QUAN
ÂM
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Quan
Âm (zh. 觀音, ja. kannon), nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh
tên nhà vua Đường là Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán
Âm, là tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara)
tại Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận. Phật tử
Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ
Tát Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra), Địa Tạng (zh. 地藏,
sa. kṣitigarbha) và Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī).
Đó là bốn vị Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.(Hình
bên là tượng trạm trổ Bồ Tát Quan Âm tại Trung Quốc. Nhiều
cánh tay của Bồ Tát tượng trưng cho khả năng cứu giúp chúng
sinh vô tận.
Quan
Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng
sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm.
Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Quan Âm cũng hay được
nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (sa. amitābha) và trong kinh
Diệu pháp liên hoa, phẩm 25 với tên Phổ môn, các công hạnh
của Bồ Tát trình bày rõ ràng và tán thán. Tại Trung Quốc
và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.
Tranh
tượng thường trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau,
nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn
mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi một
đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện trong
mây, hoặc cưỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng
trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến,
biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm thường cầm
hoa hoa sen hay bình nước Cam lộ.
Theo
quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền
Đông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn, là bốn
trú xứ của bốn Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.
Tại
Trung Quốc—đến thế kỉ 10—Quan Âm còn được giữ dưới
dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người
ta thấy tượng Quan Âm để râu. Đến khoảng thế kỉ thứ
10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân.
Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo
Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác
là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tantra) trong thời kì này:
đó là hai yếu tố Từ bi (sa. maitrī-karuṇā) và Trí huệ
(sa. prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi
vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một "quyến thuộc"
nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là
vị nữ thần áo trắng Đa-la (sa. tārā), và Bạch Y Quan Âm
là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng
Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là
vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.
Có
rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền
thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà
vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết
đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương
đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục
thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả
nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Đông
và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Đến khi vua cha
bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua
khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền
rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức
tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.
Tại
Trung Quốc, các ngư dân thường cầu nguyện Quan Âm để được
bình an trong các chuyến đi đánh cá. Vì thế có Quan Âm cũng
có biệt hiệu "Quan Âm Nam Hải".
Quan
Âm Thị Kính
Một
sự tích được phổ biến tại Việt Nam là Quan Âm Thị Kính,
kể rằng ngài đã đầu thai và tu hành 9 kiếp. Trong kiếp
thứ 10, ngài được đầu thai làm một con gái trong một gia
đình họ Mãng ở nước Cao Ly (ở bán đảo Triều Tiên ngày
nay), và được đặt tên là Thị Kính.
Thị
Kính được gả cho Thiện Sĩ của gia đình họ Sùng. Khi ở
nhà chồng, Thị Kính giữ phận làm dâu, tôn kính phụng dưỡng
bố mẹ chồng. Một hôm, khi Thiện Sĩ đang ngủ sau khi đọc
sách, Thị Kính thấy ở cầm của chồng mình có mọc sợi
râu. Thị Kính đang may vá nên cầm một con dao nhíp trong tay
và sẵn tiện cắt đứt sợi râu. Thiện Sĩ giật mình thức
giấc, thấy vợ đang cầm dao gần cổ, tưởng rằng Thị Kính
đang định giết mình nên la lên.
Sau
khi Thị Kính kể lể đầu đuôi, cha mẹ chồng vẫn ngờ rằng
Thị Kính có âm mưu giết chồng, bắt Thiện Sĩ phải bỏ
vợ. Thị Kính phải trở về nhà cha mẹ mình, quyết định
xuất gia đi tu. Bà cải trang thành một người nam giới, trốn
nhà đến chùa xin đi tu, lấy pháp danh là Kỉnh Tâm.
Tuy
là gái giả trai, Kính Tâm có tướng mạo đẹp đẽ, cho nên
có nhiều tín nữ ngưỡng mộ. Thị Mầu, con của một trưởng
giả giàu có, trêu ghẹo Kính Tâm, nhưng không được đáp
lại. Thị Mầu lại có thai với người đầy tớ. Khi bị
tra hỏi, Thị Mầu khai rằng Kính Tâm là cha của thai nhi. Kính
Tâm tuy kêu oan nhưng không dám tiết lộ ra bí mật của mình.
Sau đó, Kính Tâm phải tu ở ngoài cổng chùa để chùa không
bị tiếng tăm.
Thị
Mầu sinh ra được một đứa con trai, đem đứa nhỏ đến
chùa gửi cho Kính Tâm. Kính Tâm vì tính thương người, nhận
đứa trẻ vào nuôi dưỡng. Khi đứa trẻ lên 3 tuổi thì Kính
Tâm bị bệnh nặng. Biết mình sắp chết, Kính Tâm dặn dò
đứa trẻ đưa thư cho sư cụ của chùa và cho ông bà họ
Mãng.
Sau
khi đọc rõ sự tình, sư cụ kêu người khám xét thi thể
Kính Tâm, mới biết rằng Kính Tâm là gái giả trai. Thị Mầu
xấu hổ, đành phải tự tử. Thiện Sĩ ăn năn, bèn đi tu,
sau này biến thành một con chim.
Quan
Âm Bồ Tát (Thị Kính sau khi chết) cũng cứu độ đứa con
nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, để làm người
hầu.
Do
đó, người ta họa hình Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh,
mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con
chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ
bận khôi giáp chắp tay đứng hầu.
Quan
Âm Diệu Thiện
Truyền
thuyết Quan Âm Diệu Thiện được truyền miệng trong dân gian
Việt Nam qua lối truyện thơ. Bài thơ viết theo thể lục bát
nói về một vị công chúa đã xuất gia ở Việt Nam để độ
hoá cho vua cha có nhiều tội ác. Sự tích này cũng có một
dị bản lưu hành ở Trung Hoa.
Vị
công chúa này, nguyên ở nước Hùng Lâm thuộc Ấn Độ, là
người con gái thứ ba của một vị vua. Trước khi sinh công
chúa Diệu Thiện thì nhà vua rất mong có hoàng tử nên đã
cầu xin rất nhiều nhưng đứa con chào đời lại là một
công chúa. Điều này đã làm cho nhà vua sinh lòng oán hận.
Khác
hẳn hai người chị, nàng công chúa này lớn lên chỉ say mê
kinh kệ và có lòng quy y Phật. Vì cự tuyệt việc lấy chồng
nên cô bị giam hãm phía sau hoàng cung. Không thuyết phục được
con mình hoàn tục, vua giả vờ cho phép con tu ở chùa Bạch
Tước rồi ngầm ra lệnh cho các sư sãi phải tìm cách thuyết
phục cho công chúa hoàn tục. Nếu không sẽ giết hết các
sư sãi trong chùa. Nhưng mọi cách đều không lung lạc được
ý quyết của công chúa.
Giận
con, vua ra lệnh đốt chùa để giết cô công chúa nhưng trời
bỗng có mưa dập tắt lửa. Chưa hết giận, vua bèn hạ lệnh
xử chém, thì trời bỗng giông tố, tạo ra sét đánh văng
búa của đao phủ thủ. Vua tức giận ra lệnh xử giảo công
chúa nhưng ngay lúc đó xuất hiện một con cọp trắng xông
ra cõng công chúa mang đến chùa Hương.
Diệu
Thiện tu hành ở đó và cảm hoá được muông thú.
Trong
khi đó, vua trong triều đột nhiên bị chứng bệnh hủi không
chữa được, dần dần hai bàn tay bị rơi rụng và mắt trở
nên mù. Công chúa tu đã đến kì đắc đạo trở về thăm
phụ thân và đã hy sinh hai mắt cùng hai tay để cho cha. Sau
đó công chúa nhập Niết Bàn và cứu độ cha mẹ và hai chị
cùng thành Phật.
Trong
truyện đã đề cao hai đặc tính của bồ tát, đó là nhân
và hiếu. Với trí huệ và giới hạnh thì hiếu có thể độ
giúp cứu thoát được cha mẹ mình, cùng như nhân có thể
độ giúp nhiều người thoát vòng mê lầm trở về với trí
huệ.
HẠNH
NGUYỆN
Đức
Bồ Tát Quán Thế Âm
Đại-lãn
Hiện
tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực
và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu
người biết được trò chơi này, là người nắm được thực
tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm
được thực tại trên mười đầu ngón tay, kẻ đó không
biết được hòa âm vũ trụ trong trò chơi này. Nói thế không
có nghĩa là bản thể vũ trụ ở trong tình trạng phân sáp
làm đôi vàđối lập nhau; nhưng nó chỉ là một. Tuy thế,
về mặt tùy thể, chúng ta nhìn bản thể vũ trụ như là một
phức thể, tùy theo kiến giác của mỗi chúng ta. Vì tùy thể
này, nói lên được sự hiện hữu của duyên nghiệp trong
mỗi chúng ta đang ở trong tình trạng sinh khởi, nối tiếp
và ràng buộc vào nhau, mà hiện ra các khổ tướng báo thân
có sai khác. Nhưng về mặt nhất thể , thì hiện tướng chính
là bản thể, và bản thể chính là hiện tướng.
Do
đó, cuộc đại hòa âm, hay bất đại hòa âm trong vũ trụ,
cũng tùy theo đó mà hiện hữu như một thực tại giữa chúng
ta, không thể không chấp nhận. Vì kẻ biết được hay không
biết được trò chơi cùng đang nằm trong quỹ đạo của ý
niệm, nhưng khi ý niệm vừa khởi lên, liền sau đó phát hiện
ra âm thanh hoặc tương đồng hoặc tương khắc với với thế
giới âm thanh bên trong hay bên ngoài. Tuy nhiên trong thế giới
ngũ trược này, hầu hết chúng sanh đã mang vào trong mỗi
tướng thể một khổ quả nào đó, cùng nằm trong một cộng
nghiệp không thể tránh khỏi luật tắc luân hồi, đã mang
và sẽ đưa chúng sanh vào con đường khổ. Chính vì khổ ngiệp
của chúng sanh đang vây khổn mà các đức Phật Thế tôn cùng
các vị Bồ tát xuất hiện ra thế gian này, với hạnh nguyện
đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài. Cùng ở
trong hạnh nguyện đó, sự xuất hiện của Bồ tát Quán Thế
Âm được các kinh công nhận là độc đáo nhất trong hạnh
nguyện của các vị Bồ tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm
thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh là tiêu đích
trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh. Với
danh hiệu Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán
Thế Âm Bồt tát, đã nói lên đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện
đó.
Trong
nhiều bộ kinh, có nói về đức Quán Thế Âm Bồ tát; nhưng
chúng ta không thấy đề cập đến phương pháp chứng ngộ
của Ngài. Duy bộ kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng
ngộ ấy, kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng: Sau khi đức
Thế tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh đệ tử xong,
đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ chỗ sở chứng của
mình như sau: " Quán Thế Âm Bồ tát bạch rằng: Tôi nhớ là:
hà sa số kiếp về trước, có một vị Phật hiệu là Quán
Thế Âm; vị Phật đó dạy tôi muốn vào chánh định thì
phải theo nghe-nghĩ-tu. Từ trong nghe, khi trở về tự tánh thì
sở duyên biến mất và con đường vào trở nên vắng lặng
(sở không có, năng không có chỗ duyên, nên năng vẫn không
hiện hữu, ở trong tự tánh vắng lặng). Hai tướng động
và tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy, thì nghe
và đối tượng bị nghe đều hết. Nghe đã hết không trụ,
thì giác và đối tượng của bị giác đều không khi không
giác đã tròn đầy, thì không và đối tượng .không đều
diệt. Khi sinh và diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện
ra trước mắt." Thế giới phơi mở trước chúng ta như là
một hiện hữu, vượt khỏi không gian thời gian. Cảnh giới
này không bị ràng buộc bởi xuất thế gian và thế gian, hay
các pháp hữu vi và vô vi. Cảnh giới này trên đồng với
Như Lai một từ lực, dưới hợp với tất cả chúng sanh trong
sáu đường, và đồng với chúng sanh một lòng bi ngưỡng.
Đến
đây, chúng ta thấy hạnh nguyện của Quán Thế Âm trong kinh
Lăng Nghiêm cùng kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, gặp nhau trong
lòng bi ngưỡng đối với chúng sanh đại thể. Nhưng về ý
nghĩa danh từ có sự khác nhau. Trong kinh Lăng Nghiêm ý nghĩa
luôn luôn ở trong chiều hướng phản phục cái nghe nơi tự
tánh. Như vậy, cái nghe ở trong chiều hướng nội. Một khi
tâm đã phản phục, thời cảnh sở quán sẽ không còn, nên
không có sự đối đãi giữa năng và sở nữa. Lúc đó Như
lai tạng tâm sẽ hiển bày ra trước mắt. Lúc đó tâm năng
văn và cảnh sở văn sẽ tiêu tan dung hội. Như vậy kinh Lăng
Nghiêm lập cứ trên nhân hạnh mà gọi là Quán Thế Âm. Ngược
lại trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn lại lập cứ trên quả
đức để hiển nghĩa, thì Âm chính là tiêu đích của văn
tầm cứu. Dù là tịch thinh hay là động thinh, nghe của Quán
Thế Âm Bồ tát cũng thấu suốt tất cả. Âm thinh từ trạng
thái tâm lý đến lúc phát ra ngoài, phải qua một tiến trình
chuyển động của cơ thể. Có sự liên hệ giữa một ý niệm
khi phát khởi, và các sợi thần kinh liên hệ chuyển động
để thoát ra ngoài cửa miệng, lúc đó mới tạo thành âm
thanh thật sự. Âm thanh này sẽ dàn trải ra vô tận, và sẽ
tạo thành âm thanh sống của vũ trụ. Trong những biến động
tiếp giao này, cùng với những âm thanh khác, sẽ tạo ra những
điệu hòa âm, hay bất hòa âm, tùy theo lối dung nạp của
mỗi âm thanh từng người, từng loại chúng sanh. Ở đây trạng
thái tịch thanh không tự hữu, mà chỉ hiện hữu trong mỗi
người, mỗi sự vật, chính ngay trong ý niệm, trong mặc thức,
không phát ra bên ngoài, hay chưa khởi phát ra ngoài, nhưng nó
có tác động của tâm thức can thiệp vào. Ở đây, còn gọi
là tâm thanh, là tiếng nói của tâm.
Vậy,
âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế giới ngoại tại
của chúng sanh trong pháp giới duyên khởi này chính là hiện
tướng của nghiệp tướng vô minh con người đang lôi kéo
con người trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau
tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu
cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ
sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ
căn viên thông, thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu
của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại mà Ngài hóa
độ, cứu vớt .
Ở
đây, về ý nghiã danh xưng, chúng ta thấy sự khác biệt giữa
kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài.
Một đàng hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như
Lai tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng sanh,
của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để cứu vớt; một
đàng hướng ngoại nghe quả khổ của chúng sanh, cùng tiếng
cầu cứu mà lập cứ (theo quả đức) để cứu vớt . Nếu
căn cứ nơi nhân và quả để hiểu thì làm sao có sự gặp
gỡ hạnh nguyện giữa Kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong
lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi cần đặt ra và
cần giải đáp. Sự xuất hiện của Ngài vì lòng bi ngưỡng
vô úy, cùng với chúng sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang
danh hiệu Đại Từ Đại Bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán
Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó . Lòng
bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất, thay vào đó
lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi mà con người luôn ở
trong tình trạng lo đối phó, nhưng đối phó với phương pháp
chạy trốn thực tại, tìm cách né tránh với tương lai . Mà
tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay sẽ không
xảy đến. Vì sợ hãi lo âu nên con người tự đánh lừa
chính mình và dần dần trở thành vong thân. Từ đó thần
thánh, ma quỷ, Thượng đế được xuất hiện bởi con người
và do con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi nương
tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy những biểu tượng,
biểu tượng của sợ hãi, do đó chúng ta đã tự đánh mất
bản tính vô úy của ta. Con người không dám nhìn thực tại,
không dám nhìn vào chính mình, không dám sống với thực tại,
luôn luôn sống với tương lai; mà tương lai là những gì ảo
tưởng. Con người luôn tìm cách nắm bắt những ảo tưởng
đó để rồi thất vọng đau khổ .
Trong
truyền thống triết lý siêu hình Tây phương, vì sự sợ hãi
này mà Thượng đế xuất hiện. Thượng đế đã được lý
trí con người đặt ra để tôn thờ謠là nơi tương tựa của
những con người yếu bóng vía, đầy lòng sợ hãi với hiện
tại, với tương lai. Tự đặt con vào sự cứu rỗi của Thượng
đế, tự họ đánh mất bản tánh của họ . Họ làm nô lệ
cho một Thượng đế bên ngoài, họ đã vong thân và Thượng
đế thần thánh đã ngự trị, chi phối cuộc sống họ. Kể
từ Socrates mãi cho đến Athur Schopenhauer, giai đoạn này Thượng
đế đã được đề cập đến nhiều, nhất là thời kỳ
trung cổ, thời kỳ kinh viện, Thượng đế được coi như
là thần linh, ban phước giáng họa và mãi đến Hegel .
Hegel
đã quan niệm: Thượng đế là một nhân cách hóa của con
người và con người là nhân cách của Thượng đế. Thượng
đế chính là ý niệm tuyệt đối . Ông giải thích Thượng
đế của ông theo sách Sáng Ký và ba ngôi của Ky Tô giáo bằng
biện chứng pháp của ông theo ba tiến trình; đề, phản đề,
tổng hợp đề . Ông bảo rằng : "Chính Thượng đế đã vong
thân, Thượng đế đã đẻ ra hình ảnh Ađam và Eva nơi vườn
địa đàng, và chính Adam và Eva đã phản lại lời dặn dò
của Thượng đế khi nghe lời dụ dỗ con rắn (tượng trưng
cho ác quỷ sa tăng) mà ăn phải trái cấm thiện ác, để rồi
từ đó về sau con người mắc phải tội tổ tông (nguyên
tội) và bị đày đọa trong khổ đau, càng khổ đau con người
càng tạo nên tội lỗi. Để chuộc lại tội lỗi này, Thượng
đế đã cho Jésus giáng thế, và bị đóng đinh trên cây thập
tự giá, để chịu tội cho thế gian; khi đó con người trở
lại trạng thái ban sơ nơi vườn địa đàng. Để rồi ông
kết luận Thượng đế là con người và con người là Thượng
đế. Đó là giai đoạn chung cuộc của lịch sử tương lai
.
Từ
Hegel đến Schopenhauer, quan niệm Thượng đế thay đổi dần
và biến mất từ Schopenhauer . Với quyển "Vũ trụ như là
ý lực", ông đã phủ nhận Thượng đế. Ông là người đầu
tiên mang truyền thống Đạo học Đông Phương thổi vào Âu
Châu một luồng sinh khí mới mẻ, và mạnh mẽ nhất là Nietzsche
với chủ trương "con người siêu nhân" và ông đã nói; "Thượng
đế đã chết" (Das Got Isto). Như thế Thượng đế thực sự
đã vắng mặt trên thế gian này. Mãi đến Heidegger, danh từ
Thượng đế không còn được nhắc đến nữa. Nền siêu hình
học hiện đại mà người đại diện cho nền triết lý Tây
Phương là Heidegger đã không nhắc đến một Thượng đế
nào, ông chỉ đề cập đến tính thể của hiện thể tại
thế (Dasein) của con người mà thôi . Những vấn đề xa xôi
chưa đến trong tương lai, không phải là vấn đề bận tâm
của ông. Ông chỉ biết hiện tại, sống với hiện tại,
tìm ra những vấn đề liên hệ giữa con người với con người,
giữa cuộc sống và con người cùng sự hiện hữu chính mình.
Theo ông đó là những bâng khuâng của con người, cần phải
tìm ra sợi dây liên hệ đó. Có thế con người mới làm chủ
được chính mình và làm chủ được cuộc sống; lúc này
con người sẽ không còn sợ hãi nữa, họ sống một cách
bình thản chấp nhận tất cả dù là cái chết đi nữa, cũng
không sợ sệt, vui cười với cái chết. Họ đã đến gần
Đông phương với tinh thần vô úy.Nhưng đó chỉ là một thiểu
số có tinh thần thượng thừa, đã nhìn ra được trò chơi
của vũ trụ trong suy niệm. Họ đã chấp nhận hiện tại
và sống với hiện tại, chơi với hiện tại bằng một thái
độ lì lợm, kiêu hãnh với chính mình mà không bao giờ sợ
hãi .
HÀNH
TRẠNG
BỒ-TÁT
QUAN THẾ ÂM
TT.
Thích Phước Sơn
Nói
đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu
khổ. Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết
tưởng không ai khác hơn là đức Bồ-tát Quan Thế Âm, hay
Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ-tát nầy có đầy đủ phẩm
chất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ.
Hình như trong mọi trái tim của những người con Phật thuần
thành - nhất là giới Phật tử bình dân - không ai là không
không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ-tát giàu lòng
bi mẫn nầy. Mỗi khi nói về Ngài, tựa hồ chúng ta ai cũng
biết, nhưng có lẽ không ai dám cho là mình đã hiểu biết
đầy đủ tất cả. Thế nên, trong bài nầy người viết xin
giới thiệu cụ thể đôi nét chân dung của Bồ-tát một lần
nữa, để giúp đại chúng quan chiêm.
Trước
hết hãy nói về danh hiệu của Bồ-tát. Thông thường các
kinh điển kể về 8 danh hiệu của Ngài như sau: 1/. Quan Thế
Âm Bồ-tát; 2/. Quán Tự Tại Bồ-tát; 3/. Quan Thế Tự Tại
Bồ-tát; 4/. Quan Thế Âm Tự Tại Bồ-tát; 5/. Hiện Âm Thanh
Bồ-tát; 6/. Quan Âm(*) Bồ-tát; 7/. Cứu Thế Bồ-tát; 8/. Quan
Âm Đại Sĩ.
Trên
đây là những danh hiệu phổ biến mà nhiều người thường
biết đối với vị Bồ-tát nầy. Thế thì có những kinh điển
chủ yếu nào đề cập đến xuất xứ, vị trí và những
hoạt dụng của Ngài ?
I.
Chúng ta thấy đại khái hành trạng của Bồ-tát qua các kinh:
Theo
kinh Đại A-di-đà thì Ngài là Thị vệ bên trái, còn Bồ-tát
Đại Thế
Chí
là Thị vệ bên phải của đức Phật A-di-đà lo việc cứu
độ chúng sinh trong thế giới Ta-bà. Cả 3 vị được gọi
chung là Tây phương Tam Thánh (3 vị Thánh ở phương Tây). Và
trú xứ chính thức của các Ngài là cõi Tây phương Tịnh
độ. Phàm khi chúng sinh gặp tai nạn mà chí thành niệm danh
hiệu Quan Âm Bồ-tát, thì lập tức Ngài đến nơi cứu giúp.
Do thế mà Ngài được đức hiệu là Quan Thế Âm Bồ-tát
(Vị Bồ-tát chuyên lắng nghe âm thanh - cầu cứu - của thế
gian).
2.
Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn thì Ngài có 33 hóa thân, từ
thân Phật, Độc giác… đến thân đồng nam, đồng nữ. Ngài
thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng
sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính
đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của
Ngài.
3.
Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm thì pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy
là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể được sử
dụng như năm căn khác. Ngài phát tâm tu hành nơi pháp hội
của đức Phật Quan Thế Âm, và đức Phật nầy đã thọ
ký cho Ngài khi thành Phật sẽ có Phật hiệu giống như mình.
Do đó mà Ngài có hiệu là Quan Thế Âm. Đồng thời vị Bồ-tát
nầy cũng có 32 ứng thân giống như kinh Pháp Hoa đã mô tả.
Chỗ
khác nhau là kinh Pháp Hoa kể đến 33 ứng thân, còn kinh Lăng
Nghiêm thì liệt kê 32 ứng thân. Ngoài ra, hai kinh nầy còn
giống nhau một điểm nữa là cùng mô tả về 14 đức vô
úy của vị Bồ-tát nầy. Số lượng và nội dung của các
đức vô úy nầy gần y hệt như sau.
4.
Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà-la-ni thì Ngài
đã thành Phật từ đời quá khứ cách nay vô lượng kiếp,
hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì nguyện lực Đại
bi, muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên Ngài hiện thân Bồ-tát
để dễ dàng hoàn thành đại nguyện. Thế nên, ngoài danh
hiệu Bồ-tát Quan Âm như chúng ta thường nghe, có đôi chỗ
còn gọi là Phật Quan Âm là vì vậy.
5.
Theo kinh Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm Vương thì Ngài
là Thị vệ của đức Phật Thích-ca.
6.
Theo Mật giáo thì Ngài là hóa thân của đức Phật A-di-đà.
7.
Theo kinh Hoa Nghiêm thì đạo tràng của Ngài ở núi Bồ Đà
Lạc trên biển Nam Hải. Đó là đôi nét sơ lược về hành
trạng của Bồ-tát Quan Âm mà các kinh đã đề cập đến.
Bây giờ chúng ta sẽ bàn rõ thêm một số vấn đề cụ thể
khác.
II.
Cuộc đời Ngài qua các phương diện:
1.
Về tín ngưỡng Quan Âm
Tín
ngưỡng nầy phát xuất từ Ấn Độ, Tây Vức, sau đó nhờ
công tác phiên dịch kinh điển mà nó được truyền sang Trung
Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam v.v… Bản
kinh có đề cập đến Bồ-tát Quan Âm là kinh Pháp Hoa Tam Muội,
gồm 6 quyển, do Chi Cương Lương Tiếp dịch vào năm Ngũ phụng
thứ 2 (255) triều đại nhà Ngô thời Tam Quốc. Đây là bộ
kinh được dịch sớm nhất là loại nầy. Sau đó, Trúc Pháp
Hộ dịch Chánh Pháp Hoa Kinh Quan Thế Âm Phổ Môn phẩm vào
năm Thái Khang thứ 7 (286). Rồi Cưu-ma-la-thập dịch Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn phẩm vào năm Hoằng
Thỉ thứ 8 (406) đời Diêu Tần.
Bắt
nguồn từ các kinh được phiên dịch ra chữ Hán kể trên
mà sự tín ngưỡng Quan Âm dần dần phát triển mạnh. Tại
Tây Tạng, nền tín ngưỡng nầy rất thịnh hành. Lạt-ma giáo
cho rằng đức Đạt-lai-lạt-ma được tái sinh nhiều đời
chính là hình ảnh hóa thân của Bồ-tát Quan Âm. Ngoài ra,
các nước khác tại Châu Á, chịu ảnh hưởng của Phật giáo
Bắc truyền thì hình ảnh Bồ-tát Quan Âm tượng trưng cho
mẹ hiền cứu khổ, được nhiều người thành kính tin tưởng
và rất mực tôn sùng.
2.
Về diệu dụng của Quan Âm
Về
sức uy thần diệu dụng của vị Bồ-tát nầy theo kinh Pháp
Hoa thì thường có 33 hiện thân như sau: 1/. Thân Phật; 2/.
Thân Độc Giác; 3/. Thân Duyên Giác; 4/. Thân Thanh Văn; 5/. Thân
Phạm Vương; 6/. Thân Đế-Thích; 7/. Thân Tự Tại Thiên; 8/.
Thân Đại Tự Tại Thiên; 9/. Thân Thiên Đại Tướng quân;
10/. Thân Tứ Thiên Vương; 11/. Thân Thái tử của Tứ Thiên
Vương; 12/. Thân Nhân Vương; 13/. Thân Trưởng giả; 14/. Thân
Cư sĩ; 15/. Thân Tể quan; 16/. Thân Bà-la-môn; 17/. Thân Tỷ-kheo;
18/. Thân Tỷ-kheo-ni; 19/. Thân Ưu-bà-tắc; 20/. Thân Ưu-bà-di;
21/. Thân Nữ chúa; 22/. Thân Đồng nam; 23/. Thân Đồng nữ;
24/. Thân trời; 25/. Thân Rồng; 26/. Thân Dược-xoa; 27/. Thân
Càn-thát-bà; 28/. Thân A-tu-la; 29/. Thân Khẩn-na-la; 30/. Thân
Ma-hầu-la-già; 31/. Thân Người; 32/. Thân Phi nhân; 33/. Thân
Thần Cầm Kim Cương.
Đó
là những hóa thân của Quan Âm Bồ-tát. Đồng thời Ngài còn
có 14 năng lực Vô úy khác nữa phát sinh hiệu dụng khi nào
chúng sinh thành tâm niệm danh hiệu của Ngài, mà kinh Pháp
Hoa cũng như kinh Lăng Nghiêm đã mô tả như sau: 1/. Chúng sinh
khổ não trong 10 phương thành kính niệm danh hiệu Ngài, liền
được giải thoát; 2/. Chúng sinh gặp lửa dữ…, lửa không
thể thiêu đốt; 3/. Chúng sinh bị nước cuốn trôi…, nước
không thể nhận chìm; 4/. Chúng sinh vào xứ ác quỉ…, ác
quỉ không thể làm hại; 5/ Chúng sinh gặp đao trượng…,
đao trượng liền gãy; 6/ Chúng sinh gặp ác quỉ, ác thần…,
thì chúng khôngg trông thấy; 7/. Chúng sinh bị gông cùm, xiềng
xích…, thì xiềng xích được tháo ra; 8/. Chúng sinh khi vào
đường nguy hiểm…, giặc cướp không thể cướp đoạt;
9/. Chúng sin tham dục…, liền dứt khỏi tham dục; 10/. Chúng
sinh nóng giận…, liền dứt hết nóng giận; 11/. Chúng sinh
mê ám…, liền dứt hết mê ám; 12/. Chúng sinh muốn cầu con
trai…, liền được con trai; 13/. Chúng sinh muốn cầu con gái…,
liền được con gái; 14/. Chúng sinh niệm danh hiệu Quan Âm
thì được lợi ích bằng niệm tất cả các danh hiệu khác.
Đó
là 14 diệu dụng mà đức Bồ-tát nầy dùng để hóa giải
ách nạn, ban phát ân huệ cho những chúng sinh nào có lòng
thâm tín đối với Ngài.
3.
Về hình tượng Quan Âm
Trước
hết hãy nói về giới tính của Ngài, thông thường được
thể hiện qua 2 hình thức, hoặc là Nam tính, hoặc là Nữ
tính.
- Nam
tính: Phật giáo Tây Tạng thờ Bồ-tát Quan Âm theo hình thức
Nam tính. Đồng thời tương truyền từ đời Đường trở
về trước các nước Phật giáo khác tại Châu A cũng tạc
tượng Ngài theo hình thức Nam tính.
- Nữ
tính: Theo sách Trang Nhạc Ủy Đàm thì từ đời Đường trở
về sau, các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa, khi
tạc tượng Ngài đều dùng hình thức Nữ tính.
Ngoài
ra, 3 chi phần khác là đầu, mắt, và tay của Bồ-tát thông
thường được minh họa như sau:
Đầu:
Từ một đầu, 3 đầu, 5 đầu, nghìn đầu, cho đến 84.000
đầu.
Mắt:
Từ 2 mắt, 3 mắt, cho đến 84.000 mắt.
Tay:
Từ 2 tay, 4 tay, cho đến 84.000 tay.
4.
Về những ngày kỷ niệm
Như
tất cả chúng ta đều biết, đặc biệt vị Bồ-tát nầy
hằng năm có đến 3 ngày kỷ niệm, đó là kỷ niệm các ngày
sinh nhật, xuất gia và thành đạo:
Ngày
sinh nhật: nhằm ngày 19-2 âl.
Ngày
xuất gia: nhằm ngày 19-9 âl.
Ngày
thành đạo: nhằm ngày 19-6 âl.
5.
Về nơi cư trú
Tất
nhiên, do sức thần thông diệu dụng và do bản hoài cứu khổ
chúng sinh nên vị Bồ-tát nầy luôn luôn có mặt ở khắp
mọi nơi mỗi khi có người thành tâm cầu nguyện, nghĩa là
có cảm thì có ứng. Nhưng theo lẽ thông thường, chúng ta
thấy các kinh ký tải về nơi cư trú của Ngài như sau:
Ở
Tây phương Tịnh độ: theo kinh A-di-đà.
Ở
núi Bồ-đà-lạc trên biển Nam Hải: theo kinh sớ Hoa Nghiêm
sớ
Ở
núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc: theo kinh Quan Thế
Âm Bồ-tát cứu khổ.
III.
Quan Âm liên hệ với Chuẩn-đề
Bây
giờ xin trình bày về mối quan hệ giữa Bồ-tát Quan Thế
Âm và Bồ-tát Chuẩn-đề. Chuẩn-đề là từ phiên âm của
chữ phạn Cundi, chữ nầy còn được phiên âm là Chuẩn-chi,
Chuẩn-nê, có nghĩa là thanh tịnh; nói cho đủ là Chuẩn-đề
Quan Âm, Chuẩn-đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn-đề hay Thất
Cu-chi Phật Mẫu. Như vậy, Chuẩn-đề hay Chuẩn-đề Quan Âm
chính là một trong những danh hiệu của Quan Âm Bồ-tát. Theo
Thất Cu-chi Phật Mẫu Chuẩn-đề Đà-la-ni kinh thì Thân vị
Bồ-tát nầy có màu vàng trắng, ngồi kiết gia trên đài sen,
có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu
trang điểm ngọc anh lạc, có 18 tay đều đeo vòng xuyến, gồm
có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo
hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ
mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì
tụng bài chú: "Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu
chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề
ta bà ha".
Nếu
ai chí thành trì tụng bài chú trên thì sẽ tiêu trừ tai họa,
dứt hết bệnh tật, đạt được thông minh…, nhận được
một luồng hào quang chiếu đến làm tiêu tan tội chướng,
thọ mạng lâu dài, tăng trưởng phước đức: đồng thời
được chư Phật, Bồ-tát gia bị, đời đời kiếp kiếp xa
lìa ác thú, mau chóng chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.(1)
Thiên
tông xem vị Bồ-tát nầy chỉ là một danh hiệu khác của
đức Quan Âm nên rất tôn sùng.. Còn tông Thai Mật ở Nhật
Bản thì xếp Ngài vào địa vị Phật, xem là Phật mẫu. Nhưng
tông Đông Mật ở Nhật thì thừa nhận Chuẩn-đề là một
trong 6 danh hiệu Quan Âm, thuộc Liên Hoa bộ. Sáu danh hiệu
nầy là: 1/. Thiên Thủ Quan Âm; 2/. Thánh Quan Âm; 3/. Mã Đầu
Quan Âm; 4/. Thập Nhất Diện Quan Âm; 5/. Chuẩn-đề Quan Âm;
6/. Như Ý Luân Quan Âm.
Theo
Chuẩn-đề Đại Minh Đà-la-ni kinh thì vì để hóa độ chúng
sinh mà đức Quan Âm ứng hóa thân vào trong lục đạo. Ngài
ngự trị ở Biến Tri Viện thuộc Hiện đồ Thai tạng giới
Mạn Trà la(2).
Ở
đây xin giải thích thêm về từ "Phật Mẫu" mà ở trên đã
đề cập.
Phật
Mẫu (Buddha-màtri, Budhdha-màtar) bao gồm 4 nghĩa như sau: 1/.
Chỉ cho Ma-da phu nhân (Mahà-màyà) thân mẫu của Phật, hoặc
chỉ cho Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahà-prajàpatì) di mẫu của đức
Thích-ca; 2/. Chỉ cho Bát-nhã-ba-la-mật (pan宵a-paramita). Vì
Bát-nhã (trí tuệ) có thể sinh ra tất cả chư Phật, nên Thiền
tông xem Bát-nhã là Phật mẫu (mẹ của chư Phật); 3/. Chỉ
cho pháp. Vì chư Phật lấy pháp làm thầy, do pháp mà thành
Phật, cho nên gọi pháp là Phật mẫu; 4/. Chỉ cho Phật nhãn
tôn. Theo Mật giáo, đây là một trong những hình thức thần
cách hóa(3).
Quan
hành trạng của Quan Thế Âm Bồ-tát được trình bày trên
đây hình như hơi khó thuyết phục đối với nhãn quang của
giới khoa học. Tin hay không tin là quyền của mỗi người.
Nhưng nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng hằng
ngày trên thế giới nầy không biết bao nhiêu Thiên tai, chiến
nạn xảy ra, và cũng không biết bao nhiêu tấm lòng từ bi
nhân ái sẵn sàng nhường cơm xẻ áo hầu xoa dịu phần nào
những nỗi đau thương thống khổ của đồng bào, đồng loại.
Chứng kiến những cảnh tượng ấy, hiển nhiên chúng ta sẽ
không còn ngờ vực gì nữa về diệu dụng từ bi cứu khổ,
cứu nạn của đức Bồ-tát Quan Thế Âm đối với thế gian
nầy./.
Chú
Thích:
(*)
Quan Âm: Tên Ngài gọi đủ là Quan Thế Âm, nhưng vì người
đời Đường ở Trung Quốc kiêng húy chỉ "Thế" nên gọi
tắt là Quan Âm. Rồi từ đó trở về sau, nhiều người gọi
mãi thành quen, vì thế mà có danh hiệu Quan Âm Bồ Tát.
(2)
(3): Phật Quang Đại Từ Điển, các trang 4058, 5515, 2619.
Vi
tính: Ngọc Dung; Trích từ trang Quảng Đức
Bài
đọc thêm:
Từ
Avalokitesvara Ðến Quán Thế Âm Bồ Tát, GS. Tiến Sĩ Chun-Fang
Yu
