BỒ TÁT
THÍCH QUẢNG ĐỨC
VỚI QUẢ TIM
BẤT DIỆT
Cư
Sĩ Tuệ Minh Đạo Nguyễn Đức Can
NGUYÊN
NHÂN :
Tất
cả các chi tiết từng giờ, từng ngày trong diễn tiến
cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ khơiû đầu đến kết
thúc bằng cuộc cách mạng lật đổ một chế độ độc tài
gia đình trị, tôn giáo trị, của giòng họ Ngô năm 1963, đã
được các cơ quan truyền thông báo chí phổ biến từ 42 năm
qua,. Lịch sử vẫn là lịch sử, không ai có thể chối cãi
được, ngoại trừ những kẻ ngoại đạo, đã và đang tìm
mọi cách để vu cáo, xuyên tạc lịch sử hầu đánh lừa
các thế hệ mai său. Trong phạm vi bài này tôi chỉ tóm
lược một số nguyên nhân chính để đưa đến sự tự thiêu
của Bồ Tát Thích Quảng Đức năm 1963, hầu bảo tồn đạo
pháp và dân tộc.
Vụ
khủng hoảng chính trị ở Miền Nam VN bắt nguồn từ lệnh
cấm treo cờ Phật Giáo nhân mùa Phật Đản, phật lịch năm
2507 (ngày 8–5-1963) của chính phủ Ngô Đình Diệm. Nguyên
Tổng Giám Mục Huế là Ông Ngô Đình Thục (anh ruột của
Ông Ngô Đình Diệm), nuôi tham vọng được thăng chức Hồng
Y, ra lệnh cho chính quyền địa phương cấm phật tử treo
cờ Phật giáo trong dịp lễ Phật Đản. (Hành động này tương
tự như một vị Hoà Thượng áp lực chính quyền cấm giáo
dân đạo thiên chúa treo cờ Vatican trong dip lễ mừng Chúa
Giáng Sinh). Các Tăng, Ni phật tử cảm thấy bị nhục
mạ, tìm cách chống đối, kể cả Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư
lệnh Quân đòan I. Đúng ngày Phật Đản, Thượng tọa Trí
Quang đọc diễn văn tại chùa Từ Đàm, với sự hiện diện
của khá đầy đủ các viên chức chính quyền và quân sự,
đòi hỏi bình quyền tôn giáo. Tối đó, Phật tử Huế biểu
tình chống lệnh cấm treo cờ, rồi tụ họp trước đài phát
thanh để yêu cầu phát lại bài diễn văn của Thầy Trí Quang.
Chính phủ đàn áp vô cùng dã man. Cuộc tranh đấu bùng nổ
kháp miền Nam. Mãnh liệt nhất là tại cố đô Huế và Đà
Nẵng.
Lệnh
cấm treo cờ Phật Giáo nhân dịp Phật Đản là một sai lầm
vô cùng nghiêm trọng và đây là một ngọn lửa đưa vào thùng
thuốc súng để có dịp bùng nổ, său bao nhiêu năm vẫn âm
thầm âm ỷ, mà chưa có dịp bộc phát. Său này,
chính phủ Ngô Đình Diệm và cá nhân Ông Nhu tìm cách che đậy
sai lầm của họ bằng cách ngụy biện ràng Ông Diệm chỉ
cho lệnh cấm treo cờ nơi công cộng, và phải treo cờ tôn
giáo cùng với quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà. tức cờ vàng
3 sọc đỏ tại các chùa chiền. Sai lầm hơn nữa, Ông Ngô
Đình Nhu (em ruột của Ông Diệm) và tay chân vu cáo rằng những
người tham gia các cuộc tranh đấu là “cán bộ cộng sản”
hoặc “các phần tử chống đối chế độ một cách quá
khích”Lời vu cáo này trong khuôn khổ pháp luật đương thời,
có nghĩa chính phủ Ngô Đình Diệm được toàn quyền trừng
trị những kẻ phiến loạn trên, từ tù đầy tới tử hình.
Không hiểu tại sao anh em Ông Ngô Đình Diệm và thuộc hạ
có thể thản nhiên, lì lợm chụp cái mũ cộng sản cho những
người tranh đấu đòi bình đảng tôn giáo (Thiên Chúa giáo
và Phật Giáo), không đưa ra được một bằng chứng nào,
“Trong khi đó chính anh em Ông Diệm + Nhu đang tiếp tục bí
mật ve vãn Cộng Sản” qua đường dây Vatican và Pháp. Đâu
có ngờ chính khâm sứ Salvadore d’Asta của tòa thanh Vatican
và đại sứ Pháp Roger Lalouette lại mang bí mật của họ Ngô
tố cáo với Mỹ. Bởi vậy chảng những không tin lời tố
cáo Phật Giáo của chế độ Diệm, chính quyền Mỹ còn đi
đến quyết định “thay ngựa”, thật là trời bất dung
gian, đúng là “Mưu sự tại nhân và thành sự tại thiên”
Lấy thứ pháp luật man trá để dễ giết hại người, rồi
cũng có ngày bản thân và gia đình phải gánh chịu hậu quả
vì thứ pháp luật ấy. Những ai có tham vọng đại sự chớ
quên tấm gương ố máu của anh em Ông Diệm. “Mưu thâm thì
hoạ dược thâm”.
Biến
cố Phật Đản 1963, đã làm cho chính quyền Kennedy hoang mang
và tự hỏi ? Ho. Phật Giáo Việt Nam là ai đây ? Vì Ông cùng
các cố vấn thân cận của Ong chẳng ai hiểu gì về Phật
Gíao cũng không lấy gì làm lạ bởi đại sứ Frederick
Nothing và Giám đốc CIA John Richardson đều là những kẻ che
đậy sự thật và bênh vực chế độ nhà Ngô lúc đó, không
có báo cáo của hai ngành này thì làm gì có thể biết được.
Đã
đến lúc thời vận của nhà Ngô đã hết, nên giữa lúc tranh
đấu của Phật giáo đã nên đến cao điểm thì Đại Sứ
Nothing lại rời Việt Nam đi nghỉ phép thường niên để cho
phó Đại Sứ William C. Truehart xử lý thường vụ. Cho
nên chính quyền Kennedy đã vội chỉ thị cho Truehart phải
dùng mọi áp lực để khuyến cáo chính quyền Ngô Đình Diệm
phải ngừng đàn áp Phật Giáo và phải công khai giải quyết
các đòi hỏi của Phật Giáo. Do đó ngày 5/6/1963, Phó Tổng
Thống Nguyễn Ngọc Thơ được lệnh tiếp xúc với phía Phật
Giáo.
Ngày
14/6 chính quyền và Phật Giáo chính thức họp ở hội trường
Diên Hồng và hai ngày său. Ngày 16/6 thông cáo chung về năm
nguyện vọng của Phật Giáo đã được hai bên cùng ký kết.
Ngày 17 tháng 6 Phật giáo ra thông cáo tuyên bố đời sống
mọi sinh hoạt trở lại bình thường và thành tâm cầu nguyện
cho 5 nguyện vọng thông cáo chung được thi hành nghiêm chỉnh.
Quả thực không sai, phía chính quyền thì nhượng bộ nhưng
phía gia đình trị và tôn giáo trị không chấp nhận. Do đo,
chưa đầy một tuần lễ său là một chiến dịch do Ông, Bà
Ngô Đình Nhu và Ông TGM Ngô Đình Thục đã tận dụng mọi
phương tiện của nhà nước dùng các tổ chức Thanh Niên Cộng
Hòa, Hội Phụ Nữ Liên Đới, trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long,
đảng Cần Lao, thương phế binh, Công An mật vụ……….
Truyền thông báo chí thi nhau vu khống, mạ lỵ đàn áp,
cách chức, bắt giam, ám sát, bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu…..
Thế là Các nhà lãnh đạo Phật Giáo lại phải kêu gọi các
chư Tăng, Ni cùng đồng bao Phật tử vùng lên tái đấu tranh.
Cuộc
tranh đấu này quả thực gay go và phức tạp, Ngoại Trưởng
Vũ Văn Mẫu đã phải từ chức để phản đối hành động
đàn áp Phật Giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, Ong Trần
Văn Chương, dại sứ của chính phủ VNCH tại liên hiệp quốc
và là thân phụ của Bà Ngô Đình Nhu, cũng từ chức để
phản đối cuộc đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Dình
Diệm. Tướng Lê Văn Nghiêm tư lệnh Quân Đoàn I, lên
tiếng phản đối sự đàn áp dã man của phía chính quyền
thì bị cách chức, đa số các quân nhân ở Quân Đòan I đã
cùng đồng bào Phật Tử tham gia biểu tình, nhất là
ở tại Huế và Đà Nẵng. Thị Trưởng Đà Nẵng lúc đó
là Đại Tá Lê Quang Mỹ nguyên tư lệnh Hải Quân, bị cách
chức, său đó lạiï được Tổng Thống Ngô Dình Diệm cử
Đại Tá Trân Ngọc Châu ra hay thế. Trần Ngọc Châu có rất
nhiều kế hoạch thâm độc để đánh phá các cuộc biểu
tình của Phật Giáo lúc đó. Tại Huế và Đà Nẵng khí thế
tranh đấu đòi bình đảng tôn giáo (Thiên Chúa Giáo và Phật
Giáo) của Phật Giáo rất sôi đọng.
Tại
Sàogon lúc đó trụ sở chính của ủy ban Liên Phái Phật Giáo
vẫn đặt tại Chùa Xá Lợi, nhưng quí ngài lành đạo
Phật Giáo trong cuộc tranh đấu, thường xuyên di chuyển địa
điểm họp mật để đặït kế hoạch đấu tranh. Đến
ngày 9 tháng 6 năm 1963, xuyên qua những lần thảo luận giữa
ủy ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và Ủy ban Liên Bộ
của chính quyền Ngô Đình Diệm không đi đến thỏa thuận.
Trái lại chính quyền Diệm vẫn gia tăng các cuộc khủng bố,
đàn áp Tăng, Ni và Phật Tử. Trong tình hình đó nếu cứ
kéo dài các cuộc đấu tranh bình thường như từ trước đến
nay thì dần dần sẽ bị tan rã vì thiếu hình thức khác lạ
để có thể gây xúc động lương tâm con người. Nên quí
ngài lãnh đạo Liên Phái Phật Giáo lúc đó phải chấp nhận
hạnh nguyện xin được tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng
Đức.
Ngảy
11 tháng 6 năm 1963 (nhằm ngày 20 tháng 4 năm Quí Mão), tại
ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Saigon, - (nay là đường
Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Đình Chiểu TP HCM)- , Hòa Thượng
Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu, trước hàng ngàn
các Tăng, Ni và Phật Tử đứng gần đó để cầu nguyện,
cùng hàng trăm các phóng viên ngoại quốc đứng gần, xa và
trên các tòa nhà cao tầng để chứng kiến và thực hiện
các phóng sự rồi tìm cách lén lút đưa ra nước ngoài phổ
biến. .Lực lương an ninh của Diệm được điều
động đến để trấn áp và phá hoại cuộc tự thiêu nhưng
đều thất bại, vì các Tăng, Ni và Phật Tử quyết bảo vệ
bằng cách bao vây thành nhiều vòng trong tiếng niệm Phật
ngân vang cả một bầu trời, có người nằm ngăn cản trước
bánh xe cứu hỏa, xe tăng của lực lượng cảnh sát.
Chiều
ngày 11-6-63, chính quyền Diệm ra lệnh phong tỏa các chùa,
nhất là chùa Xá Lợi, nơi quàng nhục thân cố Hòa Thượng
Thích Quảng Đức. Khắp các nẻo đường dẫn về Chùa Xá
Lợi, cảnh sát được điều động đến để ngăn chặn làn
sóng người đang đổ dồn về chùa Xa Lợi. Tối hôm đó Ngô
Đình Diệm đọc bài diễn văn trên đài phát thanh Saigon, lên
án vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức và nói
“..do một số ngưồi đầu độc gây án mạng” và kêu gọi
đồng bào hay nhận định tình thế” lời lẽ qua thông địệp
đã bộc lộ sự độc tài khi tuyên bố “sau hiến pháp còn
có tôi” cái tôi đã có thẩm quyền hơn cả hiến pháp. Tiếp
theo là một lời tuyên bố nay lửa của bà cố vấn Ngô Đình
Nhu là “Một nhóm người đã nhẫn tâm mang nướng một Ông
thầy tu” thật là ghê tởm, khi mọi người nghe được điều
này đã phẫn uất tột cùng.
Ảnh
hưởng và âm vang về cái chết Vô Úy
của
Bồ Tát Thích Quảng Đức.
Sự
hy sinh phi thường, dũng cảm của HT Thích Quảng Đức với
hình ảnh ngài ngồi yên tư thế tọạ thiền trong ngọn
lửa hồng đã như làn sóng điện cực mạnh lan khắp
trong nước và thế giới, hàng triệu trái tim con người quàn
thắt trước sự hy sinh cao cả của Ngài. Báo chí, truyền
thanh, truyền hình đã loan truyền các tin tức và hình ảnh
của Ngài đang ngồi kiết già trong ngọn lửa rực cháy với
những lời ngợi ca khâm phục trên khắp năm châu. “Đây
là một gương Đại Hùng Đại Lực, tinh tiến bất chuyển
mà chúng ta thường nghe nói. Sự hy sinh cao cả của Ngài là
một tiếng chuông gọi đàn cho hàng tứ chúng.” Và cũng là
ngọn đuốc soi sáng lương tri những kẻ vô minh”.đồng thời
đã tiếp thêm sức mạnh lạ thường cho hàng triệu người
ở miền Nam, miền Trung sôi sục vùng lên bất chấp cường
quyền, bạo lực đã cùng nhău hiên ngang xuống đường đấu
tranh chống bạo tàn của chế độ Ngô Đình Diệm.
Ngày
12/6 tại Hoa Thịnh Đốn, đã đón nghe một cách xúc động
cuộc đấu tranh của Phật Giáo Việt Nam. và tờ New York Herald
Tribune đã viết ..”Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã biến
tấm áo Cà Sa với tấm thân tứ đại làm một giàn hỏa
thiêu cả một chế độ kỳ thị tôn giáo”. Tổng thống
Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một việc
rất hay là Ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ
Ông.
Mục
Sư Donakds Harring Ton (Mỹ) đánh giá cái chết của Hòa Thượng
Thích Quảng Đức giống như cái chết của Chúa Giê-Su, Michqel
Servetus, Jeanne d’Are cho rằng cái chết của HT Quảng Đức
cao cả hơn hành động mổ bụng của người Nhật. Vì “sự
tự thiêu của Ngài đã cứu vớt bao sinh linh chìm đám trong
khổ hận, kẻ đàn áp cũng như những người bị đàn áp
đều bừng tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son vào trang sử
huy hoàng của Phật Giáo ở Việt Nam”.Hội đồng bảo an
Liên Hiệp Quốc rúng động trước chính sách kỳ thị tôn
giáo tại miền Nam Việt Nam, dư luận Mỹ quay sang chống
Diệm và gia đình trị của Ông ta.
TRÁI
TIM BẤT DIỆT.
Său
khi ngọn lửa bọc quanh thi hài Hòa Thượng Thích Quảng Đức
vừa tàn. Tăng, Ni vây quanh Ngài và phủ lên một lá Phật
kỳ. Nhục thân của Ngài được đưa về quàng tại giảng
đường Chùa Xá Lợi. Său lễ nhập kim quan, hàng ngàn Tăng,
Ni và Phật Tử ngày đêm tụ tập về Chùa Xá Lợi để cầu
nguyện và canh phòng chính quyền Diệm cướp mất thi hài của
Ngài. Đến ngày 20 tháng 6 năm 1963. Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ
Phật Giáo và nhiều Tăng, Ni, Phật tử đưa nhục thân Ngài
đi hỏa táng tại An Dưỡng địa Phú Lâm.
Său
24 tiếng đồng hồ đốt trong lò với sức nóng 4000o C, Kim
quan và nhục thân Ngài đã biến thành tro bụi, nhưng một
kỳ tích ngoài tửơng tượng của mọi người, đó là quả
tim của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, lúc đầu ở trạng thái
mềm và său dần dần cứng như sắt. Đúng như tâm nguyện
của Ngài trước Tam Bảo khi phát nguyện tự thiêu “Xin thân
này làm đước cảnh tỉnh chế độ Ngô Đình Diệm và xin
cho trái tim này được tồn tại mãi”.
Thượng
Tọa Thích Thông Bửu Trụ Trì Chùa Quan Thế Âm là nơi Hòa
Thượng Thích Quảng Đức trú sứ, và Thầy Thông Bữu cũng
là trưởng tử của HT Thích Quảng Đức đả nói chuyện lại
rằng : …. . .Său đó Tăng, Ni đã đem hài cốt và Trái Tim
Bất Diệt của HT về Chùa Xá Lợi….. .Khi biết được trái
tim không cháy, chính quyền Ngô Đình Diệm luôn gây sức ép
căng thảng với Phật Giáo lúc bấy giờ đểu
nhằm mục đích chiếm đoạt lại hoặc phá hủy “Trái Tim
Bất Diệt “ này. Ủy ban Liên Phái Phật Giáo biết được
ý đồ đó đã họp và quyết định thay thế trái tim
thật thành trái tim giả.
Ngày
28 tháng 6 năm 1963, Chính quyền Diệm mở một cuộc tấn công
và đàn áp vào chùa Xá Lợi để chiếm đoạt trái tim. Họ
cũng lầy được trái tim, nhưng trái tim đó là trái tim giả,
còn trái tim thật đã được niêm phong cất vào tủ sắt và
bí mật cất vào một ngân hàng lưu giữ.
CẢM
NGHĨ VÀ KẾT LUẬN.
Hôm
nay nhân kỷ niệm 42 năm về sụ hy sinh cao cả và tuyệt vời
của Bô Tát Thích Quang Đức, với tư cách là một phật tử,
đã trải qua ba thời kỳ chinh chiến tai ï quê nhà đó là
thời Nhật, thời Pháp và thời Mỹ biết bao thăng trầm, với
tuổi đời 77 (song thất). Theo tôi đất nước thời chiến
có những nhu cần đạo đức, văn hóa thời chiến. Đất nước
thời bình có những nhu cầu đạo đức, văn hóa thời
bình. Tâm nguyện chung của những người phật tử trong nước
cũng như hải ngoại. Trong thời bình là đào tạo Tăng tài,
trẻ trung hóa nhận sự, lãnh đạo xã hội, hiện đại hóa
phương thức hoằng pháp và quản trị Phật sự, bảo tồn
di sản Phật giáo. Tương lai của Phật Giáo său này còn tồn
tại và phát triển là nhờ vào các vị Tăng Tài trẻ tuổi
như Thầy Tuệ Sĩ, tục danh là Phạm Văn Thương, Thầy Trí
Siêu Lê Mạnh Thát, Thầy Thích Nhật Từ, Thầy Thích Nguyên
Tạng. Thầy Thích Tâm Thiện .. .
Người
Phật tử Việt Nam bất cứ sống ở đâu dù trong nước hay
hải ngoại phải cố gắng vươn lên khỏi những vướng mác
của hội chứng, hòa nhi bất đồng, đồng nhi bất hòa, hãy
vượt qua khỏi những định chế, hình thức để hòa nhập
với ước vọng và quyết tâm củng cố tự lực, tự cường
và tự tin. Nếu cứ sa lầy vào những bận tâm chấp tánh,
chấp tướng, tham danh, tham lợi, thì Phật Giáo sẽ lệ thuộc
vào quyền lực thế tục. Phật giáo càng đi xa con đường
phục vụ đạo pháp. Giáo chủ của Phật Giáo là kẻ đã
từ bỏ quyền lực thế tục đương nhiên có sãn trong tay
để chứng đắc quyên lực tâm linh và cũng không cầu mong
quyền lực thế tục thị thực cho quyền lực tâm linh đó.
Đó là bài học Phật tử đã rút tỉa được qua kinh nghiệm
đắng cay của tình trạng tiến thối lưỡng nan “Ấn Quang
– Quốc Tự” trước năm 1975 và “Phật Giáo Quốc Doanh”
– Phật Giáo Quốc Gia –Phật Giáo Thống Nhất”. Hôm nay
nhân kỷ niệm năm thứ 42 ngày Bồ Tát Thích Quảng Đức tự
thiêu, con kính cần cầu xin quí Ngài, quí chư Tăng, Ni hãy
thực thi lục hòa của Đức Thế Tôn, để cùng nhău
xây dựng và bảo vệ đạo pháp và dân tộc.
Ở
hải ngoại, đặc biệt là tại Mỹ nơi tôi ở hiện nay có
khoảng hơn 300 ngàn người Việt cư trú đa số là Phật giáo,
quí chư tăng, Ni cũng khoảng mấy trăm vị , lơn nhỏ khoảng
30 ngôi chùa và tự viện. Thế mà chỉ có một lần tổ chức
tại Chùa Việt Nam ở Ornge County do Thượng Tọa Thích Pháp
Châu làm trưởng ban tổ chức và dưới sự chứng minh của
Hòa Thương Thích Mẫn Giác. Đó là vào ngày 20-6-1999. Ban tổ
chức chúng tôi lấy tên là : “BUỔI LỄ TƯỞNG NIỆM
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨ`C VÀ CÁC VỊ TIỀN BỐI HỮU CÔNG”
Chúng tôi đã mời được các vị khoa bảng, trí thức như,
thạc sĩ Nguyễn Cao Hách, Giáo Sư Phạm Nam Sách. Bác sĩ
Nguyễn Tường Bách em ruột của Cụ Nguyễn Tuờng Tam, Giáo
sư tiến sĩ Nguyễn Phúc Bửu Tập, Giáo sư Nguyễn Khắc
Hoạch, cựu khoa trưởng đại học văn khoa Saigon, Bác sĩ Tôn
Thất Niệm, Ông Trần Văn Nhật nói về thân thế và sự nghiệp
của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Nhân sĩ Phật Giáo Trần Văn
Kha đã trình bày nguyên nhân rất đầy đủ
về sự kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, có
chủ mưu theo hệ thống tôn giáo trị và gia đình trị.
Său
buổi lễ Ông Nguyễn Đưc Can đã thay mặt ban tổ chức
cám ơn quí Chư Tôn Đức Tăng, Ni quí vị quan khách và
mời tât cả quí chư Tôn Đức cùng quan khách xuống tầng
dưới đề xem triển lãm do các họa sĩ Nguyễn Đồng,
Nguyễn thị Hợp, Khánh Trường, Nguyên Khai, Nguyễn văn Trung,
Lương Văn Tỷ…. . . và thọ trai. Tôi đã viết bài phóng
sự về lễ kỷ niệm Bồ Tát Thích Quảng Đứ`c có phổ
biến trên các bao chí và in trong quyển sách “Trở Về Cội
Nguôn” phần phụ lục, do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành.
Nếu muốn biết đầy đủ hơn xin mở trang nhà Trong website
: www.thuvienhoasen.org bấm vào chữ Index, ra họ tên của tôi.
Bấm vào chữ Nguyễn Đưc Can sẽ ra các tác phẩm và bài viết
của tôi.
Trên
đây tôi chỉ sơ lược qua một số dữ kiện lịch sử
vè Phật Đản 1963, (Phật lịch 2507), là một dấu mốc lịch
sử cho người Phật Tử quyết tâm dấn thân vào cửa
tử để bảo tồn cho cửa sinh, Ông Phạm Thiên Thư đã thể
hiện ra hai câu thơ lục bát đó là :
Những
người chấp nhận đấu tranh
Là
khai tử để khai sinh lại mình.
Cư
Sĩ Nguyễn Đức Can
E-Mail
: ndcan2000@yahoo.com