Khi
nói đến quan hệ nhân quả có lẽ ít ai tưởng tượng được
rằng đó là một vấn đề rất phức tạp. Phức tạp là
vì nhiều lý do. Một là, trên bình diện thực tại, cần phải
xem nó thuộc về phạm vi nào. Thuộc về thế giới tự nhiên
của sự vật, của đồ vật, hay là về thế giới nhân vi
của con người, hay là về một thế giới tưởng tượng hoặc
một thế giới siêu việt nào đó. Hai là, trên bình diện
tri thức, lại phải xem đó là do ta cảm nghiệm được trong
đời sống thường nhật, hay là do ta đo lường và xác định
một cách thực nghiệm trong hoạt động khoa học, hoặc là
do ta mơ ước, suy luận trong các lĩnh vực tôn giáo và siêu
hình học. Ba là, chính trong bình điền khoa học, lại cũng
phải xem đó là nguyên lý nhân quả, hay là định luật nhân
quả.
Vì
thế, nếu không phân biệt được ba bình diện đó, không
phân biệt được các nẻo đường của các bình diện đó,
mà chỉ nói chung chung, nói bâng quơ về nhân quả, thì cách
đặt vấn đề đã thiếu phân minh, làm sao có thể tìm ra
đúng nguyên nhân của sự việc, làm sao có thể tránh được
những câu giải đáp hồ đồ, vô bằng, lẫn lộn tất cả.
Rồi nếu lại căn cứ vào đó mà hoạt động, thì hoạt động
đó sẽ khó tránh được phiêu lưu, vô định. Cũng như bác
sĩ mà chẩn đoán sai căn nguyên bệnh tật, thì thuốc chữa
đã không thích hợp, lại còn có thể nguy hại nữa. Ở đây
tôi không có ý bàn về tất cả các nẻo đường khác nhau
đó. Cảm nghiệm thì có tính cách cá nhân, chủ cjuan, khó
mà truyền thông cho người khác được. Tôn giáo thì vừa
căn cứ vào cảm nghiệm và quan niệm về nhân sinh, tuy có
thể truyền thông ít nhiều, nhưng lại vừa tuỳ thuộc vào
đường lối suy luận và quan niệm khởi đầu của riêng từng
tông phái. Ở đây tôi chỉ có ý bàn về phương pháp khoa
học, vì lẽ rằng tính cách thực nghiệm của nó chủ trương
dùng minh chứng và kiểm chứng, làm cho ai nấy đều vừa có
thể chắc chắn về điều mình biết, lại vừa có thể đồng
ý với người khác về những sự kiện đo lường được
và xác định được.
Ngoài
ra tôi lại còn hạn hẹp thêm nữa vào cái mà người ta thường
gọi một cách hàm hồ là "luật nhân quả". Vì nó hàm hồ
từ chữ "luật" cho đến quan hệ giữa "nhân" và "quả”.
Có phân biệt được phân minh, thì mới hiểu được xác đáng
là mình nói về cái gì, và nói lên những gì. Sau cùng tôi
sẽ lấy những cái sở đắc đem áp dụng vào việc nghiên
cứu con người.
Hai
thứ luật
Triết
học Hi Lạp thời Thượng cổ đã phân biệt ra trong trời
đất có hai loại sự vật: Một là loại tự nhiên, ta không
làm ra nó, ta thấy nó có sẵn như thế, không biết nó từ
đâu ra và có mục đích gì, hai là loại nhân vi, hay là nhân
tạo, do con người ta làm ra, theo như mục đích, dự định
và hy vọng của mình. Cho nên khi nói đến các luật thì người
ta cũng phải phân biệt ra hai thứ luật khác nhau: luật tự
nhiên và luật nhân vi.
Luật
tự nhiên
Luật
tự nhiên là luật điều hành các hiện tượng trong trời
đất, ta khám phá ra nó, ta thấy nó tự nhiên có như thế,
như cái lý đương nhiên, không tuỳ thuộc vào ý muốn, quyết
định hay mơ ước của con người, cho nên cả những người
có quyền thế, dù có thể bắt ép được người yếu thế
làm thế nọ thế kia, cũng không thay đổi được luật tự
nhiên.
Tìm
ra các luật tự nhiên tức là mô tả được sự vận động
của vạn vật trong trời đất. Người ta thường căn cứ
vào kinh nghiệm đã có trong quá khứ để nhận định ra như
thế, và để tiên đoán về tương lai, rồi tuỳ theo đó mà
trù tính và hành động. Tri thức khoa học khác cái hiểu biết
thông thường ở chỗ là làm công việc nhận định đó một
cách có phương pháp và có phép kiểm chứng hẳn hoi.
Người
ta tựa vào những điều sở đắc của khoa học mà sáng chế
ra kỹ thuật, để có thể can thiệp một cách hữu hiệu vào
thiên nhiên, tự nó vốn vô hình đối với các dự định,
mơ ước của con người. Ta không đổi được các luật tự
nhiên, nhưng cái thẩn tình của kỹ thuật là ở chỗ ta có
thể khôn khéo áp dụng định luật này để vô hiệu hoá
hiệu quả của định luật kia, và giao thoa các định luật
để thực hiện những dự định lạ lùng mà nếu để tự
nhiên thì không bao giờ thành: Thực vậy, nếu trong truyện
kiếm hiệp người xưa mơ màng đến phép độn thổ, phép
phi hành, phép đằng vân giá vũ, thì ngày nay chúng ta đã có
tầu ngầm để lặn dưới nước, có máy bay để bay trên
trời, có xe hơi, xe lửa để rút ngắn con đường thiên lý,
có điện thoại, điện tín, để đàm đạo với người ở
xa.
Vì
khoa học có uy tín như thế, cho nên có nhiều người, tuy là
nói về những phạm vi ngoài khoa học như tôn giáo, chính trị,
luân lý, nhưng cũng lên tiếng phân phô rằng lập trường
của mình là dựa vào kinh nghiệm, là hợp với khoa học, thậm
chí còn là khoa học đích thực nữa.
Tóm
lại, ở trong phạm vi các luật tự nhiên này, người ta chỉ
mô tả thôi, chứ không đặt vấn đề về nguồn gốc, xem
ai đã thiết lập ra định luật như thế, xem nó có bó buộc
phải làm thế này hay phải làm thế kia. Mà chính kỹ thuật,
thần tình như thế, cũng không có tính cách bó buộc tuyệt
đối có chăng thì chỉ bó buộc với điều kiện: Nếu muốn
làm được cái này thì phải làm thế kia...
Luật
nhân vi
Luật
nhân vi là luật do con người làm ra, do người ta quyết định,
chỉ định, ấn định. Nó không có tác dụng gì đến sự
vận động của tự nhiên của trời đất. Nó có mục đích
là định hình cho hành vi của con người trong khuôn khổ luân
thường đạo lý trong cuộc sống chung trong xã hội. Nó nhằm
về tương lai. Vì thế nó không mô tả vạn vật trong trời
đất, cũng không mô tả hành vi của con người trong quá khứ
như trong khoa xã hội học nhưng nó là lệnh truyền, nó tạo
ra khuôn phép cho người ta phải theo.
Luật
nhân vi có mấy đặc tính sau đây:
Một
là: Vì không phải tự nhiên như thế, cho nên có thể đặt
câu hỏi về nguồn gốc: Ai đã đặt ra luật? Ai có quyền
đặt ra luật?
Trước
đây thì những người có quyền thế như vua chúa, thường
đặt ra luật bắt thần dân phải theo, ai không theo thì phải
phạt. Nếu là chúa hiền thì thần dân được hưởng an lạc,
nếu là bạo chúa thì thần dân phải chịu khổ. Muốn cho
người ta dễ chấp nhận thì người làm ra luật thường hay
cao tuyên rằng mình theo mệnh trời mà trị dân, rằng mình
theo hướng đi tất yếu của lịch sử mà ai nấy phải theo.
Cũng
có khi người ta giải thích rằng luật luân lý cũng như luật
Nhà nước, đều là luật tự nhiên cả, vì cùng là do cái
lý điều hành tất cả thiên địa nhân. Những như thế là
không phân biệt luật tự nhiên và luật nhân vi, nghĩa là
coi luật trong xã hội cũng là bất di bất dịch và có tính
cách cưỡng bách như luật tự nhiên. Nếu ta không chấp nhận
những lối giải thích như thế, thì chỉ còn một lối là
chủ trương dân chúng phải đặt ra luật. Nhưng như thế cũng
chưa hết vấn đề, vì dân chúng có thể mỗi người đi một
ngả tuỳ theo sở thích và tư lợi. Nếu có người được
bầu làm đại diện cho dân chúng, thì người đó lại cũng
có sở thích và tư lợi của mình, cho nên chắc gì họ sẽ
đặt ra luật để phục vụ cho công ích? Nhưng đây là vấn
đề khác, cần phải đặt ra trong phạm vi luân lý học, đạo
đức học và trong lý thuyết về Nhà nước.
Hai
là: Luật nhân vi không có tính cách tuyệt đối. Chính vì
nó không phải tự nhiên có mà do con người đặt ra, cho nên
nó cũng có thể do con người thay đổi hay phế bỏ đi, như
ta thường thấy trong đời sống xã hội. Khi có những thay
đổi làm chuyển hướng cho vận mệnh con người thì ta gọi
là "cách mệnh (mạng)".
Ba
là: Luật nhân vi nhìn nhận rằng hành vi của con người có
một sắc thái mới, một phẩm chất mới, khác hẳn các hiện
tượng tự nhiên. Quả vậy, nếu luật tự nhiên chỉ mô tả
sự vận động một cách vô tình, vô tội vạ của sự vật
trong trời đất, thì luật luân lý hay là luật nhà nước
có tác dụng là đánh giá tính cách thiện hay ác của hành
ví. Ví dụ khi đứng trước một tai nạn giao thông thì nhà
vật lý học có thể tìm ra các nguyên nhân vật lý làm cho
có người thiệt mạng, nhưng trên bình diện pháp lý và luân
lý, người ta tìm xem ai đã gây ra tai nạn, và người đó
vô tình hay là hữu ý gây ra như thế, rồi xác định và phê
phán đó là ngộ sát hay là cố sát.
Bốn
là: Nếu luật tự nhiên điều hành sự vật có tính cách
tự nhiên, thì luật nhân vi đặt ra cho con người có tự do,
tự chủ, tuy có gò bó, đòi người ta phải theo, nhưng lại
không gò bó một cách tất nhiên như thế. Không những là
vì, như vừa nói trên đây, nó không có tính cách tuyệt đối
và có thể phế bỏ được, mà còn vì trong thực hành người
ta rất có thể không tuân theo, hoặc là vì có tinh thần bất
khuất, vì cứng đầu không chịu theo, hay là vì muốn gian
dối, hoặc là vì coi đó là luật bất công, vô đạo. Vì
thế kèm theo luật nhân vi người ta thường có lời khen chê,
hay là phép thưởng phạt. Đó là điều không có trong các
luật tự nhiên.
Nhưng
lời khen chê hay phép thưởng phạt lại cũng không có tính
cách tất nhiên, không cưỡng bách được tự do con người.
Thực thế, có người vô tội nhưng vẫn bị phạt oan, vì
quan toà ăn hối lộ, có người ăn ở vô đạo, phạm đến
phép nước, đến người khác, thế mà được bỏ qua đi.
Mà như thế có thể là vì đút lót với quan trên, hoặc là
vì người có quyền muốn để dành đó để tố giác sau này,
cũng có thể là vì người khác có lòng nhân, rộng lượng
tha thứ. Muốn giải thích cho hợp tình hợp lý, có người
dựa vào tôn giáo mà nói đó hoặc là vì kiếp trước đã
vụng đường tu, hoặc là rồi thế nào cũng sẽ trả "nợ
chồng kiếp sau”. Và cứ theo quan niệm nghiệp báo khắt khe
như luật tự nhiên ấy mà suy ra, người ta có thể nghĩ rằng
không nên giúp đỡ kẻ bần cùng, cũng không thể hiểu sao
có người lại rộng lượng tha thứ cho người khác, vì đã
chắc rằng kẻ đó thế nào rồi cũng phải trả cho hết nợ
trong kiếp này hay kiếp sau.
Quan
niệm như thế tức là cho rằng thế giới của con người
cũng có tính cách tất nhiên, không khác gì thế giới tự
nhiên. Biết đâu quan niệm "vô ngã" lại đã chẳng góp thêm
phần vào chủ trương cho rằng thế giới con người cũng chẳng
khác gì thế giới tự nhiên khống có tất xấu, không cần
có tha thứ hay thưởng phạt gì cả? Nhưng đây là một vấn
đề khác cần phải được đào sâu hơn.
Quan
hệ nhân quả
Vấn
đề ở đây không phải là tin hay là không có nhân quả. Vì
đây không phải là một khám phá thần tình của các bậc
thượng trí siêu phàm. Đây là một quan hệ thông thường
trong đời sống hàng ngày, tuy không cần phải đề xướng
lên một cách trịnh trọng, nhưng ai nấy đều mặc nhiên chấp
nhận trong khi hành động. Thực vậy, ta biết rằng khi ta nói
gì, làm gì, thì đều có tác động, có hiệu quả đến người
nghe, đến người đối diện với ta, cho nên ta lựa lời mà
nói, cân nhắc việc làm để đạt mục đích. Khi ta sử dụng
sự vật bên ngoài, thì ta biết rằng sự vật vận động
một cách khá điều hòa: hễ có hiện tượng này thì chắc
sẽ có hiện tượng kia. Nếu phản ứng của người khác hay
là của sự vật đều không nằm trong khuôn khổ điều hòa,
liên quan giữa cái trước với cái sau, giữa nguyên nhân và
hậu quả, thì ta không thể có dự định gì hết trong cuộc
sống này.
Ngược
lại, có nhận định ra quan hệ nhân quả, ta mới có thể
hiểu được sự vận động của sự vật, nếu sự vật và
người xung quanh đều xuất hiện, vận động hay là phản
ứng một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi lúc mỗi khác, một
cách vô cớ, vô lý thì trời đất chỉ là một mớ hỗn độn,
ta vừa không hiểu được ra sao, vừa không thể tính toán,
xoay xở gì được. Nói khác đi, nhận định ra quan hệ nhân
quả là điều sở đắc quan trọng của trí khôn con người.
Ngoài
ra ta cũng mặc nhiên chấp nhận rằng sự vật vận động
một cách điều hòa, không thất thường. Nếu quan hệ nhân
quả lại thất thường, nay thế này, mai thế khác, thì nó
thật là bí mật, có nó hay không có nó thì cũng thế, vì
ta không thể nào trù tính gì được. Như thế có nghĩa là
hai nguyên lý nhân quả và điều hòa đi đôi với nhau mà làm
thành nguyên lý tất định, là nền tảng cho khoa học tìm
ra các định luật khoa học.
Riêng
về quan hệ nhân quả - từ đây ta hiểu là nó đi đôi với
nguyên lý điều hòa ta cần phải phân biệt một cách rõ ràng
hai phần: một là nguyên lý nhân quả, hai là định luật nhân
quả.
Nguyên
lý nhân quả tổng quát
Nguyên
lý nhân quả là cái lẽ mà ta chấp nhận ngay từ đầu, một
cách chung chung, tổng quát, nghĩa là chưa áp dụng vào cái
gì cụ thể cả. Có thể đề xướng ra một cách tiêu cực
như thế này: không có gì xảy ra mà lại không có nguyên nhân
(duyên cớ). Lại cũng có thể đề xướng ra một cách tích
cực như sau: Cái gì cũng có nguyên nhân.
Dĩ
nhiên là nguyên lý này tựa vào kinh nghiệm của ta, nhưng xét
là một nguyên lý có tính cách tổng quát, thì nó không phải
hoàn toàn là do kinh nghiệm của ta mà ra. Thực thế, nguyên
lý thì bao trùm tất cả mọi sự việc, nhưng đời sống và
kinh nghiệm của ta và của cả nhân loại thì lại có hạn:
chưa bao giờ ta có kinh nghiệm được hết tất cả mọi sự
việc trong trời đất, để có thể nói tóm tất cả lại
rằng bất cứ cái gì cũng có nguyên nhân.
Nguyên
lý ta đề xướng lên có tính cách tổng quát, vượt ra ngoài
tầm kinh nghiệm của ta. Có thể tầm mắt của ta mới có
thể mở rộng ra bên ngoài kinh nghiệm hạn hẹp của ta. Có
thể ta mới nảy ra ý định tìm ra những điều mới và có
thể tiến bộ. Nếu ta chỉ hạn hẹp vào kinh nghiệm sở đắc
mà thôi, thì thế giới sinh hoạt của ta cũng hạn hẹp và
ngừng trệ lại.
Tuy
nguyên lý nhân quả quan trọng, nhưng nó chỉ nói lên một
cách chung chung, như là một hình thức trống rỗng, chưa có
nội dung gì cụ thể, cho nên chưa nói lên được cho đích
xác cái gì là nguyên nhân, cái gì là hậu quả. Muốn nói
lên được cho đích xác, không thể lý luận suông trong phạm
vi nguyên lý, mà phải đưa nguyên lý áp dụng một cách có
phương pháp vào kinh nghiệm về từng loại đối tượng, để
đi tới những định luật nhân quả phải có phương pháp
mới được. Thực vậy, không phải vì lẽ bất cứ cái gì
cũng có nguyên nhân, mà ta có thể gán bất cứ nguyên nhân
nào cho bất cứ sự kiện nào. Vấn đề là phải đặt ra
phương pháp kiểm chứng để xác định quan hệ đích thực
giữa nguyên nhân loại này với hậu quả loại kia.
Trước
khi bàn về định luật nhân quả, thiết tưởng cũng nên nhắc
qua đến bốn nguyên lý mà triết gia Hi Lạp Aristoteles (384
- 322 TCN) đã đưa ra để tìm hiểu vạn vật. Theo ông thì
có hai nguyên lý nội tại, là hình thể và chất thể và hai
nguyên lý tại ngoại là nguyên nhân và mục đích. Dần dần
người ta cho rằng hình thể và chất thể thuộc về phạm
vi trừu tượng của suy luận triết học. Còn nguyên lý mục
đích, thì có liên quan đến dự định của con người ta,
cho nên có phần chủ quan. Vì thế khoa học thục nghiệm, nhằm
đi tới tri thức khách quan, chỉ hạn hẹp vào việc truy tìm
nguyên nhân, theo nguyên lý nhân quả mà thôi, hơn nữa lại
chỉ dùng nó trong phạm vi mà ta có thể đo lường, so sánh
và kiểm chứng được mà thôi. Đó là phương pháp dùng trong
khoa học về các sự vật tự nhiên, phạm vi của vật lý
học (tìm cái lý trong sự vật). Sau này đến khi nghiên cứu
về con người, môi thấy là không thể bỏ qua tư , tưởng
và dự định (mục đích) của chủ thể.
Định
luật nhân quả riêng tư
Quan
điểm khoa học
Ai
nấy đều mặc nhiên chấp nhận quan hệ nhân quả và áp dụng
một cách tự nhiên trong cuộc sống, mà không mấy khi suy luận
cho thấu đáo. Trong các truyện thần thoại, các truyện cổ
tích, ta thường thấy các dân tộc giải thích nguyên nhân
các hiện tượng trong trời đất theo nhiều lối khác nhau,
rồi thế hệ trước dạy lại cho thế hệ sau, mà ít ai kiểm
chứng. Có người nói đến quan hệ nhân quả giữa sự việc
ở kiếp này với sự việc ở kiếp khác, giữa sự việc
có tính cách vật chất có thể đo lường được với sự
việc không đo lường được. Làm như thế tức là có áp
dụng nguyên lý nhân quả - có người cho là do các bậc thượng
trí trực giác được và dạy cho ta - nhưng đó không phải
là những định luật khoa học, vì nó ở ngoài phương pháp
khoa học.
Quan
điểm khoa học thì khác. Khoa học không có chân lý gia truyền
hay bí truyền, mà cha mẹ, sư phụ hay là bậc thượng trí
nào đó đóng cửa dạy cho con em, cho đệ từ ngoan ngoãn, bảo
sao nghe vậy. Những điều nói lên trong khoa học thì có tính
cách công cộng. Nó không phải là do thần nhân, thần linh
hay Trời Phật dạy riêng cho tín đồ trong môn phái mà do người
ta thoả thuận với nhau về phương pháp để kiến tạo, sao
cho ai nấy đều có thể kiểm chứng và đồng ý. Uy tín của
người trên không phải là tiêu chuẩn ở đây.
Mục
đích là tìm biết sự vật cho đích xác hết sức, là nhắm
tới tri thức khách quan. Có khi ta tưởng rằng biết một cách
khách quan có nghĩa là sụ vật tự nó như thế nào thì mình
biết đúng như thế, chứ không phải là biết theo như thiên
kiến, theo như cảm giác hay là quan niệm chủ quan. Nói cho
đúng ra, ta chỉ có thể biết được sự vật qua giới hạn
của giác quan, của cơ cấu trí khôn ta. Ta thấy sự vật có
ngũ sắc: xanh đỏ trắng vàng đen, hoặc là nóng hay lạnh.
Nhưng ta cũng biết là có những người không phân biệt được
mầu xanh với mầu đỏ, lại có khi ta thấy nóng mà người
khác lại không thấy nóng. Như thế rõ ràng là có chủ quan,
nhưng ta đã là chủ thể, thì làm thế nào lại có thể biết
ngoài cảm giác và quan điểm của chủ thể được?
Vì
thế cho nên quan điểm khách quan của khoa học không phải
gạt bỏ đi tất cả các yếu tố liên quan đến chủ thể,
coi như là không có chủ thể mà đã không có chủ thể thì
còn ai là kẻ biết? nhưng là hạn hẹp những yếu tố về
phẩm, thường nặng về chủ quan, như mầu sắc, nóng lạnh,
chua cay... để đồng ý với nhau về lượng. Ví dụ thay vì
bất đồng ý kiến về mầu sắc, thì thoả thuận với nhau
về tần số của làn sóng ánh sáng (quang ba), thay vì nói đến
cảm giác chủ quan nóng hay lạnh, thì nói nhiệt độ đã được
là bao nhiêu độ...
Ta
biết người xưa, Âu cũng như Á, khi bàn về trời đất thì
thường nhận định về phẩm. Các triết gia Hi Lạp cũng như
Ấn Độ thời Thượng cổ cho rằng thành phần của trời
đất là tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong, hay là: đất,
nước, lửa, khí (không khí). Người Hi Lạp cho rằng bốn
thành phần đó có những đặc tính đối chọi với nhau: ướt
đối với khô, lạnh đối với nóng. Đất thì khô và lạnh,
nước thì ướt và lạnh, lửa thì khô và nóng, khí thì ướt
và nóng. Riêng người Trung Hoa cổ cũng có cái nhìn về phẩm
tương tự như thế thay vì tứ đại thì họ noi ngũ hành,
là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mà ngũ hành thì có liên quan,
liên quan bí mật thế nào không rõ, đến ngũ phương, ngũ
sắc, ngũ vị, ngũ tạng. Đó là những quan niệm về thiên
nhiên theo cái nhìn về phẩm, tiếng Pháp gọi là Physique qualitative.
Những cái biết như thế về phẩm, như tứ đại, ngũ hành
hay là âm dương... chỉ là suy luận, không có phương pháp
kiểm chứng, không đưa tới kỹ thuật gì hữu hiệu. Trái
lại, khoa học chủ trương xét theo lượng, cho nên học về
thiên nhiên theo quan điểm lượng, căn cứ vào đo lường,
tức là Physique qualitative, tức là khoa mà ngày nay ta gọi là
vật lý học.
Điểm
quan trọng một cách cơ bản trong khoa học, đó là phép đo
lường. Vẫn biết là ta không bỏ được cảm giác chủ quan
về không gian dài ngắn, về thời gian lâu mau, và về trọng
lượng nặng nhẹ. Nhưng khoa học đòi ta phải thoả thuận
với nhau để xác định ra đơn vị để đo lường, để khi
ta nói ra thì ai cũng hiểu được như nhau, mà không phải căn
cứ vào cảm giác chủ quan không chính xác. Ví dụ khi ta nhúng
tay vào nồi nước, thì ta chỉ có cảm giác là nóng, nóng
hơn, lạnh, lạnh hơn, khó đồng ý với nhau, nhưng nếu ta
đem cái hàn thử biểu nhúng vào nước, ta trông vào đó sẽ
dễ dàng đồng ý là nóng 80oC, hay là 90oC là lạnh 4oC hay là
6oC.
Như
thế là ta dùng các dụng cụ đo lường để ước lượng
thay cho các giác quan. Tuy vậy đời sống thường nhật của
nhà khoa học vẫn là thế giới thông thường do cảm giác
đem lại. Những cái ta không có cách nào thực nghiệm để
đo lường thì không thuộc về phạm vi khoa học thực nghiệm,
ví dụ như thế giới tâm lý, thế giới tâm linh, thế giới
bên kia, kiếp trước, kiếp sau, thế giới thần linh, thế
giới của tưởng tượng, của giấc mơ... Cho nên khi nói về
những thế giới như thế, người ta không có quyền nói nó
hợp hay là không hợp với khoa học, vì nó thuộc về các
lĩnh vực khác, không thể lẫn lộn được với khoa học.
Sau
khi các sự kiện đã được phân loại và đo lường, thì
người ta dùng phép quy nạp để rút ra những định luật
nhân quả, nói lên cho đích xác cái gì là nhân, cái gì là
quả, và hai cái nhân, quả ấy tăng giảm tương đối với
nhau như thế nào. Ta gọi đây là định luật riêng, là vì
nó áp dụng nguyên lý nhân quả tổng quát vào những phạm
vi và đối tượng riêng.
Cũng
cần phải nói thêm rằng các định luật khoa học là do người
ta tạm thời phỏng đoán như thế để mô tả sự vận động
của sự vật. Tạm thời, là vì hễ có một sự kiện nào
môi không theo quí luật đó, thì sự kiện như thế không đổi
được, mà trái lại phải sửa đổi định luật đi cho hợp
với sự kiện mới. Nói tóm lại là tuy thiên nhiên vận động
một cách tất yếu, nhưng định luật nhân quả chỉ là tạm
thời, chứ chưa có giá trị dứt khoát.
Phương
pháp truy tìm quan hệ nhân quả
Như
đã nói trước đây, cái gì cũng có nguyên nhân, nhưng không
phải vì thế mà khi tìm hiểu một sự kiện nào đó, ta có
thể gán cho nó bất cứ nguyên nhân nào. Vấn đề là phải
tìm, cùng trong một phạm vi thí nghiệm như nhau, cho biết quả
này thì phải là do nhân nào. Theo như nhà triết gia khoa học
người Anh, là John Stuart Mill (1806 - 1873), thì phép quy nạp
cũng chính là phép truy tìm quan hệ nhân quả. Phép đó cơ
bản chủ trương dùng mấy phương pháp sau đây:
Một
là phương pháp tương đồng. Khi nhiều trường hợp của một
hiện tượng mà ta nghiên cứu đều cùng có một yếu tố
như nhau, thì yếu tố này được coi là nguyên nhân của hiện
tượng ấy. Ví dụ: một số khách ăn trong một quán cơm bị
đau bụng tháo dạ, khi điều tra, ta thấy là họ đã ăn nhiều
món khác nhau, nhưng có một món mà tất cả họ đều ăn,
là món gỏi cá, vậy theo phương pháp tương đồng, ta kết
luận: món gỏi cá là nguyên nhân của cơn đau bụng đó.
Tuy
vậy nếu chỉ có một phương pháp này, thì kết luận có
thể là đúng, nhưng chưa chắc là đúng hẳn. Ví dụ trong
một buổi tiếp tân ta thấy có một số người say sưa nói
nhảm, khi điều tra, ta thấy người này thì uống rượu ta
(rượu đê) pha nước, người kia uống whisky pha nước, người
khác thì uống mai-khôi-lộ pha nước, người khác nữa lại
uống sake của Nhật Bản cũng pha nước, theo phương pháp tương
đồng ta kết luận: nước là yếu tố chung cho các trường
hợp đó, cho nên nước là chính nguyên nhân cho cuộc say sưa
trên đây. Nhưng theo lương tri mà xét thì thấy không ổn?
Vì thế cần phải có thêm mấy phương pháp nữa.
Hai
là phương pháp dị biệt. Nếu hiện tượng ta quan sát xuất
hiện trong trường hợp này mà không xuất hiện trong trường
hợp kia, đồng thời ta lại thấy hai trường hợp đó có
nhiều yếu tố như nhau, trừ có một yếu tố là có trường
hợp này mà không có trong trường hợp kia, thì ta có thể
là nguyên nhân, hay hậu quả, hay một thành phần của hiện
tượng nói trên.
Đem
áp dụng phương pháp này vào ví dụ đưa ra sau cùng trên đây,
ta lại thử cho người ta uống nguyên chất các thứ rượu
kể trên đây mà không pha nước, nếu thấy người ta không
say sưa gì cả, thì ta có thể chắc chắn rằng nước chính
là nguyên nhân làm cho mọi người say sưa!
Cái
mà J.S. Mill gọi là phương pháp thứ ba, không có gì mới lạ
cả: Đó chỉ là dùng cả hai phương pháp 1 và 2, như ta vừa
làm mà thôi.
Bốn
là phương pháp tạm gọi là dư tồn. Nếu trong hiện tượng
H mà ta quan sát có nhiều thành phần, như: A, B, C, mà các thành
phần đó đã được ta nhận định, theo các phương pháp trước
đây, như là hậu quả của các thành phần P, Q, R, trong nguyên
nhân N, thì thành phần D, còn lại trong hiện tượng H, có
thể coi là hậu quả của thành phần S, còn lại trong nguyên
nhân N.
Năm
là phương pháp tăng giảm đồng thời. Khi ta tăng hay giảm
một hiện tượng, mà thấy có hiện tượng khác cũng đồng
thời tăng giảm, thì tức là hai hiện tượng ấy có quan hệ
nhân quả với nhau, hay cùng là hậu quả của một nguyên nhân
khác. Có điều cần phải chú ý: Các phương pháp trên đây,
dù sao, cũng chỉ là nhìn theo bề ngoài. Đáng lý ra, càng tìm
được nhiều yếu tố tương đồng thì quan hệ nhân quả
càng vững. Thế nhưng rất có thể là những yếu tố tương
đồng đó chỉ là ngẫu nhiên, chứ không chắc đã là do quan
hệ nhân quả. Ví dụ có hai ông bác sĩ. Ông Ất nói: các
bệnh nhân mà tôi điều trị thì đều dùng một thứ thuốc
viên mầu đỏ, nặng 4 g, cùng do một hãng bào chế, cùng mua
tại một hiệu thuốc, cùng do một cô hàng gói trong bao giấy
xanh, các người đó đều lành bệnh cả. Trái lại ông Bính
nói: các người bị bệnh A mà tôi điều trị, đều uống
thuốc cùng một chất hoá học B như nhau, và họ đều khỏi
cả. Ta thấy tuy ông Bính không đưa ra được nhiều yếu tố
tương đồng như ông Ất, nhưng liên quan nhân quả có phần
đúng hơn, vì nó thích hợp hơn. Vấn đề khó khăn là làm
sao phỏng đoán được yếu tố thích hợp. Thiếu nó thì khi
thực nghiệm có tìm ra bao nhiêu yếu tố tương đồng, cũng
chỉ là bì phu chi ngoại, không đi đến đâu cả.
Nhận
xét về quan hệ nhân quả
Có
một số triết gia trong truyền thống tư tưởng duy nghiệm
nước Anh chủ trương rằng kinh nghiệm không thể cho ta biết
có quan hệ nhân quả hay không. Vì lẽ rằng ta chỉ thấy hiện
tượng này và hiện tượng kia rất nhiều lần đi đôi với
nhau, hoặc là đi theo nhau, cho nên từ đó ta nảy ra mềm tin
chủ quan là hiện tượng này sinh ra hiện tượng kia mà thôi.
Nhưng đã có người khác hỏi vặn lại: Đã đành như vậy
là hiện tượng này không phải là nguyên nhân sinh ra hiện
tượng kia, nhưng ít ra thì người vừa phủ nhận quan hệ
nhân quả, cũng đã công nhận rằng chính cái việc quan sát
hai hiện tượng thường đi đôi với nhau đã sinh ra trong đầu
óc của ta cái niềm tin chủ quan rằng hai sự kiện có quan
hệ nhân quả với nhau!
Đó
là những suy luận có tính triết học. Còn lập trường khoa
học thì đứng trong phạm vi thực nghiệm, cho nên cũng dần
dần bỏ không nói đến quan hệ nhân quả, vì khó mà nói
cho đúng cái gì sinh ra cái gì. Thực vậy, mỗi khi có một
hiện tượng xuất hiện, thì ta thấy phải có nhiều điều
kiện đi trước, mà không điều kiện nào có thể được
gọi là nguyên nhân duy nhất cả. Vì thế muốn nói cho chính
danh, thì phải đổi lại, phải chỉnh danh: không nói đến
nguyên nhân, nhưng nói đến điều kiện.
Có
hai thứ điều kiện: Một là điều kiện đủ. Trong trường
hợp hễ có A thì cũng có B, ta gọi A là điều kiện đủ
để có B. Hai là điều kiện cần, đó là điều kiện không
có không được. Trong trường hợp hễ không có M thì cũng
không có N, ta gọi M là điều kiện cần của N. Nhưng cũng
trong trường hợp này, nếu có M thì chưa chắc là có N, vì
M không phải là điều kiện đầy đủ của N. Ví dụ, dưỡng
khí trong không gian là điều kiện tất yếu, không có không
được, để gây ra hỏa hoạn, nhưng nó không phải là điều
kiện đầy đủ để gây ra cháy nhà.
Khoa
học chỉ cần biết như thế, chứ không cần dùng đến từ
ngữ nguyên nhân có tính cách triết học. Và khi áp dụng khoa
học vào kỹ thuật, nếu muốn tạo ra một hiện tượng nào
đó, người ta tìm cách đặt ra điều kiện đủ của nó.
Còn khi muốn tránh không cho một hiện tượng nào đó xảy
ra, thì chỉ cần gạt bỏ đi một điều kiện cần mà thôi.
Ví dụ muốn tránh hỏa hoạn chỉ cần tránh không cho ai châm
lửa, không cho giây điện chạm nhau nảy lửa, hay là... rút
hết dưỡng khí trong không gian đi!
Trong
đời sống thường nhật, người ta vẫn hay nới đến nguyên
nhân, nhưng thường chỉ có ý hiểu là điều kiện đã làm
cho hiện tượng nào đó bộc phát, chứ không có ý nói đến
tất cả các điều kiện. Ví dụ khi tìm nguyên nhân của một
hỏa hoạn thì người ta có ý hỏi ai đã châm lửa, dây điện
chạm nhau bật lửa như thế nào, chứ không ai nói đến dưỡng
khí luôn luôn có trong không gian, tuy nó là điều kiện tất
yếu.
Riêng
trong khoa học thực nghiệm về thiên nhiên, thì ta biết tuy
phải tìm tòi cho có phương pháp nhưng các định luật lại
không có tính cách tất yếu, vì những kinh nghiệm đã đưa
ta đến các định luật thì có hạn, mà định luật đã được
ta tổng quát hoá thì lại bao gồm vô số những trường hợp
mà ta không thể nào gặp hay là thí nghiệm được hết. Cho
nên các nhà khoa học đều công nhận rằng theo lý thuyết
nó chỉ có giá trị tạm thời. Vì thế những ai muốn chủ
trương tư tưởng của mình là chân lý vững chắc, thì thiết
tưởng không nên cho nó cái nhãn hiệu là khoa học, nhất là
khi chính mình lại không theo phương pháp khoa học thực nghiệm.
Có
hai điều đáng chú ý về sự khác nhau giữa lý thuyết và
thực hành. Một là nếu vật lý học nghiên cứu về các vật
cỡ lớn, thì ta thấy các định luật thường là những công
thức, những tỷ lệ khá đơn sơ, rất dễ cho việc tính toán,
nhưng khi nghiên cứu những vật cỡ nhỏ như ở cấp điện
tử, thì các định luật lại rất phiền toái, không chính
xác và chỉ có giá trị thống kê mà thôi. Tuy vậy, trong đời
sống thường nhật ta vẫn áp dụng các định luật khoa học
một cách xuôi chảy vào các vật cỡ lớn. Hai là tuy rằng
theo lý thuyết các định luật khoa học chỉ là tạm thời,
nhưng trong thực hành ta cũng lại thấy nó rất vững, có thể
áp dụng rất hữu hiệu vào việc sáng chế các thứ máy móc
tinh xảo. Và đó là hai điều rất lạ, ta chưa biết vì sao
lại như vậy.
Để
kết luận tạm thời tôi xin tóm lại ba nhận xét:
1)
Cần phải phân biệt quan niệm khoa học thực nghiệm với
những quan niệm khác, không theo phương pháp thực nghiệm và
không có kiểm chứng một cách công cộng.
2)
Chính trong phạm vi khoa học cũng cần phải phân biệt nguyên
lý nhân quả với định luật nhân quả, đồng thời hạn
chế định luật này vào những sự vật mà ta đo lường được.
3)
Sau cùng, lại cũng cần phân biệt thế giới tự nhiên với
thế giới con người, vì nếu ta có thể giải thích được
thế giới sự vật bằng quan hệ nhân quả, thì trong thế
giới con người, ta còn phải kể đến cảm giác và cái nhìn
chủ quan, đến tự do và những ảo tưởng, hy vọng và dự
định có liên quan đến luân thường đạo lý.
Nhưng
đây lại là một vấn đề khác, vì nếu thế giới con người
không hoàn toàn như thế giới tự nhiên thì phải có tiêu
chuẩn riêng trong khoa học con người, để xác định thế
nào là sự kiện, là định luật, là lý thuyết và những
thứ đó có giá trị đến đâu.
Trần
Văn Toàn
(Tạp
chí Nghiên cứu con người)
Người
gửi bài: Diệu Tịnh
03-28-2007