HOÀ THƯỢNG
THÍCH QUẢNG ĐỨC TỰ THIÊU
Thái
Kim Lan
Chùa
Từ Đàm bị phong tỏa như thế được gần hai tuần. Khác
hẳn với những ngày đầu hết sức căng thẳng,
những ngày kế tiếp chúng tôi đã được thao luyện với
tính khẩn trương của tình thế nên “thong thả”
hơn đối với diễn biến mỗi ngày. Máy phóng thanh vẫn tiếp
tục đe dọa và khuyến cáo dân chúng đừng nghe lời Cọng
sản và đừng đi theo Cọng sản đang rắp tâm phá rối trị
an, nhưng hình như chẳng ai để ý tới. Tuy lệnh phong tỏa
dưới đất được chính quyền yểm trợ với 4 phi cơ chiến
đấu bay lượn trên không suốt ngày dòm ngó đe dọa, dưới
đất tướng Trí ra lệnh gia tăng các chiến xa và quân đội,
dùng những đàn chó trận gầm gừ chận đứng ngõ Từ Đàm
và liên tiếp dùng lựu đạn a-xít uy hiếp những đoàn người
đi lên chùa. Nhưng ngược lại với những ngày đầu, dần
dần chính những người bao vây chùa Từ Đàm đã âm thầm
“giải” phong tỏa ở phía sau chùa vào ban đêm để cho Phật
tử vào chùa, hay chính họ dẫn vào cũng như đưa các thư
từ của phụ huynh các người bị giữ ở chùa. Một điều
làm cho chúng tôi cảm động nhất là phần đông các bậc
phụ huynh đều bảo người thân bị kẹt trong chùa “cứ
ở lại với các Thầy”. Sau hơn một tuần ăn uống thiếu
thốn vì hết gạo, bỗng nhiên chúng tôi thấy bàn cơm mỗi
bữa khá phủ phê, sau mới biết chính những người lính phong
tỏa đã bí mật cho các chị tiểu thương đem gạo và lương
thực vào ngả sau của chùa.
Có
thể nói trong thời gian bị phong tỏa ở chùa Từ Đàm
chúng tôi đã trải qua những những ngày lạ lùng nhất về
tình đồng đạo và sức mạnh cảm hóa của chính nghĩa. Hình
như có một ánh hào quang nào đó tỏa sáng từ cây Bồ Đề
trước sân, từ Tượng Thích Ca Mâu Ni trong chánh điện hay
từ đức độ của Qúi Ôn Qúi Thầy, mà mọi sắt đá hung
dữ từ bên ngoài bỗng hóa mềm, trong lúc ấy càng ngày tình
đồng đạo của những người ở ngoài chùa mỗi lúc càng
sôi nổi. Không có ngày nào mà chúng tôi không thấy thấp
thoáng những khuôn mặt bạn bè chao qua đảo lại ở bên kia
đường. Ai ở dưới phố mà không chộn rộn ngóng lên chùa
Từ Đàm? Chùa Từ Đàm bỗng trở nên một đề tài thu hút
tất cả những bận tâm của mọi người dưới phố. Trên
khắp các đường phố quần chúng sôi động khác thường.
Sinh viên học sinh không còn thói quen hàng ngày “bát phố”
Trần Hưng Đạo như trước mà rủ nhau đạp xe lên chùa nghe
ngóng tình hình. Mỗi ngày những gương mặt đầy cảm khái
của bạn bè, như Trịnh Công Sơn, Đinh Cường… đứng
bên kia đường hầu như là một sự an ủi và khuyến khích,
như một lời nhắn nhủ đừng sờn lòng cho chúng tôi ở trong
sân. Có thể nói không quá đáng rằng hiện tượng “đồng
tình” của quần chúng cho một phong trào như trong cuộc
vận động 63 đã không xảy ra một lần thứ hai. Trong hơn
hai tuần bị phong toả người trong chuà đã không có cảm
giác bị cô lập với thế giới bên ngoài, ngược lại chưa
bao giờ người trong cuộc lại thấy trong lòng khởi lên một
niềm tin về công bằng và lẽ phải như tiếng nói của lương
tri con người đã được con người bảo vệ và bồi đắp
mạnh mẽ dường ấy !
Trong
khoảng thời gian này cuộc vận động đã lan tràn ra trên
khắp các tỉnh miền Nam, các khuôn hội hoạt động rất mạnh
mẽ và đoàn kết. Thầy Trí Quang đã liên lạc được với
qúi Thầy ở Sài gòn. Thầy Tâm Châu cũng đã cho người ra
Huế gặp Quí Thầy ngay khi cuộc vận động bắt đầu, với
một lá thư nhỏ “Tâm Châu chỉ biết một chữ nhất”.
Quí Thầy trong ban lãnh đạo ở Sài gòn đã cho người ra tận
Huế đem đến cho Thầy Trí Quang và đã bàn phối hợp công
việc vận động. Chính trong thời gian này Thầy Thiện Minh
(điều hành văn phòng bốn cơ quan PG tại Huế) quyết định
vào Sài gòn gặp Quí Thầy trong UBLPBVPG bàn công việc cụ
thể phối hợp với Huế.
Tôi
còn nhớ, chúng tôi đã mừng như thế nào, khi thấy Thầy
Thiện Minh trở lại Huế sau mười ngày vắng mặt, khi bóng
Thầy xuất hiện nơi cửa Tam Quan, tay cầm chiếc nón lá rộng
vành của nhà sư, phong độ khoan thai của một vị sứ giả.
Chúng tôi mừng đón Thầy như con chờ mẹ đi chợ về. Nhưng
Thầy Thiện Minh đã không đem thêm tin gì mới lạ, cuộc diện
kiến (ngày 5.6.1963) của Phái đoàn Phật giáo Ủy ban Liên
Phái Phật giáo và Ủy ban Liên Bộ (được Tổng thống
Diệm cho phép thành lập ngày 3.6.1963) đã là một cuộc tiếp
xúc hình thức lấy lệ, chưa có một thỏa thuận nào cụ
thể. Chính quyền không có một chút thực tâm muốn giải
quyết và chỉ đưa ra những lời hứa suông.
Trong
cuộc nói chuyện với chúng tôi, là người duy nhất vẫn giữ
vẻ điềm đạm và ôn hòa, thầy Thiện Minh còn mĩm cười
dí dõm tự trào : “các vị trong chính quyền, kể cả ngài
Tổng thống, vẫn còn giữ thành kiến, cho rằng “thầy chùa
nấu canh chua chẳng ngọt”, bởi thế họ không thể “hạ
mình” để nói chuyện nghiêm túc với một nhóm người gọi
là UBLPBVPG mà không có tóc chi cả và cả đời không biết
ngồi ghế bành. Thái độ của họ quá tự tôn, họ đĩnh
đạc ngồi trong ghế bành, chân vắt mảy, tiếp chuyện với
“lũ trọc đầu” cho có lệ. Nhưng chúng ta vẫn nhẫn nại.
Đòi hỏi của Phật tử là chính đáng. Anh em sinh viên cứ
an tâm. UBLPBVPG liên lạc trao đổi thường xuyên với Ủy ban
Liên bộ để phản ảnh những vi phạm các điều đã thương
thuyết. Hiện nay ở Sài gòn phong trào ủng hộ nguyện vọng
của Phật tử lên rất cao. Nhưng anh em sinh viên ở Huế vẫn
là những kẻ tiên phong trong cuộc vận động này. Vẫn thành
tâm cầu nguyện là mọi việc thành tựu ! Nghe nói mấy ngày
ni anh em phải nhịn đói phải không ? Thầy đã nhờ Ủy ban
khiếu nại việc Từ Đàm bị phong tỏa, bị cắt điện nước,
bị chận đường và họ hứa sẽ can thiệp…”
Cả
mấy anh em đều nhao nhao lên : “Họ can thiệp mô nà ? Vẫn
phong tỏa, vẫn chười bới đinh tai, vẫn chận đường ngoài
tê tề thưa Thầy, anh em sinh viên muốn lên đây đều bị
ăn lựu đạn cay cháy da đó Thầy, bị chó berger rượt chạy
có cờ ! May nhờ mấy anh lính thương chùa, có nới tay một
chút mới có bữa đói bữa no !”.
Phan
Chánh Đông cười xen vào, kẻ cả : “Ui chao, cả bọn đua
nhau mà ca vọng cổ cho Thầy nghe chắc tới chiều tối. Thôi
để Thầy đi nghỉ chơ mấy ông nội !” Rồi hắn quay qua
tôi “còn bà thì chưa lên được chức “mệ nội” mô hí
!”. Hắn lại nhe răng cười rổn rảng.
Rời
phòng Thầy, chúng tôi chia nhau công việc trong chùa như thường
lệ.
Hôm
ấy đến phiên tôi hốt lá trong sân giúp mấy chú tiểu. Trời
tháng sáu, nắng vẫn trung thành với mặt trời tháng sáu !
cứ ngang nhiên đổ oà trên mặt đất tất cả những nung
nấu của sức nóng miền xích đạo, sân chùa khô khan đến
nứt nẻ, sỏi đá trong sân nóng hổi như những viên lửa
hồng , lá khô vừa rụng xuống đã choáng váng bốc lên bay
bổng, không chìu theo nhát chổi tung cả bụi “tam muội hoả”
của mấy người chia nhau bốn góc đang dồn lá đem cho nhà
bếp nhen lửa. Mọi vật ngất lịm trong áng nắng, bãi hoải
trong màu xám trắng của đất cát trong sân. Chỉ duy cây Bồ
đề không biết lấy sinh khí từ đâu mà vẫn xanh trên ngọn,
vẫn mát nơi thân, vẫn đổ bóng chan hòa trên mặt đất,
như một ân huệ của ngày tháng sáu !
Nhưng
hôm ấy nhìn màu xám của sỏi đá trong sân, nhìn màu xanh
không đổi của cây Bồ Đề tôi bỗng nhớ đến hàng phượng
từ Phú Văn Lâu lên cầu Bạch Hổ giờ này chắc đang rối
rít trao bông cho nhau thay vòm xanh phủ kín đường đi, nhớ
cây phượng nơi góc Đài Phát thanh cạnh cầu Trường Tiền
thường sà hoa xuống nước và nhớ làm sao những cây phượng
trong sân trường Đồng Khánh năm năm vẫn rộ một màu đỏ
thắm với tuổi học trò. Trong những ngày nồng cháy tháng
sáu của Huế, chỉ có hoa phượng là có thể thi gan dài hơi
uống nắng từng nghỉn mà không say. Uống nắng ừng ực vào
lòng như thế, tưởng đâu phượng sẽ tung rãi một thứ lữa
hỏa diệm sơn đốt cháy phố phường, nhưng huyền diệu là
phượng trên trời ! Trong màu nắng chói chang lòa mắt, hoa
phượng lại bắt mắt cho mắt nhìn thêm ! và hành nhân đang
quáng nắng bỗng chợt mát trong hồn khi dừng lại trên từng
cánh mỏng màu san hô hổ phách trang đài khoe sắc trên tầng
lá xanh. Sáng, trưa, chiều màu hoa đỏ như môi son thiếu nữ
nhoẻn nụ cười tươi nhất trên khắp các nẻo đường xứ
Huế khiến cho người Huế ở kiếp nào cũng sẵn lòng đổ
mồ hôi hột, nhể nhại trần thân chịu cơn nắng suốt cả
đời người, để được một sáng ra đường gặp hoa, buổi
trưa tình cờ thấy hoa và buổi chiều đi về với hoa trong
những ngày hè thét lửa.
Riêng
tôi hôm ấy đứng trong sân chùa Từ Đàm khổ hạnh bỗng
nghe nhớ nỗi say mê của tuổi mười sáu ép phượng
trong sách vở mong giữ hoài một màu đỏ trong tim như giữ
một mảnh đời của Huế.
Đêm
hôm ấy tôi nằm mơ thấy mình cùng với lũ bạn đạp xe trên
khắp các con đường quen thuộc nơi chốn cố đô. Mỗi năm
hè về lũ con gái mười sáu mười bảy chúng tôi thường
có lệ rủ nhau đạp xe đi “duyệt” các nẻo đường xem
phượng nở hoa và chấm điểm cây nào sây bông nhất mùa.
Cong lưng trên xe, mồ hôi dính bết tóc mai, má đã hâm hấp
hồng trong nắng, cả đoàn con gái áo trắng chạy hết đường
Lê Lợi, dọc sông bến Ngự qua An Cựu rồi băng qua cầu Trường
Tiền, duyệt hết quãng đường Trần Hưng Đạo, vòng lại
chui qua cổng Thượng Tứ vào trong Đại Nội. Vừa đi vừa
ngắm cây cỏ vừa chỉ trỏ cười nói râm rang. Trong mơ nghe
kháo nhau năm ni được mùa hoa phượng, cả bọn đâm ra khó
tính không dừng lại ở một gốc cây nào mà cứ đi mãi,
đến cuối một con đường không nhớ tên, lũ con gái đồng
kêu lên kinh ngạc : một cây phượng già hiển hiện trước
mắt với tàn hoa rực rỡ chưa từng thấy trong đời. Cả
bọn quẳng xe sóng soãi trên đất, chạy đến đứng dưới
gốc phượng nhìn lên, sửng sốt trước màu đỏ liên hoan
trên nền trời thiên thanh nhạt nhoà buổi sáng ! Hàng nghìn
đoá hoa phượng chen nhau trên cành trùng trùng điệp diệp
toả quanh thân cây, đan kín bầu trời, ánh nắng và màu xanh
da trời chỉ còn thấp thoáng những chấm lóng lánh như kim
cương điểm xuyết trên màu đỏ, tạo một cảm quan thị
giác chập chờn huyền ảo, từ đó màu đỏ bỗng lung linh
tràn ra thành những dợn sóng của một mặt hồ màu hổ phách
mông mênh thu hút mê hoặc… Những khuôn mặt ngước nhìn
trời bỗng như bị thôi miên trở nên bất động. Thoáng sau
tôi nghe dạ dày mình thót lên một cảm giác mất trọng lực,
cùng lúc cả lũ thiếu nữ áo trắng đột nhiên tay quàng tay
thành vòng tròn cất mình lơ lửng rồi vụt bay la đà vào
trong vùng màu đỏ ối, như một đàn thiên nga đập cánh sà
vào trong biển lửa. Chúng tôi bay lượn xoáy vòng trên các
bông hoa càng lúc càng nhanh với một tốc đọ chóng mặt,
màu đỏ loang loáng ngời hào quang ! Trong mơ đường bay hầu
như dài vô tận, cả bọn thấy trong lòng hạnh phúc khôn tả
nên cất lên tiếng cười ròn rã, và Lê, cô bạn có nước
da ngăm đen từ thời tiểu học, nỗi tiếng một thời hát
hay với bài “Thuyền viễn xứ” ở trường Đồng Khánh,
bỗng cất cao giọng hát, đồng thời toàn thể rừng hoa bỗng
biến thành một tấm thảm nâng đoàn con gái lên phía trời
xanh. Trong lúc tiếng hát của Lê vút dài réo rắt trên từng
không ! Cảm giác choáng váng ngợp người giữa khỏang bao
la làm nghẹt thở !
Tôi
giật mình choàng tỉnh ! Mồ hôi đầm đìa ướt áo ! Cùng
một lúc tiếng gà chùa Từ Đàm đang rền rĩ trong khóm
cây chanh sau vườn. Mọi người đã lục tục trở dậy. Máy
phóng thanh bên đường đã bắt đầu rột rẹt sửa soạn
những bài diễn văn nhai lại.
Hôm
ấy là ngày 11. 6. dương lịch. 9 giờ rưỡi sáng tất cả
Phật tử trong chùa đã họp nhau trên chánh điện
để tụng kinh hàng tuần cho các Thánh Tử Đạo. Chúng tôi
cùng nhau đọc kinh và nghe giảng đến khoảng hơn 11 giờ trưa.
Vừa dứt câu “nguyện đem công đức này hướng về khắp
tất cả, đệ tử và chúng sanh, thề trọn thành Phật đạo
!” mọi người lạy từ lui ra, bỗng nghe chuông trống bát
nhã vang lừng một cách lạ thường. Mọi người đều giật
mình quay ra phía góc tả hữu hai bên chánh điện, thấy một
bên anh Từ, bên kia Thầy Chánh Trực đang dùng hết sức bình
sinh nổi chuông và trống liên hồi. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn
nhau không biết chuyện gì trầm trọng đã đang và sẽ xảy
ra mà trống chuông đổ khẩn cấp đến thế ! Vừa dứt tiếng
trống, anh Từ nói lớn, sắc mặt và giọng nói đầy bi hùng
pha lẫn chút nghẹn ngào của nước mắt đang quanh mi : “mời
tất cả ở trong chánh điện, Thầy có chuyện nói với qúi
vị !”
Vài
phút sau tin truyền ra như một tia chớp của cơn giông : Hoà
Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu vào khoảng 11 giờ
sáng hôm nay với lời nguyện:
“Tôi
sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo và để giác
ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của của
Phật giáo."
“Tôi
pháp danh Thích Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì chùa Quán
Âm, Phú Nhuận (Gia Định).
Nhận
thấy Phật giáo nước nhà lúc ngữa nghiêng, tôi là một tu
sĩ mệnh danh là Trưởng Tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi
điềm nhiên tọa thị để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi
phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường Chư Phật
để hồi hướng công đức bảo tồn Phật Giáo.
Mong
ơn mười phương Chư Phật, Chư Đại đức Tăng Ni chứng minh
cho tôi đạt thành ý nguyện như sau:
1-
Cầu hồng ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm
sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật
giáo Việt Nam ghi trong Bản Tuyên ngôn.
2-
Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được
trường tồn bất diệt.
3-
Mong nhờ hồng ơn Đức Phật gia hộ cho Chư Đại đức, Tăng
Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tại nạn khủng bố, bắt
bớ giam cầm của kẻ gian ác.
4-
Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.
Trước
khi nhắm mắt mà về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi
lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm lấy lòng bác ái từ bi
đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn
giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.
Tôi
thiết tha kêu gọi Chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni, Phật
tử đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật Pháp.
Nam
mô Đấu Chiến thắng Phật.
Làm
tại chùa Ấn Quang ngày 8/4 Nhuần Quý Mão.
Chùa
Quán Thế Âm.
Tỳ
Kheo Thích Quảng Đức kính bạch
Nghe
tin tất cả mọi người đều thảng thốt như bị điện giựt,
rồi không ai bảo ai mọi người đều qùi xuống, các ni sư
có người oà lên khóc, nhiều tiếng niệm Phật nho nhỏ thốt
lên như những tiếng kêu tán thán, rồi tất cả mọi người
đồng sụp lạy và qùi tụng theo lời của anh Từ xướng
lên “Nam Mô tiếp dẫn đạo sư A di đà Phật”, tiếng tụng
kinh ban đầu còn lảo đảo ngập ngừng trong cơn xúc động,
nhưng càng lúc càng vững vàng tự tin lấn át mọi nghẹn ngào
của nước mắt đang chảy nơi người Phật tử, nghe ầm ì
như tiếng của một cơn sóng thần từ trên trời dội xuống.
Tôi
ngồi đó như bị câm, môi tê cứng không thể mấp máy tụng
theo mọi người. Hình như tôi chưa có một ý niệm hay chưa
vẽ ra được trước mắt hình ảnh về mấy chữ vừa được
nghe : “Hoà Thượng Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân“.
“Đốt cháy thân xác thịt da mình để cứu đạo Pháp và
giác ngộ con người !” ! Đã đành mỗi chữ trong dòng thông
tin này như “đốt cháy“ – “thân xác – thịt da” –
“cứu” – “Đạo Pháp“ thì rõ nghiã, nhưng sau từng chữ
là tổng thể của một chí nguyện và sức mạnh tinh thần
vô úy vô ngại dũng mãnh để biến thành ngọn lửa thiêu
thân hiện thực, điều này đang vượt quá giới hạn kinh
nghiệm của một đứa sinh viên Phật tử nhỏ bé yếu đuối
là tôi đang cúi đầu sụp lạy. Tôi tự hỏi không biết mình
sẽ phản ứng như thế nào khi được chứng kiến tận mắt
cảnh tượng hy sinh chưa từng có này : khóc, la hét, ngất
xỉu, niệm Phật, lạy, sửng sờ, sợ hãi, chết cứng, sùng
bái ? Mọi liên tưởng hay so sánh của con người về hình
ảnh đó bỗng trở nên hạn hẹp và tố cáo kinh nghiệm chủ
quan cũng như trình độ hiểu biết của từng cá nhân. Tôi
nhớ đến màu đỏ lửa của hoa phượng trong giấc mơ : Lửa
! lửa! Lửa ! Một kẻ ngu ngơ như tôi chỉ có thể tưởng
tượng được ngọn lửa vây quanh ngài cũng đỏ như màu hoa
phượng trong giấc mơ, nhưng trong giấc mơ, hoa phượng có
thành lửa đỏ cũng chỉ là mơ… lửa không nóng mà lại
mát rượi cả tâm hồn ! Và cho dù tôi có học thuộc lòng
lý thuyết của David Hume về kinh nghiệm bỏ tay vào lửa là
bị phỏng, phỏng làm đau… mà bản tính của con người sợ
đau nên học được thói quen thấy lửa là tránh, đã sợ
đau tránh lửa thì làm sao có thể hiểu hết được sức
mạnh siêu nhiên vô úy của người ngồi kiết già trong lửa
?
Có
người như bà Trần Lệ Xuân, vợ của ông Cố vấn Ngô đình
Nhu, chủ tịch Phụ nữ Liên đới VN, trong tình cảm riêng
tư, khi nghe tin “lửa cháy…thân xác” liền nghĩ ngay đến
món “thịt nướng” trong biệt thự sang cả của bà, không
hơn không kém ! Tổng thống Ngô Đình Diệm, trong vai trò của
ông, vừa nghe tin đã rụng rời, rơi cả giấy đang cầm tay
và hốt hoảng đọc lời hiệu triệu nhưng vẫn tuyên bố
một câu đầy oai quyền “sau lưng hiến pháp còn có tôi”
như một lời tự thú về quá trình độc tài của chính ông.
Cả thế giới nhìn Việt nam với nỗi kinh ngạc về sức mạnh
tâm linh của một hiện tượng tôn giáo độc nhất vô nhị
trên đời. Và báo chí khắp năm châu kín trang đi tìm ý nghĩa
hành động tự thiêu của Thích Quảng Đức như một hy sinh
cao cả ! Họ làm sao hiểu hết được hành động phi
thường này qua những tam đoạn luận, phép tỷ giảo, loại
suy, phân tích, so sánh ngay cả với chúa Jesus ! Hình như mọi
so sánh đều là những quá trình giảm thiểu rút gọn vào
kinh nghiệm thuộc thế giới thường nghiệm, do đấy trở
nên ngờ nghệch và khập khiểng.
Vượt
lên trên tất cả sức tưởng tượng của con người cũng
như lòng tin căn cứ vào thói quen cho rằng “lửa có khả
năng khủng khiếp đốt cháy tiêu hủy hết tất cả những
chi thuộc về ‘sắc tướng’”, Thích Quảng Đức đã đưa
một thông điệp khác cho loài người : LỬA đã không thể
thiêu hủy trái tim Bồ tát Thích Quảng Đức ! – nghe thượng
tọa Đức Nghiệp người đã đưa Hoà Thượng Thích Quảng
Đức đến ngã tư Lê Văn Duyệt Phan Đình Phùng (Sài gòn)
ngồi xuống ung dung châm lửa tự thiêu, kể lại rằng hôm
ấy mấy chục ký giả ngoại quốc chứng kiến vụ tự thiêu,-
những kẻ được tôi luyện trong tri thức khoa học và tin
tưởng vào khoa học -, đã lon ton chạy đi tìm thêm mấy bình
xăng, quẹt hết mấy hộp diêm, hì hà hì hục cố tình đốt
lui đốt tới hầu mong có thể tiêu hủy trái tim vẫn còn
nguyên vẹn sau khi nhục thể của Ngài đã thành tro, nhưng
LỬA đã qui hàng trước TRÁI TIM BỒ TÁT. Trái tim có sức
mạnh biến lửa tam muội thành LỬA TỪ BI. Hiện tượng bất
ngờ ! Những kẻ tự hào văn minh Tây phương ngơ ngác ! Hình
như mọi thứ ngôn từ khoa học vừa dừng lại nơi đây, nơi
cái gạch nối ấy, gạch nối giữa thể xác và tâm linh, giữa
trái tim nhục thể và trái tim bất diệt, khoa học đang dừng
lại bên bờ nhịp đập và nhịp ngừng của trái tim, quờ
quạng không tiến xa hơn một bước, trong lúc kẻ hành thâm
bát nhã đã thâm nhập vào bến bờ của tâm – ý - thức
siêu ngã, đã qua bờ và đã quay về – khi đi cũng như khi
trở lại không bằng con đường nào khác hơn là con đường
của TÂM – của trái tim : từ trái tim khả tử đến trái
tim bất tử – tuy hai mà chỉ là một, trái tim Quảng Đức
! :
“Gọi
hết lửa vào xương da bỏ ngỏ, Phật pháp chẳng rời tay”
,
“Bóng
người vượt chín tầng mây, nhân gian mát rượi bóng cây
Bồ Đề”.
Có
chăng chỉ còn “vần điệu của thi nhân”, trong một phút
giây trực cảm, đã đến gần với nhịp đập của trái tim
Bồ Tát ấy, đã có thể “sờ” được ngọn lửa từ bi,
khả dĩ đem ánh sáng ngọn lửa Quảng Đức chiếu dọi vào
tâm hồn của người Việt trên khắp miền Nam và cả thế
giới. Một tháng sau ngày Thích Quảng Đức tự thiêu, với
“Lửa Từ Bi” thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã thêm một lần
làm ngọn lửa này rực sáng thiên thu bất diệt, đã làm bừng
cháy ý nguyện của Phật tử miền Nam :
Ngọc
hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa
hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỗ
người ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong
vô hình sáng chói nét từ bi.
Rồi
đây… rồi mai sau… còn chi ?
Ngọc
đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát
Với
thời gian, lê vết máu qua đi
Còn
mãi chứ, còn trái tim Bồ tát
Dội
hào quang xuống chốn A tì
Ôi
ngọn lửa huyền vi…
Lời
thơ vang dội đã gây nên một tác dụng mãnh liệt nung đốt
ý nguyện vô úy của Phật tử miền Nam, đến nỗi những
người có uy quyền phải giật mình thảng thốt. Ông Cố vấn
Ngô Đình Nhu nổi giận trước đám bộ hạ tướng tá giám
đốc công an, cảnh sát, mật vụ của ông và quát tháo
rằng, cả guồng máy công an cảnh sát miền Nam chẳng làm
gì được mà thua một bài thơ của tên thi sĩ quèn trói gà
không chặc. Hình như trong cơn nóng giận, bị nung đốt trong
lửa dục độc tôn và lửa hờn ghét tất cả những ai không
theo mình, bị mê hoặc trong lửa ái ngã và chấp ngã, ông
Cố vấn vốn nổi tiếng thông minh tài ba đầy mưu thần chước
qũy đã không thấy được sức mạnh của một “cung”
rất nhỏ trong “vần điệu thi nhân”, một dấu nhấn hầu
như vô hình nhưng có mãnh lực đưa mũi tên mỏng như lá tre
phá cả thành trì vô minh, khai phóng giác ngộ giải thoát,
đưa bài thơ theo cùng với ngọn lửa Quảng Đức tỏa khắp
mười phương :
Từ
cõi vô minh
Hướng
về cực lạc
Vần
điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác
Và
cũng chỉ nguyện được là rơm rác.
Chính
cung thương “nhạn quá trường giang” của tâm vô ngã “chỉ
nguyện được là rơm rác” đã giúp thi nhân “tự đốt
mình” diệt mọi sân si tham ái, vượt bờ giới hạn ngã
chấp, lời thơ bay vút rực sáng trong tâm nhân loại ngọn
lửa từ bi Quảng Đức :
Thơ
cháy lên theo với lời kinh,
Tụng
cho nhân loại hoà bình,
Trước
sau bền vững tình huynh đệ này…
Hôm
nay khi viết những giòng này, như một cuộc hẹn vô tình,
lại cũng là ngày 11 tháng 6 của năm xưa, đã vừa vặn 40
năm ngọn lửa Thích Quảng Đức ! Bút mực thời ấy đã chảy
ra rất nhiều, lời ca ngợi tán thán cũng đã lắm, sự sùng
bái quá đà tột bực. Nhưng bỗng giựt mình cho hôm nay và
cho cả ngày xưa ấy ! 40 năm đã đem lại nhiều thăng trầm
cho Việt nam, quá nhiều tang thương ngẫu lục cho cả mấy
thế hệ 50, 60, 70, đến nỗi lịch sử lắm khi vì quá đau
hay quá kiêu hãnh lại bỏ sót một vài điều tâm linh đáng
để quan tâm, nhưng dễ bị bốc hơi ở nơi những trang sử
thiên về vật chất ! Bia đá dễ mòn nhưng bia miệng có lẽ
không nên mòn về hiện tượng tâm linh Thích Quảng Đức.
Thích
Trí Quang tán thán ngọn lửa Quảng Đức bằng một câu đáng
suy ngẫm : “nước Việt nam có lắm vĩ nhân, nhưng Bồ Tát
Quảng Đức là vĩ nhân mà siêu nhân”.[1] Thật thế, Việt
nam của thế kỷ hai mươi đã có nhiều điều đáng nói, nhưng
trên bình diện thể tính văn hoá Việt nam – hay nói nôm na
trên bình diện tu tâm, - có lẽ điều đáng nói nhất mà không
quá đáng là Việt nam đã có một siêu nhân Thích Quảng Đức
với một sức mạnh tâm linh đã được thực chứng bằng
“trái tim Bồ tát”. Ngọn lửa Thích Quảng Đức không chỉ
bùng cháy cho người Phật tử, ngọn lửa Thích Quảng Đức
là một minh chứng cho cả một nền văn hoá Việt nam được
thể nhập như một đồng nhất “tâm thể”, khơi dậy cho
thế hệ nối tiếp một niềm hi vọng nhân ái trên con đường
hội nhập nội tâm – và có lẽ chỉ ở điểm này – ở
tính nhân ái từ bi nhẫn nhục nhưng đầy vô úy vô ngại
- trái tim Quảng Đức khác với “trái tim bốc lửa linh
thiêng” (“heilig gluehend Herz”) của một Prometheus , - kẻ
đem lửa cho trần gian - mà Goethe đã từng ca ngợi (J.
W. v. Goethe, Prometheus).[2] Prometheus phản kháng và thách
đố Thượng đế, kẻ đánh lừa trái tim “tươi trẻ và
thánh thiện” đã bùng cháy một thời cho thần linh và Thượng
đế ngủ yên, đã là một giấc mơ huyền thoại
về lý tưởng văn hóa của con người Tây phương, giấc mơ
về hiệu hữu của loài người không phụ thuộc vào thần
linh và Thượng đế , của một giống người với trái tim
bốc cháy theo hình tượng một Prometheus “biết đớn đau,
biết khóc biết cười, biết vui chơi và hạnh phúc” và “vô
úy” (J. W v. Goethe, ) [ 3] , không hãi sợ thần linh. Prometheus
bắt đầu xây dựng nhân tính bằng tự do, nhưng cũng bằng
sự kiêu hãnh chấp ngã của một cá tính phương Tây. Xét
cho cùng Prometheus cũng chỉ là giấc mơ huyền thoại lý tưởng
của Tây phương ! Với Hitler, tập đoàn thuộc địa, đế
quốc và độc tài phương Tây, giấc mơ Prometheus phần nào
đã trở thành cơn ác mộng của loài người. Trong lúc
“Thích Quảng Đức ngồi yên thế hoa sen trong biển lửa”
làmột hiện thực “vô úy - từ bi” trọn vẹn của con người
đã vượt chấp ngã, của “vị Phật đã thành”, khởi đầu
bằng sự phát triển chánh kiến chánh niệm, mở rộng trái
tim cho tất cả chúng sinh, quên mình cho lý tưởng giác ngộ,
chỉ nẻo cho tha nhân lầm đường và cầu nguyện cho chính
những người thù nghịch với con người. Ngọn lửa Thích
Quảng Đức không phải là một huyền thoại hay một
niềm tin mù quáng mà là ngọn lửa của con người, của “mỗi
người tự thắp đuốc lên mà đi”.
Đứng
đầu thế kỷ hai mươi mốt, trong một thời điểm mà thế
giới chưa bao giờ như ngày hôm nay bị phá sản về tinh thần
và văn hóa trầm trọng đến từ hai phía : sự hung hăng thô
bạo của thế lực vũ lực ngụy tín và sự vô vọng
hư vô (nihilist) của cuồng tín tâm linh, nền tảng
đạo đức nhân loại đang lung lay sụp đổ dưới chân của
mỗi người. Với LỬA TỪ BI và TRÁI TIM BỒ TÁT, Việt nam
có lý do hơn ai cả để tin tưởng vào sức mạnh vô úy siêu
nhiên đầy tình nhân loại của chính con người Việt nam.
Nói
điều ấy mà không mang một chút ảo tưởng, nếu mỗi người,
nhất là người Phật tử Việt nam không xem câu chuyện
Thích Quảng Đức như một hiện tượng đặc biệt duy nhất,
chỉ nên được nhớ hay quên như một dữ kiện lịch sử.
Tấm gương Bồ Tát Quảng Đức là một minh kính sửa lại
cái nhìn sai lệch cho rằng hiện tượng tâm linh tôn giáo là
một liều thuốc độc mê ngủ, đồng thời mở ra một chân
trời mới cho thấy khả năng tâm linh của con người liên
hệ với thực tại siêu việt trong nổ lực vươn tới tuyệt
đối thiện mỹ, mà những tôn giáo độc thần giáo điều
thường giao trọn trong tay Thượng đế.
Đối
với thế hệ trẻ ngọn lửa Thích Quảng Đức trở nên một
vấn nạn, một tiền đề tu chứng khởi đầu hành trình tỉnh
thức cho cả một đời người, một tấm gương khai phá sức
mạnh tâm linh siêu nhiên của con người Việt nam.
Nếu
nhớ không sai, vấn nạn ấy anh em sinh viên đã thao thức đặt
ra ngay sau ngày Thích Quảng Đức tự thiêu cũng như trong những
buổi hội thảo những năm tháng kế tiếp, rồi bị rơi vào
quên lãng.
Câu
hỏi thường được đặt ra là “Thiêu thân có phải là một
sự tự sát và đạo Phật có chấp nhận tự sát hay không
?” Trả lời câu hỏi ấy mà chẳng trả lời, Thầy Trí Quang
đưa ra lời dạy của Đức Phật làm cả bọn chưng hửng
“Thân người khó được !”
Vĩnh
Tùng ngay hôm đầu tiên, với tiếng nói sư tử hống hề hề,
lại đặt câu hỏi cố hữu : “Rưá là răng, thưa Thầy”.
Phan Chánh Đông, thường khi hay phản bác lại câu
“Huế chay” đó bằng một câu khác cũng “Huế rặt” không
kém “Răng trong miệng a tề !”, hôm ấy bỗng dưng im lặng,
đôi mắt ốc bưu cũng bớt long lanh. Cả bọn thanh niên trẻ
vốn ưa suy luận, ốn ào đặt vấn đề bỗng thấy đang đứng
trước một vách đá, băn khoăn : chúng tôi đang vấp vào một
nghịch lý mà luật chơi lý luận lý không cho phép. Rõ ràng
nếu “thân người khó có” thì phải qúi trọng “thân người”,
có nghĩa là phải “ái”, phải “thủ” phải “chấp”
lấy tấm thân “khó có” này, có nghĩa là phải bảo vệ
thân xác đến mức toàn thiện tận cùng, phải qúi hoá nâng
niu nó, không được coi thường coi nhẹ mạng sống của con
người ! Từ đó “tự thiêu thân” phải chăng là điều
cấm và Thích Quảng Đức đã không tuân lời Phật dạy ?
Vĩnh
Kha hạ kính cận xuống, nhìn mà không thấy ai : “thưa Thầy,
hình như chưa đả thông được lời dạy ‘thân người khó
được’ với sự tự thiêu !” Chị Tuyết
xen vào : “Thưa Thầy, theo con nghĩ, Đức Phật đã dạy coi
tấm thân ngũ uẩn tứ đại là vô thường, thì chuyện
tự thiêu chẳng có chi mâu thuẫn !”. “Nhưng lại mâu
thuẫn với thân người khó có !” Đông tủm tỉm nhắc lại
câu hỏi ban sơ.
Đến
đó Thầy Trí Quang mới dẫn chứng thêm “trong kinh cũng có
nói về đốt thân xác như một hành động tu chứng chế ngự
bản thân và nhất là trong trường hợp cần phải cứu độ
sinh linh, hành giả có thể tự nguyện hủy thân
mình !” . Chúng tôi thở phào an tâm, đã có lời Phật dạy
như thế ! Nhưng trong lòng nỗi băn khoăn vẫn chưa dứt. Hình
như chúng tôi cũng đang quanh quẫn trong rừng rậm hoài nghi
mà một người chưa học Phật thấu đáo thường mắc phải,
và những kẻ ngộ nhận Phật giáo thường vội vàng dựa
vào đó để đi đến những kết luận xuyên tạc : kết luận
Đạo Phật là phi tôn giáo, từ chối bản thể siêu việt
và không giải đáp được những câu hỏi siêu hình của con
người. Những kết luận này cho thấy sự nông cạn, không
thấy được hay không muốn thấy hai bình diện chân lý khác
nhau trong lời dạy “tấm thân ngũ uẩn” và “thân người
khó có” của Đức Phật. Trong lúc thấy được tính giả
hợp của tấm thân ngũ uẩn là nhìn đúng bản chất của
sự vật trên bình diện khoa học khách quan, thì mặt
khác lời dạy “thân người khó có” nhấn mạnh
đến giá trị hiếm có của chính thân người trên thế gian,
chính giá trị này mang đến ý nghĩa cho sự hiện hưũ của
con người như là một thực thể có khả năng giác ngộ, giải
thoát. Ngay ở điểm này cho thấy, trí tuệ trong cái nhìn khách
quan khoa học “thân ngũ uẩn” luôn luôn đi đôi với câu
hỏi về đạo đức tâm linh “thân khó có” đã làm nên
yếu tính tu học của người Phật tử. Hành giả thấy
được sự giả hợp của tấm thân ngũ uẩn, nhưng không bao
giờ vất bỏ tấm thân muôn kiếp mới được làm người
trên thế gian này !
Phải
suốt cả cuộc đời hành thâm chính kiến ngũ uẩn, tận tâm
lực qúi trọng nhưng không chấp thủ “thân người khó có”
mới hiểu được ý nghĩa hạnh nguyện khẩn thiết “được
tự thiêu” của Bồ Tát Quảng Đức. Ý nghiã này ngoài lòng
từ bi vô lượng không bắt nguồn từ đâu khác hơn sự thâm
nhập và thực chứng lời dạy của Đức Phật về giá trị
đạo đức và tâm linh của thực thể con người.
40
năm vấn nạn Thích Quảng Đức như một công án cho cả đời
người. Ngờ đâu câu trả lời đã nằm trong câu hỏi. Thích
Quảng Đức là câu trả lời, là gạch nối giữa “thân khó
có” trong sự tu luyện thân xác trở nên kim cương bất hoại
và “tự thiêu vì chánh pháp cứu độ sinh linh” như một
hạnh nguyện từ bi vô lượng vô biên. Nhìn lại Thích Quảng
Đức là nhìn lại cả hành trình tu chứng của Phật Giáo
Việt nam như một thực chứng giác ngộ giải thoát mà mỗi
người Việt nam đang có sẵn trong tâm thức của chính mình
!
Trở
lại ngày hôm ấy, 11.6.1963, sau khi tin Hoà thượng Thích
Quảng Đức tự thiêu ở Sài gòn được loan báo và xác nhận
từ UBLPBVPG, mọi việc biến chuyển bất ngờ. Thoạt tiên
cái máy phóng thanh trước chùa trước đó không lâu vẫn mồm
loa mép giãi đột nhiên bặt tiếng, mấy ông công an đang ngồi
lai rai cà phê cà pháo bỗng vội vàng chụp mũ phớt lên đầu
phóng xe chạy bay biến. Khoảng ba giờ chiều một phái đoàn
của toà Đại biểu Trung phần và ông Tỉnh trưởng trịnh
trọng lên gặp qúi Ôn và qúi Thầy. Khi phái đoàn ra về,
tin chùa Từ Đàm hết bị phong tỏa liền được công bố.
Giây kẽm gai trước cổng chùa đã được tháo gỡ, hàng rào
quân cảnh cũng giải tán. Xe thùng quân đội, xe jeep từ từ
rút lui. Chùa Từ Đàm bỗng chốc trống trãi lạ lùng ! Anh
Từ lên máy nói báo tin qúi Ôn khuyên mọi người chuẩn bị
về nhà. Cảm giác lúc ấy thật là khó tả. Mọi người vừa
vui mừng vừa bịn rịn. Chúng tôi rủ nhau lên chào lạy qúi
Ôn qúi Thầy để từ giả ra về. Thầy Trí Quang báo tin ngày
hôm sau Hoà thượng hội chủ Thích Tịnh Khiết sẽ cùng đi
với Thầy Thiện Minh vào Sài gòn. Chúng tôi e dè hỏi
Thầy cuộc vận động ở Huế có còn tiếp tục hay không
nếu Thầy cũng đi vào Sài gòn và anh em sinh viên PT tại Huế
có những công việc cụ thể nào. Thầy chỉ cười và bảo
chính Thầy cũng chưa biết có đi hay không, anh em nên về nghỉ
ngơi kẻo gia đình mong đợi.
Chúng
tôi từ giã nhau tại sân chùa. Quái lạ, lúc bị phong toả
chỉ ước mơ giây phút ấy, mà sao lúc chia tay rời Từ Đàm
hình như đứa nào cũng thấy bâng khuâng. B.Tôn phá tan bầu
không khí ấy bằng một cử chỉ dấu cảm động rất ‘mệ
Tôn’, vừa nói vừa liếc nhanh qua tôi rồi day về phía Trương
Phì : “Nì thôi chạy về nhà mau cho rồi, mấy bữa ni ở
dơ ở dớp, hai tuần mà cứ một bộ đồ mặc đi mặc lại.
Ui chao không đẹp đẽ chi hết. Mau về mà tắm rữa cho sạch
sẽ, rồi đi phố nữa chơ !” Phan Chánh Đông, khi nào cũng
thận trọng, vừa trả lời B.Tôn vừa dặn anh em . “Phố
xá chi chừ ! Anh em nên cẩn thận ! Công an vẫn còn theo dõi
đó nghe ! Về nhà nghỉ ngơi nhưng nhớ báo tin cho nhau !”
Chúng tôi chia tay khi nắng chưa tắt trên ngọn cây Bồ đề.
Về
đến nhà, mẹ tôi mừng rơi cả đôi đũa bếp đang chăm
“trách” cá nục chuối kho nước với ớt xanh chìa voi và
ớt bột trên bếp lửa. Buổi cơm chiều đối với người
tuyệt thực trở về khá thịnh soạn với cá nục kho, tôm
rim và rau muống luộc. Cả nhà vừa cầm đũa, đã thấy bóng
người lấp ló trước cửa với tờ giấy viết vội của
Phan Chánh Đông cho biết rằng tên tuổi của những sinh viên
tuyệt thực đã bị ghi vô sổ đen và mọi người nên “tẩu
tán” đừng ngủ ở nhà, và ban đêm đừng đi ra ngoài cũng
như không mở cửa nếu có người đến gõ cửa. Riêng Đông
sẽ không có mặt ở Huế một thời gian. Chưa kịp mừng
đoàn tụ, mẹ tôi nghe đọc thư nhắn đã tái mét mặt mày,
sợ thất thần. Nuốt vội cơm, mẹ tôi lập tức cho người
nhắn cậu tôi xuống nhà. Cậu tôi đến với chiếc xe trắc
xông màu đen. Không giải thích nhiều, mẹ tôi bảo tôi lên
xe cùng với mẹ và một xách áo quần đã chuẩn bị
vội vàng. Tôi chưa kịp hỏi đi đâu, thì xe đã rồ bánh,
qua cầu Gia Hội, qua cầu Trường Tiền, qua cánh đông An Cựu,
về phía cầu Hai rồi lên đèo Hải Vân. Chúng tôi đang ở
trên đường vào Đà Nẳng.
Suốt
cả chuyến đi, tôi không vui vì có cảm giác mình bị “bắt
cóc” nhưng không phản kháng !
Chú
thích:
1
Hồi ký không xuất bản của thầy Trí Quang
2
Johann Wolfgang von Goethe, trích từ bài thơ “...Prometheus”:
“Hast
du’s nicht alles selbst vollendet,
Heilig
gluehend Herz?
Und
gluetest, jung und gut,
Betrogen,
Rettungsdank
Dem
schafenden dadroben?”...
3
J.W. v. Goethe, đã dẫn ở trên:
“Hier
sitze ich, forme Menschen
Nach
meinem Bilde,
Ein
Geschlecht, das mir gleich sei,
Zu
leiden, weinen,
Geniessen
und zu freuen sich,
Und
dein nicht zu achten
Wie
ich”