THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VỀ NỮ GIỚI – 
SO SÁNH LUẬT TỲ KHEO VÀ TỲ KHEO NI  DỰA TRÊN GIỚI BỔN TIẾNG HOA 
Nguyên tác: Tỳ-kheo-ni In Young Chung 
Thích nữ Liên Hiếu dịch 
MỤC LỤC

Lời Người Dịch
Tóm Tắt
1 Ba-la-di (Pārājika dharma) 
2 Tăng-già-ba-thi-sa (Saṁghāvaśeṣa dharma)
3 Bất định (Aniyata dharma)
4 Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (Niḥsargika-Pāyantika dharma)
5 Ba-dật-đê (Pāyantika dharma)
6 Ba-dật-đề-đề-xá-ni (Pratideśaniiya dharma)
7 Chúng-học-pháp (Śaikṣa dharma)
8 Diệt-tránh (Adhikaraṇa-Śamatha dharma)
9 Bát Kính Pháp
 
 

LỜI NGƯỜI DỊCH

Nguyên tác A Buddhist View of Women: A Comparative Study of the Rules for Bhikṣuṇīs and Bhikṣus Based on the Chinese Prātimokṣa được đăng trong phần tiếng Anh của một số trang Phật học. 

Về nguyên tắc dịch, chúng tôi cố đi sát với văn phong của tác giả, chỉ trừ chỗ nào thấy không phù hợp với văn phong Việt ngữ, buộc chúng tôi phải dịch thoát ý. 

Tác giả so sánh Giới Bổn Tăng và Giới Bổn Ni dựa trên bản tiếng Hoa, nhưng một vài chỗ chúng tôi đối chiếu lại với nguyên tác tiếng Hoa thì nhận thấy nó không sát với bản tiếng Hoa lắm. Tự nghĩ, nhiệm vụ của chúng tôi không phải là so sánh cách dịch Giới Bổn từ tiếng Hoa sang tiếng Anh của tác giả như thế nào, nên chúng tôi không quan tâm nhiều về vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình dịch, có một vài chỗ làm chúng tôi hơi nghi ngờ, buộc chúng tôi phải đối chiếu lại và phát hiện có nhiều giới có nội dung hơi xa với nguyên tác; nhờ đó chúng tôi mới phát hiện trật tự của các giới trong bản dịch này bị thay đổi rất nhiều. Do đó, chỗ nào chúng tôi vô tình phát hiện được thì chúng tôi ghi là chú thích của người dịch để độc giả có thể đối chiếu lại. 

Trong nguyên tác, tác giả đã dùng hậu chú cho toàn bộ bài viết. Vì chúng tôi nghĩ cách chia bài viết theo từng phần để dịch và trình bày thì dễ dàng cho bản thân chúng tôi và cho độc giả hơn, nên chúng tôi làm hậu chú cho từng phần, do đó thứ tự hậu chú của bản dịch và bản nguyên tác không giống nhau. Thứ nữa, vì trong quá trình dịch chúng tôi có đưa thêm một số ý kiến cá nhân nên trật tự cước chú bị thay đổi theo và số lượng hậu chú cũng gia tăng. 

Vì khả năng trình bày bị hạn chế, nên các biểu đồ trong nguyên tác chúng tôi không vẽ được và thay vào đó chúng được trình bày dưới dạng bảng liệt kê đính kèm các mặc ước. Do đó, những đoạn các mặc ước trong bản dịch đều do chúng tôi ghi thêm vào để độc giả dễ nắm bắt. Bản nguyên tác tiếng Anh có phần Thư Mục Tham Khảo các nguồn tài liệu tiếng Anh, Hoa, Nhật, và Triều Tiên, chúng tôi không đưa vào bài dịch này, nếu độc giả nào muốn tham khảo thêm xin vào nguyên tác để xem.

Tác giả  bài khảo luận so sánh hai bộ Giới Bổn Tăng  và Giới Bổn Ni này có lẽ đã bỏ công nghiên cứu một vài bộ Luật và các bài viết nghiên cứu có liên hệ đến Luật nên đã đưa ra nhiều dẫn chứng đồng dị để soi sáng vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau. 

Điểm khá độc đáo trong bài viết này, tác giả cũng là một Tỳ-kheo-ni có một quan điểm khá khác biệt với hầu hết các quan điểm của các nhà ghiên cứu phương Tây khi họ nghiên cứu về quan điểm bình đẳng của Phật giáo, đặc biệt giữa Tăng Ni, hay rộng hơn là nam và nữ. Phần lớn các học giả Đông Tây đều cho rằng chư Ni bị ép buộc phải giữ hơn chư Tăng 100 giới và tuân thủ Bát Kính Pháp, điều đó được xem như là điều không cần thiết. Nhưng theo Sư Cô In Young Chung cho rằng những giới mà chư Ni  buộc phải tuân thủ đó rất cần thiết cho một Tỳ-kheo-ni sống trong xã hội Ấn Độ cổ đại (Phần V: Giới Ba-dật-đề). Hơn nữa, Bát Kính Pháp là một vấn đề gây nhiều tranh cãi có phải là do chính đức Phật chế định hay không? Sư Cô In Young Chung và nhiều tác giả nghiên cứu khác như trong phần IX đã trình bày là Bát Kính Pháp không phải do chính đức Phật chế định, mà có lẽ là do chư Tổ  hoặc các nhà có trọng trách biên tập Tam Tạng về sau thêm vào. Chúng tôi cũng đồng với các quan điểm đó. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng không phải vì Bát Kính Pháp không phải do chính đức Phật chế định nên chúng ta có quyền bác bỏ. Theo kinh nghiệm bản thân của người dịch, dù chư Ni có buộc giữ Bát Kính Pháp như điều kiện tiên quyết cho đời sống lý tưởng của một người xuất gia, thì điều đó cũng không có trở ngại cho đời sống tu tập tâm của mình, mà ngược lại Bát Kính Pháp giúp cho Tăng Ni tổ chức đời sống cộng đồng ổn định hơn, khi nhìn theo phương diện xã hội học, vì điều đó giúp cho chư Tăng Ni có khoảng cách, tránh được những rắc rối có thể phát sinh. Hơn nữa, Bát Kính Pháp giúp cho chư Ni khiêm hạ trước chư Tăng và nhờ đó chư Ni học được nhiều kinh nghiệm tu tập quý báu từ chư Tăng. Chính nhờ sự khiêm hạ đó, chư Ni tạo được các mối quan hệ tốt đối với chư Tăng và giúp ích cho đời sống cộng đồng chư Ni được ổn định hơn. Điều này cũng không phải vì những lợi ích thô thiển như trên mà buộc chư Ni phải giữ thêm Bát Kính Pháp mà nhiều chư Ni Việt Nam hay các nước than van, thậm chí có những thái độ hoặc hành động quá đáng đòi hỏi quyền bình đẳng tuyệt đối giữa nam nữ như thế thường. Sự đòi hỏi quá đáng với tâm niệm hơn thua, lớn nhỏ, xuất phát từ các tâm lý bất thiện như vậy làm cho các mối quan hệ xã hội đổ vỡ, chưa kể đến đời sống nội tâm của chư Ni cũng bị bất an vì những tâm niệm ấy thường rình rập, dày xéo mảnh đất tâm của họ. Theo các nhà khoa học và nhiều nhà nghiên cứu về tâm lý trị liệu, các nhà tâm lý học, phụ nữ có nhiều nhược điểm hơn nam giới vì cấu trúc sinh lý chi phối não bộ, làm ảnh hưởng đến đời sống tâm linh. Do đó, không có gì quá đáng khi chư Ni phải tuân giữ thêm Bát Kính Pháp và một số giới khác trong các tụ giới.  Dĩ nhiên, chư Tăng cũng đừng vì lợi dụng Bát Kính Pháp mà bắt nạt chư Ni thái quá, làm cho chư Ni phải tủi thân, cảm thấy bị hèn mọn. Điều  đó cũng không tương hợp với với lời dạy của đức Phật, đó là tất cả chúng sanh đều bình đẳng trước đau khổ và quả vị giác ngộ tối thượng.   Tinh thần bảo thủ không cho nữ giới thọ cụ túc giới của một số nước theo truyền thống Phật giáo Theravāda (Lào, Cam Pu Chia, Thái Lan, Miến Điện) và Phật giáo Đại Thừa (Tây Tạng và Mông Cổ) đã làm cho nữ giới sinh khởi những tư tưởng tự ti mặc cảm không cần thiết, rồi lại đi cầu thọ cụ túc giới ở nơi khác. Kính mong chư tôn đức quan tâm nâng đỡ cho chi Ni phát huy hết chức năng của mình như thời đức Phật còn tại thế, tạo điều kiện để chư Ni đóng góp sức mọn của mình cho nhân quần xã hội, đem lại cuộc sống an lạc và đạo vị hơn. 

Chúng tôi dịch tài liệu này với mục đích là để học hỏi thêm, nhận thấy tài liệu này có lẽ sẽ bổ ích cho những vị muốn nghiên cứu về Giới Bổn Tăng và Giới Bổn Ni, các quan điểm Đông Tây về quan điểm bình đẳng giữa Tăng và Ni cũng như giới thiệu sơ bộ lý do Giới Bổn Ni   được thành lập mà Sư Cô In Young Chung đã dày công biên khảo. Do đó, xin được chia sẻ với tất cả thiện hữu tri thức, đặc biệt những vị quan tâm nhiều đến Giới Bổn Tăng  và Giới Bổn Ni.

Bản dịch có lẽ còn nhiều khiếm khuyết, mong các bậc thiện hữu tri thức hoan hỷ chỉ dạy cho. Kính chúc chư pháp hữu đều được “hiện pháp lạc trú” và sớm đạt được lý tưởng hằng mong ước. 

Mùa Phật Đản PL. 2546

Dharamsala, Ấn Độ,
Thích Nữ Liên Hiếu 

Kính ghi.
 
 

TÓM TẮT

*******

Nhìn chung, trong Phật giáo Ni giới bị ép buộc phải giữ hơn chư Tăng 100 giới và còn tuân thủ theo Bát Kính Pháp. Một số học giả, nhà nghiên cứu và hành giả khẳng định rằng các giới trong Giới Bổn (S. Prātimokṣa, P. Pāṭimokkha) đặt vị trí của Tỳ-kheo-ni thấp hơn Tỳ-kheo. Tuy nhiên, tôi cho rằng các giới Ba-la-di (S. & P. pārājika) thêm vào cho Tỳ-kheo-ni có liên hệ đến ái dục nghiêm khắc hơn Tỳ-kheo vì phụ nữ có khả năng sinh sản. Một số giới Tăng-già-bà-thi-sa (S. Saṃghāvaśesa, P. Saṅghādisesa) của Tỳ-kheo-ni với mục đích giúp cho Tỳ-kheo-ni thoát khỏi cạm bẫy của những người đàn ông có tính tham dục. Các giới thuộc tụ Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (S. Niḥsargika-pāyantika; P. Nissaggīya-pācittiya) của Tỳ-kheo nghiêm cấm họ không được lạm dụng Tỳ-kheo-ni. Hai giới Bất Ðịnh (S. & P. Aniyata) của Tỳ-kheo cho chúng ta thấy dấu hiệu đức Phật tin tưởng vào phụ nữ. Hơn nữa, Bảy Pháp Diệt Tránh (S. Adhikaraṇaśamatha; P. Adhikaraṇasamatha) là minh chứng về quan điểm bình đẳng nam nữ. Nhiều giới Ba-dật-đề (S. Pāyantika; P. Pācittiya) được thêm vào cho Tỳ-kheo-ni là do các điều kiện và hoàn cảnh sống của chư Ni ở thời Ấn Độ cổ đại. Sau cùng, cách xử trị của cùng một tội giữa các giới Ba-dật-đề và Bát Kính Pháp hoàn toàn khác nhau và nhiều điểm không nhất quán, điều đó cho chúng ta thấy Bát Kính Pháp là phần thêm vào sau này.

GIỚI THIỆU

Dưới đây là mười nguyên nhân mà Tăng đoàn phải nghiêm trì giới luật.

1. Vì sự kiện toàn của Tăng đoàn.
2. Vì sự an lành cho Tăng đoàn.
3. Để kiềm thúc những người có tâm xấu ác.
4. Vì sự an lạc cho chư Tăng có giới hạnh.
5.  Để đoạn trừ các triền phược ở đây và bây giờ. 
6. Đoạn trừ các phiền trược ở vị lai.
7. Khiến người chưa có tín tâm sanh tín tâm.
8. Khiến nhiều người có tín tâm tăng trưởng thêm tín tâm.
9. Để chánh pháp được trường tồn.
10. Để giới luật được lưu hành.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, tiến trình tu tập này nên được trình bày. [1]

Tổng quan về Luật Tạng  (Vinaya-Piṭaka)

Quan điểm chung của Phật giáo đối với phụ nữ được thể hiện qua các điều luật của Tỳ-kheo-ni [2] (S. Bhikṣunī; P. Bhikkhunī) và Tỳ-kheo [3] (S. Bhikṣu, P. Bhikkhu) trong Luật tạng (Vinaya). [4]  Khi đề cập đến các điều luật của Tỳ-kheo-ni, hầu hết các học giả Phật giáo, các nhà nghiên cứu, cũng như những người tu tập đều đồng ý rằng các điều luật trong Luật Tạng buộc Ni đoàn (Bhikṣunī saṅgha) [5] phải lệ thuộc vào Tăng đoàn (Bhikṣu Saṅgha). [6] Nhiều người lầm lẫn cho rằng các điều luật trong Luật Tạng không công bằng, khắc khe với Tỳ-kheo-ni hơn, vì chư Ni có nhiều điều luật hơn, và kể cả Bát Kính Pháp chỉ áp dụng cho Tỳ-kheo-ni. Hơn nữa, nhiều Tỳ-kheo, và thậm chí các vị Tỳ-kheo-ni nghĩ rằng Tỳ-kheo-ni phải lệ thuộc vào Tỳ-kheo vì những điều quy định trong Bát Kính Pháp. Tóm lại, một số học giả Phật giáo, nhà nghiên cứu và các hành giả đều xác nhận rằng, thông qua các điều luật này, Tỳ-kheo-ni cũng như phụ nữ bị đối xử phân biệt. Kate Wheeler khẳng định: “Đức Phật yêu cầu chư Ni phải tuân giữ Tám Giới Đặc Biệt,[7] rõ ràng điều đó nói lên chư Ni phải nô dịch hoá cho chư Tăng… vì chư Ni phải giữ 227 giới như Tỳ-kheo, rồi còn “được” giữ thêm 84 giới nữa. Trong cùng một tội, các hình phạt của luật định giành cho chư Ni lại nặng nề hơn chư Tăng. [8]

Diana Y. Paul giải thích giới luật: “Bản văn đầu tiên được dịch dưới đây trình bày sự lệ thuộc của Ni đoàn đối với Tăng đoàn, cho thấy Ni đoàn bị mất đi quyền tự trị, và bị tước đoạt quyền lực để định nghĩa những bổn phận tôn giáo mà nữ giới phải thực hiện. Không giống như hệ thống tổ chức bên Thiên chúa giáo, các ma-sơ không bị lệ thuộc bên các linh mục. Chư Ni Phật giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại bị phụ thuộc vào chư Tăng, cơ cấu tổ chức của chư Ni cũng lệ thuộc hệ thống tổ chức của chư Tăng. Họ được chư Tăng trực tiếp hướng dẫn trong các buổi họp của nhị bộ Tăng.” [9]

Rita M. Gross cũng trình bày về vấn đề giới luật như sau: “…đặt chư Ni ở vị trí thấp hơn bất cứ một vị Tăng nào …” [10]

Nancy Schuster Barnes giải thích các điều luật: “Chính các giới chế định cho chư Ni đã đặt họ ở vị trí luôn luôn thấp hơn trong các mối quan hệ với chư Tăng. Chư Tăng đã duy trì quyền điều hành và lãnh đạo Tăng đoàn.” [11]

Richard H. Robinson và Willard L. Johson nói: “Đấng Giác Ngộ thừa nhận phụ nữ có khả năng chứng đạt quả vị A-la-hán, nhưng lại quy định Bát Kính Pháp cho chư Ni, trực tiếp đặt họ dưới quyền của chư Tăng.” [12]

Susan Murcott trình bày: “Tăng đoàn quản lý Ni đoàn, các giới luật và quy tắc của chư Ni lại nghiêm khắc hơn chư Tăng. Mục đích của các giới nghiêm khắc này là để kềm chế bản chất ngang ngạnh của phụ nữ và để giành quyền hành tuyệt đối cho chư Tăng.” [13]

Richard Gombirch tán thành: “… có hai cấp bậc trong xã hội mà Đức Phật không bao giờ đặt vấn đề tuổi tác và giới tính.” [14]

Uma Chakravarti phê bình: “Đủ loại cấm đoán đặt ra cho Tỳ-kheo-ni, ngay cả việc yêu cầu họ cúng dường phẩm thực cho chư Tăng khi chư Tăng đến ghé thăm.” [15] 

Audrey Mck. Femandez nói: “Ngày nay chư Ni có hơn vài trăm giới [16] trội hơn chư Tăng, các giới này đã làm chư Ni phải khổ sở và ai mà biết họ còn phải tuân giữ bao nhiêu điều luật nữa trong đời sống của người xuất gia.” [17]

Mặc dù, hầu hết các học giả và các nhà nghiên cứu Phật giáo đều tán thành Tỳ-kheo-ni dưới quyền Tỳ-kheo Tăng là do có quá nhiều giới thêm vào cho Tỳ-kheo-ni và Bát Kính Pháp buộc họ phải tuân thủ, tôi vẫn không đồng ý với những ý kiến này. Hơn nữa, dựa vào thực tế của đời sống khi các giới hình thành, nếu khảo sát hoặc so sánh các điều luật của cả Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni một cách tỉ mỉ, chúng ta sẽ thấy rằng các điều luật ấy hết sức thực tiễn và cảm thông cho đời sống tu sĩ cả Tăng lẫn Ni. Điều này phải được nhìn nhận một cách sâu sắc về “đời sống khất sĩ” [18] của chư Ni như đã mô tả trong Luật Tạng . Thật sai  lầm khi chúng ta chỉ dựa vào sự hiện diện của các giới  trội hơn cho Tỳ-kheo-ni mà lại khái quát hoá quan điểm của Phật giáo về phụ nữ nếu không khảo sát nguồn gốc của các giới đó hoặc bối   cảnh xã hội.

Do đó, mục đích chính của bài viết này là khảo sát các giới của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni trong Giới Bổn.[19] Tôi tin rằng những nguyên tắc giới luật được qui định trong Giới Bổn của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni sẽ giúp chúng ta suy luận ra quan điểm của Phật giáo đối với phụ nữ. Bài viết này trình bày một lối giải thích khác về các giới bằng cách so sánh hai bộ luật Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni.

Bộ Tứ Phần Luật  tiếng Hoa của trường phái Pháp Tạng Bộ hay còn gọi là Đàm-vô-đức Bộ [20] (Dharmaguptaka) là bộ luật chính được khảo cứu trong bài viết này. Tuy nhiên, vì Bộ Luật Tứ Phần  tiếng Hoa này chưa dịch sang tiếng Anh, do đó khi có các điều luật giống nhau giữa bản luật tiếng Hoa và bản luật Pāli [21], tôi sẽ dùng bản dịch tiếng Anh của bản luật Pāli để cho người Tây phương dễ tiếp cận. 

Theo W. Pachow, “Trong nhiều trường hợp, luật của trường phái Pháp Tạng Bộ rất gần gũi với bản luật Pāli, không chỉ về số lượng mà còn về nội dung, ngoại trừ phần VII [22] trong bộ Luật của Pháp Tạng Bộ có thêm 26 giới điều liên quan đến chùa tháp (stūpa). [23] Đó là điểm khác biệt  của luật Pháp Tạng Bộ so với số các bộ luật khác.[24]

E. Frauwallner cũng nói: “Luật của trường phái Pháp Tạng Bộ là một bộ luật hoàn chỉnh nhất và được bảo trì tốt nhất trong các bộ luật. Số lượng và nội dung của bộ luật này rất gần gũi với số lượng và nội dung của bộ luật Pāli.” [25] 

S. Dutt nói: “Tuy nhiên, bộ luật đầy đủ nhất đã được tìm thấy trong tạng Luật thuộc kinh điển Pāli của Thượng Toạ Bộ.” [26]

Chatsumarn Kabilsingh cũng giải thích, mặc dù không có chứng cứ xác định nào để chứng minh rằng bộ luật tiếng Pāli là bộ luật có nguồn gốc sớm nhất, tuy nhiên qua công trình nghiên cứu so sánh các giới trong sáu bộ luật, [27] bà gợi ý rằng nội dung của Luật Pāli rất cổ xưa và không có một điều luật nào được thêm vào như các bộ luật sau này,  vì có một số giới của bộ luật Pāli có trong nội dung của các bộ luật khác. [28] Luật Pāli do Thượng Toạ Bộ lưu truyền và ngày nay vẫn được các Tỳ-kheo  thuộc trường phái Theravāda tuân giữ.  Các nhà nghiên cứu như Herman Oldenberg [29], Rhys Davids và H. Oldenberg [30], và I. B. Horner [31] đã dịch bộ luật Pāli sang tiếng Anh.

Luật Pháp Tạng Bộ được Ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm dịch sang tiếng Hoa là Tứ Phần Luật Tụng  hay Tứ Phần Luật  (Caturvaga Vinaya) khoảng vào năm 410 - 412 TL ở Trường An [32] - thủ đô của Trung Hoa thời bấy giờ. Tứ Phần Luật tiếng Hoa gồm 4 phần: Bhikṣu-vibhaṅga, [33] Bhikṣunī-vibhaṅga, [34] Skandhaka [35] và các phần phụ lục. Tứ Phần Luật có ảnh hưởng rất lớn và được Tăng đoàn hành trì rộng rãi trong các nước Phật giáo khối Đông Á

Trong các tu viện ở Trung Hoa, Giới Bổn của Pháp Tạng Bộ được xem như là bộ luật căn bản. Ngoài ra, Tứ Phần Luật Tụng do Ngài Đạo Tuyên sáng lập ở Trung Hoa cũng công nhận bộ luật của Pháp Tạng Bộ như là bộ luật có thẩm quyền nhất.[36]

Ngày nay các giới khoản trong bộ Tứ Phần Luật  vẫn được chư Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni ở các nước như Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam hành trì. Mặc dù Ni đoàn hiện nay trên thế giới thực hành theo truyền thống Pháp Tạng Bộ, nhưng cho đến bây giờ, tôi được biết bản Tứ Phần Luật  tiếng Hoa chưa được dịch sang tiếng Anh, đặc biệt là phần các giới luật của Tỳ-kheo-ni [37]. Trong tác phẩm A Comparative Study of Bhikkhunī Pāṭimokkha (So Sánh Giới Bổn của Tỳ-kheo-ni), bà Kabilsingh nói rằng bà đã dựa vào bản Luật của Pháp Tạng Bộ tiếng Thái mà nó đã được dịch từ tiếng Hoa.[38] Dưới đây tôi nêu lên ý nghĩa các giới luật chứ không chuyển dịch theo từng từ. Để hiểu các giới một cách dễ dàng hơn, tôi có kèm theo những bảng so sánh các giới luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni theo mỗi tụ trong hai bộ Giới Bổn.

Giới Bổn là một tuyển tập các giới luật trong Luật Tạng (Vinaya Piṭaka  - một trong ba kho tàng thuộc kinh điển Phật giáo). Ba kho tàng này cũng còn được gọi là Tam Tạng (Tripiṭaka). Ngoài Luật Tạng, hai tạng khác là Kinh Tạng (S. Sūtra Piṭaka, P. Sutta Piṭaka); và Luận Tạng (S & P. Abhidharma Piṭaka). Nhiều học giả giải thích ý nghĩa của thuật ngữ Prātimokṣa (P. Pāṭimokkha) như dưới đây, tuy nhiên các giải thích đó vẫn còn mang tính cách suy đoán. 

Sukumar Dutt và Gokuldas De đại diện cho quan điểm số đông phát biểu: “Pāṭimokkha…có thể tương đương với từ Sankrit là Prātimokṣa, từ nguyên của nó có thể được giải thích như là vật gì đó dùng để trói buộc, tiếp đầu ngữ prāti  có nghĩa “ngược lại” và từ căn mokṣa nghĩa là “sự vung vãi,” tôi cũng chưa thể tìm ra một ví dụ nào để minh hoạ cách dùng từ chính xác trong ý nghĩa này trong văn bản Sanskrit.[39] Thuật ngữ “Pāṭimokkha” xuất phát từ thuật ngữ “mokṣa” nghĩa là tự do, khi kết hợp với tiếp đầu ngữ “prāti” thì nghĩa của nó bị đảo ngược lại, ví dụ như từ: pratisrota, pratigāmi, pratikula v.v...). Prātimokṣa, khi là một tính từ, có nghĩa “lệ thuộc” hay “ràng buộc”. Từ Prātimokṣa,  khi nó là một danh từ cũng được viết là  Prātimokṣa, có nghĩa là “trói buộc”, từ này viết theo chữ Pāli là Pāṭimokkha, và đây là nghĩa chính xác mà bộ Giới Bổn (Pāṭimokkha)   sử dụng.[40]

Giới Bổn (Prātimokṣa) gồm có hai phần là Giới Bổn Tăng  và Giới Bổn Ni, vì bộ này liên hệ đến Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Tứ Phần Luật của Pháp Tạng Bộ bao gồm giới của chư Tăng và chư Ni trong hai phần: Tứ Phần Luật Tỳ-kheo  và Tứ Phần Luật Tỳ-kheo-ni . Tứ Phần Luật Tỳ-kheo-ni có bảy tụ, trong khi đó Tứ Phần Luật Tỳ-kheo có tám tụ vì có thêm tụ Bất Định Pháp[41] (S. aniyata dharma). Để phân tích, đối chiếu hết các giới trong mỗi tụ, tôi sẽ lần lượt trình bày từng tụ của các giới như: Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Bất Ðịnh, Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, Ba-dật-đề, Ba-dật-đề-đề-xá-ni, Chúng học pháp, Diệt tránh.[42] Cuối cùng tôi sẽ khảo sát cặn kẽ Bát Kính Pháp bằng cách so sánh Bát Kính Pháp với các  giới trong tụ Ba-dật-đề để thấy rõ Bát Kính Pháp chỉ là sự tự ý thêm vào và chỉ qui định cho Tỳ-kheo-ni.
 


[1] Sacred Book Series, Tập X. pp. 37-38.

[2] Tỳ-kheo-ni là một vị Ni đã thọ cụ túc giới. Trong Tăng đoàn Phật giáo, việc thọ giới của nữ  giới theo 3 trình tự: 1. Sa-di  (S. śrāmaṇerī; P.sāmaṇerī)  phải tuân thủ 10 giới cấm: i. Cấm sát sanh; ii. Cấm trộm cắp; iii. Cấm dâm dục; iv. Cấm nói láo; v. Cấm uống rượu; vi. Cấm trang điểm phấn son; vii. Cấm đờn ca múa hát và tiêu dao; viii. Cấm ngồi nằm giường cao ghế đẹp; ix. Cấm ăn sái giờ; x. Cấm giữ vàng bạc. (Đại Chánh Tân Tu  Đại Tạng Kinh (viết tắt là Ðại Chánh Tạng), Tập XII, pp. 1042, 1048). 2. Khi đến 18 tuổi, vị Sa-di-ni phải có thời gian tu tập chuyển tiếp gọi là Thức-xoa-ma-na (S. śīkṣmāṇa; P. sikkhamana). Thức-xoa-ma-na phải tuân giữ 6 giới trong 2 năm (xem cước chú 24 của Phần V). Nội dung và số lượng của 6 giới này trong các bộ luật của các trường phái  đều khác nhau, nhưng việc thọ giới chủ yếu là phải trải qua một giai đoạn tu tập để chuẩn bị thọ cụ túc giới Tỳ-kheo ni. Tỳ-kheo không có thọ Thức-xoa-ma-na. Một vị sa-di (S. śrāmaṇera; P. sāmaṇera) đã thọ 10 giới, khi được 20 tuổi vị ấy có thể thọ cụ túc giới Tỳ-kheo, còn sa-di-ni khi được thọ 10 giới rồi, phải thọ Thức-xoa-ma-na.

[3] Vị tu sĩ  nam của Phật giáo đã thọ cụ túc giới (227 giới hoặc 250 giới). 

[4]  Những điều luật trong bộ luật Phật giáo.

[5] Ni đoàn Phật giáo.

[6] Tăng đoàn Phật giáo.

[7] Bát Kính Pháp

[8] Kate Wheeler, “Bowing Not Scraping” in Tricycle, ed. Helen Tworkov (NJ: Mark Printing Corp., 1993), p. 27

[9] Diana Y. Paul, Women in Buddhism: Images of the Feminine in the Mahāyāna Tradition (Berkeley: University of California Press, 1985), p. 80.

[10] Rita M. Gross, “Buddhism and Feminism: Toward Their Mutual Transformation” , The Eatern Buddhist (Tokyo: Komiyama Printing Co., 1986), p. 46

[11] Nancy Schuster Barnes, “Buddhism” in Women in World Religions, ed. Arvind Sharma (Albany: State University of New York Press, 1987), p. 108.

[12] Richard H. Robinson and Willard L. Johnson, The Buddhist Religion: A Historical Introduction (Belmont: Wadsworth Publishing Company, 1987), p. 57

[13] Susan Murcott, The First Buddhist Women: Translations and Commentary on the Therīgathā (Berkey: Parallax Press, 1991), p. 196.

[14] Richard F. Gombrich, Theravāda Buddhism: A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo (London and New York: Routledge, 1991), p. 105.

[15] Uma Chakravarti, The Social Dimension of Early Buddhism (Delhi: Oxford University Press, 1987), p. 33. 

[16] Không có Giới Bổn của một trường phái nào đề cập số giới Tỳ-kheo-ni hơn số giới của Tỳ-kheo 200 giới cả (chú thích của người dịch).

[17] Audrey Mck. Fernandez, “ Women in Buddhism” in Women & Buddhism: A Special Issue of Spring Wind-Buddhist Cultural Forum. Voḷ 6, No. 1,2,& 3. Published by the Zen Lotus Society (Ontario: Spring Wind, 1986), p. 39.

[18] Tôi theo thuật ngữ của I.B. Horner đã dùng để miêu tả đời sống của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni  là “alms life” (đời sống khất sĩ). Một số học giả Phật giáo dùng “homeless life” (đời sống không gia đình) hoặc “monastic life” (đời sống tu viện).

[19] Các điều luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni tụng đọc trong mỗi nửa tháng.

[20] Xem E. Frauwallner, The Earliest Vinaya and the Beginnings of Buddhist Literature (Stampato, Italia: Roma Iṣ Ṃ E. O., 1956) pp. 180-182

[21] Xem Frauwallner, pp. 184-94

[22] Các giới trong phần Chúng Học Pháp, vì tác giả theo sự phân loại của Giới Bổn Tăng, phần  này nằm ở vị trí thứ VII, nếu theo sự phân loại của Giới Bổn Ni thì phần Chúng Học Pháp là phần VI, vì không có phần Bất Định Pháp (chú thích của người dịch).

[23] Đền tháp có hình vòm, nơi thờ cúng xá-lợi  theo truyền thống Phật giáo và Kỳ-na giáo.

[24] W. Pachow, A Comparative Study of the Prāṭimokṣa: On the Basis of Its Chinese, Tibetan, Sanskrit and Pāli Versions (Santinetan: Sino-Indian Cultural Society, 1955), p. 42. 

[25] Frauwallner, pp. 181, 185. 

[26] Sukumar Dutt, The Buddha and Five After-Centuries (Calcutta: Sahitya Samsad, 1978), p. 110. 

[27] Charles S. Prebish (p. 28) nói rằng “chúng tôi tìm  được các bộ luật đầy đủ của sáu trường phái: Mahāsaṅghika [Đại Chúng Bộ], Theravāda [Thượng Toạ Bộ], Mahīśāsaka [Hoá Địa Bộ], Dharmaguptaka [Pháp Tạng Bộ], Sarvāstivāda [Nhất Thiết Hữu Bộ], Mūlasarvāstivāda [Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ]. (Buddhist Monastic Discipline: The Sanskrit Prāṭimokṣa Sūtras of the Mahāsaṅghikas and Mūlasarvāstivādins (University Park and London: The Pennsylvania State University Press, 1975).

[28] Chatsumarn Kabilsingh, A Comparative Study of Bhikkhunī Pāṭimokkha (Delhi: Chaukhambha Orientalia, 1984), p. 97. 

[29] Luật Pāli do H. Oldenberg xuất bản (The Vinaya-Piṭaka in Pāli, 5 Vols, London, 1879) và sau này được Hội Thánh Điển Pāli (The Pali Text Society) in lại.

[30] Giới Bổn (Pāṭimokkha) được xuất bản. Bản dịch tiếng Anh từng phần của nguyên bộ Luật Pāli  được in trong bộ Thánh Điển Phương Đông (The Sacred Books of the East).

[31] Bản dịch tiếng Anh đầy đủ của bộ Luật Pāli với tựa đề là The Book of Discipline (Vols. 10,11,13, 14, 20, 25) được in trong  bộ Thánh Điển Phật Giáo (The Sacred Books of the Buddhists).

[32] Akira Hirakawa, Monastic Discipline for the Buddhist Nuns: An English Translation of the Chinese Text of the Mahāsāṅghika-Bhikṣuṇī-Vinaya  (Patna, India: K. P. Jayaswal Research Institute, 1982), p.8, 415.

[33] Giải thích luật Tỳ-kheo.

[34] Giải thích luật Tỳ-kheo-ni.

[35] Các thủ tục hội họp và các pháp yết-ma khác của Tăng đoàn.

[36] Kabilsingh, p. 153.

[37] Giới Bổn Ni trong Tứ Phần Luật  của Pháp Tạng Bộ đã được Ann Hermann dịch sang tiếng Anh dưới tiêu đề Rules for Nuns according to the Dharmaguptakavinaya (3 parts) , do nhà xuất bản Motilal Banarsidass Publishers Pvt. Ltd tại Delhi, Ấn Ðộ ấn hành năm 2002. (ghi chú của người dịch). 

[38]  Kabilsingh, pp. ix-x.

[39] Sukumar Dutt, Early Buddhist Monasticism (New Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd., 1984), pp. 72-3.

[40] Gokuldas De, Democracy in Early Buddhist Saṅgha (Calcultta: Calcultta University, 1955), p. 60. 

[41] Các phần và số lượng các điều luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni:

(1) Ba-la-di (Pārājika dharma) .................................. 4 / 8
(2) Tăng-già-ba-thi-sa (Saṁghāvaśeṣa dharma)..... 13 / 17
(3) Bất định (Aniyata dharma)...........................………... 2 / 0 
(4) Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (Niḥsargika-Pāyantika dharma) 30 / 30
(5) Ba-dật-đê (Pāyantika dharma).......…………………90 / 178
(6) Ba-dật-đề-đề-xá-ni (Pratideśaniiya dharma).………... 4 / 8
(7) Chúng-học-pháp (Śaikṣa dharma)............. ………100 / 100
(8) Diệt-tránh (Adhikaraṇa-Śamatha dharma)..………….. 7 / 7
Tổng cộng: 250 / 348 giơí.

[42] Tôi trình bày thuật ngữ chuyên môn trong Sanskrit theo cách Charles S. Prebish đã trình bày.

Đọc Thêm: Tứ Phần Luật, Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo Sitemap