NGỌN LỬA
BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC
SOI SÁNG NHIỀU
GÓC ĐỘ
Dương
Kinh Thành
“…Hôm
rời Nữu Ước về Stpokholm, tôi gặp một nữ bác sĩ người
Hoa Kỳ cùng đi một chuyến máy bay. Bà hỏi tôi rất nhiều
chuyện về Việt Nam. Bà rất tán thành quan điểm của những
cuộc vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam nhưng
bà cực lực phản đối việc tự thiêu của Hòa Thượng Quảng
Đức. Theo bà chỉ có những người tâm trí không bình thường
mới đi làm cái công việc tự thiêu ấy. Bà cho sự tự thiêu
là dã man, là bạo động, là cuồng tín, là mờ ám, là mất
thăng bằng. Dù tôi đã nói hết lời cho bà biết (…), bà
cũng không tin. Tôi đành im lặng vì biết rằng bà không thể
hiểu. Bà không thể hiểu, không phải là bà không muốn hiểu
hoặc không có khả năng để hiểu. Bà không thể hiểu vì
bà chỉ có thể ở một quan điểm khác để nhìn, thế thôi
(…)”(1)
Trên
là những dòng của Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh viết trong
“Hoa Sen Biển Lửa” năm 1965. Chưa đầy hai năm sau sự kiện
Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu. Người viết bài này xin mạn
phép mượn dùng làm đoạn mở đầu để đề cập đến một
vấn đề, không chỉ với vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ lúc
ấy Hòa Thượng Nhất Hạnh đã gặp, mà mãi cho đến hôm
nay - thế kỷ 21 - 42 năm, gần nửa thế kỷ, những cái nhìn,
cái hiểu ấy vẫn còn đang tồn tại trong một bộ phận vốn
từ lâu không thiện cảm lắm với Phật giáo. Có khác chăng
là những cái nhìn, cái hiểu ấy từ nơi những người Việt
Nam chính hiệu chứ không còn là của vị bác sĩ người Hoa
Kỳ (phương Tây). Cũng có thể, vị nữ bác sĩ nọ giờ đây
đã thay đổi quan điểm và góc nhìn của mình, nhưng tự thân
câu chuyện thì vẫn còn dai dẳng, và tất nhiên nó tồn tại
được từ nơi những người vốn không thiện cảm với Phật
giáo kia. Đáng buồn hơn họ đã dùng những hình ảnh đó
để đi tuyên truyền, chiêu dụ tín đồ một cách không hổ
thẹn.
Bốn
mươi năm đã trôi qua, thời gian của hơn phân nửa tuổi thọ
đời người, tính theo tuổi thọ trung bình của người Việt
Nam hiện nay.
Ngày
ấy, nhà tôi ven sông Sài Gòn, cả một vùng bến nước cũng
xôn xao. Không phải thủy triều lên xuống hay do sóng vỗ đôi
bờ mà chính do cơn bão táp trần ai đang phủ chụp lên thân
phận Phật giáo Việt Nam. Với một chú bé mới bảy, tám
tuổi đầu, những gì đang diễn ra hằng ngày ở bờ sông
bên kia - tức nội thành; có tiếng súng, có người ngã gục,
máu và nước mắt v.v… đã quá sức nhận thức đủ đầy
hay tường tận mục kích những cái nghiệt ngã vô tiền khoáng
hậu của Phật giáo Việt Nam thời đại văn minh tiến bộ.
Nhưng những điều trước mắt, gần gũi, tôi đã thấy và
hiểu. Đó là những nỗi lo sợ của gia đình, nét mặt hốt
hoảng của bà tôi khi phải ngậm ngùi đem bàn Phật vô buồng
ngủ mà thờ! Đốt nhang thì lén lút, nói chi đến bàn thờ
ông Thiên ngoài sân. Các đạo hữu từng đi chùa chung với
bà, dù là hàng xóm ai cũng tự lo bảo vệ lấy thân, không
còn dám liên lạc nhau như mọi khi, và tôi đã phải nhận
hai cái bạt tay - sức mạnh của tất cả mọi lo âu đó –
do đã khóc hoài bởi không còn được bà dắt di lễ chùa
như mọi bữa. Đường ven sông, chỉ độc đạo một lối
đi và về, khu vực ngang một thánh đường và gần một đồn
bót: gậy gộc, hàng rào kẽm gai được chặn ngang! Nào có
ai dám bước qua để đến chùa, về với Phật và về với
cội rễ con Hồng cháu Lạc! Tất cả những hình ảnh đó,
cho đến cuối cuộc đời khó có thể phai mờ trong tâm trí
tôi. Và chính những hình ảnh đó thôi thúc tôi tiếp cận
với đạo Phật một cách mãnh liệt theo từng độ tuổi lớn
lên.
Suốt
cả một quảng đời tuổi thơ, tôi “được” học trong
một ngôi trường tôn giáo địa phương. Từ lớp mẫu giáo
đến lớp nhất, trọn bậc tiểu học. Nơi đó tôi không được
dạy một tầm nhìn mỹ cảm tốt đẹp về một nhà truyền
giáo đứng đắn, một nhà mô phạm đúng nghĩa và đặc biệt
một tinh thần thượng tôn dân tộc (một vị nữ tu, một
vị giáo viên và một người Việt Nam máu đỏ da vàng). Người
ta gọi những học sinh không cùng tín hướng với họ là “mấy
người”. Hằng ngày, người ta không cần phải ngại ngùng
“dạy” rằng: ông Phật của “mấy người” là kẻ phàm
tục nên mới để lại dấu vết (các xá lợi được tìm
thấy và các dấu tích đản sanh - xuất gia – thành đạo
và nhập diệt của Phật Thích Ca). Lần khác thì lại “dạy”:
ông Phật của “mấy người” là bịa đặt, không có thật
trong lịch sử. Mấy tấm hình xanh đỏ cha mẹ “mấy người”
thờ lạy ở nhà tưởng tượng ra rồi vẽ lên thờ! Cái bông
sen có chút xíu như vầy (chúm bàn tay lại và giơ lên) “mấy
người” ra chợ Thủ Thiêm mua một ký thịt bò để lên xem
có dẹp lép hôn huống hồ cái thây ông Phật chần dần (dang
hai cánh tay ra) ngồi lên đó! Với những đứa thuộc thành
phần “mấy người” lỡ đóng tiền học phí hằng tháng
chậm, hoặc chậm tiếp thu bài thì bị cho là “như ông Bụt,
đui-điếc-câm cả lủ…”! (người ta cũng chạm đến cổ
tích rồi đấy). Khó lòng tưởng tượng hơn khi nhắc đến
các cuộc xuống đường của Tăng tín đồ Phật giáo Việt
Nam năm 1963, người ta kể rằng: “ có mấy ông sư sợ cảnh
sát chạy, chạy rớt cái áo cà sa còn cái quần…tà lỏn”!
(xin được nhắc lại toàn bộ “giáo viên” ở đây đều
là nữ tu).
Với
những “quan điểm – góc nhìn” và giọng ngữ đó, khiến
chúng ta nhớ lại bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô
Đình Nhu. Như được bật đèn xanh bởi chồng mình, khi ông
“Nhu công khai phát biểu những điều trâng tráo đến kinh
tởm, đề nghị cung cấp xăng và diêm quẹt cho những vụ
tự thiêu khác. Trong một buổi phỏng vấn có thu hình, bà
Trần Lệ Xuân tuyên bố một cách lố bịch rằng sự hy sinh
đầu tiên lẽ ra đã hiệu quả hơn nếu các tín đồ Phật
giáo dùng xăng trong nước thay vì xăng nhập khẩu. Về sau
bà còn phát biểu về những vụ tự thiêu tiếp theo như ‘món
thầy chùa nướng’ và : ‘Cứ để họ tự thiêu, chúng ta
sẽ vỗ tay”(2). Ai cũng rõ “tin tức về vụ tự thiêu của
Hòa Thượng Thích Quảng Đức lan nhanh khắp nước Việt Nam,
nhưng có một chuyện khác không được dự đoán trước đã
xảy ra: Tin tức cũng đã lan nhanh khắp thế giới. Vào những
ngày này, Việt Nam là mảnh đất béo bở của các nhà báo,
phóng viên ảnh, nhân viên điện tín. Đối với nghề báo,
đây quả là tin sốt dẻo. Ngay sau ngày Hòa Thượng Quảng
Đức tự thiêu, những bức hình về sự kiện này xuất hiện
trên trang nhất các tờ báo lớn trên khắp thế giới, bên
cạnh những bài viết lý giải nguyên nhân của thảm kịch.
Cả thế giới bị sốc, và Tổng thống Hoa Kỳ J.F.Kennedy cũng
vậy. Quả thật, chỉ qua một đêm cả thế giới nhận ra
Hoa Kỳ chỉ là kẻ vô tích sự, đã chọn đúng một tên bạo
chúa để hà hơi tiếp sức, một kẻ không khác gì Hitles?
Việc ủng hộ một người công giáo cuồng tín cứ tập trung
khủng bố những người theo tôn giáo khác đã biến Kennedy
trở thành miếng mồi ngon trước miệng hổ đói trong kỳ
bầu cử vào tháng 11.1964. Kennedy tức điên lên, hơn thế nữa
ông và các cố vấn chính trị rất hoang mang”(2a), hoang mang
đến cực điểm ngây ngô khi ngay sáng hôm ấy (12.06.1963) ông
khẩn cấp họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, mà câu đầu tiên
phá vỡ tiền lệ khai mạc bằng câu hỏi “Phật giáo là
cái gì?”!
Ngọn
lửa Bồ tát Quảng Đức ít ra cũng làm cho vị Tổng thống
Hoa Kỳ lần đầu tiên trong đời được nghe và biết đến
hai từ “Phật giáo”!
Rõ
ràng, các thế lực thực dân xâm lược đất nước ta, họ
không cần biết nơi đó có truyền thống, lịch sử và đời
sống tâm linh ra sao, nơi mà hơn hai đời họ tộc Ngô Đình
Diệm trước đó cũng đã từng chan hòa trong cội nguồn dân
tộc, từng biết thắp nhang thờ cúng Tổ tiên. Và Phật giáo,
vâng, chính Phật giáo Việt Nam bằng bề dày lịch sử hai
ngàn năm đã un đúc nên truyền thống, phong tục và văn hóa
ấy cho dân tộc qua bao nhiêu thăng trầm vinh nhục cùng đất
nước. Cho nên mãi đến hôm nay Phật giáo Việt Nam tự hào
và luôn nói, nói những điều Phật giáo Việt Nam có. Lịch
sử há đã chẳng ban tặng cho cụm từ “Đạo pháp – Dân
tộc” đó chăng! Đó cũng là câu trả lời cho một vị giáo
sư đã từng phát biểu trong cuối thập niên 60 thế kỷ trước
rằng: “Không thể dùng tính từ dân tộc để chống lại
người Việt Nam (sis), bất luận thuộc khuynh hướng nào. Chỉ
có một trường hợp sử dụng chính đáng tính từ dân tộc
là trường hợp chống thống trị ngoại bang mà thôi!”. Với
lịch sử, Phật giáo Việt Nam đã hoàn thành – hoàn thiện
trách nhiệm của mình, trong hiện tại và tương lai Phật giáo
Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục và còn xuất sắc hơn thế nữa,
để cho các thế lực, “khuynh hướng” khác làm theo, vẫn
chỉ là một con đường Phật giáo Việt Nam đã “đồng hành
cùng dân tộc” hơn hai ngàn năm qua, không hề thay đổi hay
xét lại.
Đó
là một vấn đề lớn, đóng vai trò quan trọng trong pháp nạn
63 mà không nghe vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ, vị giáo viên
tiểu học của tôi và vị giáo sư vừa nêu đưa ra để làm
mấu chốt cho câu chuyện. Đó là chưa nói đến giá trị một
tôn giáo lớn ở Việt Nam như vậy mà phải chịu khép nép
khiêm nhường trong Dụ số 10 (1950) từ thuở Ngô Đình Diệm
còn làm thủ tướng, bị cho là một “Hội đoàn” cỏn con
cần được kiểm soát gắt gao. Đó là chưa nói đến “Hệ
tư tưởng của Đảng Cần Lao và của phong trào Cách mạng
quốc gia là thuyết Nhân vị. Chỉ có một trường đào tạo
duy nhất là ‘Trung tâm đào tạo nhân vị’ do người anh
của Tổng thống là Giám mục địa phận Vĩnh Long Ngô Đình
Thục sáng lập. Là công giáo hay không, không cần biết, tất
cả công chức đều phải trải qua một khoá học tập ít
nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh
mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản
con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những lầm
lạc của Phật giáo, Khổng giáo, về các tội ác của cộng
sản…”(3). Do vậy mà từ sau ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức
bừng cháy, Mỹ lo sợ trước tiên. “Mỹ sợ rằng Diệm-Nhu
sẽ lại phạm thêm sai lầm sau khi đã biến lễ Phật Đản
ngày 8.5.1963 trước đó thành một thảm kịch đẫm máu bởi
lệnh cấm treo cờ Phật giáo ở nơi công cộng theo ý của
Thục, lúc đó là Tổng giám mục Huế. Làm sao lại cấm treo
cờ Phật giáo trong khi đã từng cho treo cờ Tòa Thánh Vatican
ở nhiều nơi công cộng? Trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng
đó, Mỹ sợ rằng lễ cầu hồn cho Cố Giáo Hoàng John XXIII
sẽ bị Diệm mù quáng biến thành một quốc lễ, và điều
này sẽ càng đổ thêm dầu vào lửa. Mỹ có lý do để sợ
Diệm làm điều càn dở đó, do lẽ ‘Từ tháng ba, một ủy
ban ngân khánh đã được thành lập do chủ tịch quốc hội
là chủ tịch với nhiều vị bộ trưởng và nhân vật tên
tuổi làm ủy viên. Người ta tổ chức tại Sài Gòn một bữa
tiệc mà mỗi thực khách phải đóng 5.000 đồng (tương đương
nửa lượng vàng thời điểm đó-chú thích TTCN). Người ta
muốn biến lễ ngân khánh này thành quốc lễ”(3a). Bộ ngoại
giao Mỹ cụ thể hóa nỗi lo của mình bằng điện tín ngày
8.6.63 gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn rằng: “Một –
Đích thân đại sứ hoặc Khâm sứ Tòa Thánh Vatican tại Việt
Nam khuyến cáo chính phủ Việt Nam tránh cử hành lễ tưởng
niệm chính thức Giáo Hoàng John XXIII (vừa qua đời hôm 3.6.1963).
Hai - Cần khuyến cáo chính phủ Việt Nam tạm thời hãy bớt
công khai tuyên truyền cho thuyết nhân vị để tránh việc
dân chúng đồng hóa thuyết nhân vị với công giáo”. Sự
việc sáng tỏ dần khi vở kịch sắp hạ màn. Đó là điện
tín Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam gởi Bộ ngoại giao lúc
6 giờ tối ngày 31.08.1963 với nội dung “Bà Nhu cần rời
khỏi đất nước này. Nên giới hạn chức trách của Nhu trong
chương trình ấp chiến lược. Tổng giám mục Thục cần ra
khỏi đất nước”(3b). Sau khi bàn bạc với Vatican, vào lúc
10 giờ 48 phút tối hôm ấy Bộ ngoại giao gởi điện tín
cho Tòa Đại Sứ tại Việt Nam nội dung ngắn gọn: “Đại
sứ có nghĩ rằng việc chúng ta ra sức yêu cầu Vatican gọi
Tổng giám mục Thục qua La Mã để tham khảo lâu dài là hữu
ích?…”(3c).
Trên
đây là một ít tư liệu lịch sử của chính nước Mỹ giải
mã. Điều này xét ở “góc độ - quan điểm - tầm nhìn”
của vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ kia, vị giáo viên tiểu
học của tôi và vị giáo sư nọ, có khác và khó hiểu hay
đồng cảm chăng? Qua đó pháp nạn năm 63 là nỗi đau chua
chát, nếu không muốn nói là một sự bị sỉ nhục của Phật
giáo Việt Nam. Vậy thì ngọn lửa của Bồ tát Quảng Đức
và các chư Thánh tử đạo khác có phải “tiêu cực” –
“không bình thường” và có xứng đáng hy sinh không? Ngược
lại có thể hiểu theo “góc độ - tầm nhìn - quan điểm”
các vị kia là lẽ ra Phật giáo Việt Nam phải “tích cực”
dàn trận bằng súng đạn, gươm dao, chém giết mới là “bình
thường” ư?
Tinh
thần hy sinh cao cả của Bồ tát Quảng Đức dựa trên nền
tảng đấu tranh bất bạo động. “Hãy bồi dưỡng lòng can
đảm, bình tỉnh đón nhận cái chết, và nếu cần, chết
về tay anh em mình, nhưng không bao giờ giết lại anh em… Tình
yêu không thiêu đốt kẻ khác mà chỉ thiêu đốt chính nó,
chịu đựng một cách vui vẻ ngay cả cái chết (…) Sự chống
đối bất bạo động không phải dựa vào những bắp thịt
rắn chắc, những khí giới tàn phá, những hơi độc và hóa
chất giết người mà dựa vào tinh thần đạo đức dũng cảm,
sự tự chủ vào niềm tin vững chắc rằng trong mỗi con người,
dù có tàn bạo đến đâu đi nữa, dù có mang mối tư thù
thâm độc biết mấy đi nữa, đều có một ngọn lửa của
lòng nhân hậu, của tình yêu công lý, của niềm tôn trọng
điều thiện và lẽ thật mà bất cứ ai biết sử dụng những
phương pháp thích đáng đều có thể làm cho ngọn lửa ấy
bùng cháy”(4). Như vậy ngọn lửa của Bồ tát Quảng Đức
đều được hiểu theo hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Do vậy
không có sự thù hận mà chỉ có lòng bao dung quảng đại
chan hòa khắp tất cả. Bồ tát Quảng Đức để lại lá thư
tâm huyết và rất nhiều bài thơ, không hề có một dòng một
chữ oán hận thế lực đàn áp, mà chỉ cầu xin chư Phật
gia hộ cho họ. Một bài thơ bốn câu tiêu biểu nhất mỗi
khi đọc lại, chúng ta không khỏi chạnh lòng đối trước
một tâm hồn biển lớn, đủ để chứng minh điều đó:
Đệ
tử hôm nay nguyện đốt mình
Làm
đèn soi sáng nẻo vô minh
Khói
thơm cảnh tỉnh bao người ác
Tro
trắng phẳng san hố bất bình.
Hôm
nay, chúng ta kỷ niệm 42 năm Bồ tát Quảng Đức tự thiêu.
Đó đây vẫn còn vài thành kiến không thiện cảm, dùng kiến
thức thực dụng đánh giá, thậm chí xúc phạm đến sự kiện
Bồ tát Quảng Đức tự thiêu. Điều này một phần lỗi do
chính chúng ta đã ít nhiều buông xuôi sự kiện do chính ý
niệm bao dung mà lẽ ra nó phải được nhìn trước tiên từ
phía thiếu thiện cảm kia. Do lý do đó mà chúng ta nên nhắc
lại nhiều hơn nữa; nhắc lại không vì mục đích đào sâu
ranh giới thù hận bởi tự thân sự đấu tranh mùa pháp nạn
63 và ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức vốn không xuất phát
từ thù hận hay rẽ chia. Việc các thế lực chính trị, quyền
bính xâu xé nhau, lật đổ, đảo chánh hay “thay ngựa đổi
dòng” v.v… đó là việc của thế gian mà luật nhân quả
của Phật giáo đã cho người ta thấy, và thấy rất rõ ngay
trước mắt, để rồi các thế hệ mai sau nhìn và đánh giá
bằng vết mực đậm nhạt khác nhau. Còn Bồ tát Quảng Đức
tự thiêu hoàn toàn không vì các thế lực ấy hoặc bị xui
giục, mà chỉ vì một thực trạng đạo pháp nguy vong. Ngược
lại, sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu lại có sức
cuốn hút và ảnh hưởng đến tất cả mọi thế lực chính
trị thế gian hiện thời, bất chấp định kiến, cục bộ
chủ nghĩa. Nhắc đến sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu,
là nhắc đến sự bao dung cao cả; nhắc đến cái đẹp của
cuộc đấu tranh bất bạo động và là nhắc đến một giai
đoạn Đại hùng Đại lực Đại từ bi tuyệt vời trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam, đấu tranh trước hết vì “quyền
bình đẳng tôn giáo” mặc dù “Đạo Phật từ lúc du nhập
vào Việt Nam đã trở thành một tôn giáo của dân tộc”(5),
chứ không đấu tranh chỉ vì tôn giáo mình, dù rằng Phật
giáo Việt Nam có quyền lịch sử thực hiện điều đó. Quá
khứ đã cho chúng ta thấy ở những quốc độ Phật giáo là
đại đa số, các tín ngưỡng khác rất dễ dàng đến và
truyền bá hơn là ngược lại, chứ không riêng gì ở Việt
Nam chúng ta.
Nhắc
đến sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu là tự khẳng
định và tông trọng chính chúng ta, một thế hệ biết trân
trọng lịch sử, biết nhìn sâu xa vào truyền thống dân tộc
vốn từng được ôm ấp bởi nền tảng chân lý Phật giáo;
một tôn giáo của dân tộc, lại luôn bị xem nhẹ, luôn bị
tai ương bởi chính các thế lực ngoại nhân. Người ta xem
nhẹ Phật giáo đến mức buồn cười như tài liệu giải
mật CIA và FBI đã có nói đến một chi tiết đã được trích
dẫn phần trên: “tin tức về vụ tự thiêu của Hòa Thượng
Thích Quảng Đức lan nhanh khắp nước Việt Nam, nhưng có một
chuyện khác không được dự đoán trước đã xảy ra: Tin
tức cũng đã lan nhanh khắp thế giới…”. Tổng thống Hoa
Kỳ lúc ấy còn ngớ người hỏi Phật giáo là cái gì cơ
mà! Người ta làm tất cả để đẩy Phật giáo vào thế tàn
lụi ngay trên đất nước này họ đã ngang nhiên đến tự
xưng là “mẫu quốc”, với một chính sách ngu dân thâm độc.
Giáo dục nâng cao trí thức chỉ có được khi người dân
xứ sở này theo họ tất cả và đặc biệt phải đóng ấn
vào tráo tim là con cháu của Tổ tiên là dòng dõi “Gô-loa”.
Đẩy Phật giáo vào chốn thâm sơn cùng cốc, biến giới Tăng
sĩ trở thành những “ông thầy chùa làng” dốt nát, hậu
đậu v.v… May mắn cho Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ
đã có chư tôn đức tài ba đứng lên dấy động phong trào
chấn hưng, làm sửng sốt bàng hoàng các thế lực đen tối.
Đây có thể xem là một cuộc “đại cách mạng” nhưng có
phần hướng về nội bộ nhiều hơn, và dùng chính sức mạnh
thành tựu nội bộ đối kháng với các âm mưu thâm độc
của thực dân. Đến ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức, lại
là một cuộc “đại cách mạng” nữa, nhưng lần này mang
tính chất quyết liệt hơn và hướng ra bên ngoài nhiều hơn.
Bởi lẽ đây là giai đoạn trên toàn thế giới phong trào
độc lập dân tộc đang từng bước xô dạt các thế lực
thực dân mới, mưu mô xảo quyệt hơn. Trong toàn cảnh đất
nước điêu linh, Phật giáo cũng chung cùng số phận, tư tưởng
xem thường Phật giáo cũng nương đó mưu mô, xảo quyệt nhưng
trắng trợn hơn. Người ta yên ổn cho rằng quyền hành cai
trị đất nước một khi đã trụ vững ngờ dựa vào thế
lực ngoại bang, thì còn lại, Phật giáo không đáng lo ngại.
Đơn giản Phật giáo không có giáo quyền thế giới, các tổ
chức Phật giáo thế giới nếu có cũng chỉ mang tính tập
hợp và tổng kết, chứ không là một tổ chức ngang bằng
các thể chế chính trị ở thế gian, không lo sợ bị lên
án. Và một điều nữa, các thế lực thực dân đều là những
nước giàu có ở Tây Âu Mỹ, có chân trong các tổ chức lớn
thế giới và sau cùng la tất cả đều không cùng tôn giáo
ở phương đông
Và
ngọn lửa Bồ tát Thích Quảng Đức đã bùng lên!
Thế
thì “ở một quan điểm khác để nhìn” của vị nữ bác
sĩ người Hoa Kỳ kia, của vị nữ tu và là giáo viên tiểu
học dạy tôi hay của những ai cho đến hôm nay chỉ vì tín
ngưỡng riêng mà nhìn sự kiện bằng kiến thức cô đọng,
nhỏ hẹp, thì hãy thử một lần làm người Phật tử Việt
Nam, lặng lẽ sống khiêm nhường, độ lượng và bao dung…
để có đôi giây phút đời người xứng đáng và để hiểu
hơn Phật giáo Việt Nam hai ngàn năm qua. Rồi đây một tượng
đài sẽ được dựng lên ngay trên giao lộ năm xưa ngọn lửa
Bồ tát Quảng Đức bừng cháy. Giá trị và ý nghĩa đặc
biệt của ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức đã được nhìn
nhận, vượt lên trên sự dè dặt hoặc né tránh mà có thời
gian sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu được nhắc nhở
cho là việc “tế nhị”. Sự kiện 1963 là một giai đoạn
lịch sử có thật và rất gần nhưng đã vượt khá xa thời
gian “giải mật”. Thế mà thế hệ trẻ ngày nay dường
như không biết rằng nơi ngã tư trong thành phố này có một
ngọn lửa từ bi - bất bạo động đã bùng lên! Sự kiện
mà người Phật tử gọi là “pháp nạn” – cái nạn của
đạo pháp - tưởng cũng rất hiền hòa, chứ thật ra sự kiện
đó phải được gọi bằng một cụm từ đúng nghĩa hơn có
lẽ rồi đây lịch sử sẽ phải nói thay điều đó. Còn hiện
tại dùng từ “đàn áp Phật giáo” âu cũng tương xứng
với sự cực đoan thời Trung cổ. Thế mới thấy sự hy sinh
cao cả của chư Thánh tử đạo và đặc biệt ngọn lửa Bồ
tát Quảng Đức là cực kỳ vĩ đại, nói lên rất nhiều
điều về Phật giáo Việt Nam mà kẻ hậu sinh vẫn hãy còn
lang thang trước nhiều ngã ba đường.
Trong
căn nhà chật hẹp của tôi, trước khi có bàn thờ Phật đã
có ảnh Bồ tát Quảng Đức tự thiêu, rất hãnh diện, trang
trọng giữa nhà. Bốn mươi hai năm tròn, còn đó một trái
tim.
(1)
Hoa Sen Biển Lửa - Nhất Hạnh – Ban Phật tử Việt kiều
hải ngoại Paris xuất bản lầ thứ 4, 1966.
(2)
-Tài liệu giải mật của “Vụ sử học” bộ ngoại giao
Mỹ công bố mang tựa đề “Foreign Relations of the United States,
1961-1963, VIET NAM” (viết tắt là FRUS) – Báo TTCN từ số
32/2003 đến 43/2003.
-Và NXB.Công An Nhân Dân 2003 từ tài liệu lưu trữ giải mật
của CIA-FBI - Tác giả Bradley S O’leary & Edward Lee. TT từ
23.04.2003 đến 30.04.2003.
-Theo nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông nước
ngoài (Đài phát thanh “Little Saigon Radio”, báo “Tin điện”
tại Đức, tuần báo VICTORIA TIVI tại Melbourne và Sydney…)
lần đầu tiên sau 33 năm tự nhốt kín đời mình trong một
tu viện dòng Tên ở La Mã, ngày 31.10.1996 bà quả phụ Ngô
Đình Nhu đã chính thức lên tiếng “…Nay đời người chỉ
là bóng câu qua cửa sổ, sự vật đổi thay, và con người
cũng không còn tồn tại, tôi đích thân tạ lỗi linh hồn
thầy Thích Quảng Đức và xin Giáo hội Phật giáo Việt Nam
ân xá những lời tuyên bố vô trách nhiệm của tôi 34 năm
trước”.
Về
chi tiết Bà Ngô Đình Nhu sống ở La Mã, chúng ta có thể đối
chiếu bài viết của hai tác giả Bradly S.O’leary & Edward
Lee như sau: “Khi Diệm và Nhu chết trong cuộc đảo chính,
bà Nhu làm rùm beng với báo chí Mỹ, nhưng lúc đó chẳng còn
ai quan tâm nữa. Ít lâu sau, bà ta bị trục xuất khỏi Mỹ,
để lại nhiều hóa đơn khổng lồ chưa thanh toán tại khách
sạn Beverly Wilshire. Bà ta qua Paris, rồi sang Rome để sống
với các con ở đó, và suốt từ đó, bà ta im lặng một cách
kỳ lạ về cái chết của chồng và anh chồng, chỉ sống
ẩn dật trong một biệt thự tối tăm mà người ta đồn là
thuộc sở hữu của Giáo hội Thiên Chúa giáo…” (TT ngày
24.04.2003).
(2a)
Tài liệu đã dẫn
(3)
“Về Tổng giám mục Ngô Đình Thục”. Báo TTCN ngày 14.09.2003,
Hữu Nghị dịch và trích từ “Thập giá và lưỡi gươm”
của LM.Trần Tam Tĩnh, NXB Sud Est Asic-Paris, 1978.
(3a)
Tài liệu đã dẫn
(3b)
Tài liệu đã dẫn
(3c)
Tài liệu đã dẫn
(4)
“Chiến tranh và bất bạo động” – S.Radhakrishnan – NXB
Hoa Muôn Phương, Sài Gòn, 1970, Quảng Độ dịch.
(5)
Câu chữ trong thông điệp Phật Đản PL. 2544 của Hòa Thượng
Thích Tâm Tịch, Pháp Chủ GHPGVN.