Từ Ánh
Đuốc Quảng Đức,
Nhìn Lại Mâu
Thuẫn Của Dân Tộc
Nguyễn
Văn Hóa
Vào
đề: Đầu tháng 5/1963, tôi đang học lớp Đệ Lục của trường
La San Phú Vang (La Salle de PhuVang), một chi nhánh của trường
Bình Linh (Pellerin) mở rộng. Còn hai năm nữa thì chuẩn bị
nhập học vào trường Bình Linh qua sự lựa chọn những học
sinh học khá. Dĩ nhiên tôi ở vào trong số này, nên học rất
ngoan… Ngày tháng 5 ở Huế trời bắt đầu nóng nực, cả
lớp tôi được triệu tập để đi dự lễ mừng Ngân Khánh
của Giám Mục Ngô Đình Thục tại sân trường Bình Linh.
Học sinh các trường La San khác tụ về cũng khá đông. Vì
đứng ở hàng cuối sân, nên tôi không nhìn rõ mặt ông Giám
Mục, chỉ thấy ông bận một bộ đồ lễ tu sĩ đỏ chói,
có đường viền, có một chiếc dây vải kim tuyến để thòng
một bên, ông ngồi trên chiếc ghế bành lớn, trông oai nghi
lẫm liệt như một ông vua từ các nước xa lạ nào đó…
Thủ tục lễ lạc rườm rà quá, trời nóng mồ hôi chảy
thấm lưng, trông mau mau mà về nhà cho rồi…
Đến
sáng ngày 8 tháng 5 (lớn lên mới suy ra được là đúng ngày
8), tôi đạp xe đạp từ làng “Chuồn” lên chùa Diệu Đế,
nghe thuyết pháp. Giọng ông thầy nào nghe mà hùng hồn, oai
quá ! (vì đến trễ nên không biết có phải thầy Trí Quang
không ? Thầy Trí Quang thì cả thành phố Huế ai cũng biết,
nhưng lâu quá quên mất rồi !). Nghe thuyết pháp mà đất
trời như nở ra, phố phường như ngưng đọng, tôi bỗng tự
thấy mình thật là nghiêm trọng. Nghe thuyết pháp xong rồi
đạp xe về nhà (làng) ăn cơm, buổi chiều lọt tọt đạp
xe lên phố nữa, tới trước Đài Phát thanh, dừng lại. Lúc
ấy trời vừa chạng vạng tối, đồng bào bắt đầu kéo
tới đông, nhưng sao mấy ông cảnh sát mặc đồng phục áo
trắng quần xanh lam bắt đầu thổi còi, đưa tay chỉ chỏ
chỗ này chỗ nọ, chạy qua chạy về. Coi bộ hơi lộn xộn,
coi bộ bất thường rồi. Hình như chính quyền không ưa Phật
giáo ? Nhưng sao trời mau tối quá, chết cha lỡ kẹt đây có
chuyện gì không hay thì mẹ tôi ở nhà lo lắng làm sao ! Thôi
đạp xe về, nhưng đầu còn ngoảnh lại…
Thế
rồi ngày mai ngày mốt ngày tê, mỗi ngày là một biến động,
mỗi ngày là một tin mới lạ…, cho đến đêm mồng 1 tháng
11, ở căn gác chú Thọ mở chiếc radio transistor hiệu Philips
tối tân – cả làng mới có một hai chiếc, ba người nếu
kể thêm anh Nguyễn An (sau này là nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên)
lắng tai, ngưng thở nghe đài BBC đưa tin Sài Gòn đảo chánh…
Quả thật là nghiêm trọng !
*
*
*
Từ
Ánh Đuốc Quảng Đức, Nhìn Lại Mâu Thuẫn Của Dân Tộc
I.
Nghiệp khởi: đêm đẫm máu 8/5/63 tại Đài Phát thanh Huế
Cách
đây chừng hai tuần tôi ghé vào một tiệm sách Việt Nam,
tay cầm lên cuốn “Sử Việt đọc vài cuốn” của Tạ Chí
Đại Trường. Định bụng sẽ mua, nhưng nhìn lại vào túi
tiền thấy cần mua hai cuốn sách khác, nên thôi. Nhưng về
nhà rồi mà lòng còn vướng vất về cái tựa đề của cuốn
sách. Tạ Chí Đại Trường là tác giả nghiên cứu sử
mà tôi thích. Khách quan mà nói, các cuốn sách về sử học
của ông không chê vào đâu được. Chủ quan, tôi thích lối
viết sử dùng triết và phân tâm để soi chiếu vào những
sự kiện tác động vào lịch sử. Sự kiện lịch sử (historical
facts) là những hiện tượng khách quan, vì vậy nếu viết
sử chỉ căn cứ vào sự kiện để lý giải cho một chủ
đích mình mong muốn, sự kiện có khi biến thành những dữ
kiện “chết”, công cụ vô nghĩa. Do đó, viết sử cần
phải nhìn vào tổng thể của xã hội, thời điểm, thời
đại và con người - tư tưởng và duy ý chí, là những chủ
thể tạo ra biến cố và sự kiện lịch sử.
*
*
*
Sự kiện
lịch sử của biến cố đẫm máu tại Đài phát thanh Huế
vào đêm mồng 8/5/1963, cách nay đã 42 năm, là cái mốc lịch
sử đưa tới sự sụp đỗ của chế độ Đệ nhất Cộng
hòa. Trong quãng thời gian này đã có vài trăm, hoặc ngàn cuốn
sách đủ loại ngôn ngữ đề cập đến nó đã xuất bản.
Xét đến một số sách hồi ký, nghiên cứu sử về giai đoạn
này, đa số có sự trùng hợp về sự kiện. Vấn nạn về
kẻ chủ động tạo nên biến cố cho đến nay vẫn còn nhiều
tranh cãi, thường xuất phát từ những cảm tính thương, ghét,
hay vì những mục tiêu chính trị phe nhóm nào đó.
Do
đó, nhân cơ hội tôi trao đổi với một nhân chứng ở cấp
thấp, có mặt ở đêm hôm đó cũng là điều bổ túc hữu
ích. Người được phỏng vấn là người chú họ, chồng của
người O tôi [không phải là O (bà Cô) ruột] tên là ĐHN (ông
xin được dấu tên). Ông có quan hệ bà con sao đó với một
ông làm Bộ trưởng Phủ ThT. của chính quyền Sài Gòn cũ.
Bà Cô tôi có người cháu ruột là anh TTPS từng gia nhập trường
Hải quân Nha Trang, rồi đi du học Mỹ lấy bằng kỹ sư đóng
tàu. Chức vụ sau cùng ở miền Nam trước 1975 là Hạm trưởng
Hải quân, hiện đang cư trú với gia đình ở Pháp.
Tôi
mất liên lạc với gia đình chú ĐHN sau ngày tôi vượt biển
(cuối năm 1980). Cách nay vài năm, chú ĐHN bắt được liên
lạc với tôi khi được định cư ở Mỹ. Gặp nhau ông kể
cho tôi nghe chuyện vượt biên của ông khá ly kỳ: Sau ngày
vợ ông mất, ông vượt biên đường bộ qua Campuchia, sang
được đất Thái, được sắp xếp vào ở trại tị nạn
dành cho những người vượt biên đường bộ. Thời gian đó
là năm 1995, các trại tị nạn ở Thái Lan đã bắt đầu giải
tỏa, ông bị chính quyền Thái trả về Việt Nam, rồi từ
Sài Gòn, ông được phái đoàn Mỹ phụ trách chương trình
người Việt được ra đi trong trật tự gọi phỏng vấn và
được chấp thuận đi Mỹ vào năm 2000.
Ông
ĐHN năm nay chừng 74 tuổi. Năm 1953, ông tình nguyện theo học
khóa Trung đội trưởng (Brevet Chef de Section) để bổ sung vào
lực lượng quân đội Nam triều (dưới quyền Vua Bảo Đại).
Đầu năm 1954, ông được chuyển ra Bắc học bổ túc thêm
khóa “Commando Bắc Việt”. Lúc ấy lực lượng quân sự
của Vua Bảo Đại (thực tế là do Pháp đỡ đầu và chỉ
huy) còn phôi thai và quân số ít ỏi, nên các thành phần như
ông khi ra trường thường được giữ chức vụ chỉ huy đại
đội. Ông ĐHN ra trường “Commando BV” một thời gian rất
ngắn, đơn vị ông trong một trận đụng độ với Việt Minh,
ông bị thương làm mù hẳn một con mắt.
Năm
1955, dưới chính quyền được ủy nhiệm của Thủ tướng
Ngô Đình Diệm, ông ĐHN được chuyển qua đại đội hành
chánh, đóng ở Mang Cá (Huế). Cũng trong năm này, ông được
thuyên chuyển về Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn dưới quyền
của Tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Trong thời gian làm việc ở
cơ quan này, nhân một buổi tình cờ gặp gỡ ông Nguyễn Đôn
Duyến (trước đó giữ chức Thủ hiến Trung Việt) đang chuẩn
bị nhận chức vụ Đại sứ tại Lào, ông ĐHN được nhận
làm tùy viên quân sự. Hơn một năm sau, ông lại được chuyển
qua làm việc cho Tòa Đại sứ VNCH ở Thái Lan thêm một năm
nữa, rồi ông làm đơn xin trở về nước.
Năm
1957, ông ĐHN làm việc cho ngành cảnh sát với với cấp bậc
thẩm sát viên “đồng hóa”, tăng cường nhân số cho ngành
hành chánh Tỉnh cho đến năm 1963. Biến cố đàn áp đẫm
máu phật tử đêm 8/5/1963 tại Đài Phát thanh Huế (Đài PT),
ông là một nhân chứng tại hiện trường ở cấp thừa hành
của chính quyền địa phương.
Dưới
đây là cuộc phỏng vấn “bỏ túi” của tôi.
Hỏi:
--Thưa chú, nhiệm vụ của chú ở cấp thừa hành của ngành
cảnh sát vào đêm 8/5/63 tại Đài Phát thanh Huế, đã làm
gì?
ĐHN:
--Lúc đó chú thuộc Lực lượng Đặc biệt của Ty Cảnh sát
Thừa Thiên (CSTT), dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đặng
Phong –Trưởng ty CSTT và ông Hồ Đắc Vang –Phó Trưởng
ty kiêm Lực lượng Đặc biệt. Chú được lệnh tăng cường
để bảo vệ an ninh Đài phát thanh. Đêm hôm đó, trưởng
toán của chú là trung úy Thìn chỉ huy một toán chừng 20 -
30 người đến kiểm soát bên góc phía hữu của Đài phát
thanh dưới chân cầu Tràng Tiền. Ông Hồ Đắc Vang là người
chỉ huy tổng quát, nhưng người có quyền hạn thực sự để
ra lệnh hành động tại chỗ là Thiếu tá Đặng Sỹ -Phó
Trưởng ty Nội An.
Hỏi:
--Tại sao ông Đặng Sỹ cấp nhỏ hơn lại có quyền ‘ra
lệnh hành động’?
ĐHN:
--Là bởi Đặng Sỹ có thế của chính quyền và nhất là
tôn giáo. Ông là một tín đồ Thiên Chúa giáo.
Hỏi:
--Theo chú, tại sao chỉ để bảo vệ an ninh cho một buổi
phát thanh của ngày lễ Phật Đản mà phải tăng cường lực
lượng của chính quyền nhiều như vậy? Lực lượng bảo
vệ an ninh gồm có những ai? Và hiện trường lúc đó xảy
ra thế nào?
ĐHN:
--Ngay từ chiều, chú đã được lệnh là sẽ tập trung để
tăng cường bảo vệ an ninh Đài phát thanh Huế. Quan sát hiện
trường lúc đó, chú thấy quần chúng phật tử các giới
đã tụ tập phía trong và phía trước Đài PT. rất đông,
ước chừng cả ngàn người, đứng tràn ra hàng rào phía ngoài
đường. Toán của chú bận đồ thường phục có mang súng
nhỏ đứng cách hàng rào Đài PT chừng vài chục thước, bên
hàng cây dừa sát bờ sông. Lực lượng chính quyền thì có:
Cảnh sát dã chiến, Cảnh sát thường phục, Cảnh sát mật
vụ. Chừng sau 9 giờ tối, bỗng dưng có tiếng nổ rất lớn
vang dội; chừng một lát sau thì thấy xuất hiện lính nhảy
dù và đơn vị Hắc Báo tăng cường thêm.
Hỏi:
--Vậy thưa chú, tiếng nổ lớn ấy có phải là do lựu đạn
và lựu đạn loại gì? Có nhiều sách sử ở nước ngoài
nói đó là mìn Claymore. Dưới đôi mắt nhân chứng của một
cảnh sát chìm, và với sự hiểu biết của chú lúc đó, sự
thật đã xảy ra thế nào?
ĐHN:
--Khi tiếng nổ phát ra, toán của chú đứng khá gần nên mục
kích rõ. Đó là lựu đạn “chày”. Mục đích của loại
lựu đạn này là tạo ra tiếng nổ rất lớn nhằm gây kinh
hoàng cho đối phương ở ngoài trận mạc trước khi tấn công.
Nó không có mục đích sát hại, chỉ tạo ra sự khủng hoảng
tinh thần vì tiếng nổ gây nên tâm lý hoảng sợ thôi. Loại
lựu đạn này to như trái thơm (trong Nam gọi là “khóm”),
có tay cầm dài. Trước khi nổ, loại lựu đạn này quay quanh
chừng 3 vòng trong mấy chục giây mới nổ. Vì thế ở ngoài
chiến trường, có khi địch thủ dễ dàng cầm nó lên để
ném ngược lại phía mình. Sau này nghe có người nói đó là
loại lựu đạn MK-2 hay OF là không đúng sự thật, vì MK-2
và OF là loại lựu đạn tấn công để sát hại và khi ném
ra thì nổ liền. Loại lựu đạn MK-2 có màu xám, loại OF
có màu vàng, MK-2 lớn hơn OF và cả hai có hình thù trơn trụi;
trong khi loại lựu đạn nổ đêm đó có hình lỗ chỗ y như
trái thơm, màu xám tro.
Khi
tiếng nổ kinh hoàng vang lên, đám đông sợ hãi hỗn loạn,
có người từ trong chạy ra, chạy tán loạn tứ phía… Bỗng
có vài tiếng la lớn : ‘Chính phủ đàn áp tôn giáo’, ‘Chúng
ta phải chiếm giữ Đài phát thanh’ v.v… vang lên. Chừng
chưa đầy nửa tiếng thì các lực lượng quân sự khác đổ
đến rất đông, làm cho hiện trường càng trở nên trầm
trọng.
Sau
tiếng nổ của lựu đạn, các lực lượng cảnh sát nổi,
chìm liền nổ súng thị oai. Và tiếp theo là tiếng súng đủ
loại nổ vang rền; có người bắn chỉ thiên, nhưng cũng có
người là cảnh sát hay quân nhân tín đồ Thiên Chúa giáo
vì tâm lý thù thét Phật giáo (hay được lệnh riêng ?) họ
bắn ngang vào đám đông phật tử.
Chừng
15 phút sau, có các lực lượng quân sự khác được điều
động đến rất nhiều, có cả xe tăng (xe bọc thép) chừng
3, 4 chiếc gì đó lù lù chạy thẳng vào sân Đài Phát thanh,
cán bừa lên cả những chiếc xe đạp dựng ở ngoài hàng
rào. Có chiếc tông đổ luôn hàng rào để bươn vào bên trong,
có chiếc chạy thẳng ở cổng giữa, cán bừa lên đám đông,
thẳng trớn phóng lên các bậc tam cấp của cửa chính rồi
dừng lại và án ngữ luôn ở đó.
Hỏi:
--Vậy lúc đó, chú có bắn theo không ? Súng nổ chừng
bao lâu thì dứt ? Chú còn nhớ xe tăng đó là loại gì ? Có
phải là loại xe tăng M113 ?
ĐHN:
--Vì đã được lệnh từ đầu, chú có rút súng nhỏ ra bắn,
nhưng chỉ bắn chỉ thiên lên trời thôi. Súng nổ chừng 5,
7 phút gì đó thì ngưng. Lúc ấy hiện trường đã quá sức
trầm trọng, quần chúng phật tử mạnh ai nấy chạy, tứ
tán. Có người chết và có nhiều người bị thương. Chừng
nửa tiếng sau thì xe hồng thập tự hú còi đến và mang những
nạn nhân đi khỏi.
Xe
tăng xuất hiện đêm đó là loại xe tăng của Pháp để lại,
chú không biết là loại xe tăng gì, nhưng chỉ nhớ mang máng
hai bên nắp phần trên xe có in hàng chữ BM/ MB? hay VM/ MV? thì
phải. Xe tăng này nhỏ hơn loại xe tăng M113, nhưng có hình
dáng tương tự, có nòng súng dài nhưng ngắn hơn loại xe tăng
M113.
Hỏi:
--Nhắc lại ba nhân vật chỉ huy đêm đó : Đặng Phong, Đặng
Sỹ, và Hồ Đắc Vang. Chú có nhận xét gì về ba nhân vật
này? Ai mới thật sự là kẻ đã ra lệnh đàn áp phật tử
đêm đó?
ĐHN:
--Đặng Phong và Đặng Sỹ là hai anh em ruột, đều là tín
đồ Thiên Chúa giáo hết. Thời đó, họ hay ỷ thế, ỷ quyền
vào ông Cố vấn Cẩn, ông anh Tổng thống… vì cho là đồng
đạo được cưng chiều nên họ ngang thiêng lắm, muốn làm
gì thì làm, muốn bắt ai thì bắt. Còn ông Hồ Đắc Vang (người
làng An Truyền) là phật tử, nhưng cũng ghê lắm, chống cộng
ghê lắm... Ông Đặng Sỹ và ông Hồ Đắc Vang rất se sua,
thân tình với nhau. Còn lệnh lạc từ trên, theo chú quân đội
thì phải theo hệ thống quân giai, chính quyền cũng vậy, riêng
ông Đặng Sỹ nhận lệnh trực tiếp từ ai thì chú không
rõ.
*
*
*
Biến
cố đàn áp phật tử đẫm máu đêm 8/5/63 còn để lại một
số khúc mắc, tranh cãi cho tới ngày hôm nay. Để biện hộ
cho chế độ, họ tung tin lựu đạn trong đêm đó là do CS
len lõi ném ra gây chết chóc cho phật tử, xe tăng không hề
cán lên phật tử, hơn nữa đó là xe thiết giáp “Blinder”
bánh cao su (như tài liệu sử của Chính Đạo VNC từng nêu
ra, chẳng hạn.). Qua những lời từ nhân chứng ĐHN, giờ đây
đã làm cho sự thật lịch sử được minh bạch thêm.
Trước
khi trao đỗi với chú ĐHN, tôi đã đưa ra lời đề nghị
chú cần thẳng thắn, biết sao nói vậy, nhớ thì nói không
còn nhớ rõ thì thôi, và hỏi thêm theo dư luận nội bộ của
cơ quan chú phục vụ thì lựu đạn “chày” đêm đó do ai
tung ra ? Chú ĐHN chân thành nói : Lựu đạn có thể do
Việt cộng hay thế lực đảng phái nào đó ném ra (ông xin
đừng nêu tên đảng phái vì là sự phỏng đoán, không chắc
chắn) nhằm tạo ra khủng hoảng chính trị, chia rẽ chính
quyền và Phật giáo hầu lợi dụng khai thác cho mục tiêu
chính trị. Nhưng ông lại hoàn toàn đồng ý với lập luận
của tôi rằng, nếu lựu đạn do VC ném ra (dù là loại lựu
đạn không nhằm sát hại) thì chính quyền hẳn phải đàn
áp dã man hơn nữa, và số thương vong sẽ còn nhiều gấp
bội. Còn giả như lựu đạn do đảng phái nào đó lợi dụng
để khuynh loát chính trị về sau thì hẳn nhiên phải đã
có sự “đồng lõa” của chính quyền, vì lẽ chú đã nhận
được lệnh đi tăng cường bảo vệ an ninh Đài Phát thanh
từ hồi chiều, có nghĩa là chính quyền đã chuẩn bị cho
một tình huống sẽ xảy ra mà họ đã tiên liệu trước;
và chính chú đã được lệnh có quyền bắn khi nghe tiếng
nổ xảy ra!! Như vậy đó phải là một âm mưu có tính
toán, có kế hoặch của chính quyền từ trước. Ông ĐHN gật
đầu hoàn toàn đồng ý, và im lặng….
*
*
*
Vậy,
nếu Sử Việt chỉ “đọc vài cuốn”, hay đọc vài trăm
cuốn đi nữa (trong đó có cả sử sách của phía nạn nhân
là Phật giáo), thì sự thật không thể chối cãi được là
chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa đã có âm mưu tiêu diệt
Phật giáo, hay tối thiểu làm tê liệt mọi sự phản đối,
đề kháng của Phật giáo, để biến họ thành một bộ phận
xã hội tiêu cực - từ đó từng bước Công-giáo-hóa toàn
bộ xã hội miền Nam, hay ít nữa đạt tới mục tiêu (tạm
chấp nhận) là biến tỉ số dân Công giáo miền Nam đạt
đến con số biểu kiến là đa số. Hệ luận lịch sử
này sẽ làm cho các giả thiết lịch sử “Nếu như” (‘What
if’), rằng : - không có biến cố đẫm máu đêm 8/5/63
do cộng sản (hay đảng phái) giựt dây thì chế độ Diệm-Nhu
đã hiệp thương thống nhất đất nước với chế độ CS
Hà Nội trong hòa bình; hay, chính vì tinh thần quốc gia của
hai ông Diệm-Nhu, phải bắt tay ngầm với Hà Nội làm cho chính
phủ Hoa Kỳ trả đũa tìm cách lật đổ; hay vì hai ông đã
chống lại mưu toan đổ quân Mỹ vào VN, leo thang chiến tranh,
là đi ngược lại với chính sách ngăn chận ‘làn sóng đỏ’
theo thuyết Domino, không còn đứng vững !.
Về
phía chính quyền Diệm-Nhu, sách lược tiêu diệt Phật giáo
nằm trong kế hoặch toàn diện, lâu dài, nên sự đàn áp không
xảy ra trước thì xảy ra sau, một khi điều kiện và hoàn
cảnh để đàn áp đã được hội đủ. Như vậy, sự bột
phát đấu tranh của Phật giáo dưới sự lãnh đạo của những
nhà sư đã lăn lộn, nghiệm trải với dân tộc để bảo
vệ cho một tôn giáo dân tộc là một hành động có chính
nghĩa, không thể không xảy ra.
Trong
bối cảnh lịch sử vào giai đoạn đó, chế độ Cộng sản
Hà Nội, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa là hai chủ thể chính
trị; chính phủ và chính sách của Hoa Kỳ chỉ là “khách
thể”. Chiều dài lịch sử dân tộc có thể chối bỏ khách
thể ở một giai đoạn lịch sử nào đó, nhưng sinh mệnh
dân tộc phải được quyết định từ các chủ thể lịch
sử để tồn tại.
Đứng
về phía chủ thể chính trị của chế độ Đệ Nhất Cộng
Hòa, qua nhiều dữ kiện lịch sử chúng ta đã rõ - vì Ô.
Ngô Đình Nhu là một “bộ óc” của chế độ cho nên ý
chí tiêu diệt Phật giáo của ông là một hệ luận lịch
sử không thể bác bỏ. Tại sao ?
II.
Bản Chất Chính Trị của Một Chế Độ Cai Trị
Có
nhiều người viết sử đã gọi chế độ Đệ Nhất Cộng
Hòa là “Tứ trụ triều đình”. Cụm từ này có thể đúng
do xuất phát từ âm hưởng của sử học Tàu, qua chiều dài
của các chế độ phong kiến Đông phương. “Tứ trụ triều
đình” của ĐNCH để chỉ bốn nhân vật trong vòng thân tộc,
gia đình cai trị một nước. Hình thức cai trị này không
riêng gì ở xã hội phương Đông, mà còn là hiện tượng
phổ biến trong lịch sử các chế độ nô lệ, phong kiến,
quý tộc Tây phương.
Trong
chế độ khai sinh nền Cộng hòa miền Nam, nhân vật Ngô Đình
Cẩn (Cố vấn chỉ đạo miền Trung) là một nhân vật đã
tạo ra nhiều tai tiếng, có khi ở mức độ bỉ ổi, xấu
xa… điều đó đã có nhiều sử sách, hồi ký, bình luận
nhắc đến nhiều, hơn nữa ông là một nhân vật phụ thuộc,
nên tôi sẽ không đề cập ở đây.
Trong
ba nhân vật còn lại, tôi sẽ đề cập những nét chính, đặc
trưng về hai ÔÔ. Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Thục; riêng
ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, tôi sẽ mở rộng vấn đề hơn,
vì là một nhân vật then chốt.
1.
“Quốc Lão” Ngô Đình Thục:
“Quốc
Lão” là danh xưng mà cố tác giả Vương Hồng Sển trong hồi
ký “Nửa Đời Còn Lại” đã dành cho cố Tổng Giám Mục
Ngô Đình Thục (TGM NĐT). Vương Hồng Sển đã kể lại vài
giai thoại khi được diện kiến TGM NĐT. Đó là hình ảnh
của của một tu sĩ Thiên Chúa giáo tuổi sắp đến thất
thập nhưng trông còn trẻ, mặt mũi phương phi hồng hào, sức
sống còn dồi dào, bệ vệ uy nghiêm, hay nói cách khác, ông
là biểu tượng cho sự tham vọng và đam mê quyền lực. Hình
ảnh của ông làm cho ta liên tưởng tới nhân vật tu sĩ Chính
Thống giáo (Orthodox) Rasputin trong chế độ Sa-hoàng (Tsar) của
nước Nga vào thế kỷ 19.
Thiên
Chúa giáo La Mã là tôn giáo xây dựng trên quyền lực tinh
thần bằng hệ thống tập quyền trung ương; trung tâm quyền
lực đặt tại Rôma cai trị các hệ thống quyền lực tinh
thần tập quyền thu nhỏ (đại biểu là Hội Đồng Giám Mục)
trên các quốc gia khắp toàn cầu. HĐGM toàn quốc có thể
quan niệm như một cơ cấu tổ chức hành chánh, kinh tế (qua
sự đóng góp, tiếp sức hoặc đại diện kinh tài trong các
nước tư bản chủ nghĩa), chính trị (là tổ chức thống
nhất tinh thần, nhận sự chỉ đạo, giáo huấn tinh thần
từ Vatican!).
Nhưng
hệ thống tập quyền này chỉ có thể đứng vững được
không phải nhờ vào chất keo niềm tin của giáo dân hoàn vũ
trong các quốc gia Thiên Chúa giáo, mà nhờ vào sức mạnh vật
chất tiền bạc. Do đó, sự đầu tư, kinh tài đen (được
che đậy) trong các quốc gia công nghiệp phát triển là yếu
tố sinh tử của Vatican.
Một
vị Hồng y hay Tổng Giám Mục đứng đầu Hội đồng Giám
mục ở các quốc gia, đối với hệ thống tập quyền Vatican,
có thể coi như một trong những vị quan đại thần then chốt
của các triều đình phong kiến. Vì vậy, đó là mục
tiêu tham vọng của TGM Ngô Đình Thục, đồng thời là mấu
chốt đưa tới sự ganh tị, tranh chấp ngấm ngầm có khi công
khai với ông Lê Hữu Từ, Giám mục gốc Bùi Chu-Phát
Diệm (mặc dù quê hương của GM Lê Hữu Từ là Quảng Trị).
Yếu tố tranh chấp này đã làm yếu đi sự ủng hộ, trung
thành tuyệt đối của thành phần di cư Công giáo (1954). Ông
TGM NĐT và các người em đang nắm quyền lực chế độ của
ông đã ý thức được điều này. Trong buổi đầu thành lập
chế độ đã âm ỉ, manh nha thế phân ly tinh thần, nhưng khi
gia đình nhà Ngô đã nắm được sự cai trị tòan diện, yếu
tố phân ly ấy đã bị họ coi nhẹ; nhưng sự phân ly ấy
vẫn tiềm tàng và chúng ta có thể hiểu tại sao trong những
giây phút sinh tử của chế độ, không có ai vì “yêu Chúa,
yêu Thầy, yêu đại ân nhân” nhắm mắt liều mình cứu giá.
*
*
*
Trong
cuộc phỏng vấn ‘bỏ túi’ nói trên, tôi có hỏi chú ĐHN
cho biết những cảm tưởng chân thật của ông về bốn nhân
vật : Ô. Cẩn, Ô. Thục, Ô. Diệm, Ô. Nhu như thế nào, ông
nói: Khi đang phục vụ trong ngành cảnh sát “mật”, ông
thường phải gặp mặt để trình báo trực tiếp với ông
Cẩn, có khi gần như hàng ngày. Có lần chú ĐHN bắt được
10 xe chở gỗ lậu (loại gỗ nhà nước cấm khai thác), chú
ĐHN đem trình cho ông Cẩn giải quyết. Thường những xe chở
gỗ lậu ấy lại do tay chân, đàn em của ông Cẩn làm ăn,
kinh tài, ông tìm cách che chở nên thóat nạn; nhưng có
những trường hợp quá lộ liễu, ông Cẩn đành phải chấp
nhận để cho nhân viên cảnh sát thuế vụ thi hành phận sự.
Về ông Diệm, chú kể có lần tổng thống công du lên Lào
(lúc đó chú ĐHN đang làm tùy viên quân sự cho Tòa Đại sứ),
chú ĐHN ghi nhận: ông là con người thẳng thắn, không thích
nịnh bợ và có đầu óc “quốc gia” thật sự; trái lại
ông Nhu rất có đầu óc chính trị. Riêng ông Thục là người
chỉ muốn dựa vào chính phủ để ôm chặt tôn giáo của
mình cho bằng được. Ông kể một giai thoại rất đáng ghi
nhớ về TGM Thục. Một hôm ông Thục công du lên Lào, gặp
chú ĐHN tại văn phòng Tòa Đại sứ. TGM Thục hỏi chú : “Theo
anh, phải cần mấy tiểu đoàn mới đánh chiếm được nước
Lào?” Chú ĐHN trả lời: “Thưa Cha, con đã giải ngũ và
biệt phái làm hành chánh đã lâu, nên không còn biết về
quân sự nữa.” TGM đưa mắt nhìn chú ĐHN một
lát rồi nói : “Có chi mà không biết. Lào là dân “mọi
rợ”, chỉ cần một tiểu đoàn là chiếm trọn cả nước
chơ chi !”.
Giai
thoại này có thể minh chứng thêm về cách gọi TGM NĐT là
“Quốc Lão” của tác giả Vương Hồng Sển không hẳn là
châm biến. Nhưng, thay vì nói “Quốc lão”, gọi ông TGM là
“Quốc Phụ” cũng đúng nghĩa.
2.
Đạo Đức Ngô Đình Diệm:
Cách
nay 15 năm, có lần tôi ghé thăm người vợ của tôi (hiện
tại), lúc ấy chúng tôi chưa sống chung với nhau. Gia đình
bà là người Công giáo gốc Bùi Chu-Phát Diệm. Khi bước vào
bên trong, ngay góc để bàn ăn rộng, cách ngăn nhà bếp và
phòng khách, tôi giật mình đứng khựng lại trong vài giây.
Một cảnh tượng kỳ dị hiện ra: Ông cụ thân sinh của bà
ta đang nằm lăn qua lăn lại trên tấm thảm, hai tay ôm ngực,
miệng lầm bầm đọc gì đó, đôi mắt dán chặt lên tấm
hình Jesus có chòm râu quai nón tỉa khéo, mượt mà treo trên
tường, thỉnh thoảng ông lấy đầu đánh rầm rầm vào tường.
Tôi hoảng hốt, quay người bước ra nói nhỏ với bà: “Vào
coi xem hình như ông già điên rồi, ông lấy đầu đập vào
tường!”. Nghe vậy, bà ta cũng hoảng hồn chạy vào xem, và
tôi nghe bà hỏi ông ta gì đó. Lát sau trở ra, bà nói với
tôi: “Không sao đâu, ông ta đang nói chuyện với Chúa đó.”
Tôi thở dài, thì ra vậy.
Hành
động tự hành hạ thân xác mình trước Chúa Jesus (trong trí
tưởng tượng) hoặc qua tấm hình treo tường, không khác nhau
gì mấy với hành động tự đấm ngực và la lên: “Lỗi
tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” của hầu hết mọi tín
đồ Thiên Chúa giáo La Mã trên cõi trần này, không riêng gì
tín đồ Việt Nam. Nhưng hành động tự hành xác như lăn mình
vật vã dưới đất, đánh đầu vào tường v.v.. là hành vi
mạnh mẽ hơn –biểu lộ sự ăn năn hối cải, hoặc cá thể
ấy đang ở một trạng thái tâm lý bất an nào đó; hoặc
nó là một hình thức “xưng tội”, kêu gào thống thiết
với Chúa, hay có khi đó là hành vi biểu lộ tình yêu điên
dại với Chúa, đã từng vì mình mà chịu khổ nạn trên cây
thập tự. Nói vắn tắt, cá thể ấy muốn bộc lộ tình yêu
tuyệt đối bằng ý tưởng : “Cha ơi, làm sao cho Cha hiểu
thấu được tấm lòng yêu thương kính mến của con đối
với Cha !”
Sau
khi cơn xúc cảm cuồng nhiệt đó qua đi, trở về với trạng
thái bình thường, họ cảm thấy nhẹ nhõm, tự thỏa lòng…
Tình cảm cuồng si tôn giáo này, lâu ngày dồn kết lại, trong
thân tâm họ tự mang niềm tự hãnh: đó là yếu tính của
đạo đức Thiên Chúa giáo. Đạo đức là thuộc tính phải
yêu mến, tin kính Chúa tuyệt đối.
Theo
nhận xét của tôi, những gia đình người Việt theo đạo
Công giáo La Mã còn đứng vững được cho tới ngày hôm nay
là nhờ vào “phương tiện” tinh thần Nho Giáo căn bản,
được giáo huấn trong gia đình từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Với đạo làm con thì phải hiếu kính với cha mẹ.
Từ hiếu kính cha mẹ bước sang hiếu kính với Chúa. Hai thứ
“hiếu kính” này đã nhập thành một. Có cái này thì phải
có cái kia, hoặc không có cái này thì không có cái kia. Và
khi nhìn vào hình ảnh cha mẹ luôn hiếu kính với Chúa, với
Đức Mẹ, nên con cháu thấy rằng hiếu kính Chúa, Đức Mẹ
cũng như hiếu kính với cha mẹ mình vậy.
Vì
thế ta có thể nói đạo đức của Ngô Đình Diệm là một
đạo đức “đặc thù”. Ông tổng thống cần mẫn đọc
kinh mỗi sáng thức dậy, mỗi tối trước khi đi ngủ… đã
trở thành thứ đạo đức biểu kiến mà bất cứ một công
dân nào thực sự có đời sống đạo đức gương mẫu thì
không thể làm khác. Đó là tính đạo đức đồng dạng. Những
kẻ nằm ngoài tính đồng dạng này, ông tổng thống cư xử
như một người “hàng xóm, láng giềng”. Nhưng trong một
trạng huống xã hội đột biến nào đó, khi ông tổng thống
được nghe nói những người “hàng xóm, láng giềng” này
chống lại ông, đi ngược lại những ý muốn của ông, ông
tổng thống sẽ nhìn họ như những “ác quỷ”. Đó là cách
nhìn của tổng thống Diệm đối với phong trào Phật giáo
năm 1963. Ông tổng thống có thể không ghét các nhà sư Phật
giáo đi nữa, cũng không thể nào thương được.
Khía
cạnh thứ hai trong đạo đức đặc thù của Ngô Đình Diệm
là tinh thần của một nhà Nho. Ông nói: “Tôi thức khuya dậy
sớm cần mẫn chăm lo việc nước hàng ngày hàng tháng”,
có nghĩa là biểu hiện tinh thần “đức trị” Nho giáo.
Trị dân thì phải làm gương cho dân theo, giáo hóa dân bằng
mẫu mực của mình để đưa nuớc tới thịnh trị.
Ngoài
cá tính “tín nhi hiếu cổ” (tin và thích kinh điển, lễ
nghi và tục lệ của cổ nhân) được biểu hiện qua các bài
viết của ông trong “Bulletin des Amis Vieux de Hue”, ông Diệm
còn có tính “hiếu, để” đối với cha mẹ. Bản
tính này theo lời Khổng Tử trong Kinh Thi là, “Hiếu thuận
a, hiếu thuận với cha mẹ; thân ái a, thân ái với anh em.”.
Từ tinh thần “thân ái với anh em” mà ông Diệm lại không
có vợ con nối dõi tông đường, nên ông đã dễ dàng để
cho hai vợ chồng người em cố vấn khuynh loát mọi vấn đề
chính trị.
Có
nhiều nhà viết sử ở hải ngoại cho rằng “rất nhiều
bằng chứng khẳng định ông Diệm muốn trở thành một thứ
Constantine của Nam Việt Nam” (theo Nguyên Vũ, ‘Ngàn năm soi
mặt’, VH xb. 2002, tr.117). “Nhiều bằng chứng” đó là bằng
chứng gì không thấy ông nêu ra. Dù sao đó là nhận xét hời
hợt của những người viết ‘biên niên sử’ theo lối ghi
chép, thiếu chiều sâu khách quan để nhìn vấn đề toàn diện
về con người, văn hóa, tôn giáo v.v.. Nhận xét ấy còn đi
ngược với tâm lý chính trị nữa. Constantine vốn có bản
chất là người mánh lới, thủ đoạn chính trị biết mượn
‘tín ngưỡng’ của dân bị trị nô lệ; dù ông chẳng tin
gì Chúa, tin gì cái đạo ‘mê tín thờ anh Do Thái’ ấy.
Tín ngưỡng của Constantine là ông Thần Mặt Trời, luôn chiến
thắng. Nhưng phần lớn dân bị trị của ông tin theo cái đạo
“chui rúc” này, cho nên cách hay nhất để trị nguời là
biến niềm tin ấy trở thành một “quốc giáo”. Xét trên
phương diện cai trị, Constantine là người chính trị thực
tiễn; trong khi ông Diệm tin đạo Thiên Chúa một cách “thành
thật”, ngay thẳng… Nếu ông biết áp dụng thủ đoạn chính
trị của Constantine, hẳn ông đã có ý thức chính trị về
niềm tin đa số của người dân miền Nam là ai, và chế độ
đã không kết thúc bi thảm như đã thấy.
Nói
tóm lại, đạo đức đặc thù của Ngô Đình Diệm là một
thứ đạo đức “nguy hiểm”, vì thiếu tinh thần “kiêm
ái” (là chiều sâu của đạo Nho) và tinh thần từ bi của
Phật; để thật sự biết yêu thương mọi người như chính
mình, thương hết thảy chúng sinh mà làm lợi lẫn cho nhau.
3.
Ngô Đình Nhu và Chủ Thuyết Nhân Vị:
Cho
đến nay, tất cả các nhà viết sử Việt về chế độ Ngô
Đình Diệm đều đồng nhất một điểm : “bộ óc” của
chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa là ông Ngô Đình Nhu. Người
hiểu rõ điều này hơn ai hết chính là bà vợ ông.
Trong
thời gian đi “giải độc” ở Mỹ, khi được báo chí hỏi
về “áp lực” của Mỹ muốn ông Nhu phải rời bỏ vai trò
“cố vấn” cho Tổng thống Diệm, bà đã trả lời:
“Không
có chồng tôi, Tổng thống không có thể làm gì được cả..
Tôi không nghĩ việc cai trị, lãnh đạo, quản trị đất nước
là chuyện dễ dàng cho ông ấy. Đó là lý do tại sao khi ông
ta bị đòi hỏi.. phải đẩy chồng tôi đi xa, Tổng thống
đã nói –đó là đòi hỏi cực kỳ ngu ngốc, bởi vì ông
tổng thống biết rõ rằng, chồng tôi có thể điều hành
đất nước không cần tổng thống, nhưng ông tổng thống
không thể làm được việc nếu không có chồng tôi.”
[i] .
Bản
chất cai trị của ông Ngô Đình Nhu được dựa trên hai yếu
tố: chủ thuyết Nhân Vị cộng với chính trị thực tiễn
qua lưỡng-ác-tính “ferocita” (vừa là sư tử / Lion vừa
là con chó sói / Fox).
Mấy
năm trước đây, nhờ vào phương tiện internet, tôi có tò
mò tìm hiểu xem ông Ngô Đình Nhu đã được huấn luyện những
gì ở trường Ecole des Chartes. Trong thập niên 1930- 40, có lẽ
là thời kỳ ông theo học ở đây. Đó là chương trình học
nặng ký nhằm cung cấp những chuyên gia không chỉ ở lãnh
vực quản thủ văn khố quốc gia, ở phương diện thực hành
những người tốt nghiệp còn có khả năng trở thành những
nhà nghiên cứu cao cấp, lý thuyết gia chính trị, văn hóa
(Tây phương), và hơn nữa còn thích hợp cho vai trò quản trị
một cơ quan mật vụ tầm quốc gia.
Xin
được nêu ra vài nét tổng quát về chương trình đào tạo
như sau:
Lịch
sử và truyền thống thủ bản văn học / Các thủ bản cận
và hiện đại / Thư mục học –lịch sử ngành in sách/ Hệ
thống truyền thông thời cận đại / Lịch sử và phê bình
hình ảnh tài liệu / Lịch sử nghệ thuật thời Trung Cổ
/ Lịch sử nghệ thuật thời kỳ cổ điển, hiện đại /
Khảo cổ học và lịch sử kinh tế-chính trị- thời Trung
Cổ / Lịch sử kinh tế - xã hội thời cận đại / Cấu trúc
và thư khố của các xí nghiệp (lớn) / Lịch sử thế giới
hiện đại / Thuật biên soạn lịch sử (Historio-graphie) /
Thư khố -lịch sử nghệ thuật và khảo cổ học / Phương
pháp thực hành trong thống kê và đồ bản (Cartographie) v.v…
Các thập niên về sau này (thế kỷ 20), trường Ecole des Chartes
còn mở thêm các môn học về “Điện toán ứng dụng” (Informatique
Appliqué) nữa.
Đi
sâu vào chi tiết nội dung (Currriculum), ta thấy các môn học
đã cung cấp sinh viên các phương pháp luận điều nghiên và
lý thuyết về chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, kinh
tế, lãnh đạo chính trị v.v… về nền văn minh Tây phương
từ khởi thủy đến các năm đầu thế kỷ 20 (đặc biệt
là văn minh Pháp) -một cách sâu thẳm…
Nhìn
vào quá trình đã được đào tạo để chúng ta có thể hiểu
tại sao ông Ngô Đình Nhu đã “thân” văn hóa Pháp rất nặng
trong tư tưởng, nên muốn mang các lý thuyết Nhân Vị của
những nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo như Emmanuel Mounier ra áp
dụng.
E.
Mounier sinh năm 1905, xuất thân từ dòng dõi nông dân, nhưng
cha ông là chuyên viên dược phòng ở Grenoble. Đồng thời
với E. Mounier có các người nổi danh khác như Jean Paul Sartre,
Raymond Aron. Năm 1928, bộ ba Raymond Aron, Mounier và Sartre trở
thành những giáo sư và những nhà nghiên cứu thượng hạng
ở Pháp.
Năm
1932, Mounier và nhóm bạn hữu cho ra tờ Esprit (‘Tinh Thần’
/ Người anh kế của tôi thời trẻ cũng đã đặt mua tờ
báo này thường xuyên.). Các đệ tử của chủ thuyết Nhân
Vị ở Châu Âu thời đó có thể kể như : Jacques Maritain,
Nicolas Berdyaev, và tu sĩ dòng Tên Jean Danielon về sau này trở
thành Hồng y. Khi chủ thuyết Nhân Vị ảnh hưởng sang
Mỹ, chủ thuyết Nhân Vị đã biến thành những tổ chức
như Phong trào Công nhân Xã hội, hay những hoạt động từ
thiện xã hội như của bà Dorothy Day v.v…
Ở
Âu châu, chủ thuyết Nhân Vị ra đời là để đáp ứng cho
những khủng hoảng sâu xa về văn hóa, xã hội từ đầu thập
niên 1930. Trong “Tuyên Ngôn Nhân Vị”, mục tiêu của họ
được đưa ra là : “Kiên trì, hợp tác để tái tạo thời
kỳ Phục Hưng sau bốn thế kỷ sai lầm.” (“Patiently,
cooperatively remake the Renaissance after four centuries of error”,
The Personalist Manifesto, trang 10).
Trên
bình diện toàn cầu, mục tiêu trên được diễn giải rộng
hơn:
“Trái
với những gì đã xảy ra cho những nhà cải cách vụn vặt,
chương trình của chúng ta phải được cắt tỉa trong mô thức
với kích thước rộng. Về mặt lịch sử, khủng hoảng đè
nặng lên chúng ta lớn hơn là khủng hoảng chính trị đơn
thuần, kể cả những khủng hoảng kinh tế nặng nề. Chúng
ta đang là chứng nhân của sự ly tán toàn diện nền văn minh,
thứ khủng hoảng với tên gọi của nó, sản sinh từ sự
chấm dứt thời Trung Cổ, lại được củng cố cùng lúc với
sự đe dọa bởi thời đại công nghiệp, cấu trúc tư bản,
ý hệ tự do, đức lý tư sản.” (‘Tuyên Ngôn Nhân Vị’,
“P. Manifesto”, trang 8).
Nhưng
chủ thuyết Nhân Vị (nếu đúng nghĩa để được gọi là
chủ thuyết!) không phải là một hệ thống triết học, mà
là một phương pháp, một viễn cảnh, và là một nhu cầu
cấp thiết cho một giai đoạn lịch sử.
Xuyên
qua tạp chí “Tinh Thần” (Esprit), E. Mounier xiển dương sự
tái sinh tư tưởng Thiên Chúa giáo, là một dấu ấn lịch
sử cho các thế hệ trí thức Pháp và các nhà Thần học “giải
phóng”. Tạp chí “Tinh Thần” là một nổ lực đấu tranh
tư tưởng nhằm lôi kéo “linh hồn” ra khỏi bàn tay của
bọn phản động để tái tạo thời đại Phục Hưng. Nhưng
bọn “phản động” là ai? – Đó là tinh thần văn hóa Mỹ,
chủ nghĩa tư bản và tinh thần tự do tư sản.
Nhưng
mâu thuẫn của Việt Nam vào trong giai đoạn đó là một mâu
thuẫn lịch sử: giải quyết vấn đề dân tộc, cho nên chủ
thuyết Nhân Vị của ông Ngô Đình Nhu chỉ là một ý niệm
triết học trống rỗng, nếu như “Nhân Vị’ của một cá
thể không dựa vào Phúc Âm, tình yêu Thiên Chúa; hay nói cách
khác, cũng như Chủ nghĩa Hiện sinh, chủ thuyết Nhân Vị phải
“tháp cành” (‘enclaved’) vào Chủ nghĩa Cộng sản, nếu
muốn nó có giá trị thực tiễn hành động (praxis). Trên phương
diện lịch sử, ông Ngô Đình Nhu hằng ngưỡng mộ và kính
trọng những người cộng sản Việt Nam (như Hồ Chí Minh,
Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tạ Quang Bửu v.v…), vì họ
là thế hệ đàn anh đi trước, và hơn nữa đang nắm ngọn
cờ lịch sử dân tộc. Do đó, để thực hiện một “thỏa
hiệp” chính trị với chế độ Hà Nội, hòng thoát ra khỏi
áp lực Mỹ, nhưng sự hậu thuẫn của nhân dân miền Nam đã
hoàn toàn bị đánh mất, chủ thuyết Nhân Vị đòi hỏi một
nhu cầu chính trị hành động thực tiễn.
Chính
trị thực tiễn (realpolitik) là chính trị thích ứng với trạng
huống chính trị thực tại, theo quan niệm của Machiavelli (tác
giả “Prince” / ‘Quân Vương’), là một thỏa hiệp thực
tiễn nhằm đạt tới mục tiêu. Muốn vậy, người lãnh đạo
(Quân vương) phải là một “bực thầy” có đủ năng lực
thủ đắc cái “chân lý hiệu quả” (‘effective truth’)
: -vấn đề quan trọng không phải là câu hỏi làm thế nào
cho phải đạo, mà làm thế nào để thắng lợi. Vấn đề
không phải là đạo đức hay đồi bại, nhưng là hành động
tàn nhẫn lạnh lùng tất yếu, vì nó đưa tới sự thành công.
Cho nên, đạo lý chỉ là công cụ tạm thời trong một thế
giới đang đổi thay không dứt (“Ethics are mere provisional tools
in a constantly changing world”) (“Prince”, Machiavelli). Và,
để có thể hành động, người lãnh đạo phải hội đủ
bản năng lưỡng-tính (dual character -theo tôi nghĩ), gọi là
“Férocita”: vừa là con sư tử, vừa là con cáo già.
Phải
chăng đó là nền tảng tư tưởng và hành động của con người
triết học Ngô Đình Nhu ? Những con người theo chủ thuyết
Nhân Vị chỉ khác với những người theo Hiện Sinh ở chỗ
-đạo lý Nhân Vị cần phải dựa vào nền tảng Phúc Âm,
Thiên Chúa; những người Hiện Sinh ngược lại, thẳng thẳn
phủ nhận Thượng Đế, nên J.P. Sartre đã hùng hồn tuyên
bố: “Kẻ chống Cộng là một con chó; tôi không bao giờ
thay đổi quan điểm này, sẽ không bao giờ.” (“An anti-Communist
is a dog; I don’t change my view on this, I never shall !”).
Trong
niềm tự hãnh của một bộ óc triết học và chính trị,
lại nhận được sự vỗ về của một người vợ có bản
lãnh, dám đương đầu với tình thế chính trị căng thẳng
nhất; cộng với sự “bảo chứng” tinh thần của người
anh Cả - Tổng Giám Mục, ông Nhu thách thức với quyền lực
Hoa Thịnh Đốn –là kẻ đã tạo dựng nên chế độ. Điểm
cao nhất thể hiện hành động chính trị lưỡng-ác-tính/
férocita của ông Ngô Đình Nhu là đêm chiến dịch Nuớc Lũ
ngày 20/8 đồng loạt tấn công các chùa trên toàn quốc, hốt
gọn các nhà lãnh đạo Phật giáo các thành phần tham gia phong
trào (tính-sư-tử); và hơn hai tháng sau đó là hai kế hoặch
đảo chánh giả Bravo I & Bravo II (tính-cáo-già), khi biết
chắc thế nào Mỹ hổ trợ một kế hoặch đảo chánh lật
nhào chế độ của anh mình. Nhưng, chính kế hoặch Nước
Lũ lại là “bản án tử hình” cho chính ông và chế độ.
Thất
bại của ông Ngô Đình Nhu là thất bại của triết học Tây
phương – qua chủ thuyết Nhân Vị nhào nặn với một chút
mùi vị Thiên Chúa giáo, áp dụng trên một đất nước có
truyền thống văn hóa Tam giáo Đồng nguyên lâu đời như Việt
Nam.
Gần
cuối tháng 10/1963, trước cảm nhận chế độ đã mất hết
lòng dân, ông Ngô Đình Nhu đã tỏ lộ hết ruột gan mình
cho báo giới hiểu rằng:
“Tôi
là người chống Cộng từ quan điểm lý thuyết. Tôi không
là người chống Cộng từ quan điểm chính trị hay nhân tính.
Tôi coi những người Cộng sản là người anh em, những con
chiên lạc đàn. Tôi không chủ trương một thánh chiến chống
lại người Cộng sản, bởi vì chúng tôi là một quốc gia
nhỏ, chỉ muốn sống trong hòa bình.” [ii]
Những
lời bộc bạch này đã phô bày thật rõ bản chất “thâm
sâu nhưng thật thà” của một đầu óc triết học mang dòng
máu của “Quảng-Bình-quê-hương-định-mệnh”. Dù cho những
“người anh em” đi trước ở Hà Nội là những người đã
cứu thóat Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu –hay như Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: “Ông Diệm là người yêu nuớc. Ông
yêu nuớc theo cách của ông” đi nữa, ở Hà Nội các lãnh
tụ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp hẳn đã
sửng sốt, không tin nỗi những gì đã xảy ra ở miền Nam
trong ba tháng từ 8/5 đến 21/8. Không một ai còn có thể
nghĩ tới một giải pháp thỏa hiệp chính trị với những
người lãnh đạo, một chế độ đã mất hết lòng dân bao
giờ… hơn nữa, “cây gậy” ở đường Thống Nhất đang
âm thầm chuẩn bị hành động. Giải pháp chính trị của
Ngô Đình Nhu đã tự tuột khỏi tầm tay của mình.
Làm
thế nào để những nhà lãnh đạo ở Hà Nội có thể chấp
nhận việc “người anh em” Ngô Đình Nhu đã tự ví họ
như những con chiên, huống hồ là “những cao chiên lạc đàn”
? Phải nói những con chiên “cùng đàn” của ông nằm trọn
vẹn trong Dinh Độc Lập, trong Đảng Cần Lao Nhân Vị, trong
tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa, cộng thêm 8 phần mười trong
số gần một triệu người di cư Công giáo, và ông chính là
con chiên đầu đàn (ABEL). Và những kẻ giết ông mới đúng
là những con chiên “lạc đàn” (CAIN). Nhìn thấy
được điều đó, nên “nhà văn” (bất đắc dĩ) Hoàng Nguyên
Nhuận đã viết: “Về nhiều phương diện, Việt Nam Máu Lửa
Quê Hương Tôi (Hồi ký Đỗ Mậu) có thể là một quả
tạc đạn nổ bất ngờ giữa những kẻ hoặc đã muốn đào
sâu chôn chặt Ngô Đình Diệm để chôn vùi luôn tội ác của
chính mình như CAIN núp dưới bầu trời để chạy tội sát
nhân, hoặc những kẻ đang muốn quật mồ Ngô Đình Diệm
và các anh em ông, lột da của họ thuộc làm tấm áo khoác
che đậy cho những tội toa rập ngày trước và những âm mưu
hoạt đầu vô vọng trong tương lai.” (Từ Chốn Lưu
Đầy, HNN, Thanh Văn xb. 1990, trang 99).
Là
một kẻ đi sau, nhưng Hoàng Nguyên Nhuận đã vượt qua sự
tinh tế của Ngô Đình Nhu mất rồi !
III.
Ngọn Đuốc Thích Quảng Đức:
Với
chế độ gia đình trị dựa trên quyền lực Thiên Chúa giáo,
và với bộ óc triết học dẫn đạo cho hành động chính
trị của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, biến cố đàn áp phật
tử đẫm máu vào đêm 8/5/63 ở Đài Phát Thanh Huế là một
yếu tố đương nhiên phải xảy ra, hoặc sớm hoặc muộn
hơn thôi. Chính sách Công-giáo-hóa miền Nam VN từ vĩ tuyến
17 trở xuống (kế hoặch xa) là một thực tại chính trị,
nếu ông Ngô Đình Nhu muốn đương đầu (hay thỏa hiệp) với
chế độ Cộng sản ở miền Bắc; hoặc giả cơ hội thỏa
hiệp chưa đến thì sẽ thi hành một cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa Thiên Chúa giáo, để chuẩn bị thời cơ. Mặt
khác cần phải cô lập để trung tính hóa (neutralizing) trước
khi dùng văn hóa và triết học để tinh thần Thiên Chúa giáo
thâm nhập vào đầu óc "họ" - thành phần mà ông Ngô Đình
Nhu cho rằng đa số là những người phật tử cà lơ phất
phơ / phật tử “dỏm” (“Nomadic Buddhist”), tức là loại
phật tử không đến chùa, không quy y, không tham gia đoàn thể
không thể gọi là những người theo đạo Phật !.
Do
đó, đàn áp Phật giáo chỉ là một bước đầu trong mục
tiêu xa là nhằm tiêu diệt Phật giáo. Những người lãnh đạo
Phật giáo ưu tú vốn đi ra từ xương thịt dân tộc nhạy
cảm trước âm mưu này hơn ai hết, nên tranh đấu bất bạo
động là phương tiện duy nhất để bảo vệ sự tồn tại
của một tôn giáo dân tộc. Nói như tác giả Hoàng Nguyên
Nhuận, “Không có biến cố Phật Đản ngày 8/5/1963 thì cũng
chưa chắc đã có vụ thảm sát ở Đài Phát thanh biến Huế
đêm 8/5. Không có vụ thảm sát ở Đài Phát thanh Huế thì
cũng chưa chắc đã có vụ tự thiêu của Thượng Tọa Quảng
Đức ngày 11/6.” (‘Ánh đuốc Quảng Đức’, web Chuyển
Luân tháng 5) chỉ là một hệ luận thu hẹp vấn đề. Nhìn
vào toàn bộ lịch sử và bản chất chính trị qua 9 năm xây
dựng chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, lẽ ra phải nói: Không
có biến cố Phật Đản ngày 8/5/1963 thì cũng sẽ có một
biến cố tương tự, có thể sẽ đẫm máu hơn, hoặc tinh
vi hơn. Phật giáo, để đối phó với sự đàn áp, tinh thần
đối kháng duy nhất để bảo vệ tôn giáo từ bi là chấp
nhận sự hy sinh thân mạng. Tự thiêu là sự hy sinh cao cả
nhất của tinh thần đấu tranh bất bạo động.
Ngày
11 tháng 6/ 63, Thuợng Tọa Thích Quảng Đức mở đầu lịch
sử Việt Nam bằng hành động tranh đấu uy dũng hơn tinh thần
Gandhi, nhân bản và từ bi hơn tinh thần tự sát Nhật Bản,
tự đốt lên ngọn đuốc lay động lương tâm bạo lực, những
nhà cai trị độc tài, bản chất chính trị hung ác; trong 41
ngày Phật giáo Việt Nam đã không còn tìm thấy tia hy vọng
nào ở cuối đường hầm trong thiện chí thay đổi của chính
quyền.
Ngọn
đuốc Quảng Đức đã lay động lương tâm nhân loại, xao
xuyến trái tim của nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ… Hai ký
giả O’Leary và Seymour đã viết: “Tại sao Mỹ lại ủng
hộ một chế độ dấn thân vào chuyện bực hại tôn giáo?
Tại sao Tổng thống kennedy đem quân đến giúp một chế độ
của một người đã đẩy dân trong các trại tập trung ?.”
[iii]
Trong
nuớc, ngọn đuốc Quảng Đức đã làm cho lòng dân bừng dậy
và đoàn kết thành một khối, kể cả 10% phật tử trong tổng
số 800 ngàn dân di cư 54, cùng ủng hộ cuộc tranh đấu bạo
lực kỳ thị tôn giáo, dù trong tâm tư vẫn cố giữ thế
đứng chính trị “di cư vì chống cộng”. Hai khối Công
giáo phân ly âm thầm Bùi Chu-Phát Diệm và Công giáo ủng hộ
triệt để TGM NĐT rạn nứt thêm, nên ánh mắt của người
Công giáo di cư nhìn lên tổng thống “đại ân nhân” đầy
phân vân và e ngại…
Đặc
biệt, ánh đuốc Thích Quảng Đức đã lay động trái tim của
Tổng thống Diệm, khi trưa ngày 11/6 Ngoại trưởng Vũ Văn
Mẫu và Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ vào dinh gặp tổng
thống, “ông Diệm đã nói những lời chí tình” : “Toàn
dân bầu tôi làm Tổng thống. Tôi đâu có phải chỉ là Tổng
thống của các người Công giáo, lúc còn nhỏ, mẹ tôi vẫn
dẫn tôi đến chùa Diệu Đế…” Ngoại trưởng Vũ
Văn Mẫu đã nhìn thấy “Ngọn lửa Bồ Tát quả có hiệu
lực soi sáng tâm hồn Tổng thống Ngô Đình Diệm.”
(‘Sáu tháng Pháp nạn’, VVM, GĐ xb., trang 277).
Nhưng
chỉ có trái tim của hai vợ chồng ông Cố vấn là không hề
lay chuyển…
Từ
ánh đuốc của Ngài Quảng Đức đã thắp sáng thêm sự hy
sinh của tám vị sư khác mong chuyển hóa lương tâm của chế
độ (1963), và nối tiếp những “ánh đuốc” đấu tranh
bảo vệ cho hòa bình của đất nước vào những năm kế tiếp
sau cái chết của hai anh em Tổng thống, nối tiếp là các
chế độ độc tài quân phiệt, nhất là trong năm 1967 có đến
14 phật tử khác đã hy sinh. “Ánh đuốc” Quảng Đức cũng
đã soi sáng lương tâm của một tín đồ Tin Lành là anh Norman
Morrison, tự thiêu ngày 2/11/1965 để chống lại cuộc chiến
tranh phi nghĩa ở VN. Hai năm sau, nữ phật tử Nhất Chi
Mai cũng tự nguyện thắp lên ngọn đuốc từ bi để chống
lại tập đoàn quân phiệt hiếu chiến và tàn bạo Thiệu-Kỳ.
Trước khi hy sinh, Nhất Chi Mai đã ca ngợi sự hy sinh của
anh Norman bằng bài thơ:
Tại
sao một người Mỹ đã tự thiêu mình?
Tại
sao cả thế giới chống chiến tranh?
Nhưng
tại sao người Việt Nam vẫn còn im lặng
Không
dám cất tiếng gọi cho hòa bình?
(Why
did an American self-immolate?
Why
did the whole world protest against the war?
Why
have the Vietnamese been silenced
And
would not dare to call for peace?)
(The
Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-66, Quán
Như, nhà xb. Văn Nghệ, 2002, page 268)
Qua
những ngọn đuốc tâm linh từ Quảng Đức thắp sáng mười
phương, giờ đây có thể khẳng định mà không sợ đại
ngôn nữa : tự thiêu để chống lại cường quyền, bạo lực,
thắp sáng niềm ước vọng hòa bình nhân loại đã trở thành
một “cá tính quốc gia” (national character) của người Việt
Nam!.
IV.
Vài dòng về “Rồng Phu nhân”
Sau
này, có nhiều người thân cận, hay từng được hưởng ơn
mưa móc của chế độ đã kết án Bà Nhu đã làm sụp đỗ
chế độ là lời kết án đầy cảm tính. Bản chất của
chế độ, con người chính trị của ông Ngô Đình Nhu không
đơn giản để cho vợ được tự do làm hư chuyện. Bà Trần
Lệ Xuân có thể hiểu một cách đơn giản như thế này: Bà
xuất thân từ gia đình quyền quý, sống trên nhung lụa và
được chiều chuộng quá mức của một gia đình Phật giáo.
Thương yêu con nhưng không quá nghiêm khắc trong vấn đề giáo
huấn con cái. Bà là phụ nữ xuất thân từ trường Tây, dù
ở cấp nào đi nữa cũng chỉ biết văn hóa văn minh Tây mà
thôi. Khi lấy người chồng đang ở vai trò nắm giữ quyền
lực, Bà là một mẫu người phụ nữ điển hình của các
quốc gia chậm tiến: thương chồng, săn sóc chồng (như có
giai thoại đã được nghe Bà đã săn sóc sức khỏe ông Nhu
bằng sự kiểm sóat từng điếu thuốc lá ông hút v.v…),
xây dựng cho sự nghiệp của chồng đi lên, đó là tinh thần
“noblesse oblige”. Cho nên, Bà đâu cần biết tới “Lòng
em có đất có trời, có câu nhân nghĩa có lới hiếu trung.”
!
Việc
hôn nhân của một người đàn ông trong đời, lắm khi còn
là vì duyên nghiệp, phúc đức của mỗi người. Giá như Bà
Nhu thời tuổi trẻ từng có dịp đến chùa, từng biết thắp
nhang quỳ lạy Phật, đọc được một vài cuốn sách Phật,
thì Bà đâu nỡ lòng nào gọi cuộc tự thiêu của một vị
Sư là “nướng thịt”!. Ngược lại, nếu Bà kết hôn với
một người chồng Phật giáo, cạn hay sâu, thế nào cũng ẩn
hiện một tấm lòng từ ái thì sẽ dung hòa được cá tính
nam chi của Bà Nhu. Sự kết hợp hôn phối của Bà với Ô.
Nhu tựa như Rồng gặp Nước, ở trong một hoàn cảnh có người
chồng ở địa vị cao nhất nước, nên sinh cớ sự..
Trong
thời gian đi giải độc ở Mỹ, Bà đã bộc bạch với ký
giả “chồng tôi rất không vui với.. một phía thì ông anh,
phía kia thì vợ. Ông cho rằng cả hai như những “đứa bé”
trong rừng. Ông nói với anh mình rằng, “Anh nên làm tu sĩ,”
và nói với tôi, “Còn Bà thì nên câm miệng lại … không
được tuyên bố bất cứ điều gì.” [iv]
Thế
mà Bà vẫn cứ tuyên bố vung vít, phát biểu những câu mất
hết cả khôn ngoan chính trị; điều đó chứng tỏ không những
ông Nhu chiều chuộng vợ, mà trong chiều sau kín đáo , ông
còn “tâm phục” vợ nữa.
Kết
luận gì về người phụ nữ độc đáo có một không hai này
: độc đáo từ nghĩa “tệ” nhất lẫn “cao” nhất.
Đặt ra ngoài thảm nạn Phật giáo do chế độ tạo ra, lần
đầu tiên sau mười thế kỷ dựng lại nước, Bà là người
phụ nữ Việt Nam có được cơ hội trong vòng một tháng “đại
náo” Hoa Kỳ - một siêu cường quốc thế giới lại là kể
hổ trợ kề vai sát cánh với chế độ, từ phía Đông (New
York) sang tới phía Tây (Los Angeles) nước Mỹ, tuyên bố những
lời bạo tợn, đanh thép không chút ngượng ngùng, sợ hãi.
Đó là lời lẽ của những lãnh tụ nam nhi độc tài, phát-xít.
Có chăng các bà mệnh phụ phu nhân ở Tòa Bạch Ốc khi xem
truyền hình thấy những cử chỉ, hành vi, lời nói của Bà
vừa nổi da gà, vừa thích thú !? Ở miền Nam, có phải
vì cảm phục hành động của Bà Nhu mà về sau cố học giả
Hồ Hữu Tường đã nổi máu anh hùng, cũng muốn “Tiểu phi
lạc đại náo Hoa Kỳ” ?. Tôi không muốn viết những
lời biện hộ dùm cho Bà làm gì trong lúc này, chỉ vì nhân
cơ hội lật lại trang sử Phật giáo năm 63, để viết cho
ngay thẳng về một tâm lý có thật: Ngoại trừ một số nữ
phật tử lớn lên trong thế hệ 63, nhớ lại bà đã tuyên
bố những lời thật thất lễ, thất đức về vụ tự thiêu
của HT Thích Quảng Đức và các vị sư sau đó, đa số các
phụ nữ Việt Nam trẻ khác ở nước ngoài có dịp đọc lịch
sử Việt Nam cận đại, khi biết đến những ngày tháng bà
đến Mỹ “giải độc” cho chế độ đã công khai hoặc
âm thầm ngưỡng mộ, thán phục Bà… nếu biết bỏ quên
tác dụng của ngôn ngữ, chỉ nghĩ đến hành động, hành
vi, thái độ thì chính Bà đã mang lại niềm tự hào, tự
hãnh vì thỏa mãn được tự ái dân tộc cho người phụ nữ
Việt Nam nói chung, được thế giới biết đến.
V.
Sách, đọc một cuốn… thì đã sao !?
Trong
tác phẩm “Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam” (Văn Nghệ xb. 1992), tác giả Hồ Sĩ Khuê
nói : - như ai khác, ông cũng biết sợ người chỉ đọc một
cuốn sách, nhưng sợ nhất là những người suy nghĩ một chiều.
Nhưng sau khi đọc hết cuốn sách của ông thì tôi nhận thấy
: nói về giai đoạn lịch sử trước khi đất nước bị chia
cắt thành hai miền cho tới ngày thống nhất, và kéo dài hai
mươi năm sai lầm sau đó, thì có đọc một cuốn sách như
sách ông viết cũng đủ rồi. Bởi hình như tác giả đã dành
trọn đời mình để chỉ viết “một cuốn sách”, nên nói
nó là tác phẩm lịch sử cũng được mà gọi là triết lý
chính trị hòa giãi dân tộc cũng không sai. Vì lẽ ông Hồ
Sĩ Khuê không muốn làm một sử gia, một lý thuyết gia chính
trị, một người viết hồi ký, nhưng ông muốn làm thuyết
khách chỉ đường cho những ai muốn hành động vì lòng yêu
nước. Từ vai trò của một người từng đóng góp từ những
suy tư chính trị để xây dựng nền móng tư tưởng dẫn đạo
cho chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, Hồ Sĩ Khuê đã tự ý rút
lui khỏi vòng công danh bất đắc dĩ khi đã linh cảm nhận
ra mầm mống sai lầm của ông Ngô Đình Nhu, và 30 năm sau ngồi
vẽ lại một bức tranh toàn diện về những mâu thuẫn chính
trị của hai phía anh em thù địch trong bối cảnh mâu thuẫn
chính trị quốc tế. Thành ra còn có ai có đủ thầm quyền
hơn nữa khi kết luận: “Ông Diệm sụp đỗ không vì Cộng
sản, không vì Phật giáo. Mà hoàn toàn vì chính ông” (HSKhuê,
trang 396).
Và
tại sao tác giả lại vạch cái mốc: “Lịch sử phải
bắt đầu từ ngày 30/4/1975” ?
Sau
ngày thống nhất, trong hai mươi năm đầu với sự sai lầm
chính sách toàn diện của chế độ Cộng sản, đã làm cho
nhân dân miền Nam vọng tưởng để hối tiếc chế độ Đệ
Nhất Cộng Hòa của Diệm-Nhu; và mười năm sau mặc dù Việt
Nam đã đổi mới, chọn con đường kinh tế thị trường để
phát triển đất nước… thế hệ trẻ lớn lên sau chiến
tranh càng lúc càng gần gũi, thân thiết với đời sống vật
chất, văn hóa Mỹ, đạo đức suy đồi, xã hội hỗn loạn,
càng làm cho người dân miền Nam nhớ lại quá khứ lại càng
thêm kính trọng hai ông Diệm – Nhu.
Hơn
nữa, sau ba mươi năm với thực tế trải nghiệm trước mắt,
giờ đây “Người miền Bắc với kinh nghiệm ông Hồ làm
sao không thèm “chí sĩ Ngô Đình Diệm” như lời ông HSKhuê
nhận xét ! “Tinh thần Ngô Đình Diệm” kéo dài theo
chiều rộng của cả nước. Không ngờ câu tuyên bố
của Bà Nhu với ký giả Mỹ sau ngày đảo chánh, đã trở
thành lời tiên tri : “Tôi cho quý vị biết nếu như gia đình
họ Ngô đã bị giết một cách man rợ, thì hậu quả của
nó sẽ chỉ mới bắt đầu. Bắt đầu của câu chuyện.”
(“I tell you that if really the Ngo family have been treacherously killed,
in that effect it will be only the beginning. The beginning of the story.”
– Public Broadcasting Services, PBS.org, 29/3/05).
Nhưng
“tinh thần Ngô Đình Diệm” là gì, nếu không hiểu nôm
na là một thứ đạo đức “đặc thù”, mang “dâng cả
nước Việt Nam lên Đức Mẹ, làm như Thiên Chúa là quốc
giáo” ? (theo HSK, trang 395); hay tinh thần đó chính là bộ
óc Ngô Đình Nhu đã được chứng thực là một thất bại
trên một nửa nước ?
Dù
sao, với hiện trạng trên đất nước (phát triển kinh tế
giả tạo, xã hội suy đồi), nhìn lại từng giai đoạn bước
ngoặc lịch sử của quá khứ (theo sự phân chia của nhà nghiên
cứu sử học Trần Xuân An, web GĐ tháng 5/05: 1958-1985, 1930-1945,
1954-1975, 1975-1989), chặng đường lịch sử thứ năm (1954-1975)
của chế độ hai anh em Diệm-Nhu có tội mà cũng có công.
Phải có sự công bằng lịch sử để ghi nhận cái công đó
của hai ông.
Từ
đó, hành trình giải hoặc lịch sử, giải hoặc tôn giáo
của nhóm Giao Điểm là nhắm tới mục tiêu hóa giải hận
thù chính trị, tôn giáo, kết tụ nhân tâm đoàn kết dân
tộc để cùng nhau đóng góp tùy sức lực, tùy vị trí của
mỗi người đưa đất nước đi lên.
--Về
lịch sử: Đảng Cộng sản VN, kẻ nắm được nằm ngọn
cờ giải phóng dân tộc, đưa tới thắng lợi hoàn toàn năm
1975, chấm dứt cuộc trường kỳ kháng chiến hơn một trăm
năm, kể từ ngày kinh đô Huế thất thủ.
Con
đường cộng sản của Nguyễn Ái Quốc là một định mệnh
lịch sử, xuất phát từ những “giọt nước mắt” yêu
nước khi tìm đến với tư tưởng Lê-nin. Dù với định mệnh
lịch sử đưa đẩy ông phải đi làm “bồi” cho Pháp đi
nữa, rút cuộc cũng đi tới con đường cứu nước. Cứu nước
một cách khác. Sau này, những người thừa kế tinh thần Hồ
Chí Minh có đi theo con đường quốc tế vô sản đi nữa cũng
chỉ vì những “gọng kềm lịch sử”, quyền lợi đất
nước đối với họ vẫn là trên hết. Là những kẻ đã
từng đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Tàu… thì dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản VN, họ có thể đánh bất cứ
một quốc gia nào trên thế giới này, nếu các quốc gia đó
chủ tâm xâm lăng, muốn biến VN trở thành nước nô lệ !.
Do đó, không có một thế lực chính trị nào có quyền phủ
nhận công lao xương máu của Đảng Cộng sản VN.
--Nhưng
do hậu quả của chiến tranh Bắc – Nam kéo dài từ những
mâu thuẫn lịch sử đã bị đánh mất một chặng đường
hòa giải đúng lý ra –tốt đẹp nhất, đã bị tuột khỏi
tầm tay của hai phía, xương máu anh em đổ ra càng nhiều,
càng làm cho hận thù thêm chồng chất. Do đó, để hóa giải
mâu thuẫn chính trị quá khứ, phù hợp với ước vọng mới
của thế hệ trẻ lớn lên từ sau chiến tranh, Đảng Cộng
sản VN phải chấp nhận thế đứng chính trị của thành phần
dân tộc (có lẽ chiếm đại đa số).
--Kinh
tế thị trường và phát triển: Kinh tế thị trường là xu
thế phát triển của thời đại toàn cầu hóa. Một quốc
gia không thể phát triển kinh tế mà đứng một mình, một
cõi, hay chỉ nhắm thu hẹp trong khu vực địa lý chính trị
thu hẹp. Kinh tế thị trường tạo điều kiện phát huy tinh
thần sáng tạo, thi đua cạnh tranh chính đáng, gia tăng năng
lực sản xuất, trình độ kỹ năng của công nhân và tiến
bộ khoa học kỹ thuật của chuyên viên – là ưu tiên hàng
đầu để thi triển với nền kinh tế quốc tế.
Giai
cấp “công nhân mới” không còn là giai cấp vô sản của
thế kỷ 19, đầu 20 như Mác, Lê-nin đã nhìn thấy. Giai cấp
công nhân mới không còn bị bóc lột dễ dàng, đời sống
bản thân và gia đình thoải mái hơn, có trình độ kỹ năng
thời đại, có hoàn cảnh tạo được đời sống vật chất
tương đối hoàn hảo. Một gia đình công nhân cò khả năng
mua sắm Tivi, tủ lạnh, xe gắn máy… hoàn toàn không có mặc
cảm nào với chủ nhân tư bản, hay các thành phần quản trị
cấp cao.. lái xe hơi, ở nhà lầu. Thế nhưng, giai cấp công
nhân mới của nền kinh tế thị trường nói riêng, nền kinh
tế quốc gia nói chung còn phải đương đầu với lòng tham,
bất công, bóc lột… công nhân dưới hình thức khác, như:
luật lệ công ti bất công, tiền lương, hưu bổng, lao động,
hay những quyền lợi khác nói chung không được đối xử
xứng đáng, thì Đảng Cộng sản VN –kẻ đại diện chính
thức cho giai cấp công nhân mới phải đấu tranh, bảo vệ
cho giai cấp họ, dưới các hình thức liên kết với các nghiệp
đoàn công nhân quốc tế, của các công ti đa-quốc-gia, các
cơ quan tổ chức luật pháp quốc tế … để bảo vệ quyền
lợi cho giai cấp công nhân dân tộc. Đó là ý nghĩa chuyển
hóa của tinh thần “cách mạng thường trực” ('permanent
revolution') vậy.
--Vấn
đề dân chủ: Trong giai đoạn đã có sự hòa đồng dân
tộc, nhất thống nhân tâm, sự ổn định chính trị là điều
kiện thiết yếu để xây dựng đất nước, do đó chúng ta
không thể đòi hỏi phải có một xã hội tự do phóng khoáng,
dân chủ thiếu ý thức như các quốc gia Âu Mỹ. Hiệu quả
và kết quả của kinh tế thị trường là thước đo để
từng bước tiến tới sự mở rộng dân chủ và dân chủ
thực sự. Đó là yếu tố vừa khách quan vừa chủ quan (trong
đó yếu tố con người tự giác là quan trọng nhất); cho nên
chiều dài đi tới dân chủ với thời gian nhanh hoặc chậm
là tùy thuộc vào hai yếu tố này.
--Về
tôn giáo, tín ngưỡng: Dân tộc tính của người Việt Nam
là lòng bao dung. Không ai có thể khinh thị, chế nhạo, coi
thường hay chống lại niềm tin của kẻ khác, nếu như tôn
giáo, tín ngưỡng này không chống lại quyền lợi của dân
tộc – hay liên kết với ngoại bang để mưu cầu chính trị,
khuynh loát quốc gia. Giải hoặc tôn giáo là nhằm nêu lên
sự thật về một tôn giáo có tội với dân tộc, đường
xa là trang bị cho dân trí một tinh thần nhân bản “thế
tục” vượt lên trên các sức cản (inertia) của những tôn
giáo hệ thống, mù quáng. Thế tục là mục tiêu của cuộc
sống hiện tại, trên thế gian này, chứ không phải là viễn
cảnh của thiêng đàng, địa ngục. Hạnh phúc hay khổ đau
là vấn đề của thực tại. Tinh thần Nhân bản là lòng
nhân, lòng từ bi khi đối đãi với tha nhân, là lòng biết
cảm nhận tình thương yêu, hy sinh chịu “khổ nạn” của
kẻ khác.
Ông
bà tổ tiên chúng ta từng thờ cúng các bậc tiền nhân, có
công dựng nước, giữ nước, tin tưởng các thần linh đã
hổ trợ bảo bọc cho xóm làng, cho mưa thuận gió hòa trong
sản xuất, che chở cho các tai biến thiên tai; dân ta thờ các
anh hùng liệt sĩ, hay các vong hồn uổng tử đã chết trong
chiến tranh… không lý gì chúng ta lại ngăn cấm các tín đồ
tin đạo Thiên Chúa đi lễ nhà thờ, người Hòa Hảo thờ
Hùynh Phú Sổ, người Cao Đài thờ Thiên Nhãn một mắt, người
dân thiểu số đạo Hồi thờ Mahommed !! Nhưng, để bảo toàn
an ninh, quyền lợi văn hóa chính trị quốc gia, chúng ta phải
phân biệt giữa hành đạo và truyền đạo. Hành đạo là
sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng đã có nề nếp trong quốc
gia; còn truyền đạo là hành động xâm nhập mới vuợt qua
biên giới quốc gia, nhằm liên kết, tổ chức phối hợp với
các tôn giáo nội địa trong mục tiêu “ngoài tôn giáo”,
hoặc nhằm tạo sự kích động, xáo trộn các sinh hoạt tôn
giáo, tín ngưỡng đang sống trong hòa ái, yên lành. Cho nên,
nhà nước có nhiệm vụ phải kiểm soát, điều hướng các
hoạt động truyền đạo từ nước ngoài.
Tóm
lại, những ngày lễ hội của các tôn giáo lớn còn là dịp
để cho dân chúng thoải mái tâm hồn, nghĩ ngơi, trầm lắng
tâm linh để nhớ về cội nguồn, như: ngày Noel là dịp để
cho bà con cô bác không phân biệt tôn giáo ăn nhậu một bửa
‘réveillion’ thỏa thích, cho những thanh niên thiếu nữ có
cơ hội tổ chức “boom”, “bal de famille” v.v… nhảy nhót,
xả hơi vui thú sau một năm dài lao động…; Ngày Phật Đản
để cho đa số dân chúng phật tử có cơ hội trầm tư, tôn
kính lòng từ bi của Đức Phật, nhắc nhỡ tinh thần tự
thắp đuốc lên mà đi của mỗi cá nhân, ngày lễ Vu Lan để
cả nước nhớ tới lòng hiếu để với người Mẹ Việt
Nam, hướng về tổ tiên anh liệt, xá tội vong nhân, các oan
hồn uổng tử đã chết oan khiên vì chiến tranh, loạn lạc…
Hậu
Từ:
Đúng
ra tôi phân vân không muốn viết bài này, khi nhận được
lời kêu gọi đóng góp tham luận nhân ngày Hội thảo về
“cuộc tự thiêu của Ngài Quảng Đức” của thầy Mạnh
Thát thuộc Viện Nghiên Cứu Phật Học ở Sài Gòn, vì nghĩ
rằng sẽ có nhiều anh chị phật tử khác xứng đáng hơn
để viết và viết hay hơn tôi nhiều. Nhưng có những
tác động khách quan bên ngoài đưa đẩy đến, tôi đành miễn
cưỡng viết thôi. Một mặt, để giải tỏa những lời nhận
xét con người của tôi về chế độ Ngô Đình Diệm, khởi
phát từ bài viết “Vài Suy Nghĩ Chung Quanh Dư Luận Về Cuốn
Hồi Ký của tác giả Đỗ Mậu” cách nay trên hai chục năm
rồi, và lai rai nhiều bài viết sau đó dưới các bút hiệu
khác. Sự mâu thuẫn trong tôi chỉ vì mỗi khi nhắc lại cái
chết của hai Ông Diệm-Nhu, hay tình cờ nhìn thấy các bức
hình nằm chết của hai ông ấy, tôi chịu không nỗi: vừa
thương vừa hận, vừa uất ức vừa suy nghĩ cũng “phải”
thôi… Đó là nguyên nhân mâu thuẫn nội tâm trong con người
tôi, chứ không phải là tâm lý “gian xảo” gì cả!
Điều
sau cùng muốn nói: Cách nay năm năm, tôi tình cờ được một
Bà cụ người Huế đến ở chung, trông con người Bà phảng
phất nét sang cả, lại có hành tung bí ẩn, lạ lùng… Tôi
vô tâm, nên phải mất năm năm sau, đúng vào dịp này tôi
mới phát giác ra Bà là ai. Đó là chuyện linh thiêng, nhờ
tôi nhìn chăm chú vào đôi mắt sống động của người con
gái của Bà đã tử nạn như đang nói với tôi điều gì,
và tôi bàng hoàng tỉnh ngộ, nhận ra Bà là ai. Bài viết này
cũng là lời tạ lỗi vì những xúc phạm trong các bài viết
ở đâu đó của tôi, chỉ vì sự thật lịch sử thôi và
không hề chứa đựng sự ác ý nào. Xin cảm ơn những ly “Café-au-lait”
vào một vài buổi sáng Bà pha cho, ngon như cà-phê Mụ Tôn
bên góc đường trước cổng trường Âm nhạc & Kịch nghệ
Huế thuở nào. Cầu chúc cái chân bị té của Bà lành hẳn
và kính chúc Bà sống lâu trăm tuổi.
Riêng,
cảm ơn thầy Mạnh Thát đã cho tôi một cơ hội để tâm
hồn được an nhiên, nhẹ nhõm.
Nguyễn
Văn Hóa
Tuesday,
June 07, 2005