Phần
VII: Chúng Học Pháp (Śaikṣa dharmā)
*******
Trong
Giới Bổn Ni , Chúng Học Pháp tụ thứ sáu trong khi đó trong
Giới Bổn Tăng đây này là tụ thứ bảy. Theo Luật Pāli,
khi vi phạm Chúng Học Pháp thì gọi là “tội ác tác.” [1]
Bà Horner nói, Chúng Học Pháp là “các giới giúp cho cách
cư xử của Tăng Ni được hoàn thiện hơn; các giới này đề
cập đến các vấn đề liên hệ đến sự tu sửa.” [2] Chúng
Học Pháp được dịch sang tiếng Hoa là shi cha ja lio ni fa (Thức-xoa-ca-la-ni
pháp) [3] pai chung hsueh fa (Bách Chúng Học Pháp) [4] hoặc
ying dang hsueh (ưng đương học). [5] Một trăm giới này
của hai Giới Bổn Tăng và Giới Bổn Ni hoàn toàn giống nhau,
và đề cập chủ yếu đến những cách ăn, mặc, ngồi, đi,
thuyết giảng, v.v… một cách thích hợp. Trong tụ này, số
lượng giới và nội dung giữa các giới của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni
hoàn toàn giống nhau, do đó chúng ta thấy vai trò hàng đầu
của Tỳ-kheo trong việc thành lập các giới trong Luật Tạng
thật sự có ý nghĩa. Nhiều giới trong Luật Tạng được
thiết lập với mục đích là để cho các Tỳ-kheo phải
chú tâm đến cách sống của mình, rồi các giới này cũng
đem áp dụng cho cả Tỳ-kheo-ni. Do các nguyên nhân này mà một
số người nghĩ rằng Tỳ-kheo-ni bị đối xử phân biệt trong
việc chế định giới luật. Tuy nhiên, vai trò chủ yếu
của các Tỳ-kheo cũng như chủ đề của các giới trong Luật
Tạng gợi ý rằng các Tỳ-kheo có rất nhiều điểm lộn xộn
hơn Tỳ-kheo-ni trong cộng đồng Tăng đoàn. Không có lý do
gì cho rằng vì chư Tỳ-kheo-ni mà giới luật phát sinh và được
chế định. Chúng Học Pháp[6] được trình bày như dưới
đây:
1.
Phải mặc nội y cho chỉnh tề.
2.
Phải mặc 5 y cho chỉnh tề.
3.
Không được đi vào nhà cư sĩ mà đắp y cuốn lại như cái
vòi của con voi [7].
4.
Không được vắt ngược y khi ngồi trong nhà cư sĩ.
5.
Không được quấn y phủ cổ khi đi vào nhà cư sĩ.[8]
6.
Không được quấn y phủ cổ khi ngồi trong nhà cư sĩ.
7.
Không được trùm đầu khi đi vào nhà cư sĩ.
8.
Không được trùm đầu khi ngồi trong nhà cư sĩ.
9.
Không được vừa đi vừa nhảy [9] vào nhà cư sĩ.
10.
Không được ngồi trong nhà cư sĩ sau khi vừa đi vừa nhảy.
11.
Không được ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ.
12.
Không được chống nạnh đi vào nhà cư sĩ.
13.
Không được ngồi chống nạnh trong nhà cư sĩ.
14.
Không được đi vào nhà cư sĩ mà lắc mình.
15.
Không được ngồi trong nhà cư sĩ mà lắc mình.
16.
Không được đi vào nhà cư sĩ mà quơ tay.
17.
Không được ngồi trong nhà cư sĩ mà quơ tay.
18.
Không được đi vào nhà cư sĩ mà không mặc y che kín thân
mình.
19.
Không được ngồi trong nhà cư sĩ mà không mặc y che kín thân
mình.
20.
Không được đi vào nhà cư sĩ mà trông bên nầy bên kia.
21.
Không được ngồi trong nhà cư sĩ mà trông bên nầy bên kia.
22.
Ði vào nhà cư sĩ phải giữ yên tịnh.
23.
Ngồi trong nhà cư sĩ phải giữ yên tịnh.
24.
Không được cười lớn tiếng khi đi vào nhà cư sĩ.
25.
Không được cười lớn tiếng khi ngồi trong nhà cư sĩ.
26.
Phải nhận thức ăn một cách trân trọng.
27.
Chỉ nhận thức ăn vừa đủ.
28.
Chỉ nhận canh vừa đủ.
29.
Hãy trộn thức ăn và cơm lại mà ăn.
30.
Hãy ăn một cách cẩn thận.
31.
Không được moi giữa bát mà ăn.
32.
Không được xin cơm và thức ăn cho chính mình, trừ khi bệnh.
33.
Không được dùng cơm che khuất thức ăn để mong được thêm
nữa.[10]
34.
Không được nhìn liếc bát người khác mà sanh tâm ganh ghét.
35.
Hãy nên ăn một cách có chú tâm.
36.
Không được ăn miếng quá lớn.
37.
Không được há miệng lớn mà bỏ thức ăn vào miệng.[11]
38.
Không được đang ngậm thức ăn mà nói chuyện.
39.
Không được thảy cơm vào miệng.
40.
Không được để cơm rơi rớt khi ăn.
41.
Không được ăn nhiều cho trám vàm má.
42.
Không được nhai thức ăn có tiếng.
43.
Không được húp canh có tiếng.
44.
Không được lấy lưỡi liếm tô đựng thức ăn.
45.
Không được rảy tay khi ăn.
46.
Không được nhặt thức ăn rơi mà ăn.
47.
Không được cầm bát khi tay dơ bẩn.
48.
Không được đổ nước rửa bát còn thức ăn ra đất.
49.
Không được đại tiểu tiện, khạc nhổ trên cỏ, trừ khi
bệnh.
50.
Không được đại tiểu tiện, khạc nhổ trong nước, trừ
khi bệnh.
51.
Không được đứng mà đại tiểu tiện, trừ khi bệnh.
52.
Không được nói pháp cho người mặc áo ngược, trừ trường
hợp bệnh.
53.
Không được nói pháp cho người quấn áo lên cổ, trừ trường
hợp bệnh.
54.
Không được nói pháp cho người che đầu,[12] trừ trường
hợp bệnh.
55.
Không được nói pháp cho người trùm đầu, trừ trường hợp
bệnh.
56.
Không được nói pháp cho người chắp tay sau lưng hoặc chống
nạnh, trừ trường hợp bệnh.
57.
Không được nói pháp cho người mang giày,[13] trừ trường
hợp bệnh.
58.
Không được nói pháp cho người mang guốc, trừ trường hợp
bệnh.
59.
Không được nói pháp cho người ngồi trên xe, trừ trường
hợp bệnh.
60.
Không được ngủ tại tháp thờ Phật, trừ khi canh giữ.
61.
Không được cất đồ quý tại tháp thờ Phật.
62.
Không được mang dép vào tháp thờ Phật.
63.
Không được xách dép vào tháp thờ Phật.
64.
Không được mang dép đi xung quanh tháp thờ Phật.
65.
Không được mang giày ống cao vào tháp thờ Phật.
66.
Không được xách giày ống cao vào tháp thờ Phật.
67.
Không được ngồi ăn dưới tháp thờ Phật mà bỏ đồ dơ.
68.
Không được khiêng xác chết ngang qua tháp thờ Phật.
69.
Không được chôn xác chết dưới tháp thờ Phật.
70.
Không được thiêu xác chết gần tháp thờ Phật.
71.
Không được thiêu xác chết trong khu có tháp thờ Phật.
72.
Không được thiêu xác chết xung quanh bốn phía tháp thờ Phật.
73.
Không được mang đồ dùng của người chết ngang qua tháp
thờ Phật.
74.
Không được đại tiểu tiện dưới tháp thờ Phật.
75.
Không được đại tiểu tiện trước tháp thờ Phật.
76.
Không được đại tiểu tiện xung quanh bốn phía tháp thờ
Phật.
77.
Không được đi đại tiểu tiện mà mang theo hình Phật.
78.
Không được đánh răng dưới tháp thờ Phật.
79.
Không được đánh răng trước tháp thờ Phật.
80.
Không được đánh răng xung quanh bốn phía tháp thờ Phật.
81.
Không được hỉ mũi khạc nhổ dưới tháp thờ Phật.
82.
Không được hỉ mũi khạc nhổ trước tháp thờ Phật.
83.
Không được hỉ mũi khạc nhổ xung quanh bốn phía tháp thờ
Phật.
84.
Không được ngồi duỗi chân về phía tháp thờ Phật.
85.
Không được thờ Phật ở tầng dưới mình đang ở.
86.
Không được nói pháp cho người ngồi[14] mà mình đứng, trừ
trường hợp bệnh.
87.
Không được nói pháp cho người nằm, trừ trường hợp bệnh.
88.
Không được nói pháp cho người ngồi chỗ thích hợp[15] mà
mình ngồi chỗ không thích hợp, trừ trường hợp bệnh.
89.
Không được nói pháp cho người ngồi chỗ cao mà mình ngồi
chỗ thấp, trừ trường hợp bệnh.
90.
Không được nói pháp cho người đi trước mà mình đi sau,
trừ trường hợp bệnh.
91.
Không được nói pháp cho người đi chỗ cao mà mình đi chỗ
thấp, trừ trường hợp bệnh.
92.
Không được nói pháp cho người đi giữa mà mình đi bên,
trừ trường hợp bệnh.
93.
Không được cầm tay người khác mà đi.
94.
Không được trèo lên cây cao quá đầu, trừ khi có việc.
95.
Không được treo bát nơi đầu cây gậy.
96.
Không được nói pháp cho người cầm gậy.
97.
Không được nói pháp cho người cầm vũ khí.
98.
Không được nói pháp cho người cầm gươm.
99.
Không được nói pháp cho người cầm dao.
100.
Không được nói pháp cho người cầm dù, trừ trường hợp
bệnh.
Ji-kwan
Lee nói, những giới này được chia làm 10 phần: phần thứ
nhất (1 - 2) đề cập cách mặc y phục; phần thứ hai (3 –
25) nói về cách vào nhà cư sĩ; phần thứ ba (26 - 46): cách
ăn uống; phần thứ tư (47 - 48): cách cầm bình bát; thứ năm
(49 - 51): về đại tiểu tiện; thứ sáu (52 - 59): cách thuyết
pháp; thứ bảy (60 - 85): cách thờ cúng chùa tháp; thứ tám
(86 - 92): cách thuyết pháp; thứ chín (93 - 95): cách đi trên
đường và trèo cây; thứ mười (96 - 100): cách thuyết pháp.[16]
W.
Pachow nói: “Chúng học pháp không xếp vào bất cứ một loại
tội nào, vì chúng không bị bắt tội hay bị hình phạt cho
các loại vi phạm này. Một Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni vi phạm
một trong các giới này không xem như là một tội phạm mà
chỉ là một cách ứng xử không tốt mà thôi.”[17]
Một
số người đọc Luật liền nghĩ rằng đức Phật đối xử
phân biệt đối với Tỳ-kheo-ni, vì các giới trong Luật Tạng
được chế định dường như chủ yếu là do Tỳ-kheo, và
nhiều điều luật áp dụng cho Tỳ-kheo-ni được lấy từ
Tỳ-kheo. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn chế định giới luật,
chư Tỳ-kheo đóng vai trò hàng đầu cho các chủ đề như đã
đề cập, điều này chỉ chứng minh các Tỳ-kheo có nhiều
điểm sai sót hơn Tỳ-kheo-ni.
Bảng
so sánh các tội của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni đã được
ghi lại trong Tứ Phần Luật tiếng Hoa.
Chúng
tôi mặc ước như sau: Các số la-tinh là thứ tự của các
tụ giới; Các số La-mã nhỏ, được quy ước: i)
Số giới của Tỳ-kheo; ii) Số giới của Tỳ-kheo-ni; iii) Tổng
số tội của Tỳ-kheo;i v) Tổng số tội của Tỳ-kheo-ni; v)
So sánh tội phạm của Tăng và Ni.
1)
Ba-la-di: i): 4; ii): 8; iii): 4; iv): 4; v) Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni
phạm ngang nhau.
2)
Tăng-già-bà-thi-sa: i) 13; ii) 17; iii) 13; iv) 10; v) Tỳ-kheo
hơn Tỳ-kheo-ni 3 tội.
3)
Bất Ðịnh: i) 2 ; ii) 0; iii) 2 ; iv) 0 ; v) Tỳ-kheo hơn Tỳ-kheo-ni
2 tội.
4)
Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề: i) 30; ii) 30; iii) 19; iv) 11; v) Tỳ-kheo
hơn Tỳ-kheo-ni 8 tội.
5)
Ba-dật-đề: i) 90; ii) 178; iii) 90; iv) 109; v) Tỳ-kheo-ni
hơn Tỳ-kheo 19 tội.
6)
Ba-dật-đề-đề-xá-ni: i) 4; ii) 8; iii) 4; iv) 8; v) Tỳ-kheo hơn
Tỳ-kheo-ni 4 tội.
7)
Chúng Học Pháp: i) 100; ii) 100; iii) 100; iv) 0; v) Tỳ-kheo hơn
Tỳ-kheo-ni 100 tội.
8)
Diệt Tránh: i) 7; ii) 7; iii) 7; iv) 0; v) nguyên nhân là do Tỳ-kheo
cả.
Tất
cả 100 giới trong phần này được chế định ra là do Lục
quần Tỳ-kheo vi phạm.[18] Điều này giúp chúng ta hiểu biết
đúng đắn hơn về vai trò hàng đầu của các Tỳ-kheo khi
chúng ta xét đến nguyên nhân chế định các giới, cũng như
khi khảo sát về cấu trúc và nội dung các giới trong Luật
Tạng.[19] Khi vị Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni làm một việc gì sai
trái, đức Phật hỏi lại vị ấy có phạm như vậy hay không
rồi đức Phật mới chế định giới chung cho các Tỳ-kheo
liên hệ đến lỗi lầm đó. Giới này cũng được mở rộng
để áp dụng cho Tỳ-kheo-ni, nhưng chỉ là vấn đề hình thức.
Kabilsingh nói, đã lâu không ai chú ý đến những người thường
gây rắc rối trong Tăng đoàn. Khi nghiên cứu về các người
gây rắc rối trong hai bộ Tăng Ni, chúng ta có thể rút ra vài
điểm độc đáo là trong Tăng đoàn có nhiều người gây rắc
rối hơn là bên Ni đoàn.[20] Việc chế định các giới trong
Luật Tạng là để ngăn chặn các việc làm sai trái, đặc
biệt là đối với nhóm Lục quần Tỳ-kheo.
“Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn đang ở tại Tịnh Xá của ông Cấp
Cô Ðộc (Anāthapiṅdika), trong vườn cây của Thái tử Kỳ-đà
(Jeta), thuộc Sāvatthī. Bấy giờ Lục quần Tỳ-kheo mặc nội
y rủ xuống trước sau…Đức Thế Tôn quở trách, nói rằng:
“Này các người vô trí, sao các ngươi mặc nội y rủ xuống
trước sau như thế ? Không nên như vậy, này các người vô
trí, vì điều đó sẽ làm không vui lòng những người không
quen biết, không thích hợp cho những người ấy, như vậy
này các Tỳ-kheo, giới này được tuân giữ.” [21]
“Lúc
bấy giờ Lục quần Tỳ-kheo mặc y trên rủ xuống trước
sau…Bất cứ ai mặc y trung không trang nghiêm, rủ xuống
trước sau thì phạm tội ác tác.” [22]
“Lúc
bấy giờ Lục quần Tỳ-kheo mặc y không che kín thân, họ
đi vào nhà …Bất cứ ai không chỉnh tề mặc y không che kín
người mà đi vào làng mạc (hoặc ngồi trong làng mạc), thì
phạm tội ác tác.” [23]
Cách
thành lập các giới trong Luật tạng như đã được minh chứng
trên cho chúng ta thấy rằng đức Phật đã nỗ lực hết sức
mình để hoàn thiện cho chư Tỳ-kheo, và không có một chứng
cứ nào để chứng minh cách đối xử phân biệt đối với
Tỳ-kheo-ni nói riêng, hoặc đối với phụ nữ nói chung.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Sách đã dẫn, p. 121.
[2]
Sách đã dẫn, p. 120.
[3]
Ðại Chánh Tạng,Tập XXII, p. 698.
[4]
Sách đã dẫn.
[5]
Sách đã dẫn, Tập XIII, pp. 561-562.
[6]
Thứ tự và nội dung của Chúng Học Pháp trong hai bộ Giới
Bổn Tăng và Giới Bổn Ni giống nhau (chú thích của người
dịch).
[7]
Ðại Chánh Tạng ghi: “Bất đắc phản sao y hành nhập bạch
y xá, ưng đương học” nghĩa là không được vắt ngược
y mà vào nhà cư sĩ (chú thích của người dịch).
[8]
Giới này trong Tứ Phần Luật ghi là “phủ lên cổ”; đây
là cung cách không đàng hoàng (Ðại Chánh Tạng, Tập XXII,
p. 699).
[9]
Nghĩa đen của từ “nhảy” nói lên hành động không đứng
đắn khi đang ở trong nhà cư sĩ.
[10]
Nghĩa đen của câu “Không được dùng cơm che khuất thức
ăn” ám chỉ hành động của một người dường như không
có thức ăn. Khi tín chủ không thấy vị ấy có thức
ăn, họ nghĩ rằng vị này không thức ăn, và vì vậy
họ cúng thêm. Đây là vấn đề ham ăn của Tỳ-kheo hoặc
Tỳ-kheo-ni.
[11]
Bà Horner (Sacred Buddhist Books. Tập XIII, p. 133) giải thích rằng
người Ấn dùng tay vò thức ăn thành “nhúm” rồi bốc ăn.
Nếu làm “nhúm” lớn thì phải há miệng lớn, điều
đó không đúng với cung cách của vị xuất gia.
[12]
Đại Đức Ñāṇamoli (p.117) giải thích rằng “ Ấn Độ
thời cổ có rất nhiều phong tục cần phải tuân thủ đối
với những ai muốn đến viếng thăm các bậc Ðạo Sư để
học hỏi đạo lý. Các phong tục này không phải là hình thức
khách sáo, mà mục đích là để tạo ra thái độ đúng đắn
trong tâm thức của một người cầu pháp. Như một vị vua
phải cởi long bào, vương miệng, v.v…trước khi vào thăm
một bậc Ðạo Sư. Một thường dân phải cởi giày và mũ
khi đến thăm một vị ẩn sĩ. Một khi chức tước, quyền
lực và địa vị của đời thường được gác sang một bên,
tâm của vị ấy dễ từ bỏ sự kiêu căng, ngạo mạn
và dễ có một thái độ khiêm tốn để sẵn sàng tiếp
thu giáo pháp.
[13]
Cung cách không lễ phép, xem chi tiết, Ñāṇamoli, p. 117.
[14]
Cung cách không lễ phép, xem chi tiết, Ñāṇamoli, pp. 117-118.
[15]
Cung cách không lễ phép, xem chi tiết, Ñāṇamoli, pp. 117-118.
[16]
Lee, pp. 456-457.
[17]W.
Pachow, p. 49.
[18]
Các câu chuyện trong Tứ Phần Luật giải thích rằng Lục
quần Tỳ-kheo phạm một số tội, vì vậy đức Phật chế
định các điều luật trong phần này. Xem Ji-Kwan Lee, p. 457.
[19]
Cấu trúc của Bhikṣu-vibhaṅga và Bhikṣunī-vibhaṅga tiếng
Hoa có 4 phần:
(1)
Các câu chuyện giải thích những lý do tại sao các giới được
chế định.
(2)
Giới Bổn.
(3)
Các câu chuyện nói về các trường hợp mà giới được
giảm nhẹ khi trị phạt và đúc kết vấn đề đó thành
giới.
(4)
Chú thích các thuật ngữ liên hệ đến giới đã chế định.
[20]
Kabilsingh, p. 188; xem bảng so sánh các tội của Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni ở trên.
[21]
Sacred Buddhist Books. Tập XIII, p. 120.
[22]
Sách đã dẫn, p.121.
[23]
Sách đã dẫn, p.121-122.
Đọc
Thêm: Tứ Phần Luật, Việt dịch:
Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng