn giáo phiếm
thần, và là “con đường tự độ” hay “tự cứu khổ”.
Do đó, sự thực hành trên nghe có vẻ khác với tinh thần
cốt tủy của Phật giáo. Khuynh hướng này cần phải được
đánh giá và soi sáng lại ngang qua chính lời dạy của Ðức
Phật ngõ hầu giúp giới Phật tử quay về với tinh thần
từ bi, trí tuệ để có thể cảm nhận được hương vị
giải thoát của giáo lý Phật giáo. Bằng việc làm này chúng
ta hy vọng rằng Phật giáo có thể giúp nhân loại tìm ra giải
pháp khả thi nhằm chế ngự cuộc khủng hoảng hiện nay và
hướng họ đến một lối sống hạnh phúc thật sự, tại
thế giới này và bây giờ.
Ðịa
Vị Của Con Người
Theo
Phật giáo, vị trí của con người là tối thượng. Con người
là vị thầy riêng của mình, và không có ai hay năng lực nào
ngồi để phán xét số phận của họ, vì Ðức Phật đã
dạy:
“Tự
mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, chứ không thể tìm
cầu nương tựa ở kẻ khác. Ai khéo tu tập và điều phục
mình, người ấy đạt được sự nương tựa chân chính”.[15]
Và:
“Này
thanh niên Bà La Môn, chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là
kẻ thừa tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp là
quyết thuộc, nghiệp là nhân tố phán xét”.[16]
Trong
khi ấy, đối với hầu hết tôn giáo hữu thần, vị trí của
con người là hoàn toàn khác biệt, ở đó con người được
quan niệm là những chúng sanh khốn khổ, cần được giáo
chủ tôn giáo của họ, tức số người sở hữu hay được
uỷ thác các quyền lực siêu nhiên cứu độ. Ngang qua tín
ngưỡng Bồ-tát như là các vị thánh thần, dường như giới
Phật tử trong thời đại ngày nay đang thực sự đi trên con
đường ngược với lời dạy chân chính của Phật đà. Khuynh
hướng này có thể khiến cho Phật giáo suy tàn và biến mất
trong một tương lai gần, như đã xảy ra trong một số quốc
gia, đặc biệt ở ngay tại Ấn Ðộ; đồng thời khuynh hướng
hiện nay cũng có thể phá tan niềm hy vọng lớn lao nhất của
nhân loại trong việc tìm kiếm con đường chế ngự cơn khủng
hoảng, nếu như chiều hướng ấy không thể kiểm soát và
trả lại hướng đi đúng đắn cho nó.
Vấn
Ðề Niềm Tin
Niềm
tin là một trong những yếu tố cốt lõi nhất đối với đời
sống con người. Chính ngang qua niềm tin mà cuộc sống của
người ta trở nên tiêu cực, hay tích cực, năng động hay
thụ động; và quan trọng hơn nữa là thất bại hay thành
công. Do thiếu niềm tin, hoặc do vì niềm tin sai lạc con người
có thể mất phương hướng của cuộc sống như nó đang xảy
ra.
Trong
lãnh vực tôn giáo, niềm tin lại càng quan trọng hơn. Tín
đồ của tôn giáo có cơ sở là niềm tin thì phải luôn luôn
tin tưởng rằng giáo chủ của tôn giáo họ là đấng siêu
nhiên, là đấng sáng tạo, và học thuyết của tôn giáo họ
là tuyệt đối chính xác. Tín đồ chỉ được phép tin và
thực hành học thuyết ấy mà không được nghi ngờ hay bối
rối. Theo giáo lý của hầu hết mọi tôn giáo, ngang qua niềm
tin vào đấng Sáng Tạo hay Thượng Ðế mà sự thông hội
giữa tín đồ và đấng Sáng Tạo hay Thượng đế được
hình thành; và nhờ ân huệ của họ, giới tín đồ sẽ gặt
hái được hạnh phúc và may mắn ngay trong hiện tại cũng
như tương lai. Hay dùng lời phát biểu của Bertrall Rusell, nhà
toán học và là triết gia lỗi lạc của thế kỷ 20, “Một
trong những nhược điểm của tôn giáo truyền thống là chủ
nghĩa cá nhân và nhược điểm đó thuộc về giá trị đạo
đức kết hợp tôn giáo ấy. Theo truyền thống, trong thực
chất của nó, đời sống tôn giáo là cuộc đối thoại giữa
linh hồn và Thượng đế. Vâng lời ý muốn của Thượng đế
là đức hạnh; và điều này có thể làm cho cá nhân không
chú ý tới tình trạng của tập thể.” Như vậy chúng ta
có thể nói rằng: “đến và tin” là khẩu hiệu của các
tôn giáo đó.
Trong
khi ấy, giáo lý Phật giáo hoàn toàn khác với các khái niệm
vừa nêu trên. Tuy rằng trong Phật giáo niềm tin cũng có một
vị trí quan trọng không kém, nhưng một niềm tin thuần tuý
không những đưa người Phật tử đi đến sự đoạn diệt
khổ đau, mà cũng không dẫn tín đồ ấy đến chân hạnh
phúc. Chỉ có niềm tin được xây dựng trên nền tảng của
trí tuệ, tu tập và tự thực nghiệm thì con người mới có
thể tự giải thoát khỏi nghiệp lực và khổ đau, để đạt
được hạnh phúc chân thật. Ðức Phật đã dạy rằng:
“Ðúng
vậy, này những người Kàlamas, các ngươi bối rối là phải,
hoài nghi là phải, vì các vấn đề ấy rất đáng được
hoài nghi.
Này
các Kàlamas, các ngươi đừng để bị lôi cuốn bởi lời
đồn, hay bởi truyền thống, hay những lời được tường
thuật lại. Các ngươi đừng để bị dắt dẫn bởi thẩm
quyền của kinh điển, hay bởi những lý luận suông, hay bởi
sư suy diễn, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay do bởi sự
thích thú quan niệm phỏng đoán, hay bởi những gì có vẻ
đáng tin, hay vì sự kính trọng, “đây là của thầy ta”.
Nhưng này các người dân bộ tộc Kàlamas, khi nào các ngươi
tự mình biết rằng những gì là ác, là bất thiện, là xấu
xa, và khi thực hành chúng đưa đến phiền muộn, khổ đau,
thì hãy từ bỏ chúng…, và khi nào tự thân các ngươi biết
rằng những điều đó là thiện, tốt lành, và khi thực hành
chúng là có ích lợi và hạnh phúc, thì hãy chấp nhận và
đi theo trong chúng.”.[17]
Và,
“Này
các Tỳ kheo, Ta nói rằng sự đoạn trừ các lậu hoặc và
bất tịnh là dành cho người biết và thấy, mà không phải
dành cho người không biết, không thấy.”[18]
Như
vậy, sự khác nhau giữa hệ thống giáo lý Phật giáo và tất
cả các hình thái tôn giáo nằm ở sự kiện rằng, trong Phật
giáo vấn đề không phải luôn luôn là niềm tin, mà là biết
và thấy. Có thể do vậy mà Phật giáo được gọi là tôn
giáo “mời bạn ‘đến và thấy’, mà không phải ‘đến
và tin’”, như lời bình luận của ngài Nàgàrjuna (Long Thọ)
trong kinh Bát-nhã-ba-la-mật (Pràjnãpàramita) “Niềm tin là
lối vào biển Thánh Pháp của Ðức Phật, và trí tuệ là
con thuyền mà người ta dùng để vượt qua biển ấy”.[19]
Vấn
Ðề Năng Lực Cứu Ðộ
Ðối
với tôn giáo hữu thần, năng lực cứu độ của giáo chủ
họ là một sức mạnh siêu thế, là một cái gì đó có thật
nhưng con người không thể thấy được. Theo học thuyết của
hữu thần giáo, giáo chủ họ có thể ban thưởng ân huệ
nhân từ cho tín đồ nào ngoan ngoãn tin tưởng và thực hành
lời dạy của họ, và có thể trừng phạt bất cứ ai không
thành khẩn vâng theo lời răn. Chức năng cứu độ là yếu
tố cơ bản và quan trong nhất cho việc tồn tại và phát triển
của loại tôn giáo như thế. Từ đó, bất cứ khi nào mà
năng lực cứu khổ này mất đi tính chất thật của nó, lật
tức các tôn giáo hữu thần sẽ đánh mất giá trị thực
tiễn của chúng trong phạm trù xã hội loài người, như nó
đã từng xảy ra trong thế kỷ thứ mười bảy.
Liên
hệ đến vấn đề này, trong kinh Pháp Hoa Ðức Phật đã dạy
như sau:
“Chư
Phật, các bậc Thế Tôn, xuất hiện trong đời là nhằm để
giúp chúng sanh khai mở tri kiến Phật (của họ), để giúp
chúng sanh tự thanh tịnh tri kiến Phật (của họ) mà hiện
ra trong đời; các vị xuất hiện trong đời là để chỉ tri
kiến cho tất cả chúng sinh; các vị hiện ra trong là để
giúp chúng sinh đạt được tri kiến Phật (của họ); các
vị vì muốn cho chúng sinh chứng được Phật tri kiến (của
họ) mà hiện ra trong đời. Này tôn giả Xá-lợi-phất, đây
là mục đích lớn nhất để chư Phật xuất hiện trong cuộc
đời.”[20]
Và,
“Các
ngươi hãy tự nỗ lực, chư Như Lai chỉ thuyết giảng (về
con đường). Ai tu tập thiền định, người ấy sẽ thoát
khỏi sự trói buộc của ma vương.”[21]
Và,
“Này
Cunda, bằng lòng đại bi của người thầy, những gì cần
làm vì lợi ích và hạnh phúc của chúng đệ tử, Ta đã làm
xong. Này, Cunda, đây là gốc cây, đây là ngôi nhà trống,
các ngươi hãy tu tập thiền định, chớ để hối hận về
sau. Ðây là lời giáo huấn cuối cùng của Ta.”[22]
Khuynh
Hướng Tu Tập Của Phật Tử Trong Thời Ðại Ngày Nay
Một
sự kiện không thể chối cãi là, bằng niềm tin thuần túy,
tín đồ Phật giáo, đặc biệt là giới Phật tử châu Âu
thật sự đang có khuynh hướng tin tưởng vào thần thánh.
Họ tin rằng thánh thần ấy có khả năng cứu độ và giúp
đỡ họ loại trừ các rắc rối, chướng ngại. Từ đó,
các vị Bồ-tát đề cập trong các kinh điển Bắc Truyền
đã dễ dàng trở thành thần thánh như thánh thần của các
tôn giáo khác, như đã được bàn thảo trước đây. Ví dụ,
trong nghiên cứu của mình về vấn đề trên, tiến sĩ D. Ikeda
nhận thấy rằng khuynh hướng chính của hàng tín đồ Phật
giáo ngày nay phần lớn là thực hành nghi lễ và lễ hội.
Sự thật tín đồ Phật giáo thích thờ cúng và cầu nguyện
thánh thần hơn là hành trì lời dạy của Ðức Phật. Kết
quả là Phật giáo đang dần dần biến thành tôn giáo hữu
thần như đạo Thiên Chúa, Tin Lành, những tôn giáo đang đối
mặt với sự chao đảo nghiêm trọng trên bình diện toàn cầu
về chân giá trị của nó. Tất nhiên nếu chỉ có niềm tin
đơn thuần thì không có chân đứng trong giáo lý Phật Ðà.
Lão Tử nói rằng:[23]
“Mất
đạo, người ta dựa vào đức,
Mất
đức, người ta dựa vào nhân,
Mất
nhân, người ta dựa vào lễ
Trong
cốt lõi, lễ nghi thực chất chỉ là cái vỏ của niềm tin
và lòng trung thành.
Và
đó cũng là sự bắt đầu của tất cả rối loạn và mất
trật tự.”
Lời
nói trên của Lão Tử sẽ có nhiều ý nghĩa và tính thực
tiễn hơn khi diễn đạt song hành với những nghiên cứu của
tác phẩm tâm lý học của Erich Fromm, khi học giải này phát
biểu:
“Sự
thật rằng số lượng hội viên của các giáo hội tôn giáo
ngày nay thì nhiều hơn bất cứ lúc nào khác trước đây;
sách tôn giáo trở thành loại sách bán chạy nhất, và có
nhiều người nói về Thượng đế hơn bất cứ thời điểm
nào khác trong quá khứ. Thế nhưng, những cách biểu lộ về
tôn giáo ấy chỉ nhằm che đậy thái độ nặng nề vật chất
và phi tôn giáo sâu sắc. Chúng ta phải hiểu rằng đó là
một phản ứng mang tính ý thức hệ bị gây ra bởi sự bất
an và chủ nghĩa tuân thủ giáo điều; và xu hướng của thế
kỷ thứ mười chín này đã được Nietzche diễn tả một
cách đặc biệt qua câu nói thời danh của ông: “Thượng
Ðế đã chết.”[24]
Trong
thực tế, thế giới đương thời của chúng ta đang phô bày
vô số rối loạn và mất trật tự trong hầu hết các lãnh
vực đời sống của mình, bao gồm cả lãnh vực tôn giáo.
Chúng tôi cảm thấy rằng giáo lý Phật giáo, đặc biệt là
giáo lý Bồ-tát, có thể giúp nhân loại vượt qua cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng hiện nay, và có thể đóng một gia trò
quan trọng trong việc thiết lập lại một thế giới an bình,
hạnh phúc bằng việc dạy cho con người hiểu biết đúng
đắn (chánh kiến), suy nghĩ đúng đắn (chánh tư duy), và hành
trì đúng đắn những điều Ðức Phật đã dạy. Ðây là
lý do chính thúc dục chúng tôi trở thành kẻ hành hương trong
việc tiến hành tác phẩm nghiên cứu với tựa đề; “Khái
Niệm về Bồ-tát Quán Thế Âm: Lý Thuyết và Thực Hành”.
Ðịnh
Hướng Của Công Trình Nghiên Cứu
Trước
hết, điều quan trọng cần phải làm sáng tỏ ở đây là
chúng tôi không xem các vị Bồ-tát như là thần thánh hay bất
cứ một thực thể có sự tồn tại thực sự, mà đó chỉ
là những hình ảnh biểu tượng, được hàng đệ tử ưu
tú của Ðức Thế Tôn sáng tạo ra để thỏa mãn nhu cầu
tôn giáo của tín đồ Phật giáo nhằm phù hợp với môi trường
xã hội trong một bối cảnh lịch sử nào đó với mục đích
là tạo điều kiện thuận lợi cho việc xiển dương Phật
pháp. Bằng chính phương pháp trên chúng tôi nỗ lực nghiên
cứu chủ đề quan trọng và có ý nghĩa này với niềm hy vọng
khiêm tốn rằng sản phẩm của công trình nghiên cứu sẽ
đóng góp cho giới Phật tử trong thời đại ngày nay, đặc
biệt là trong bối cảnh châu Á, một cách tư duy mới để
nhận thức ý nghĩa của lý tưởng Bồ-tát như Ðức Phật
đã dạy ngõ hầu giúp họ chỉnh lý lại những ngộ nhận
của mình về giáo lý Bồ-tát. Kết quả thực tế được
chờ đợi là chân hạnh phúc và an lạc sinh ra từ việc hành
trì giáo lý Bồ-tát sẽ hiện hữu trong từng bước đi của
đời sống người Phật tử.
Từ
hệ quả của cách tư duy trên, thuật ngữ “concept” trong
đề tài này sẽ mang ý nghĩa của một nghệ thuật sống,
mà không phải là một ý niệm hay bất cứ ý nghĩa nào như
nó thường được hiểu. Lý do cho vấn đề này được dự
kiến như sau: Giáo Pháp của Ðức Phật luôn luôn được xem
là chiếc bè, dùng để vượt qua đại dương sinh tử, và
chiếc bè có thể được sử dụng bằng mọi cách, tùy theo
tình huống và căn cơ của người dùng, miễn là nó mang lại
hạnh phúc thật sự cho người sử dụng theo tinh thần thực
tiễn của Phật giáo.
Trong
quá trình nghiên cứu đề tài này, các vấn đề sau đây sẽ
được chúng tôi cố gắng giải quyết:
- Trình
bày tóm tắt khái niệm Bồ-tát; cuộc đời và hạnh nguyện
của vị Bồ-tát theo quan điểm giáo lý của năm bộ Nikàya.
Trong phần vừa nêu, sự phát triển của giáo lý Bồ-tát trong
một số kinh khác nhau của tạng kinh Nikàya thuộc Phật giáo
Nguyên Thủy hy vọng cũng được bàn đến.
- Khảo
cứu về tình hình lịch sử cụ thể, chi tiết, và nhu cầu
cho việc phát triển giáo lý Bồ-tát.
- Nghiên
cứu và phân tích chi tiết sự phát triển về ngôn ngữ và
ngữ nghĩa học của từ ngữ “Avalokitésvara” (Quán Thế
Âm).
- Khảo
bình ý nghĩa biểu tượng và sự thực hành của Bồ-tát Quán
Thế Âm qua các kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika) và A Di Ðà (Sukhavàti
Vyùha).
- Sự
ứng dụng thích đáng nghệ thuật sống “Quán Thế Âm”
trong đời sống của Phật tử ở thời đại ngày nay.
- Gợi
ý cách học hiểu kinh điển của Phật giáo Phát Triển (hay
còn gọi là Ðại Thừa hay Bắc Truyền). Cuối cùng là phần
trình bày về đời sống và hạnh nguyện của một người
Phật tử chân chính.
Cũng
cần phải đề cập ở đây rằng chúng tôi quan niệm và sử
dụng hai thuật ngữ “Theravàda” (Thượng Tọa Bộ) và “Mahàyàna”
(Phật giáo Phát Triển hay Bắc Truyền) như là những thuật
ngữ chỉ định các thời điểm và vùng địa lý khác nhau
của Phật giáo. Nói một cách phổ quát hơn, thuật ngữ “Theravàda”
được hiểu là Phật Giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Nam Truyền,
và “Mahàyàna” là Phật giáo Phát Triển hay Phật giáo Bắc
Truyền. Lý do cho luận điểm trên là như sau: Chỉ có một
Giáo Pháp hay Sự Thật được Ðức Phật khám phá có thể
đưa chúng sanh khổ đau từ vòng sanh tử luân hồi đến bến
bờ giải thoát, tức Niết-bàn như chính Thế Tôn đã dạy.
Hay như lời phát biểu sau đây của giáo sư Alan Watt: “Vì
Phật giáo, dù Tiểu Thừa (Hìnayàna) hay Ðại Thừa (Mahàyàna),
không phải là một hệ thống học thuyết và quyền lực,
đòi hỏi niềm tin và sự phục tùng của chúng ta, mà đó
là một phương pháp (một trong những ý nghĩa chính xác của
Phật pháp) với mục đích để chỉnh lý các nhận thức của
chúng ta và để chuyển hóa ý thức. Phương pháp này triệt
để dựa vào kinh nghiệm và thực nghiệm đến nỗi các chủ
đề thật tế của Phật giáo phải được nói là kinh nghiệm
tức thời và phi ngôn ngữ, hơn là một bộ phận niềm tin,
ý tưởng, hay quy tắc hành xử.”
Do
đó, hiển nhiên hai nguồn văn học Nam Truyền và Bắc Truyền
Phật Giáo sẽ là nền tảng cho nguồn tham khảo mà chúng tôi
sẽ dùng để minh họa sự thật hay chứng minh cho qua điểm
của tác giả. Ngang qua phương pháp nghiên cứu ấy tác giả
hy vọng sẽ trình bày được tinh thần thống nhất giáo lý
vốn có trong Phật giáo, nhưng vì một số lý do nào đó, hoặc
là hiểu nhầm giáo lý, hoặc bị ảnh hưởng của chủ nghĩa
phân biệt bè phái, hoặc do âm mưu của ngoại đạo với mục
đích phân hóa sức mạnh của Phật giáo đã khiến Phật giáo,
theo dòng thời gian, đã bị rạn nứt, chia chẻ thành nhiều
bộ phái, hệ phái nhỏ, tranh cãi lẫn nhau. Mục đích của
việc chọn lựa đề tài này là mở ra một con đường nhằm
để thống nhất các quan điểm khác nhau về Phật học như
các bậc tiền bối của Phật giáo đã nỗ lực thực hiện
trong quá khứ. Bên cạnh ấy, qua thành quả của công trình
nghiên cứu này, tác giả cũng mong muốn giới thiệu một phương
pháp thống nhất về học hiểu và thực hành giáo lý Bồ-tát
khiến cho Phật giáo có thể cống hiến trọn vẹn được
tinh thần từ bi, trí tuệ vì lợi ích và hạnh phúc của nhân
loại trong cuộc vật lộn để vượt qua những thảm họa
đang gần kề. Với một số phương pháp vừa nên trên, các
phương tiếp theo của công trình nghiên cứu này sẽ được
chuẩn bị trong hình thức phân tích và bình luận.
[1]
Erich Fromm, Psychoanalysis and Zen Buddhism, tr. 79.
[2]
Xem tác phẩm “Buddha, Max and God” của Trover Linh, tr.5.
[3]
Xem tác phẩm “Buddha, Max and God” của Trover Linh, tr.6.
[4]
Xem Nhật Báo: “America Time”, April 3, 1995.
[5]
Xem Nhật Báo: “America Time”, April 7, 1997.
[6]
Xem tác phẩm “Man Himself Must Choose by A.J.Toynbee and D. Ikeda”,
tr.43
[7]
Xem tác phẩm “Psychoanalysis and Zen Buddhism by E. Fromm, tr. 78-79.
[8]
Xem tác phẩm “Man Himself Must Choose by Daisuka Ikeda”, tr. 293.
[9]
Xem cuốn “Education and The Significance of Life by Krishnamurti”
tr. 16.
[10]
Xem tác phẩm “Pscychoanalysis and Zen Buddhism by E.Fromm”. tr.
92.
[11]
Xem tuyển tập “Albert Einstein: Ideas and Opinion” Rupa & Co.
London, 1973, tr. 46.
[12]
Xem cuốn “Nietzche and Philosophy. Ed. By Gilles Deleuze, Tr. Hugh
Tomlinson” tr. 155-156.
[13]
Xem tuyển tập “Albert Einstein: Ideas and Opinion”, tr. 38.
[14]
Xem tác phẩm “Man Himself Choose” của D. Ikeda, tr. 302
[15]
Kinh Pháp Cú, Kệ số 160
[16]
Ðại Tạng Kinh Việt Nam, Trung Bộ Kinh, Tập III, tr. 481
[17]
Kinh Tăng Chi Bộ, tập I, tr. 338.
[18]
Kinh Trung Bộ, tập I, tr. 19-20.
[19]
Xem tác phẩm: “Indian Philosophy” của S. Radhakrishnan tr. 60.
[20]
Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Trung Hoa ÐạI Tạng Kinh, tập 5,
số 252, tr. 7.
[21]
Kinh Pháp Cú, kệ số 276.
[22]
Kinh Trung Bộ, tập I, tr. 109.
[23]
Lao Tzu, Tao Te Ching, Tr, John C.H. Ưu, Shambhala Publication, 1989,
tr. 76-77.
[24]
Erich Fromm, Psychoanalysis and Zen Buddhism, tr. 79.