Phần
IX: Bát Kính Pháp
(S.
Guradharmā [1]; P. Aṭṭha Garudhammā
Chỉ
áp dụng cho Tỳ-kheo-ni)
*******
Tôi
đã khảo sát các giới của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni trong các
phần trước. Hơn nữa, cả Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni đều có
một số giới chỉ áp dụng cho riêng họ. Như Tỳ-kheo thì
có tụ Bất Ðịnh Pháp đã được trình bày ở trên. Các
giới mà đặc biệt chỉ áp dụng cho Tỳ-kheo-ni thì không
thể nói là do chính họ mà các giới này được chế định,
tôi sẽ bàn thảo sau. Các điều luật ấy được biết như
Bát Kính Pháp. Bát Kính Pháp có nội dung hầu như giống nhau
trong hai bộ Luật tiếng Hoa và Pāli, mặc dù chúng có thứ
tự khác nhau. Trong kinh Pāli, Kinh Gotamī [2] và Cullavagga [3]
cả hai đều nói đến việc chế định Bát Kính Pháp và câu
chuyện xuất gia của di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī
Gotamī - bà vừa là dì, vừa là kế mẫu của đức Phật).[4]
Sau 5 năm đức Phật thành đạo,[5] đức Phật nhận lời thỉnh
cầu của di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề và đoàn tuỳ tùng của
Bà, Ngài viếng thăm Vườn Cây Banyan ở Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu).
Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề xin đức Phật cho phép Bà xuất gia.
Đức Phật từ chối ba lần nhưng không giải thích lý do tại
sao, rồi đức Phật đi đến Tỳ-xá-li (Vesālī). Di mẫu và
đoàn tuỳ tùng buồn bã khóc lóc. Tuy buồn bã nhưng cả đoàn
quyết chí chọn đời sống của người xuất gia, dù không
có sự chấp thuận của đức Phật, họ đã cạo đầu và
đắp y vàng. Bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề và đoàn tùy tùng đi theo
đức Phật từ Ca-tỳ-la-vệ đến nơi đức Phật dừng chân
là Tỳ-xá-li.
Di
mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề và đoàn tùy tùng đang đứng bên ngoài
giảng đường Đại Lâm (Mahāvana) gần Tỳ-xá-li, họ gặp
Tôn giả Ānanda - người bà con của đức Phật. Tôn-giả Ānanda
vô cùng thương cảm khi thấy di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề đứng
bên ngoài giảng đường buồn bã đẫm lệ với đôi chân
sưng phồng và thân thể rũ rượi vì đi bộ. Tôn giả quyết
định thuyết phục đức Phật để giúp di mẫu Gotamī. Dù
đức Phật đồng ý cho phụ nữ gia nhập Tăng đoàn, nhưng
Ngài quy định rằng phụ nữ phải tuân theo Bát Kính Pháp.
Di mẫu Gotamī chấp nhận và trở thành Tỳ-kheo-ni đầu tiên
trong Phật giáo. Luật Tạng tiếng Hoa cũng giải thích chi tiết
về việc xuất gia của di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề và việc
chế định Bát Kính Pháp giống như vậy.[6] Bát Kính Pháp
được dịch sang tiếng Hoa là pa pu k’o wei fa (bát bất khả
quá pháp) [7] nghĩa là “Tám Điều Luật không được vi phạm.”
Bát Kính Pháp được trình bày như dưới đây:
Người
dịch mặc ước như sau: Số La-tinh là thứ tự của Bát Kính
Pháp, kế đến là nội dung [8] và cuối cùng là số thứ tự
tương đương của giới Ba-dật-đề nếu có. [9]
1.
Tỳ-kheo-ni dù trăm năm tuổi hạ cũng phải tôn kính, chào
hỏi, xá bái một vị Tỳ-kheo dù mới thọ giới một ngày.
Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ tôn kính giới này suốt đời không
được vi phạm [175].
2.
Tỳ-kheo-ni không được trách mắng hoặc sỉ vả các sai lầm,
hoặc các tà kiến, phẩm hạnh, nuôi mạng sống của các Tỳ-kheo
bằng bất cứ cách nào. Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ tôn kính
giới này suốt đời không được vi phạm [145].
3.
Tỳ-kheo được phép rầy la các Tỳ-kheo-ni, chứ Tỳ-kheo-ni
không được phép rầy la một vị Tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni phải
tuân giữ tôn kính giới này suốt đời không được vi
phạm.
4.
Thức-xoa muốn thọ giới phải đến cầu xin nhị bộ Tăng
Ni. Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ tôn kính giới này suốt đời
không được vi phạm. [giống với giới 124 hay giới thứ
126].
5.
Tỳ-kheo-ni phạm giới Tăng-già-bà-thi-sa hành pháp Ma-na-đoả
[10] nửa tháng trước nhị bộ Tăng Ni. Tỳ-kheo-ni phải
tuân giữ tôn kính giới này suốt đời không được vi
phạm.
6.
Mỗi nửa tháng Tỳ-kheo-ni phải cầu giáo giới chư
Tăng. Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ tôn kính giới này suốt đời
không được vi phạm [141].
7.
Tỳ-kheo-ni không được an cư ở một trú xứ không có Tỳ-kheo.
Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ tôn kính giới này suốt đời không
được vi phạm [143].
8.
Sau an cư, Tỳ-kheo-ni phải đến nhị bộ Tăng Ni cầu xin tự
tứ (trình 3 việc: thấy, nghe, nghi). Tỳ-kheo-ni phải tuân giữ
tôn kính giới này suốt đời không được vi phạm [142].
Theo
như sự trình bày ở trên, chúng ta thấy sáu giới (1, 2, 4,
6, 7 và 8) giống hay tương tự với các giới ở tụ Ba-dật-đề
(175, 145, 124 hay 126, 141 và 142) trong Tứ Phần Luật. Như tôi
đã trình bày trong phần giới thiệu, một số học giả, nhà
nghiên cứu Phật giáo và các hành giả thường cho rằng vị
trí phụ nữ trong Phật giáo thể hiện qua phần Bát Kính Pháp.
Anne
Bancroft nói: “Ngày nay người ta tranh luận gay gắt về Bát
Kính Pháp có phải thật sự là do đức Phật chế định hay
do các vị Tăng thêm vào sau này. Tám điều luật này thật
là quá vô lý, và khó có thể tưởng tượng được đức
Phật đã chấp nhận khả năng chứng quả A-la-hán của phụ
nữ lại nói như vậy. Ngay cả đến ngày nay Bát Kính Pháp
đã và đang tiếp tục đóng vai trò chính trong cách ứng xử
của Tỳ-kheo-ni đối với Tỳ-kheo.”[11]
Nancy
Schuster Barnes viết: “Bát Kính Pháp được nói là do đức
Phật chế định khi Ngài thành lập Ni đoàn là quá đáng và
quá áp đặt.”[12]
Gross
nói: “Tuy nhiên, chư Ni bị yêu cầu phải chấp nhận tám
giới đặc biệt như là điều kiện cần để được gia nhập
Tăng đoàn; tám giới này đặt Ni đoàn dưới Tăng đoàn.”[13]
“Nhiều
người thích cho rằng thái độ tiêu cực của đức Phật
đối với Ni đoàn là ý tưởng được thêm vào sau này, điều
đó thể hiện khuynh hướng của các đệ tử trong giai đoạn
sau bảo thủ hơn.”[14]
Susan
Murcott cũng nói: “Tám Giới Đặc Biệt được thừa nhận
như là điều tiên quyết đối với việc xuất gia của phụ
nữ, có lẽ chúng là bức tường để ngăn chặn tính liều
lĩnh có thể phát sinh trong tương lai. Nhưng Tám Giới Đặc
Biệt này rõ ràng đặt phụ nữ ở vị trí thứ hai. Di mẫu
Ma-ha-bà-xà-ba-đề chấp nhận các điều luật này để đạt
được mục đích tối cao của bà là thành lập Ni đoàn.”[15]
Dhamacharini
Sanghadevi vạch ra rằng: “Cuối cùng đức Phật đã đồng
ý phụ nữ có thể xuất gia, nhưng họ phải chấp nhận Bát
Kính Pháp (Garudhammā), mà trên thực tế Bát Kính Pháp khẳng
định là Ni đoàn không những bị thua thiệt đối với Tăng
đoàn mà còn bị lệ thuộc vào Tăng đoàn nữa.”[16]
Lorna
Devaraja cũng nói: “Giá phải trả cho sự xuất gia của các
Tỳ-kheo-ni là phải chấp nhận Tám Ðiều Luật (Aṭṭha Garudhammā)
bất công, tất cả các điều luật này nhằm đưa vị trí
của nam giới lên. Điều thứ nhất nói rằng Tỳ-kheo-ni dù
trăm tuổi hạ cũng phải tôn kính, đứng dậy vái chào một
vị Tăng dù vừa mới thọ giới.”[17]
Tuy
nhiên, bảng liệt kê ở trên đã vạch ra sự không ăn khớp
của Bát Kính Pháp với câu chuyện thành lập Ni đoàn và cách
trị phạt các tội thuộc Ba-dật-đề. Roykan Nagasaki tranh luận
rằng dù Bát Kính Pháp là những điều luật quan trọng nhất
cho bất cứ phụ nữ nào muốn xuất gia đều phải tuân giữ,
nhưng các điều luật này được đức Phật chế định ra
khi di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề xuất gia thì rất hồ nghi, vì
lúc bấy giờ Ni đoàn chưa thành lập, và sáu giới quy định
cho một vị Thức-xoa-ma-na phải tuân giữ và tu tập trong 2
năm chưa có chế định. Tuy nhiên, các vấn đề này lại được
đề cập trong 4 điều (4, 5, 6 và 8) của Bát Kính Pháp. Dường
như Bát Kính Pháp có lẽ được thêm vào sau khi thành lập
hai bộ Tăng Ni.” [18]
Sư
Cô Hae-ju Chun, vừa là Tỳ-kheo-ni và cũng là giảng viên của
trường đại học Tonguk tại Seoul, Triều Tiên chứng minh có
6 điều luật (1, 2, 4, 6, 7 và 8) trong Bát Kính Pháp thuộc các
giới trong tụ Ba-dật-đề của Tỳ-kheo-ni, vì các giới trong
Bát Kính Pháp tương tự hay giống như các giới trong
tụ Ba-dật-đề. Chúng ta có thể so sánh sự khác nhau trong
cách trị phạt của Bát Kính Pháp với cách trị phạt trong
Ba-dật-đề. Vi phạm Bát Kính Pháp thì người nữ không được
xuất gia, Bát Kính Pháp phải được tuân giữ suốt cuộc
đời của Tỳ-kheo-ni. Tuy nhiên, các điều luật Ba-dật-đề
(175, 145, 124, hay 126, 141, 143, 142) chỉ yêu cầu sám-hối, vì
các tội này của Tỳ-kheo-ni được xem như là vi phạm “giới
nhỏ.” Dựa trên mức độ khác nhau quá nhiều của các tội
giữa Bát Kính Pháp và các giới Ba-dật-đề, Sư Cô đã khẳng
định có lẽ Bát Kính Pháp được thêm vào sau này.” [19]
Điều
luật thứ nhất trong Bát Kính Pháp dường như không có trong
Luật Tỳ-kheo-ni Pāli. Tôi không tìm ra điều luật này trong
văn học Pāli, nhưng nó được lập lại ở giới 175 thuộc
tụ Ba-dật đề của Tỳ-kheo-ni trong Tứ Phần Luật
tiếng Hoa. Ðiều luật thứ nhất trong Bát Kính Pháp thường
được mọi người đem ra để tranh luận về vị
trí của phụ nữ trong Phật giáo. Có lẽ nó được các soạn
giả thêm vào trong Giới Bổn tiếng Hoa, họ muốn thêm vào
kinh điển những ý tưởng không tốt đối với phụ nữ.
Đề cập về điều luật này tôi hồ nghi rằng trong thời
đức Phật các vị Tỳ-kheo vừa mới thọ giới lại có được
tám phẩm hạnh[20] có thể nhận sự tôn kính từ nhiều vị
trưởng lão Tỳ-kheo-ni đã chứng A-la-hán hay không.
Nancy
Auer Falk khẳng định: “Rõ ràng đầu dây mối nhợ của mọi
chuyện là do Bát Kính Pháp đặt chư Ni dưới quyền điều
khiển của chư Tăng. Ðiều này ám chỉ là chính đức Phật
đã không đồng ý thành lập Ni đoàn để cho phụ nữ xuất
gia. Nếu chúng ta tin theo lời khẳng định của đức
Phật là phụ nữ có khả năng chứng đạt quả A-la-hán, thì
câu chuyện này có thể là một sự lừa gạt, vì nó không
được xếp vào loại văn học Phật giáo thời kỳ đầu,
nhưng lại được lưu hành rộng rãi như là câu chuyện đáng
tin cậy về việc thành lập Ni đoàn, vì vậy câu chuyện ấy
ắt hẳn đã là bóng đêm phủ trùm lên mọi nỗ lực của
chư Ni.” [21]
Như
tôi đã cố gắng minh hoạ ở trên, mục đích đầu tiên của
đức Phật hoàn toàn khác. Tính không nhất quán của các điều
luật về phương diện tình thương và sự hiểu biết dành
cho chư Ni như đã được diễn tả trong các giới chế định,
cũng như các yêu cầu quá khắc khe của Bát Kính Pháp thì
khó mà chấp nhận được.
Tôi
hoàn toàn nhất trí với Harikawa: “Bát Kính Pháp có 8 điều.
Theo Bhikkhunīkhandaka [S. Bhikṣunī-skhandhaka] (Kiền-độ cho Tỳ-kheo-ni),
khi đức Phật chấp thuận lời cầu xin xuất gia của
di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề để trở thành Tỳ-kheo-ni, Ngài cũng
chế định Bát Kính Pháp. Tuy nhiên, nội dung của Bát Kính
Pháp cho thấy rằng các điều luật này thật sự được chế
định sau này.” [22]
Như
Harikawa tuyên bố, tôi tin rằng chỉ có một cách giải thích
hợp lý là Bát Kính Pháp được thêm vào sau này. Bằng chứng
có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất cho cách giải thích này
là nhiều điểm quá khác nhau về cách trị phạt các tội
Ba-dật đề và Bát Kính Pháp. Phạm giới Ba-dật-đề chỉ
có sám-hối, trong khi đó Bát Kính Pháp buộc Tỳ-kheo-ni phải
tuân giữ suốt đời .
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Các học giả dịch từ Gurudharmā bằng nhiều cách khác nhau:
Tám Giới Ðặc Biệt, Tám Giới Phụ, Tám Điều Kiện Quan
Trọng, Tám Giới Lớn, Tám Giới Chủ Yếu,Tám Ðiều Luật
Ðặc Biệt, Tám Giới Chính, Tám Giới. Tôi thích cách dịch
“Tám Giới.”
[2]
The Book of the Gradual Sayings (Aṅguttara-Nikāya), Vol. IV (London:
P.T.S.), pp. 181-5.
[3]
Sacred Buddhist Books. Tập. XX, pp. 352 - 6, hoặc Ðại Chánh Tạng,
Tập XXII, pp. 922-3.
[4]
Câu chuyện xuất gia của di mẫu Mahāpajāpatī trong một số
bản luật có vài điểm khác nhau nhưng căn bản là giống
nhau, ngoại trừ một vài chi tiết quan trọng.
[5]
Horner, Women Under Primitive Buddhism, p. xxii.
[6]
Ðại Chánh Tạng, Tập XXII, pp. 922-923.
[7]
Sách đã dẫn, p.923.
[8]
Sách đã dẫn, Tập XXII, pp. 646, 649, 923, 1045 và Tập XXIII,
p. 345.
[9]
Ryokan Nagasaki, "A Study on the Ordination of Mahāpajāpatī Gotamī
Bhikṣuṇī," in The Journal of Indian and Buddhist Studies. Vol. 52
(Tokyo: University of Tokyo, 1978), p. 656. Nagasaki so sánh Bát Kính
Pháp của Luật Pāli với Bát Kính Pháp của các bộ Luật
khác. Còn tôi thì so sánh Bát Kính Pháp với các giới
trong phần Ba-dật-đề dựa trên Luật Tứ Phần tiếng
Hoa.
[10]
Xem cước chú 16 phần Tăng-già-bà-thi-sa.
[11]
Anne Bancroft, "Women in Buddhism," Women in the World's Religions, ed.
Ursula King (New York: Paragon House Publishers, 1987), p. 83.
[12]
Nancy Schuster Barnes, "Buddhism," in Women in World Religions, ed. Arvind
Sharma (Albany: State University of New York Press, 1987), p. 107.
[13]
Gross, p. 9.
[14]
Sách đã dẫn, p.33.
[15]
Murcott, p. 17.
[16]
Dharmacharini Sanghadevi, "The History of the Ordination of Women in Buddhism,"
in Dakini Issue 7, Summer 1991 (Glasgow: Ink Print and Design, 1991), p.
4.
[17]
Heidi Singh, "The Value of Precepts," in Sakyadhītā: International Association
of Buddhist Women Vol. 4, No. 1 (Honolulu: Sakyadhita, 1993), p. 7.
[18]
Nagasaki, p. 656.
[19]
Hae-ju Chun, "A View of Women in Buddhism" in The Dharma Newspaper (Pubpo
Sinmun) Nov. 16, 1992, p. 8.
[20]
Bậc thánh đã chứng quả A-la-hán. Ðây là quả thánh
tối cao của Phật giáo Thương Toạ Bộ. Trong Trưởng Lão
Ni Kệ (Therīgāthā) có 73 bài kệ của các vị Trưởng Lão
Ni. Nhiều Tỳ-kheo-ni đã chứng quả A-la-hán trong thời đức
Phật còn tại thế.
[21]
Falk, p. 162.
[22]
Hirakawa, p. 37.
Đọc
Thêm: Tứ Phần Luật, Việt dịch:
Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng