NHÂN KỶ
NIỆM NGÀY TỰ THIÊU
CỦA BỒ TÁT
HÒA THƯỢNG QUẢNG ĐỨC
GS.Minh
Chi
(Viện
nghiên cứu Phật học Việt Nam)
Ý
nghĩa chính trị, tôn giáo, đạo đức của sự hy sinh cao cả,
thánh thiện của Bồ tát Quảng Đức, nhiều bản tham luận,
sách vở, tư liệu đã nói khá đầy đủ rồi.
Những
điều làm tôi suy nghĩ nhiều, là sức mạnh nội tâm, quyền
năng nội tâm mà Hòa thượng Quảng Đức thể hiện trong toàn
bộ cử chỉ của Ngài mãi cho đến nay ít người nói đến.
Tuy rằng cũng có người nói, như Bác sĩ Huard, nguyên hiệu
trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội trước Cách Mạng
Tháng Tám.
Tôi
đọc bài của Huard khi tôi còn ở Hà Nội, công tác tại một
cơ quan tập trung khá nhiều thông tin sách báo miền Nam và
nước ngoài. Đây là vào năm 1963, sau khi vụ tự thiêu của
Hòa thượng Quảng Đức gây một chấn động sâu sắc, lan
rộng và kéo dài trong nước cũng như ở nước ngoài.
1.
Bức ảnh tự thiêu của Morrisson và bài viết của giáo sư
Huard.
Tôi
có bức ảnh chụp chàng thanh niên dũng cảm người Mỹ tự
thiêu để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Bức ảnh
chiếm gần một trang tờ báo Match (Pháp). Đây là hình chụp
một thanh niên đang chạy, với quần áo bốc lửa, hình ảnh
này chắc chắn là đã gây xúc động nhiều ở Mỹ trong giới
thanh niên, vì Morrisson là một thanh niên, nhưng không thể nào
so sánh được với hình ảnh của Bồ tát Quảng Đức, ngồi
thản nhiên bất động trong ngọn lửa cháy ngùn ngụt chung
quanh Ngài. Một bên là hình ảnh một con người, một thanh
niên dũng cảm. Một bên là hình ảnh một bậc Thánh, một
siêu nhân. Có thể vì nét khác biệt đó mà sự hy sinh của
Bồ tát Quảng Đức có một tầm cỡ thế giới, còn sự hy
sinh của Morrisson có một tầm cỡ hạn chế trong nước Mỹ
mà thôi.
Trong
bài viết của giáo sư Huard lộ ra vẻ hoài nghi là con người
chỉ có thể bình thản chịu đựng một sức nóng như vậy,
nếu nhờ Thiền định mà mà làm tê liệt được trung khu
thần kinh cảm giác ! Phải chăng, đây là trường hợp của
Bồ tát Quảng Đức ?
2.
Về cấp định “Diệt tthọ tưởng định”.
Trong
kinh tạng Nguyên thủy Pàli cũng từng đề cập đến
cấp định này gọi là “Diệt thọ tưởng định” hay “Diệt
tận định”. Ở cấp định này, con người ngưng hơi thở,
mọi cảm giác và tưởng đều ngưng chỉ, tuy rằng tinh thần
vẫn sáng suốt.
Ngài
Huyền Trang, trên đường đi Ấn Độ cầu pháp, có đi ngang
qua nước Đại Hạ (Bactria, tức Apghanistan hiện nay), có viếng
thăm một động đá gần Kabul (Thủ đô Apghanistan), trong đó
có hai nhà sư ngồi nhập định bất động từ rất nhiều
năm. Thỉnh thoảng những người dân ở đây lại đến cắt
tóc và cạo râu cho hai vị sư, chỉ có râu tóc là dấu hiệu
sống của họ. Họ đã ngưng thở, trái tim họ ngưng đập,
nhưng rõ ràng là họ vẫn không chết. Phải chăng, họ đã
chứng được “Diệt thọ tưởng định”, cho nên họ có
thể ngồi bất động hàng năm, không thở, tim không đập
mà vẫn không chết. Tuy không chết, nhưng mọi cảm thọ, mọi
tưởng đều ngưng chỉ.
Phải
chăng, Hòa thượng Bồ tát Quảng Đức cũng đã nhập “Diệt
thọ tưởng định”, ngưng chỉ mọi cảm xúc, kể cả cảm
xúc nóng, cho nên Ngài có thể ngồi an nhiên bất động trong
ngọn lửa bốc cháy ngùn ngụt.
Do
đó, trong bài viết của mình, Bác sĩ Huard có thể đã nói
đúng một phần, khi đoán rằng Ngài Quảng Đức có thể chủ
động làm tê liệt trung khu thần kinh cảm giác. Nhưng Bác
sĩ Huard không hiểu làm thế nào Hòa thượng Quảng Đức đạt
tới được một trình độ tê liệt cảm xúc như vậy ?
3.
Thông điệp về một nền văn minh tâm linh hướng nội.
Tuy
nhiên thắc mắc của giáo sư Bác sĩ Huard chỉ là một
vấn đề trong bức thông điệp mà Ngài Quảng Đức gởi đến
nhân loại qua ngọn lửa tự thiêu của Ngài. Do là bức thông
điệp về sức mạnh nội tâm, vượt hẳn sức mạnh của
mọi thứ vũ khí, tiền bạc và quyền lực. Con người vũ
trang bằng khoa học và công nghệ cao, tưởng có thể chinh
phục làm chủ thiên nhiên và vũ trụ, nhưng kết quả là nó
không làm chủ được bản thân nó, còn thiên nhiên thì cũng
quật lại nó với những đòn kinh khủng mà thảm họa sóng
thần ở Nam Á vừa rồi là một điển hình tiêu biểu ?
Nhà bác học Einsten đã từng cảnh cáo rằng, chế tạo bom
khinh khí và bom nguyên tử không khác gì trao cái búa cho một
thằng điên. Thằng điên tức là con người nó đập phá lung
tung. Như chúng ta thấy, các cường quốc nguyên tử ý thức
về nguy cơ này cũng muốn hạn chế sự phổ biến của bom
nguyên tử nhưng rất là khó khăn.
Nền
văn minh hướng ngoại một chiều của phương Tây tạo ra những
mẫu người mất cân đối, không hài hòa, tạo ra xã hội
cũng mất cân đối và hài hòa, với tệ nạn xã hội tràn
lan. Máy móc càng tinh xảo bao nhiêu thì con người càng thoái
hóa bấy nhiêu. Chúng ta không nên lấy làm lạ, khi chủ nghĩa
phát xít đã xuất hiện và phát triển ở Đức, là một nước
khoa học tiên tiến, chứ không phải ở một nước lạc hậu.
Ngọn
lửa tự thiêu ở Bồ tát Quảng Đức là một cảnh cáo đối
với nền văn minh quá thiên về vật chất, không chú trọng
sức mạnh và quyền năng nội tâm. Sau khi chế độ Diệm Nhu
bị sụp đổ, có tờ báo ngoại quốc đã viết: “Vụ tự
thiêu của Hòa thượng Quảng Đức có giá trị bằng sức
mạnh của 30 sư đoàn”.
Gần
nửa thế kỷ trôi qua, nhưng bài học và bức thông điệp
của Bồ tát Quảng Đức để lại vẫn còn giá trị thời
sự nóng bỏng. Ý nghĩa chính trị của nó được bàn đến
nhiều rồi. Nhưng ý nghĩa tâm linh của nó vẫn chưa được
đề cập đến một cách sâu sắc. Đáng lẽ người ta phải
đặt câu hỏi :
Sức
mạnh gì đã giúp cho Hòa thượng Quảng Đức ngồi an nhiên
tự tại giữa ngọn lửa ngùn ngụt cháy ? Rõ ràng đó chỉ
có thể là sức mạnh tâm linh, sức mạnh nội tâm, mà nếu
có được, con người có thể chiến thắng tất cả. Nhưng
đáng tiếc là do ảnh hưởng của văn minh Tây phương hướng
ngoại chạy theo vật chất, nhiều thanh niên Việt Nam hiện
nay cũng hướng ngoại, cũng chạy theo vật chất.
Đó
là vấn đề mà Phật giáo Việt Nam hiện nay đang và phải
quan tâm.
Trong
một nước như nước Việt Nam, có một truyền thống Phật
giáo gần 2000 năm. Kho tàng thực nghiệm tâm linh chắc là rất
phong phú đa dạng. Nội dung kho tàng ấy như thế nào ? Làm
sao để kho tàng đó hỗ trợ cho sự nghiệp giác ngộ và giải
thoát của mỗi người Phật tử chúng ta ? Làm sao để kho
tàng đó được khai thác có hiệu quả, tạo ra được những
mẫu người có cuộc sống nội tâm phong phú, làm chủ được
bản thân mình, có cuộc sống hạnh phúc, an lạc, sống thật
sự vì lợi ích của mọi người, mọi chúng sinh.
Hiện
nay, phương Tây đang hướng về cái gọi là kho tàng tâm lý
phương đông, chủ yếu là tâm lý học Phật giáo. Xu thế
này, chúng ta thấy rõ trong tư liệu mang đầu đề tiếng Anh
“Khoa học về tâm thức” (Mind science) thuật lại nội dung
cuộc hội thảo ở Haward (Trường Đại học nổi tiếng ở
Mỹ) với sự tham gia của giáo chủ Đạt Lai Lạt Ma và nhiều
nhà tâm lý học phương Tây, trong số này có nhiều chuyên
gia về Thần kinh sinh học (neuro biology) một số người đã
từng đến châu Á, tìm hiểu tại chỗ các trung tâm thiền
định Phật giáo. Tôi dẫn chứng sau đây lời thú nhận của
Francisco Varela, chuyên gia Thần kinh sinh học, một trong các
giám đốc ở Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học của nước
Pháp (CNRS) :
“Chúng
tôi cho rằng, sự tái phát hiện nền triết học phương Đông
đặc biệt là truyền thống Phật giáo, sẽ là một phong trào
phục hưng lần thứ hai của lịch sử văn minh phương Tây
và ảnh hưởng của nó cũng không kém phần quan trọng so với
sự tái phát hiện tư tưởng Hi Lạp trong phong trào phục hưng
ở châu Âu. . .”
(Trích
dẫn từ cuốn “Le moine et le philosophe (Tu sĩ và triết gia)”
bản Pháp văn – XB Nil trang 30)
Như
chúng ta biết, Đạo Phật cho rằng tâm thức con người có
những lớp tâm thức thô và vi tế khác nhau, người bình thường
chỉ biết và sống với lớp tâm thức thô, kết hợp với
hoạt động của não bộ. Còn các lớp tâm thức vi tế và
siêu vi tế thì hoạt động không cần dựa vào não bộ. Các
nhà Thần kinh sinh học phương Tây không biết gì về lớp
tâm thức vi tế và siêu vi tế này. Phát hiện và khai thác
được những lớp tâm thức vi tế và siêu vi tế này, quyền
năng con người sẽ được tăng trưởng rất nhiều. Con người
sẽ làm chủ được bản thân mình, tiến tới làm chủ được
sự sống và chết, thành tựu được giác ngộ và giải thoát.