TƯỜNG
TRÌNH TẠI LIÊN HIỆP QUỐC (9/1963)
Hồi
ký BS WULFF
Minh
Nguyện (Việt dịch)
Lời
người dịch : Đây là bài thứ ba trích dịch từ
quyển Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt
Nam), nhà xuất bản Suhrkamp, Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany,
1972, trang 186 đến 202, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút
hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức
dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967,
trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một
sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài
phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách
thê thảm và đã trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều
tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng
9/1963.
Bài
thứ ba này nói về các hoạt động của tác giả tại New
York và Hoa thịnh đốn.
Sau
khi đến New York vào giữa tháng 9/63, bên cạnh những buổi
gặp bạn bè, tôi dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho
cuộc tường trình trước Uỷ ban điều tra của Liên hiệp
quốc (LHQ) về biến cố ngày 8 tháng 5 và những biện pháp
đàn áp sau đó. Ba phái đoàn thành viên của Ủy ban muốn
ghi lại những lời khai của tôi và yêu cầu cung cấp tài
liệu cho mỗi đoàn. Rất may là tôi có mang theo đầy đủ
các bản sao. Phái đoàn Campuchia vô cùng hổn tạp. Khi tôi
đến Sứ quán của họ, họ không biết tôi là ai và cũng
không muốn tiếp tôi nữa. Khi tôi muốn bước ra khỏi cửa,
thì một tùy viên hối hả chạy theo vội nói rằng: Ông Ngoại
trưởng hiện đang có mặt tại New York để tham dự phiên
họp Đại hội đồng muốn nói chuyện tức khắc với ông.
Trước mặt ông Ngoại trưởng tôi đã kể hết mọi sự việc
và người thư ký bên cạnh ghi lại từng chữ. Ông Ngoại
trưởng là một người đang còn trẻ, thông minh, ăn mặc
rất bảnh bao. Sáng hôm sau tôi lại phải kể đầu đuôi câu
chuyện tại phái đoàn Tích Lan, nhưng không chắc được họ
có hiểu vấn đề không. Kiến thức của họ thật là nông
cạn về cuộc chiến tại Việt Nam, về các chính sách khủng
bố của chế độ, cũng như về lịch sử và các hình thái
tổ chức của Phật giáo Việt Nam.
Khi
tôi đến Sứ quán của An-giê-ri, sau khi gặp ông Đại
sứ, tôi làm việc với một cô thư ký . Cô ta nhận biết
ngay những điểm quan trọng chính yếu trong bảng tường trình
của tôi: Vụ thảm sát tại Huế trong ngày đại lễ Phật
giáo, một đại lễ tương tự như ngày lễ Chúa Giáng sinh
bên Thiên chúa giáo, sự khước từ công nhận tổ chức chính
thức của một tôn giáo quy tụ đa số quần chúng, việc bắt
giam toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo, việc sử dụng
những chất độc hóa học để đàn áp các cuộc biểu tình
bất bạo động của thanh niên. Tất cả những biện pháp
đàn áp và khủng bố này có thể bị xem là vi phạm các nhân
quyền căn bản về tự do tín ngưởng và tôn giáo được
ghi trong Hiến chương LHQ. Đa số các thành viên LHQ có thể
sẽ lên án chế độ ông Diệm vì những lý do đó. Tuy nhiên
về mặt chính trị thì tốt hơn là không nên nói đến những
chính sách khủng bố khác của chế độ như: chính sách áp
bức nông dân, sự đàn áp và giết hại những người kháng
chiến Việt minh cũ, việc dẹp tan phe đối lập không cộng
sản. Rất nhiều các nước thuộc thế giới thứ ba cũng có
những chính sách đàn áp tương tự nên họ sẽ không dễ
dàng bỏ phiếu thuận vì sợ đụng chạm đến uy thế của
mình và xem như là xen vào nội bộ của các nước đó.
Tôi
cũng có những cuộc vận động bên ngoài LHQ. Người ta đã
tổ chức một cuộc họp báo không thành công cho lắm, trong
đó tôi được giới thiệu là một Giáo sư khoa Giải phẩu
(thay vì khoa Tâm thần)! Tôi cũng nói chuyện tại nhà thờ
Harrington và tiếp xúc với vài Thượng nghị sĩ tại
Hoa thịnh đốn. Ông Frank Church đã tiếp tôi và yêu cầu nêu
ra những lý do để Mỹ cần phải tách rời khỏi ông Diệm.
Ông ta đã vận động khoảng 30 Thượng nghị sĩ (TNS) sẵn
sàng lên tiếng đòi cắt giảm viện trợ Mỹ. Ông Kattenberg,
người phụ trách phòng Việt nam vụ tại bộ Ngoại giao cũng
đã tiếp tôi hơn một tiếng đồng hồ.
Cuộc
vận động chống chế độ ông Diệm như thế đang tiến triển
tốt đẹp. Tuy nhiên trong các cuộc tiếp xúc tôi thấy có
một sự đắng cay nào đó về điều phải được gọi là
chính sách thực dân Mỹ. Ngay cả một người thuộc phe cấp
tiến như TNS Church mỗi khi nói đến ông Diệm hay những bạn
bè của tôi tại Việt nam đều xem họ như là những con cờ
trong những ván cờ của nước Mỹ, và hẳn nhiên xem tôi như
đã đồng ý với ông ta (vì tôi là dân da trắng hay vì cùng
đứng trong khối quân sự NATO, ai mà biết được). “Nếu
chúng ta thay ông Diệm bằng…” hay “Nếu chúng ta thay bằng
ông này, ông nọ v.v…” , những câu nói đó tôi nghe đến
nhàm chán, tôi có cảm tưởng các nhân vật đó như là những
đồ vật trong hộp đồ chơi mà chủ nhân của nó có thể
lấy ra hay bỏ vào bất cứ lúc nào cũng được. Không một
chính khách Mỹ nào có thể nghĩ rằng một ngày nào đó những
người Việt nam có thể tự chọn lựa chính phủ của mình.
Các danh từ tốt đẹp như “dân chủ, quyền tự quyết”
thật ra chỉ là nơi đầu môi chót lưỡi của người Mỹ
mà thôi. Khi tôi kể lại tình trạng đó cho một vài người
Việt Nam quen biết của tôi đang ở tại Hoa thịnh đốn thì
người nào cũng bất bình.
Qua
sự giới thiệu của ông Nguyễn Xuân Oánh, một nhân viên
của Tổ chức Quỹ tiền tệ Quốc tế, (1) tôi đến gặp
ông Walt Rostow (cố vấn Tổng thống Mỹ) tại bộ Ngoại giao.
Ông ta cũng không đếm xỉa đến các vấn đề truyền thống
đạo đức, nhân văn hay xã hội Việt nam. Ông ta chỉ muốn
biết một điều:”Chúng ta có thể thắng với ông Diệm không?”
– và khi tôi trả lời rằng không, ông ta hỏi liền: “Chúng
ta có thể thắng mà không có ông Diệm không?”. “Chúng ta”
ở đây không phải là chúng tôi và những người Việt Nam
, mà đó là một nước Mỹ đi hàng đầu trong công cuộc chống
Cọng…Tôi cũng phải vào hùa với ông ta, vì việc quan trọng
hiện nay là phải làm thế nào để lật đổ ông Diệm. Tôi
nêu lên sự thiếu khôn ngoan chính trị và tính tự cao của
ông Diệm và gieo những sự nghi ngờ về chính sách chống
Cọng của ông Diệm. Tôi cảnh báo với ông ta rằng các ông
Diệm và Nhu sẵn sàng bắt tay làm hòa với ông Hồ chí Minh
còn hơn là nộp mình cho người Mỹ. Điều này đã đánh động
được ông ta…
Trong
khi đó, những cuộc bàn thảo tại hậu trường Liên hiệp
quốc về một nghị quyết Việt Nam vẫn tiếp tục. Đại
sứ nước An–giê-ri đã đưa ra một bản dự thảo nghị
quyết được sự biểu đồng tình của đại đa số tại
Đại hội đồng LHQ, mặc dầu chính phủ Mỹ cương quyết
chống lại. Chúng tôi rất phấn khởi. Lời kết án chế độ
ông Diệm của tổ chức LHQ sẽ giúp sức cho các thế lực
trong chính giới Mỹ từ lâu muốn bỏ rơi ông Diệm. Nhưng
một tuần trước cuộc biểu quyết, ông Diệm đã cử Giáo
sư Bửu Hội làm Đại sứ tại LHQ. Ông này có nhiệm vụ
tìm đủ mọi cách ngăn cản một sự lên án chế độ, hay
ít nhất cũng phải làm trì hoãn điều đó. Ông Bửu Hội
là một nhà bác học nổi tiếng trên thế giới, một chuyên
viên về ngành Sinh hóa học và bệnh Cùi. Ông đã làm việc
tại Trung tâm nghiên cứu khoa học Paris, và trước đó là
Đại sứ tại Marốc và một vài nước khác tại Phi châu.
Vài lời đồn đại cho rằng ông ta nhận lời cọng tác với
chế độ ông Diệm là vì thiếu tiền để chi viện cho bốn
người tình nhân . Đi cùng với ông ta bao giờ cũng có cô
nhà báo Mỹ Ellen Hammer, cao hơn ông ta một cái đầu. Tôi đã
gặp ông ta một lần tại phi trường Phú Bài - Huế. Dáng
người không cao cho lắm, khuôn mặt tròn đầy và đeo một
đôi kính thật dày, đến nỗi hai đôi mắt chỉ hiện ra như
hai vạch nghiêng trên mặt. Từ bề ngoài như vậy toát lên
một vẻ buồn tự tâm can và thái độ trịnh trọng của một
vị quý tộc hoàng phái gốc người Huế. Ông ta nổi
tiếng ở Việt Nam vì sự thông minh và tài ứng đối nhanh
nhẹn.
Ông
Bửu Hội không cần phải mất thì giờ để biết tình hình
rất khó khăn để phải chống lại những lời tố giác chế
độ ông Diệm. Do đó phải dùng kế hoãn binh, kéo dài thời
gian. Nếu ông Nhu thành công trong việc giữ yên lặng trong
các thành phố bằng những biện pháp đàn áp của cảnh sát
từ tháng tám sau khi ốp các chùa, Mỹ và cả thế giới
lần lần quên lãng đi vụ “khủng khoảng Phật giáo”. Đại
hội đồng LHQ không thể kéo dài vô hạn kỳ, cho nên chỉ
cần ngăn cản một nghị quyết được đưa ra để bỏ phiếu
trong kỳ họp lần này. Do đó ông Bửu Hội đề nghị nên
gởi một phái đoàn điều tra LHQ đến Việt Nam; ông tuyên
bố rằng với việc điều tra tại chỗ, các lời cáo buộc
sẽ không còn đứng vững. Ngón đòn này khó mà chống lại
được. Cuộc thảo luận tại LHQ bị đình hoãn lại.
Vài
ngày trước khi tôi rời New York, một người bạn của tôi
tên Trân, một chuyên viên về nguyên tử lực đang dạy tại
trường Đại học Columbia mời GS Bửu Hội tham gia một buổi
hội thảo với cộng đồng người Việt. Ông ta không thể
nào từ chối lời mời của một khoa học gia gốc Việt cũng
nổi tiếng như ông. Ông ta nhận lời, nhưng với điều kiện
không một nhà báo nào có mặt. Một ngày trước đó, ông
ta đã tuyên bố trước Đại hội đồng LHQ rằng không còn
vấn đề khủng khoảng Phật giáo nữa; chính phủ đã giải
quyết xong với sự hài lòng của mọi phía, bằng cớ là hiện
nay không còn những cuộc biểu tình trên đường phố hay những
cuộc tự thiêu của các nhà sư.
Khi
tôi đến sớm hơn 15 phút tại điểm hẹn nhà anh Trân, tôi
gặp anh bạn sử học Stanley Karnow đang nói chuyện với Josepth
Buttinger. Ông này khoảng 60 tuổi, trước đây vào những năm
1954 đến 1959 là người ủng hộ hết mình và cố vấn cho
ông Diệm, nhưng nay lại là người chống đối mãnh liệt
nhất. GS Bửu Hội đến trễ nửa giờ và có thái độ bối
rối vì sự có mặt của ông Buttinger và thầy Nhất Hạnh.
Ông ta đưa mắt nhìn nhanh về phía cử toạ và cảm nhận
được thái độ chống đối và lạnh lùng sau lời chào mừng
nồng nhiệt của ông ta. Qua sự yêu cầu của ông ta, tôi là
người phát biểu đầu tiên; ông ta sẽ có lợi thế khi phát
biểu liền sau đó. Với những lời lẻ từ tốn, tôi trình
bày về những biện pháp áp bức từ mấy năm qua của chế
độ ông Diệm đối với Phật giáo, về biến cố ngày 8 tháng
5 tại Huế và các sự kiện trước đó, về những cuộc biểu
tình bị đàn áp bởi những chất độc hóa học và các đàn
chó béc-giê. Tôi cũng tường thuật những điều tai thấy
mắt nghe về tình trạng các nông dân, về chế độ công lý
phân biệt, về thái độ hách dịch của các công chức cũng
như thói quen của ông Nhu đổ vấy cho “Việt cọng” những
tội ác của chính mình.
GS
Bửu Hội chăm chú lắng nghe và gật đầu đồng ý càng lúc
càng nhiều vào phần cuối bài phát biểu của tôi. Dư luận
trong phòng họp rõ ràng đứng về phía tôi, cho nên rất khó
cho ông ta chối từ những sự thật do tôi trình bày. Ông ta
cũng xác nhận việc Phật tử bị biệt đãi, ông ta cũng công
nhận trách nhiệm về những người bị sát hại đêm 8 tháng
5 là thuộc về anh em ông Diệm. Nhưng thay vì chống chế độ,
ông ta biện minh cho một “chính sách thực tế” (Realpolitik).
Ông Diệm đã chứng tỏ qua các biện pháp cứng rắn hồi
tháng 8 vừa qua rằng ông đang nắm quyền bính trọn vẹn trong
tay, mặc cho Phật tử, người Mỹ hay dư luận thế giới muốn
hay không. Phật tử phải bằng lòng chấp nhận trong tương
lai một số sinh hoạt hạn chế, giống như các tín đồ Thiên
chúa giáo bên phía Đông Âu vậy và không nên dính đến các
cuộc tranh đấu chính trị. Vấn đề là phải giàn xếp nhanh
chóng tranh chấp hiện nay hầu tránh thêm những thiệt hại
trong tương lai. Ông ta nói Thượng tọa Trí Quang là một người
thánh thiện, nhưng không hiểu gì về chính trị. Ông ta cũng
là một phật tử thuần thành và đau khổ hơn ai hết
vì tình hình hiện nay. Ông ta tâm sự đã nhận công tác tại
LHQ vì biết rằng tất cả những sự phản kháng sẽ không
thay đổi tình hình tại Việt Nam. Khi mọi chống đối tại
Sàigòn và trên thế giới lắng dịu xuống, các vị tu sĩ
Phật giáo bị bắt sẽ được trả tự do và trở về lại
chùa để tiếp tục tu học hay tiến hành các nghi lễ tín
ngưởng. Không có thể đòi hỏi thêm gì được nữa và nên
bằng lòng với những gì mình có thể có được. Ông ta chấm
dứt bài phát biểu với một thái độ tự đắc.
Thầy
Nhất Hạnh nói tiếp sau đó. Thầy kể lại về những khó
khăn mà Phật giáo gặp phải từ khi nước Pháp xâm chiếm
Việt Nam và lên án ông Diệm là người tiếp tục các chính
sách đàn áp và truyền đạo của thực dân Pháp. Nhưng nếu
trước đây dân tộc Việt đã không chịu ách đô hộ của
Pháp nên đã vùng lên đuổi quân Pháp ra khỏi nước thì nay
dân Việt cũng không chấp nhận sự áp bức và đe dọa của
chế độ ông Diệm. Tuy nhiên người phật tử không cầm súng
trong tay để chiến đấu, mà chỉ vận dụng các phương pháp
bất bạo động. Họ không sợ chết. Với sự tự thiêu, một
hình thức chết đau đớn nhất, người phật tử đón nhận
trước cho mình tất cả những đau khổ và tra tấn mà quyền
lực nhà nước có thể đem đến cho họ. Tất cả mọi quyền
lực của nhà nước như thế đã chứng tỏ vô hiệu. Cái
chết và tra tấn không đe dọa được người phật tử. Do
đó các biện pháp đàn áp của cảnh sát không còn tác dụng
nữa. Rồi đây các cuộc biểu tình và tự thiêu lại sẽ
tiếp tục, điều này không những sẽ đánh động lương tâm
của thế giới mà ngay cả đối với rất nhiều công chức
và sĩ quan tại Sàigòn. Đường lối thực tế (Realpolitik)
của GS Bửu Hội như vậy chỉ là một điều vô ý nghĩa.
Một người phật tử nổi danh không nên đưa tên mình để
che đậy một điều bất công, mà phải có bổn phận lên
tiếng phản kháng, không những nhân danh tôn giáo của mình
mà còn phải nhân danh toàn thể cả dân tộc, để chống lại
một cuộc chiến vô ích mà ông Diệm đang đưa cả dân tộc
đến bên bờ vực thẳm.
Tiếp
theo là một lúc im lặng. Cuối cùng anh Trân đứng lên và
nói rằng trong nhiều năm qua anh đã ngưỡng mộ GS Bửu Hội
như là một vị thầy và một khoa học gia, nhưng nay anh thấy
đã lầm. Với “chính sách thực tế” như vậy, thật ra
GS Bửu Hội đã phản lại sự thật và ngay cả tinh thần
khoa học. Các bạn tôi và tôi đã vội làm dịu lại những
lời trực ngôn của anh Trân và anh Trân sau đó đã xin lỗi
về những lời lẻ nóng giận như vậy. Tôi rất lấy làm
ngạc nhiên vì chưa bao giờ tôi thấy một người trí thức
Việt Nam công kích trực tiếp một đồng nghiệp trước mặt
nhiều người khác như thế. Sau lời xin lỗi của anh Trân
không khí cuộc hội thảo đã dịu lại. Ông Buttinger kể lại
về những kinh nghiệm cá nhân đối với ông Diệm; ông ta
bày tỏ nghi ngờ về tình hình ổn định của chế độ mà
GS Bửu Hội đã đưa ra trước LHQ để biện minh cho sự chọn
lựa của mình. Trước khi chấm dứt buổi gặp, thầy Nhất
Hạnh có nói thêm vài lời để yêu cầu GS Bửu Hội hãy nói
sự thật trước LHQ về biến cố ngày 8 tháng 5 và xác nhận
tính cách độc lập chính trị của Phật tử. Anh Trân cũng
khẩn khoản yêu cầu như vậy. Sau đêm hội thảo các người
Việt đều rõ rằng GS Bửu Hội đã biết hết chi tiết sự
thật và công nhận là đúng (2). Dư luận dân chúng Việt Nam
và nhất là giới trí thức trẻ sẽ đánh giá con người ông
ta có đủ can đảm dám nói lên sự thật hay không. Nếu bị
chính phủ cấm đoán thì ông ta hãy từ chức và nhường lại
công tác tuyên truyền đó cho một người bù nhìn nào khác.
Trước khi từ giả, GS Bửu Hội có hứa sẽ “không nói dối”:
Điều này có nghĩa ít hơn những gì anh Trân và thầy Nhất
Hạnh yêu cầu, nhưng mà nhiều hơn những gì chúng tôi chờ
đợi sau bài phát biểu của ông ta.
Nhưng
ngày tiếp theo chúng tôi đọc một bản tin trên tờ New York
Times, nói rằng ông Bửu Hội đã tuyên bố tại LHQ TT Trí
Quang là đặc viên của một tổ chức cọng sản trá hình
và những người bị thảm sát đêm 8 tháng 5 là nạn nhân
của “Việt cọng”; cũng như không hề có việc các phật
tử bị kỳ thị, ngược đãi. Những lời hứa hẹn đêm hôm
trước của ông ta như thế chỉ là hảo huyền. Chúng tôi
vô cùng phẩn nộ. Nhưng tôi cũng lấy làm thương hại cho
ông ta…Vài tháng sau đó, trên đường trở lại Việt Nam
sau khi chế độ ông Diệm bị lật đổ, tôi tình cờ gặp
lại ông ta tại văn phòng hãng máy bay Air France tại công trường
Invalides ở Paris, ông ta tha thiết yêu cầu tôi hãy nói cho
bạn bè biết rằng ông ta không bao giờ phản bội tổ quốc
và bao giờ cũng muốn làm điều tốt cho đất nước. Ông
ta nhớ quê hương, gia đình và nhớ Huế.
Dịch
để tưởng niệm 8 vị bị thảm sát tại đài phát thanh Huế
đêm
8 tháng 5 năm 1963.
Minh
Nguyện
Tây
Đức, tháng 5/2003
(bổ
túc tháng 8/2007).
Ghi
chú của người dịch:
(1)
Sau này ông Nguyễn Xuân Oánh làm Thống đốc ngân hàng quốc
gia và Phó Thủ tướng trong chính quyền Sàigòn.
(2)
Theo sự tiết lộ của TT Trí Quang, chính GS Bửu Hội lại
là người đem các tài liệu đàn áp Phật giáo ra khỏi nước
để giao lại cho Thầy Nhất Hạnh sử dụng khi phát biểu
trước LHQ (Xem Tiểu truyện tự ghi, Thích Trí Quang, Xin
xem trang nhà:
http://quangduc.com/Danhnhanvn/09triquang.html
);
Điều
này cũng được thầy Nhất Hạnh thừa nhận (Xem Vietnamese
engaged Buddhism -The struggle movement of 1963-1966, Quán Như Phạm
văn Minh, nxb Văn Nghệ 2002, USA, trang 258 ).
Xem
các bài trước :
1.
Lễ Phật Đản 1963 tại Huế : http://giaodiemonline.com/2007/05/bcwulff.htm
http://thuvienhoasen.org/qd-tuongniem-12.htm
2.
Tuyệt thực tháng 5/1963 tại chùa Từ Đàm : http://giaodiemonline.com/2007/06/tuyetthuc.htm
Vài
hàng về BS Erich Wulff : Ông sinh năm 1926 tại Tallin,
thủ phủ của Estland (Esthonia- trước đây thuộc Liên Sô,
nay trở lại là một quốc gia độc lập), con của một bác
sĩ chuyên khoa Phổi, thuộc thiểu số gốc Đức và mẹ là
một người Let (Letthuania - trước đây cũng thuộc Liên Sô,
nay cũng trở lại là một quốc gia độc lập), lớn lên với
3 thứ tiếng (Đức, Esthoni và Nga).
Vào
tháng 11/1939 ông theo gia đình về ở tại Ba Lan đang bị Đức
quốc xã chiếm đóng, học trung học đến tháng 6/1944, sau
đó đi quân dịch tại một quân chủng bộ binh tại miền
đông nước Phổ và bị bắt làm tủ binh đến tháng 9/1945
sau khi Đức đầu hàng. Ông thi đậu bằng Tú tài trong niên
khóa 1946/47 dành cho các cựu chiến binh tại Lippstadt, rồi
theo học Y khoa và Triết học tại Koeln (Cologne) từ năm 1947
đến 1953, tốt nghiệp bác sĩ năm 1953. Ông nhận được học
bổng quốc gia Pháp theo học tại Paris niên khóa 1953/1954, sau
đó làm giảng nghiệm viên và học Cao học ngành Tâm thần
tại Marburg, Bayreuth và Freiburg từ năm 1955 đến 1961, và đậu
bằng Tiến sĩ Y khoa năm 1960. Ông làm giảng sư tại Đại
học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967 và bắt đầu dấn thân
chính trị để báo động thế giới về cuộc thảm sát đêm
Phật đản 1963 tại đài Phát thanh Huế và khởi động các
hoạt động chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. (xem
bài điều trần trước Tòa án Russel về chiến tranh Việt
Nam : http://giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=497
)
Từ
năm 1968 đến 1974 ông làm Bác sĩ trưởng viện Tâm thần Đại
học Giessen và trình luận án Thạc sĩ Y khoa năm 1969. Ông tham
gia các phong trào đòi hòa bình cho Việt Nam và chống đế
quốc từ năm 1967, là thành viện sáng lập của Phong trào
cải cách ngành Tâm thần, viết báo cho tờ « Das Argument »
(Lý luận) và tờ »Sozialpsychiatrische Informationen » (Bản tin
xã hội tâm thần). Ông lập gia đình năm 1972 với bà Edith
Toubiana, có các con là Jonathan – 1975, Manuel – 1977 và Noemi
– 1981. Năm 1974 ông được phong chức Giáo sư thực thụ tại
Viện Tâm lý xã hội tại Đại học Y khoa Hannover, và nghỉ
hưu từ năm 1994. Ông định cư tại Paris (quận 11) từ năm
2003.
Các
tác phẩm :
Vietnamesische
Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), nxb Suhrkamp 1968/72/79.
Psychiatrie und Klassengesellschaft (Tâm thần học và Xã hội giai
cấp), nxb Fischer/ Frankfurt 1972, Eine Reise nach Vietnam (Một chuyến
đi Việt Nam), nxb Suhrkamp/Frankfurt 1979, Psychisches Leiden und Politik
(Nỗi đau tâm thần và Chính trị), nxb Campus/Frankfurt 1981, Wahnsinnslogik
(Lý luận khùng), nxb Psychiatrieverlag/ Bonn 1995/2003, Irrfahrten,
Autobiographie eines Psychiaters (Những chuyến đi lạc, hồi ức
của một chuyên gia tâm thần), nxb Psychiatrieverlag/ Bonn 2001.
(Lebenslauf
:
*
Geboren am 06.11.1926 in Tallinn (Reval)/Estland. Vater Lungenfacharzt
und Angehöriger der deutschsprachigen Minderheit, Mutter Lettin. Wächst
dreisprachig (Deutsch, Estnisch, Russisch) auf.
* Im
November 1939 "Umsiedlung" nach Poznan ins deutschbesetzte Polen im Rahmen
des Hitler- Stalinpaktes, Schulbesuch bis Juni 1944, danach Einberufung
zur Wehrmacht, Kriegsdienst bei einer Infanterieeinheit in Ostpreußen,
Kriegsgefangenschaft bis September 1945. Abiturkurs für Kriegsteilnehmer
in Lippstadt 1946/47. Studium der Medizin und Philosophie in Köln 1947
-1953, Approbation zum Arzt 1953. Französisches Staatsstipendium in Paris
1953/54. Pflichtassistenz und psychiatrische Weiterbildung in Marburg,
Bayreuth und Freiburg 1955 bis 1961, 1960 Promotion zum Dr.med. 1961-67
Lehrauftrag in der Universität Hué/Vietnam, dort Politisierung und Parteinahme
gegen den amerikanischen Viernamkrieg. 1968 -74 Oberarzt der Psychiatrischen
Universitätsklinik Gieße, 1969 Habilitation. Engagement in der deutschen
Vietnam- Friedens- und antiimperialistischen Bewegung ab 1967, Mitbegründer
der Psychiatrie- Reformbewegung, Mitarbeit an den Zeitschriften "Das Argument"
und "Sozialpsychiatrische Informationen". 1972 Heirat mit Edith Toubiana,
1975 Geburt vom Jonathan, 1977 von Manuel, 1981 von Noemi. 1974 Berufung
auf den Lehrstuhl für Sozialpsychiatrie der Medizinischen Hochschule Hannover.
1994 Emeritierung, 2003 Übersiedlung nach Paris.
* Buchveröffentlichungen:
Vietnamesische Lehrjahre, Suhrkamp/Frankfurt 1968/72/79, Psychiatrie und
Klassengesellschaft Fischer/Athenäum Frankfurt 1972, Eine Reise nach Vietnam.
Suhrkamp/Frankfurt 1979, Psychisches Leiden und Politik, Campus/Frankfurt
1981, Wahnsinnslogik Psychiatrieverlag/Bonn 1995/2003, Irrfahrten. Autobiografie
eines Psychiaters. Psychiatrieverlag Bonn 2001.)
Minh Nguyện
viết theo tài liệu của Đài truyền thanh và truyền hình WDR-Tây
Đức : http://www.wdr5.de/sendungen/erlebte_geschichten/406425.phtml?print=1&i=1
Mục
điểm sách Irrfahrten (Những chuyến đi lạc) : http://www.aerzteblatt.de/v4/archiv/artikeldruck.asp?id=33327
http://www.deutsches-fachbuch.de/reinschauen/2d/3884143492.htm
09-16-2007
11:24:45