Lược
truyện:
Truyện
này do một tác-giả vô danh Việt-Nam biên soạn. Truyện diễn
ca gồm có 788 câu, có thể chia làm 5 hồi:
1.
Nỗi oan giềt chồng
Đức
Quan-Âm nguyên trước kia là đàn ông, tu hành đắc đạo gần
thành Phật. Nhưng Đức Mâu ni hiện ra người con gái đẹp
để thử lòng thì ngài hẹn đến kiếp sau sẽ vầy duyên.
Vì vậy Đức Phật bắt ngài sinh làm kiếp thứ mười và
cho ngài đầu thai làm con gái họ Mãng ở quận Lũng-tài nước
Cao ly, rồi bắt suốt đời phải chịu oan-khổ để thử lòng.
Người con gái ấy tên là Thị Kính, lớn lên có tài sắc
nết na. Sau cha mẹ gả cho Thiện-Sĩ, một thư sinh, con nhà
họ Sùng. Hai vợ chồng ăn ở với nhau rất hòa thuận. Một
đêm kia chồng ngồi đọc sách, nàng ngồi khâu bên cạnh.
Chồng mệt tựa bên cạnh ngủ. Nàng nhìn thấy nơi cằm chồng
có râu mọc ngược; sẵn dao nơi tay, nàng toan cắt sợi râu
đi. Bỗng người chồng giật mình thức dậy, tưởng vợ có
ý ám hại mình bèn tri hô lên. Cha mẹ chồng đến, một mực
buộc nàng cố ý giết chồng, rồi sai mời Mãng-ông đến
bảo để giao trả nàng lại.
2.
Thị Kính đi tu
Về
nhà cha mẹ, oan-ức và đau buồn mà không biết thổ lộ cùng
ai, nàng định tự tử. Song nàng nghĩ mình là con một, mà
cha mẹ thì đã già nên không nỡ dứt tình. Nàng bèn quyết
chí đi tu. Nàng giả dạng nam-nhi, đến chùa Vân-tự xin qui
y. Được sư cụ thừa nhận, đặt tên cho là Kính-Tâm.
3.
Nỗi oan thông dâm
Nhờ
câu kinh tiếng kệ, Kính-Tâm dần quên được đau buồn. Nhưng
không bao lâu lại xảy ra tai vạ nữa. Nguyên trong làng có
Thị Mầu, con gái của một phú ông, hiện đường kén chồng
nên thường hay đến lễ chùa. Thị Mầu thấy tiểu Kính-Tâm
có tư sắc thanh tao, đem lòng say mê, nhưng Kính-Tâm thì vẫn
thờ ơ. Vì mơ tưởng nguyệt-hoa quá nên khi lửa dục nhóm
lên, không tự chủ được, Thị Mầu mới thông dâm với đứa
đầy tớ trong nhà, thành ra có mang. Chuyện đổ bể ra, làng
biết, gọi ra tra hỏi thì Thị Mầu đổ cho Kính-Tâm. Kính-Tâm
khó thể minh-oan nên làng phạt đánh và bắt khoán. Nhà sư
thương-hại đứng ra lĩnh về.
4.
Thị Kính nuôi con Thị Mầu
Sau
Thị Mầu sinh được một đứa con trai, đem ra chùa trả cho
Kính-Tâm. Vì dạ hiếu sinh, Kính-Tâm ẩn-nhẫn nuôi đứa hài
nhi. Ba năm sau, đứa bé khôn lớn. Kính-Tâm đã đến ngày
siêu hóa, bèn gọi đứa bé lại dặn dò rồi viết một bức
thư để lại cho cha mẹ trước khi xả tự.
5.
Rửa oan thành Phật
Khi
sư vãi trong chùa liệm thi hài mới biết Kính-Tâm là đàn
bà giả trai. Làng hay, bắt Phú ông phải sắp đặt việc chôn
cất. Thị Mầu khi ấy hổ thẹn phải liều mình, và lúc chết
phải sa vào địa ngục. Được thư báo tin, ông bà họ Mãng
cùng Thiện-Sĩ và đứa bé đến chùa lo việc ma chay, cầu
cho Thị Kính kiếp sau khỏi khổ nạn.
Trong
lúc chay đàn, Đức Phật Thiên-Tôn hiện xuống truyền cho
Kính-Tâm được lên trời làm Phật Quan-Âm, ông bà họ Mãng
và đứa tiểu nhi cũng được siêu thăng. Duy chỉ có Thiện-Sĩ
thì cho làm con vẹt đứng nhờ một bên.
Năm
hồi trên đây, có thể chia ra làm 31 đoạn :
1.
Mở đầu.
2.
Vào truyện.
3.
Quan-Âm thác sinh.
4.
Họ Sùng ngỏ lời thông gia với họ Mãng.
5.
Họ Mãng bằng lòng nhận lời cầu hôn của họ Sùng.
6.
Thị Kính buồn nỗi phải xa cha mẹ.
7.
Cha mẹ khuyên-giải Thị Kính.
8.
Thị Kính về nhà chồng.
9.
Thị Kính bị nghi oan là giết chồng.
10.
Thị Kính bày tỏ nỗi oan.
11.
Nhà chồng có ý ngờ Thị Kính có ngoại tình.
12.
Thị Kính từ giã nhà chồng về nhà cha mẹ đẻ.
13.
Lúc vợ chồng từ giã nhau.
14.
Thị Kính sau khi về nhà cha mẹ đẻ.
15.
Thị Kính cải trang trốn đi ở chùa.
16.
Thị Kính xin vào tu tại chùa Vân-tự.
17.
Thị Kính được đổi tên là Kính-Tâm làm tiểu nhà chùa.
18.
Thị Mầu phải lòng tiểu Kính-Tâm.
19.
Thị Mầu tư thông với với đứa ở.
20.
Phú ông tra hỏi Thị Mầu.
21.
Vì làng đòi hỏi, phú ông phải dẫn Thị Mầu ra đình.
22.
Tiểu Kính-Tâm bị làng tra hỏi.
23.
Tiểu Kính-Tâm bị đòn.
24.
Nhà sư xin bảo lãnh cho tiểu Kính-Tâm.
25.
Nỗi niềm tiểu Kính-Tâm khi ra ở tam-quan.
26.
Thị Mầu sinh con trai, đem giao trả cho Kính-Tâm.
27.
Tiểu Kính-Tâm nhận nuôi đứa tiểu nhi của Thị Mầu.
28.
Tiểu Kính-Tâm viết thư dặn con rồi siêu thoát.
29.
Nỗi nhà họ Mãng sau khi nhận được thư.
30.
Tiểu Kính-Tâm siêu thăng được làm Phật Quan-Âm.
31.
Kết-luận.
1.
Mở Đầu
1-
Nhân-sinh thành Phật dễ đâu,
Tu
hành có khổ rồi sau mới thành,
Ai
hay vững dạ làm lành,
Chứng-minh
trong chốn minh-minh cũng tường.
Kìa
Ngô thị, tụng Kim-cương,
Chân
thân còn để tượng vàng nghìn thu,
Kìa
Địa Tạng, dốc lòng tu,
Độ
thân cũng được khỏi tù đấng thân
Ấy
là những truyện gần gần,
10-Tu
thân mà được, độ thân lắm người,
2.
Vào Truyện
Lọ
là đức-hạnh tót vời,
Đức
Quan-Âm ấy truyện đời còn ghi.
Vốn
xưa là đấng nam-nhi,
Dốc
lòng từ thủa thiếu thì xuất gia.
Tu
trong chín kiếp hầu qua,
Bụi
trần dũ sạch, thói tà rửa không,
Đức
Mâu Ni xuống thử lòng,
Hiện
ra một ả tư dung mỹ miều.
Lần-khân
ép dấu nài yêu,
20-
Người rằng: "Vốn đã lánh điều nguyệt-hoa,
"Có
chăng kiếp khác họa là,
"Kiếp
này sợi chỉ trót đà buộc tay".
Nào
ngờ phép Phật nhiệm thay,
Lỡ
lời mà đã vin ngay lấy lời.
Chờ
cho kiếp nữa đủ mười,
Thử
cho đày đọa suốt đời xem sao?
3.
Quan-Âm thác sinh
Cõi
trần mượn cửa thác vào,
Hóa
sinh, sinh hóa lẽ nào cho hay,
Cao
ly là nước lớn thay,
30-
Đại bang thành vốn xưa nay gọi là.
Lũng-tài
quận ấy bao xa,
Hồ
nam huyện bắc, có nhà Mãng-ông.
Gia
tư thì cũng bậc trung
Chỉ
hiềm trước cửa treo cung còn chầy.
Vết
Kim-Tiến kể thiêng thay,
Báo
thai mộng nguyệt, mãn ngày treo khăn
Tuy
chưa phải đấng thạch-lân
Khấn-cầu
cũng bỏ người thân muộn-màng.
Đặt
cho Thị Kính tên nàng,
40-
Đượm nhuần sắc nước, dịu dàng nét hoa
Não
nùng chim cũng phải sa
Người
tiên-cung ở đâu ta trên đời.
Gồm
trong tứ đức vẹn mười.
Cửa
Vương-đạo dễ mấy người giường đông.
4.
Họ Sùng ngỏ lời thông gia với họ Mãng
Ở
trong quận, có họ Sùng,
Sẵn
khuôn y bát, vốn dòng cân-đai.
Sinh
chàng Thiện Sĩ là trai,
Qua
vòng tổng-giốc mới ngoài gia quan.
Kể
điều tài mạo cũng ngoan,
50-
Gã tào kiếp trước, chàng Phan phen này.
Đã
trồng bạch-bích sẵn đây,
Còn
chờ bói phượng chưa vầy bạn loan.
Thư
trung dành có ngọc-nhan,
Sách
đèn còn bận, buông màn Quảng Xuyên.
Vẳng
nghe họ Mãng gần miền,
Lam-kiều
là chốn thần tiên có người.
Bức
tranh khổng-tước vẽ vời,
Tay
hèn dẫu bắn mấy đời cho tin.
Đem
cân mà thử nhắc lên,
60-
Bên tài bên sắc đôi bên cũng vừa.
Mượn
người đánh tiếng trình thưa,
Cầu
hôn mới viết thư từ đệ sang.
5.
Họ Mãng bằng lòng nhận lời cầu hôn của họ Sùng
Mở
ra họ Mãng xem tường,
Cùng
phu nhân mới lo lường trước sau.
Bấy
lâu vốn đã quen nhau,
Họ
người vả cũng công-hầu xưa kia
Con
trai rèn cập sớm khuya,
Nhà
thi thư lại giữ nghề thi thư.
Vừa
đôi phải lứa quan-thư,
70-
Há rằng Trịnh với Tề ư mà ngờ.
Đừng
rằng oanh-yến lọc-lừa,
Lại
còn nay đợi mai chờ nơi nao?
Tơ
hồng đã khéo xe vào,
Viết
thơ hoàn-cát mà trao họ Sùng.
6.
Thị Kính buồn nỗi phải xa cha mẹ:
Nàng
nghe nghĩ ngợi đã xong,
Năm
canh thắc-mắc, trong lòng cảm thương.
Linh
Xuân một khóm hầu vang,
Quế
non Yên đã nở nang chồi nào?
Có
ta một chút má đào,
80-
Thần-hôn cũng đã ra vào làm khuây.
Áo
Lai chưa múa sân này,
Thì
đem kinh-bố mà thay gọi là,
Tòng
phu nếu đã từ gia,
Thừa
hoan như lúc ở nhà được đâu?
7.
Cha mẹ khuyên giải Thị Kính:
Song
thân thấy ý đeo sầu,
Gọi
con mới dạy gót đầu cho hay.
"Kẻ
làm phụ mẫu xưa nay,
"Gái
sinh mong sớm đến ngày hữu gia
"Cứ
xem phúc-trạch nhà ta,
90-
"Một mai cũng dễ trai già nở châu,
"Sự
nhà chớ lấy làm sầu,
"Miễn
con giữ đạo làm dâu cho toàn.
"Núi
kia ắt hẳn chưa mòn,
"Thông
kia sương-tuyết hãy còn chở che.
"Vả
xem lối lại đường đi,
"Quanh
đây thăm viếng đôi khi cũng gần"
8.
Thị Kính về nhà chồng:
Nàng
nghe dạy dỗ ân-cần,
Gạt
châu mới nghĩ, lại dần dần khuây.
Cá
đi, nhạn lại, tin bay,
100-
Đủ năm lễ đã đến ngày thừa long.
Đào
yêu choi chói màu hồng,
Ngọc
trao chén dặn, hương xông áo nguyền.
Gió
đằng kể khéo đưa duyên,
Chàng
lưu giong-ruổi đến miền Thiên-thai,
Tiếng
cầm tiếng sắt bẻ bai,
Tiếng
chuông, tiếng trống, bên tai rập-rình
Một
đôi tài sắc vừa xinh,
Đố
Tăng-Đô vẽ bức tranh nào bằng?
110-
Một rằng thế thế hai rằng sinh-sinh.
Đá
kia tạc lấy lời minh,
Vàng
kia thếp lấy chữ tình mà treo,
Xét
nàng nết đủ mọi điều,
Đã
niềm hiếu thảo, lại chiều đoan-trang.
Ở
trên hiếu thuận song đường,
Lòng
quỳ dám trễ, tay khương nào rời.
Câu
thơ liễn-nhứ ngâm chơi,
Dẫu
tài nàng Tạ đã xơi cho tày.
Khuyên
chàng kinh-sử đêm ngày.
120-
Thang mây mong nhắc chân giầy cho cao.
Nghi
gia hai chữ thơ Đào,
Nhận
ra trăm nết, nết nào còn chê.
9.
Thị Kính bị nghi oan là giết chồng
Hôm
mai trong chốn thâm khuê,
Kẻ
đường kim-chỉ, người nghề bút-nghiên.
Canh
khuya bạn với sách đèn,
Mỏi
lưng chàng mới tựa bên cạnh nàng.
Phải
khi liếc mắt trông chàng,
Thấy
râu mọc ngược ở ngang dưới cằm.
Vô
tâm xui bỗng gia tâm,
130-
Dao con sẵn đấy, mới cầm lên tay.
Vừa
giơ sắp tiễn cho tày,
Giật
mình chàng đã tỉnh ngay bấy giờ.
Ngán
thay sửa dép ruộng dưa,
Dẫu
ngay cho chết, cũng ngờ rằng gian.
Thất
thần nào kịp hỏi han,
Một
lời la lối rằng toan giết người,
Song
thân nghe tiếng rụng rời,
Rằng:
"Sao khuya khoắt mà lời gớm thay?"
Thưa
rằng: "Giấc bướm vừa say,
!40-
"Dao con nàng bỗng cầm tay kề gần.
"Hai
vai hộ có quỷ thần,
"Thực
hư đôi lẽ xin phân cho tường."
10.
Thị Kính bày tỏ nỗi oan
Nàng
vâng thưa hết mọi đường,
Rằng:
"Từ gảy khúc loan-hoàng đến nay.
"Án
kia nâng để ngang mày,
"Sạch
trong một tiết, thảo ngay một bề.
"Bởi
chàng đèn sách mỏi mê,
"Gối
Ôn Công thủa giấc hòe thiu thiu.
"Thấy
râu mọc chút chẳng đều,
150-
Cầm dao tiễn để một chiều như nhau.
"Há
rằng có phụ tình đâu
"Muôn
trông xét đến tình đầu kẻo oan.
"Thác
đi phỏng lại sinh hoàn,
"Thì
đem lá phổi buồng gan giãi bày".
11.
Nhà chồng có ý ngờ Thị Kính có ngoại tình
Cô,
công rằng: "Bảo cho hay,
"Trộm
hương, cắp phấn cũng đầy chan-chan.
"Mấy
người một ngựa một an,
"Nay
Trương, mai Lý thế gian hiếm gì?
"Ấy
may mà tỉnh ngay đi,
160-
"Đỉnh-đình-đinh nữa có khi còn đời.
"Sự
này chớ lấy làm chơi",
Sai
người tức khắc đến mời Mãng-Ông.
Trách
rằng: "Sự mới lạ lùng,
"Sinh
con ai dễ sinh lòng ấy đâu?
"Sắt
cầm bỗng dở dang nhau,
"Say
đâu với đứa trong dâu hẹn-hò.
"Sông
kia còn có kẻ dò,
"Lòng
người ai dễ mà đo cho cùng.
"Sự
này mười mắt đều trông,
170-
"Thôi đừng tra hỏi, gạn-gùng nữa chi.
"Nghe
anh nào có bụng gì,
"Đem
lòng dạy dỗ sau thì mặc anh."
Lặng
nghe kể hết sự tình,
Ngậm-ngùi
nghĩ đến con mình mà thương.
Nỗi
kia, đoạn nọ ngổn ngang,
Tủi
thân khôn đậu hai hàng mưa sa.
Thưa
rằng: "Trong nghĩa thông-gia,
"Ơn
lòng chiếu cố thực là hậu thay.
"Hiếm
hoi mới một chút này,
180-
"Được nương cửa ấy, đã may bội phần,
"Nguyền
xưa mong vẹn Tấn Tần,
"Hai
non ngảnh lại cho gần cả hai,
"Nào
ngờ trẻ mỏ nghe ai,
"Thả
chông đường nghĩa, rắc gai lối tình.
"Phù
dung nỡ để lìa cành,
"Giếng
thơi nỡ để rơi mình từ đây.
"Nước
trong bát, đã rời tay,
"Có
còn bốc lại cho đầy được chăng?
"Mưa
tan mây cuốn nửa chừng,
190-
"Rộng dung dạy thế, xin vâng lĩnh về.
"Lờn-bơn
chịu ép một bề,
"Quản
làm sao được kẻ chê người cười".
Gọi
con đến trước lạy người,
Lạy
lương-nhân đã, sẽ rời chân ra.
12.
Thị Kính từ giã nhà chồng về nhà cha mẹ đẻ
Lòng
nàng xiết nỗi xót-xa,
Má
đào ủ dột mặt hoa âu sầu.
Đến
nơi làm lễ khấu đầu,
Lạy
công cô đoạn, rồi sau lạy chồng.
Như
tuôn giọt lệ ròng ròng,
200-
Nín hơi thổn-thức giãi lòng sau xưa.
Kể
từ kim-cải duyên ưa,
Giây
leo cây bách mong nhờ về sau.
Dù
ai phụ bạc cùng nhau,
Đã
thần ba thước trên đầu chứng tri.
Vì
đâu phút hợp, phút ly,
Kiếp
này đã lỡ, chắc gì kiếp sau.
Tiếc
công ô thước bắc cầu,
Chàng
Ngưu, ả Chức gĩa nhau từ rày.
13-
Lúc vợ chồng từ giã nhau
Ngập-ngừng
tới lúc chia tay,
210-
Đôi bên sùi sụt, bốn mày châu chan.
Ai
làm cho phượng lìa loan,
Đang
tay nỡ bẻ phím đàn làm đôi.
Lòng
chàng nghĩ lại bồi hồi,
Trước
kia còn giận, sau rồi lại thương,
Duyên
này mà đã dở dang,
Còn
nên gảy khúc Cầu-hoàng nữa sao?
Lưu
tô sương gió lọt vào,
Đem
mâm mà chứa ngọc giao hẳn đầy,
Phấn
kia còn dấu bình này,
220-
Hương kia còn dính áo này chưa phai.
Xanh
xanh khóm liễu Chương-đài,
Tiếc
thay đã để tay ai vin cành.
Muôn
thu viếng chốn Giai thành,
Vẫn
còn hai chữ bất bình mang đi.
14.
Thị Kính sau khi về nhà cha mẹ đẻ
Nàng
đi từ dở bước vu quy,
Nhânđuyên
thôi có nghĩ gì như ai.
Đã
oan về chiếc tăng-hài,
Mặt
nào mà lại đi hai lần đò.
Trách
người sao nỡ dày vò,
230-
Để cho Tiểu Ngọc giận no cũng già.
Nhạn
hàng phỏng có đôi ba,
Thà
rằng minh mục, hơn là ô danh.
Tủi
vì phận liễu một cành,
Liễu
đi thì để mối tình cậy ai?
Phòng
riêng vò võ hôm mai,
Trông
ngày đằng-đẵng lại dài hơn năm.
Buồng
trong giọt ngọc đầm đầm,
Mùi
ăn không nhớ, giấc nằm không ngon
Nực
cười sự nhỏ cỏn-con,
240-
Bằng lông mà nảy nên cồn Thái sơn.
Vẻ
chi chút phận hồng-nhan,
Cành
hoa nở muộn thì tàn mà thôi.
Xót
thay tóc bạc da mồi,
Vì
ai nên nỗi đứng ngồi chẳng khuây.
Dày
vò chút phận thơ ngây,
Sự
vui chưa thấy, thấy ngay sự phiền.
Lấy
gì báo đáp thung, huyên,
Dễ
đem má phấn mà đền trời xanh,
Có
khi dốc chí tu hành,
250-
Lánh mình trần tục, nương miền Thiền-môn
Độ
trì nhờ đức Thế Tôn.
Dở
dang thủa trước, vuông tròn mai sau.
Nghiêm,
từ hưởng phúc về lâu,
Họa
đền nghĩa nặng ơn sâu cho bằng.
Thượng-thừa
là Phật là Tăng,
Xích-thằng
đã ủi, kim-thằng hẳn giai,
Chỉn
e thưa gửi rõ bài,
Thương
con hẳn chẳng nỡ hoài cho đi.
Thôi
thôi xuất cáo làm chi,
260-
Thân này còn quản thị phi được nào!
Bàn
thầm mọi lẽ thấp cao.
Ba
mươi sáu chước chước nào là trên?
15.
Thị Kính cải trang trốn đi ở chùa
Xuất
gia quyết một gan liều,
Phụ
tinh, đới nguyệt bước lên dặm đường.
Quần
chân áo chít dịu dàng,
Gỉa
hình nam-tử ai tường căn-nguyên.
Song
đường thấy sự ngạc-nhiên,
Ruột
tằm bối rối, thêm phiền não ra.
Biết
đâu dặm thẳm đường xa,
270-
Biết đâu giếng cạn, hay là bể sâu.
Chốc
là phần ấy tuổi đầu,
Đến
nay cả lớn, vừa hầu cậy trông.
Giải
kia lầm giắt chữ đồng.
Tủi
duyên ấy, để nỡ lòng sâm-thương.
Hay
là bực tuyết buồn sương.
Như
ai khoét vách, trèo tường, chớ chơi.
Vậy
thì sao chẳng một lời,
Biết
mà gả phắt cho đời là xong.
Đá
vàng nghe cũng bền lòng.
280-
Lẽ nàotrốn trống thủng bồng long đến điều,
Vì
đâu gió quở mưa trêu,
Để
nguồn trôi nổi, cho bèo mênh-mông.
Mắt
lòa, chân chậm, răng long,
Để
như Lữ Ngọc hết công tìm tòi,
Biết
bao nước mắt mồ hôi,
Cây
đồng được mấy mươi chồi cho cam?
Bây
giờ đôi ngả bắc nam,
Biết
còn quanh-quẩn cõi phàm hay không?
Nghìn
năm nghiêng lở non Đồng,
290-
Biết còn ứng tiếng Lạc-chung đó là?
Thương
thay lụ khụ tuổi già,
Dế
năm canh nguyệt, quốc ba tháng hè.
16.
Thị Kính xin vào tu tại chùa Văn-Tự
Nàng
từ xa chốn hương-khuê,
Nỗi
nhà man mác mọi bề mà lo.
Cũng
toan gỡ mối tơ vò.
Thành
sầu cao ngất phá cho tan tành.
Tưởng
ơn trời bể mông- mênh,
Dễ
mà đền được ân-tình ấy đâu?
Tà
tà bóng ngả cành dâu
300-
Sớm khuya dưới gối ai hầu hạ thay?
Vắng
người khuất mặt lúc này,
Lòng
người thiểu não biết ngày nào nguôi?
Nghĩ
điều mưa nắng xa xôi,
Cảm
thương đòi đoạn, bồi hồi chừng nao!
Chân
trời đất khách đã lâu,
Chiêm
bao lẩn thẩn ở đâu quê nhà.
Hỏi
thăm dặm liễu dầnđà,
Ngờ
đâu Văn-Tự chẳng là ở đây,
Bốn
bề phong cảnh lạ thay,
310-
Bồng-lai khi cũng thế này mà thôi.
Cửa
Thiền sẽ lẻn chân coi,
Trông
lên sư phụ vừa ngồi tụng kinh.
Mưa
hoa rảy khắp bên mình,
Nhấp-nhô
đá cũng xếp quanh gật đầu.
Mới
hay đạo Phật rất mầu,
Nghĩ
đây cũng dễ đổi sầu làm vui,
Chờ
khi kinh giáo vừa rồi,
Lạy
sư phụ, bạch khúc-nôi tỏ tường.
Trình-bày
tên họ gia hương,
320-
Nhà xưa theo dấu văn-chương cũng là.
Chán
vùng danh lợi phồn-hoa,
Chắp
tay xin đến Thiền già quy y.
Sư
rằng : "Này đạo từ bi,
"Rộng
đường phổ độ, hẹp gì trầnđuyên.
"Nhưng
sao đương độ thiếu niên,
"Nhìn
xem phong-thể cũng nên con người.
"Cớ
chi nhà lối xa khơi,
"Đem
mình đài các, vào nơi lâm-tuyền.
"Hay
là tủi phận hờn duyên,
330-
"Hay là đeo lụy mang phiền chi chăng?
"Chỉn
e vượn Sở lạc chừng,
"Bận
lòng đến cả cây rừng, chưa minh?"
Thưa
rằng: "Trẻ nhỏ thư sinh,
"Làm
chi cho được lụy mình, chớ e!
"Nền
nhân nhờ bóng sân hòe,
"Cũng
may tới cửa ngựa xe với ngươi.
"Đoái
trông thế sự nực cười,
"Như
đem trò rối mà chơi khác gì.
"Phù
vân một đóa bay đi,
340-
"Khi thì áo trắng, khi thì muông đen
"Chật
đường chen-chúc như nen,
"Cân
đai nhan-nhản người quen với mình.
"Chẳng
thèm ra áng công -khanh,
"Mà
đem thân-thế làm hình dịch chi.
"Cho
nên mến cảnh trụ trì
"Dám
xin nhờ bóng tăng-huy xét lòng."
Sư
khen rằng: "Kẻ nho phong,
"Đã
say đến chữ sắc không đấy mà!
"Kìa
bào, kìa ảnh vút qua,
350-
"Kìa sương, kìa chớp, kìa là chiêm-bao
"Lọ
là tranh trí thấp cao,
"Kẻ
xem khoái chí, người gào thất thanh
"Lấy
ai làm nhục làm vinh,
"Trăm
năm là nấm cỏ xanh rì rì.
"Sao
bằng vui thú liên-trì,
"Dứt
không tứ tướng, sá gì nhị biên,
Đạo
này huyền thực là huyền,
Hư
vô mà vẫn trang nghiêm thế này,
17.
Thị Kính được đổi tên là Kính-Tâm làm tiểu ở chùa
"Tiểu
đà mến đạo đến đây,
360-
"Kính-Tâm tên đặt từ nay gọi thường.
Vâng
lời nương cảnh thượng phương,
Khêu
đèn bát-nhã, gióng chuông tam-huyền.
Chân-kinh
ghi chữ tâm truyền,
Trực
tòa Long-nhiễu, vui miền Hổ khê.
Đòi
cơn tưởng nỗi hương-khuê,
Người
đi nghìn dặm, bóng về năm canh.
Sự
mình, mình giận với mình,
Nặng
tình cũng phải nén tình làm khuây.
Thanh
gươm trí tuệ mài đây,
370-
Bao nhiêu khổ não cắt ngay cho rồi.
Hương
xông pháp-giới ngùi ngùi,
Thông
rung trống kệ, trúc hồi mõ kinh.
Có
người cảnh lại càng thanh,
Bồn
không cũng nảy ra cành liên-hoa.
Đã
lồng ba tấm cà sa,
Nhưng
người tiên vẫn trông ra khác phàm.
Dập
dìu trước chốn thiền-am,
Kẻ
hoài xuân những muốn làm ni cô.
Ngỡ
chàng Phan Nhạc đấy ru,
380-
Ra đâu cũng ném quả cho tiếc gì.
18.
Thị Mầu phải lòng Kính-Tâm
Trời
sinh tư sắc làm chi,
Hoa
thơm bướm cũng có khi bợn lòng.
Trong
làng có một phú ông,
Gia
tư đọ với Thạch Sùng kém đâu.
Tiểu
thư ở chốn hồng-lâu,
Tuổi
vừa đôi tám Thị Mầu là tên.
Lá
hồng đặt xuống nâng lên,
Mối
duyên đo đắn chưa nên mối gì.
Nào
rằng giữ nết khuê vi,
390-
Ngày rằm mồng một cũng đi cúng dàng
Nhác
trông thấy tiểu dịu dàng,
Sóng
thu xui khiến cho nàng khát-khao.
Người
đâu có dáng thanh tao,
Bóng
trăng dưới nước, vẻ sao trên trời.
Đáp
thưa chưa kịp hết lời,
Mới
giàn mặt, thoắt đã rời chân đi.
Khấn
sao Đức Phật độ trì,
Xui
ra, họa có chước gì được thân.
Như
không phải kiếp Châu Trần.
Thì
xin một trận phong vân cũng nhờ.
Lạ
thay tiểu vẫn hững-hờ,
Mấy
phen thời cũng thờ ơ với mình.
Hoa
kia nói, hẳn nghiêng thành,
Chào
hoa hoa lại vô tình mới căm.
Tri
âm chẳng gặp tri âm,
Để
ai mong đứng mong nằm, sầu riêng,
Trách
ông Nguyệt-lão nào thiêng,
Có
khi bên Thích cũng kiêng kẻo là!
Đăm
đăm tưởng nguyệt, mơ hoa,
410-
Biết sao khuây khỏa cho qua cơn sầu.
19.
Thị Mầu tư thông với đứa ở
Trong
nhà sẵn có đứa thương-đầu,
Quyền
nghi một chút dễ hầu ai hay
Nào
ngờ gió thổi mây bay
Hạt
kia gieo xuống đợi ngày mà sinh
Ba
trăng coi đã khác hình
Bữa
cơm thì biếng, mùi chanh thì thèm
20.
Phú Ông tra hỏi Thị Mầu
Song
thân ngờ, mới hỏi xem,
"Sao
con lại mọc ra điềm chẳng hay?
"Thế
mà ai hỏi bấy nay,
420-
"Đôi bên tay áo chẳng day bên nào
"Lỡ
ra rồi biết làm sao,
"Chớ
con trả mận gieo đào với ai?
"Dễ
mà ăn cáy bưng tai,
"Dăng
dăng nghe chuyện bên ngoài hổ ngươi!"
Nàng
rằng: "Đâu khéo những lời,
"Ngọc
lành ai có dại đời thế đâu?
"Cành
hoa vẫn giữ còn màu,
Con
oanh dẫu hót cho sầu, trối thây.
"Ví
dù tính nước lòng mây
430-
Nhà ma nào chịu đến rày chửa đi.
"Năm
xung tháng hạn phải khi,
Hóa
ra thế ấy hỏi chi tức mình?"
Dứt
lời nghe mõ nguyệt-bình,
Rằng
đòi con gái ngoại tình ra tra.
Phú
ông thấy sự xấu xa,
Trở
vào tắc lưỡi, trở ra vật mình.
Rằng:
"Con sinh sự, sự sinh,
"Há
rằng vạ ở trời xanh gieo vào,
"Một
là động địa làm sao,
440-
Nước phương mộc dục chảy vào chẳng sai,
"Hai
là lầm thuốc dông dài,
"Cái
dâm dương-hoắc thì ai cũng vừa,
"Ba
là phải đứa trao bùa,
"Miếng
trầu hoan-hỷ nó cho bao giờ.
"Vô
tình nào có ai ngờ,
"Thế
mà ăn nói ỡm-ờ như không.
"Khôn
mà thưa gửi cho xong,
"Chẳng
thì bè chuối trôi sông chẳng hòa".
21.
Vì làng đòi hỏi, phú ông phải dẫn Thị Mầu ra đình.
Dắt
tay kính dẫn nàng ra,
450-
Con mang bụng nặng, cha già theo sau.
Những
là chê khó chê già,
Đến
nay con dại dễ hầu ai mang?
Phú
ông nghe nói hổ hang,
Nhủ
rằng: "Sao đấy liệu đường mà đi"
Thưa
rằng: "Hổ phận nữ nhi,
"Tam
tòng vẫn giữ một ly dám rời
Dẫu
khi bãi Hán chơi bời,
"Đố
người cường bạo một đời dám trêu.
"Điều
đâu như dệt như thêu,
460-
"Điều đâu ai khéo đặt điều xấu xa.
"Có
đâu những thói dâm-tà,
"Bởi
chưng xấu máu hóa ra thế này.
"Thực
là vạ gió tai bay,
"Bỗng
dưng gắp lửa bàn tay tội đời"
Làng
rằng: "Nào phải nói chơi,
"Đừng
quen dao lá những lời vắt chanh,
"Tướng
kia coi đã hiện hình
"Nhỡn
quang như thủy có lành được đâu,
"Chẳng
hay ngày tháng bao lâu,
470-
Má hồng coi đã ra màu xanh xanh.
"Phải
ai thì thú thực tình,
"Luật
cho đoàn tụ cũng thành thất-gia
"Không
thì một chữ thân qua,
"Chín
trâu chưa dễ chuộc ra được nào"
Nghe
lời đe nạt mà nao,
Nghĩ
mình đã trót, dễ sao bưng bồng.
Thương-đầu
nó đã tếch xong,
Nói
ra thêm xấu, vả không có bằng.
Phép
người đã cứ cung xưng,
480-
Yêu ai chỉ nấy, may chưng được nhờ.
Thưa
rằng: "Trước hãy còn sơ,
"Cạn
sông thì đá sờ sờ khôn che.
"Xưa
nay ở chốn thâm khuê,
"Dù
ong hay bướm chưa hề biết ai.
"Phải
khi lên chốn thiền-trai
"Kính-Tâm
tiểu ấy gặp ngoài sân bia.
"Quá
yêu tôi đã nguyền thề,
"Nhụy
hoa phó mặc bướm kia ra vào.
"Dù
nên cầu bắc bến nào,
490-
"Nhờ làng ơn ấy đời nào dám quên."
Rõ
ràng chỉ mặt rõ tên,
Truyền
đời tiểu đến nhỡn tiền đôi co.
22.
Tiểu Kính-Tâm bị làng tra hỏi
Mảng
tin, thầy, tớ đều lo,
Dữ,
lành nào biết duyên do việc gì?
Vâng
lời sư dẫn tiểu đi,
Tay
thì lần hạt, miệng thì tụng kinh.
Đến
nơi làng hỏi thực tình :
"Tiểu
kia đã quyết tu hành đến đây.
"Sóng
thu sao hãy còn lay,
500-
"Thị Mầu kia đã trình-bày phân minh.
"Nói
ngay thì cũng thứ tình,
"Liệu
ta chớ có dối quanh nữa đòn!"
Lặng
nghe đau đớn lòng son,
Kiếp
tu, quả ấy có tròn được chăng?
Bây
giờ cải dạng nam-trang
Nói
ra dễ giữ thói hằng được nao!
Thật
vàng dẫu lửa mà sao,
Đốt
than mà thử mấy tao cũng dầu!
Trước
sau nông-nỗi gót đầu,
510-
Rằng: " Câu không sắc dễ hầu dám sai.
"Như
còn bợn dạ trần-ai,
"Thì
xin có Đức Như Lai trên đầu".
Trái
tai, làng hỏi Thị Mầu,
Cứ
thưa một mực trước sau rành-rành.
Làng
rằng: " Thôi chẳng oan tình,
"Tiểu
kia cứ thực mà trình mới xong.
"Phải
suy Phật ấy là tòng,
"Như
đường gia thất cũng không cấm nào.
"Thôi
đừng dối Phật, dối nhau,
520-
"Ăn hoa lội nước xơi rau qua rào.
"Mộc
thiên chẳng dỗ được nào,
"Buồn
mình lại quyến đứa vào vui chơi.
"Giả
hình làm tiểu đời đời,
"Dối
ai dễ dối được trời kia ru!
"Liệu
ba mươi sáu đường tu,
"Chẳng
thì văn bút, vũ vồ dễ chi!"
23.
Tiểu Kính-Tâm bị đòn
Nhời
sao cũng cứ tri tri,
Túi
roi vồ nọc tức thì truyền mau.
Làm
cho chín khúc cùng đau,
530-
Đào nhăn-nhó mặt, tiểu cau có mày.
Hãy
đường gặp trận gió tây,
Lá
rơi rải rác, hoa bay tơi bời.
Mười
phương Phật chín phương Trời,
Chưa
hay đến sự dưới trời oan ru?
Đuốc
nào soi thấu lời vu,
Bôi
nhoà đen trắng lộn mù phải chăng?
Càng
van, càng buộc khăng-khăng,
Nỡ
nào để tiếng thầy tăng giết người.
24.
Nhà sư xin bảo lĩnh cho tiểu Kính-Tâm
Vóc
bồ xem đã tơi bời,
540-
Thương thay sư mới cất lời van-lơn.
Thưa
rằng: " Làm phúc nào hơn,
"Mở
lòng Bồ tát dẹp cơn lôi đình.
Khoán
làng xin nộp phân minh,
"Dại
khôn xin hãy thứ tình một phen"
Một
lời đạo, đức nói lên,
Dẫu
người độc dữ cũng nên xuôi lòng.
Rấp
toan khảo đảõ cho cùng,
Nay
sư đã lĩnh thì dung cho về.
Bè
từ tế độ cũng ghê,
550-
Chẳng thì sa chốn sông mê còn gì?
Ngửa
nhờ giọt nước dương chi,
Dẫu
cho đã héo rồi thì lại tươi.
Dần
dà sư mới ngỏ lời,
Rằng:
"Con đã mắc tiếng người chê bai.
"Tam
quan ra ở mái ngoài,
"Kẻo
e miệng thế mỉa mai đến thầy,
"Dù
con thiệt có chuyện này
Lòng
trần dũ sạch, từ nay thì chừa.
Như
không, mà phải tiếng ngờ,
560-
"Cũng nên khuyên gượng làm ngơ kẻo buồn".
25.
Nỗi niềm tiểu Kính-Tâm khi ra ở tam-quan.
Vâng
lời ra ở thuyền môn,
Trong
toà phương-trượng dám còn vào ra.
Nương
mình bên khóm cúc hoa,
Một
hai chồi trúc, năm ba cụm tùng,
Gương
bạch-nguyệt quạt thanh phong.
Cười
cùng thiếu nữ bạn cùng thuyền quyên.
Lấy
gì làm thú giải phiền,
Quyển
kinh trăm lá, ngọn đèn một hoa.
Bạch
vân kìa nẻo xa xa,
570-
Song thân ta đấy là nhà phải không?
Bể,
non chưa chút đền công,
Bấy
lâu nay những nặng lòng vì con.
Ngỡ
đà qua nạn Cự môn,
Ai
hay Thái tuế hãy còn theo đây,
Tiền
sinh nghiệp-chương còn đầy,
Cho
nên trời mới đem đày nhân-gian,
Mắt
phàm khôn tỏ ngay gian,
Hai
phen đem buộc tiếng oan tày trời.
Châu
kinh tụng mấy muôn lời,
580-
Tai uơng hay cũng rụng rời như tro.
Sá
thù chi đứa dâm ô,
Nước
tùy duyên rửa đi cho kẻo mà!
Chữ
rằng: "Nhẫn nhục nhiệm hòa,
Nhẫn
điều khó nhẫn mới là chân tu".
Lọc
vàng nào quản công-phu,
Mắt
ngừng trên vách, mấy thu đã chầy,
26.
Thị Mầu sinh con trai, đem giao trả cho Kính-Tâm.
Lần
lần tính đốt ngón tay,
Thị
Mầu đã đủ đến ngày sinh trai.
Phú
ông chi khéo nỡ hoài,
590-
Con ai thì phó trả ai giữ giàng.
Lòng
này dở dở, dang dang,
Lọt
lòng hôi hổi chẳng thương được nào?
Trên
tay nâng giọt máu đào,
Hầu
đi lại đứng, toan vào lại ra.
Ngỡ
chơi đâu biết thế mà,
Cắn
răng đem vứt ruột già cho ai.
Cắm
đầu ra nẽo thiền trai,
Ôm
con len-lén đứng ngoài mái hiên,
Tiểu
đương tụng-niệm khấn-nguyền.
600-
Bỗng nghe tiếng trẻ khóc lên giật mình.
Ngảnh
đi thì dạ chẳng đành,
Nhận
ra thì hóa ra mình chẳng ngay.
Gớm
thay mặt dạn mày dày,
Chân
chân đem trả con đây mà về,
Cơ
thiền kể cũng khắt-khe,
Khéo
xui ra đứa làm rê riếu mình.
27.
Tiểu Kính-Tâm nhận nuôi đứa tiểu nhi của Thị Mầu.
Nhưng
vì trong dạ hiếu sinh,
Phúc
thì làm phúc, dơ đành chịu dơ.
Cá
trong chậu nước bơ vơ,
610-
Khi nay chẳng cứu, còn chờ khi nao?
Chẳng
sinh cũng chịu cù lao,
Xót
tình măng sữa, nâng vào trong tay,
Bữa
sau sư phụ mới hay,
Dạy
rằng: " Như thế thì thày cũng nghi.
"Phỏng
như khác máu ru thì,
"Con
ai mặc nấy can gì đa mang?"
"Bạch
rằng: " Muôn đội thầy thương,
"Xưa
nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
"Dù
xây chín đợt phù đồ,
620-
"Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy
nên con phải vâng lời,
Mệnh
người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư
nghe thưa thốt mấy điều,
Khen
rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
Rõ
là nước lã vẫn lầm,
Mà
đem giọt máu tình thâm hòa vào.
Mẹ
vò thì sữa khát-khao,
Lo
nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng-niu
xiết nỗi truân chuyên,
630-
Nhai cơm mớm sữa, để nên thân người,
Đến
đâu ai cũng chê cười,
Tiểu
kia tu có trót đời được đâu?
Biết
chăng một đứa thương đầu,
Mình
là hai với Thì Mầu là ba.
Ra
công nuôi hộ thiệt là,
Đương
buồn có trẻ hóa ra đỡ buồn.
Khi
trống giục, lúc chuông dồn,
Tiếng
chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù
trì như thổi ra ngay,
640-
Lọ phương hoạt-ấu, lọ thầy bảo anh.
Bùa
thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma
vương kia cũng phải kinh lọ là.
Thoi
đưa tháng lại ngày qua,
Mấy
thu mà đã lên ba tuổi rồi.
Con
mày mà giống cha nuôi,
Hình
dung ý tứ khác nòi bản-sinh.
Mai
ngày đến lúc trưởng-thành,
Cơ
cừu dễ rạng tiền-trình hơn xưa.
Vừa
mừng con đã sở sơ,
650-
Ai ngờ tằm kéo hết tơ thì già.
Gió
vàng một phút thoảng qua,
Lá
ngô biến sắc cành hoa ủ màu.
Than
rằng này đạo cao sâu,
Cam
lòng tịch diệt ngon đâu phàm-trần.
Hóa
thân thì mượn chân thân,
Siêu
thân được lượm tinh-thần mang đi.
Ký
quy đành chẳng lệ chi,
Đoái
tình trứng nước, nghĩ thì càng thương.
28.
Tiểu Kính-Tâm viết thư dặn con rồi siêu thoát.
Gọi
con từ giã mọi đường,
660-
Bút hoa mới viết vài hàng căn nguyên.
Thảo
thư dặn rõ cẩn truyền,
Cầm
tay, rồi sẽ tìm lên quê nhà.
Chờ
khi xả tự thoát ra,
Lên
hầu Sư phụ rồi mà bạch ngay.
Dứt
lời thoắt đã chia tay
Hồn
hương đã sẵn xe mây rước về.
Khen
cho bé nhỏ mà ghê,
Vật
mình lăn khóc ngồi kề một bên.
Vâng
lời nhủ lại dám quên,
670-
Xăm xăm lên bạch Sư trên thiền đường.
Nghe
lời, sư nghĩ mà thương,
Dạy
rằng: "Nào bản đạo trường ra coi.
"Kính-Tâm
chầu Phật đi rồi,
"Phải
ra xem sóc, cứ noi lệ thường".
Giờ
lâu vào bạch rõ ràng,
Rằng
nay tiểu ấy coi dường nữ nhi.
Sư
rằng: "Nghe nói hồ nghi,
Vãi
đâu ra thử, có thì lại thưa".
Vãi
rằng: "Sự chẳng còn ngờ,
680-
Thế mà đày đọa bấy giờ đến nay".
Sãi
vào trình với làng hay,
Quả
nhiên xóm nọ thôn này đổ ra.
Xôn-xao
tín nữ, lão bà,
Đều
rằng tu thế mới là chân tu.
Cha
con Mầu thị phao vu,
Mõ
truyền lập tức ra cho làng đòi.
Khoán
sư dân đã thu rồi,
Chiểu
thu nộp một bắt bồi làm hai.
Trị
tang các việc trong ngoài,
690-
Phú ông còn đổ cho ai được nào?
Tiểu
nhi sư mới gọi vào,
Cha
con nhủ lại những sao bây giờ?
Bạch
rằng: "Thương-xót con thơ,
Trối
trăng có viết một tờ lại đây.
Xem
thư sư phụ mới hay,
Thương
cho tiếng nọ điều này những oan.
Xa
xôi cách mấy trùng-san,
Cho
đưa thư tới Hương-quan quê nàng,
Sắm-sanh
lễ vật mọi đường,
700-
Phú ông vâng phải tính phương chu tuyền.
Ngửa
tay chịu việc tần-phiền,
Nhờ
con báo bổ đã nên cam lòng.
Thị
Mầu cùng bạn má hồng,
Để
tang phải khóc là chồng dở dang.
Phần
thì hổ với dân làng,
Phần
thì rầu với song đường nơi đây.
Còn
người con cái thẹn này,
Phải
liều như thể vợ thầy Trang-sinh,
Trầm-luân
kiếp ấy đã đành,
710-
May ra còn có chút tình xót-xa.
29.
Nỗi nhà họ Mãng sau khi nhận được thư.
Xót
thay họ Mãng tuổi già,
Bức
thư đưa đến mở ra rụng rời.
Vân
mòng đã mấy năm trời,
Thấy
thư lại hóa ra người biệt-ly.
Ỷ
hòe một giấc còn chi,
Người
là người cổ, thư thì thư không.
Quản
bao nước thẳm, non cùng,
Đeo
khăn quảy gánh thẳng giong tức thì,
Nghe
tin Thiện-sĩ theo đi,
720-
Gánh sầu san xẻ, nặng-nề cả ba
Thắp
cao dặm trúc ngàn hoa,
Qua
hồ tây đến đây là chùa Văn.
Cần
quyền xót nỗi song thân,
Nước
non len-lỏi mấy lần thẳm xa.
Ngửng
trông ba thước hồng-la,
Trách
thầy Tử hạ khóc mà được chăng?
Thiềm
cung từ vắng ả Hằng,
Tìm
kim đáy nước mò trăng giữa đầm.
Non
Hành nhạn vắng tin thăm,
730-
Sông ngô tìm cá, thì tăm cũng chìm,
Bấy
lâu tin-tức đã im,
Ai
hay di thể còn tìm thấy đây?
Giữa
đường thoát gánh khỏi tay,
Thông
già, huyên cỗi sau này làm sao?
Lòng
chàng chín khúc tiêu hao,
Hạt
châu lai láng, thấm bào như dong.
Lời
nguyền chỉ núi thề sông,
Tiếng
là da mở, nghĩa cùng thịt xương.
Tơ
duyên bỗng xẻ đôi đường,
740-
Vì anh lỗi đạo, cho nàng ngậm oan,
Châu
rồi có lẽ phục hoàn,
Cũng
mong Liễu lại tay Hàn mai ngay.
Nửa
chăn để bụi đã đầy,
Uyên-uơng
ước lại sum-vầy đồng khâm
Vi
Cao lòng vẫn chăm-chăm,
Ngọc-Tiêu
phỏng độ mấy năm tái hoàn?
Thề
rằng chán nguyện nhân-gian,
Lại
xin theo dấu Niết-bàn ở đây.
Hoạ
chăng gặp kiếp sau này,
750-
Chẳng thì xin hóa làm cây Hàn Bằng.
Ai
trông thấy chẳng ngập-ngừng,
Động
lòng mà khóc người dưng sụt-sùi.
Một
đoàn bồ bạt tới lui,
Dọn
đường tổ đạo đặt nơi uỷ hình.
Theo
đưa kia biết bao tình,
Đứa
nuôi hoàng-khẩu, đấng sinh bạch-đầu
Tiếng-tiêu
inh ỏi giọng sầu,
Một
giây bạch bố bắc cầu độ vong,
Kìa
ai muốn khảo cho cùng,
760-
Theo đưa cũng chạnh tấm lòng ăn-năn.
Nỗi
cơn lệ vũ sầu vân,
Vang
hồi pháp-khí, rung cành linh phan.
Vùi
hương chôn ngọc đã an,
Cửa
thiền mới đặt pháp đàn làm chay.
Đủ
đồ thập-cúng sẵn bày,
Lòng
đi ba cõi hương bay chín trời,
Bảo
đường tụng niệm mấy lời,
Chúc
cho giải thoát sang đời mai sau.
30.
Tiểu Kính-Tâm siêu thăng được làm Phật Quan-Âm.
Ai
hay phép Phật nhiệm mầu,
770-
Có khi nước Trúc ở đâu cũng gần
Giữa
trời kết đóa tường-vân,
Đức
Thế Tôn hiện toàn thân xuống đàn.
Ào
ào dạng bóng tường loan,
Tràng-phan
bảo cái giao quan âm thầm.
Truyền
rằng nào Tiểu Kính Tâm,
Phi
thăng làm Phật Quan Âm tức thì.
Lại
thương đến đứa si nhi,
Trên
tay cho đứng liền khi bấy giờ.
Kìa
như Thiện Sĩ lờ đờ,
780-
Cho làm chim vẹt đứng nhờ một bên,
Độ
cho hai khóm thung, huyên,
Giơ
tay cầm quyết, bước lên trên tòa
Siêu
thăng thoát cả một nhà,
Từ
nay phúc đẳng hà sa vô cùng,
Lên
miền cực-lạc hội đồng,
Mọi
người khi ấy đều trông rành-rành.
31-
Kết-luận.
Cho
hay lành lại gặp lành,
788-Nam-mô-di
Phật tu hành thì coi,
Phụ
Lục
Bức
thư của Thị Kính gửi cho cha mẹ:
Ơn
sơn-hải một chút chi chưa báo, ở sao đành dù đi có sao đành.
Phận
liễu bồ mười đấy cũng là không, sống đã tủi dù thác
đi cũng tủi.
Trăm
hơn dặm bỗng xảy ra muôn kiếp,
Một
tấm lòng xin gửi lại mươi hàng.
Thị
Kính nay:
Hổ
Phận nữ nhi,
Nhờ
nền phúc-ấm,
Từ
kết tóc sớm trao giây tú mạc, ba thu vừa mới ấm c