NGỌN LỬA
QUẢNG ĐỨC
Tỷ
kheo Thích Trí Quang
Ban
Biên Tập Khuông Việt :
Trong
cuộc tranh đấu bảo vệ Phật Giáo năm 1963, nhiều sự kiện
nổi bật, đã trở thành tiêu biểu cho cả phong trào. Trước
tiên, đó là ngọn lửa Thích Quảng Ðức đã bùng lên như
một ánh đuốc dẫn đường cho cả đại khối quần chúng
đứng lên đòi hỏi quyền tự do căn bản của mình, ngọn
đuốc đã đánh tan màn vô minh đang che phủ cả miền Nam Việt
Nam khi đó : chế độ độc tài vô nhân Ngô đình Diệm. Sự
việc Hòa Thượng Trí Quang, người lãnh đạo phong trào đã
trốn thoát mạng lưới công an, mật vụ trong đêm 21.8.1963
được ghi lại vô cùng sống động, giúp chúng ta hình dung
lại những ngọn đòn quyết liệt mà chính quyền nhà Ngô
đã dành cho phong trào Phật Giáo khi ấy . Khuông Việt vô cùng
biết ơn Hòa Thượng Trí Quang đã vui lòng cho phép trích đăng
lại nơi đây hai chương tiêu biểu cho cuộc tranh đấu thật
bi tráng, thật hào hùng ấy - Ban Biên Tập xin được phép
đề tựa là : « Ngọn lửa Quảng Ðức » và « Từ Rạch
Cát tới Tòa Ðại Sứ ». Xin trân trọng giới thiệu cùng
quí độc giả.
“Thân
người khó được“, đó là lời dạy toàn bộ Phật giáo.
Chỉ trong Phật giáo đại thừa mới nói đến sự tự thiêu.
Nói ít nhưng trang trọng là Pháp Hoa. Đặc biệt Bồ tát giới
Phạm Võng cấm đi và ở những nơi nguy hiểm, tai nạn, nhưng
cũng nói đến sự tự thiêu. Cả hai xuất xứ trên đây đều
nói tự thiêu là khổ hạnh. Khổ hạnh này xuất từ ý thức
và tâm nguyện có hai đặc thái : xót xa Phật pháp điêu đứng
và xót thương quần chúng đau khổ. Khổ hạnh tự thiêu tuyệt
đối phải là không phải tự sát. Khổ hạnh tự thiêu cũng
không phải chỉ tự đốt thân thể, mà phụ thuộc việc này
còn có những sự tự đốt một phần thân thể. Sự tự đốt
một phần thân thể là vì muốn tự thử nghiệm nội lực,
thử chịu khổ hạnh. Phía người ngoài thì không ai được
yêu cầu hay khuyến khích sự tự thiêu, được chăng chỉ
có sự không trở ngại mà thôi. Chỉ có vị thầy truyền
thọ Bồ tát giới mới có thể có lúc nói đến sự tự thiêu
một phần thân thể để xét nghiệm người xin thọ Bồ tát
giới có thể hay không thể có cái chí nguyện dũng mãnh .
Không
thể có thì vị Thầy phải đào luyện cho họ có thể có
cái chí nguyện ấy mới truyền thọ Bồ tát giới. Tự thiêu
một phần hay toàn thân thể, như vậy, là xuất từ nguyện
lực, một trong những sức mạnh mà Phật giáo nói đến...
Nay
nói về ngài Quảng Đức.
Chính
trong những ngày quyết liệt nhất mà tôi nhận được thư
của Ngài. Thư viết trên miếng giấy nhỏ, dĩ nhiên để dễ
mang đi cho kín đáo. Thư do một ký giả người Việt làm cho
một hãng thông tấn ngoại quốc cẩn trọng đưa tận tay tôi.
Thư viết chữ nghiêm trang. Rằng đạo pháp trong cơn nguy khốn
mà tôi tuổi già sức mọn, không làm gì được. Nên tôi xin
học đức Dược Vương, nguyện thiêu thân mình để cầu cho
đạo pháp trường tồn. Ngưỡng mong liệt vị trưởng thượng
tôn túc từ bi hứa khả, và quyết định cho lúc nào
thực hiện. Xét đây là việc trọng đại nên tôi không dám
quyết định. Một cuộc họp được mở ra khẩn cấp, với
sự hiện diện của ngài Hội chủ, các Thầy Trí Thủ, Thiện
Siêu, Thiện Minh và tôi. Ai cũng xúc động nhưng không quyết
định gì, chỉ giao cho tôi xét kỹ nên chấp nhận ý nguyện
của Ngài hay không, chấp nhận thì nên thực hiện vào lúc
nào, dĩ nhiên là ở Sài gòn. Được giao như vậy, nhưng tôi
trang trọng cất giữ trong người bức thư của Ngài mà chưa
quyết định gì, kể cả việc phúc đáp cho Ngài. Thế rồi
trong lúc Từ Ðàm bị bao vây dữ dằng thì tin ngài tự thiêu
được ông Đằng mật báo liền cho tôi. Liền hôm sau ông
Diệm mời Phật giáo thương thuyết. Sự tự thiêu của Ngài
như vậy là cái mốc của giai đoạn mới trong cuộc Vận động
1963.
Trước
đây tôi không quen biết với Ngài, chỉ gặp một lần khi
Ngài trù trì chùa Phước Hòa, biết Ngài chuyên tâm trì tụng
và lễ bái Pháp Hoa. Giai đoạn trước khi Ngài tự thiêu tôi
cũng chỉ biết mỗi một bức thư nói trên. Sau này mới biết,
trước khi tự thiêu, Ngài chuẩn bị một cách chân thành,
bình dị và kín đáo. Vẫn trì tụng lễ bái Pháp Hoa hằng
ngày. Vẫn sinh hoạt bình thường. Tế nhị lắm mới thấy
Ngài có vẻ như người sắp đi xa. Quan trọng nhất là di chúc
của Ngài. Một vị tân tỷ kheo gần Ngài mà đến hôm Ngài
sắp tự thiêu mới biết được ý nguyện và bản di chúc
ấy.
Bản
di chúc ấy bình dị, chân thành, quan trọng nhất là ý thức
chứa đựng bên trong. Chính ý thức này chứa đựng tâm nguyện
Bồ tát của Ngài. Không oán trách đến cả ông Diệm, ngài
chỉ nói tự đốt thân mình để cầu cho ông sáng suốt...Ngoài
di chúc, Ngài còn một tấm ảnh và một quả tim. Về tấm
ảnh, một ký giả chụp được lúc ngọn lửa bùng lên gần
khắp người Ngài rồi, còn lại chỉ có một bên vai, gần
một nửa trên đầu, trán cũng đã có lửa, chỉ mặt còn
nguyên. Chính trong lúc như vậy mà nét mặt Ngài hoàn toàn
bình thản, siêu thoát, không một nét nhăn hay một chút ráng
sức. Bức ảnh này được giải thưởng quốc tế. Lại nghe
nói lửa bùng lên hoàn toàn mà Ngài vẫn an tọa. Cho đến
lửa tắt, một tấm hình khác cho thấy Ngài ngồi như pho tượng
đồng đen. Sau đó một lúc Ngài mới gật đầu xuống như
thể cúi chào tăng ni Phật tử, rồi nhẹ nhàng bật ngửa
người ra. Ngài tự thiêu mấy hôm rồi tôi mới vào Sài gòn.
Tình trạng khi Ngài tự thiêu, nghe nói cực kỳ bi tráng, cho
đến nay vẫn là không tiền khoáng hậu.
Về
đám tang của Ngài, tôi sẽ nói đến trong chương 30. Nay hãy
nói đến sự kiện quan trọng nhất là quả tim của Ngài,
“quả tim Quảng Ðức“.
Việc hỏa thiêu nhục thân của Ngài là do thầy Thiện Hòa
chủ trì. Thiêu rồi lấy ra, trong đống tro tàn còn một khối
thịt mà vị trí cho biết đó là quả tim. Thầy Thiện Hòa
cho vào lò thiêu lại cũng vẫn không cháy. Lại thiêu nữa
nhưng xăng hết. Bấy giờ rất đông ký giả hiện diện. Họ
chạy kiếm xăng giúp. Bấy giờ chỉ họ mới đi lại được
dễ dàng. Họ kiếm được mấy can xăng super, đem thiêu kỹ,
nhưng lấy ra vẫn không cháy. Việc này làm cho tôi tin, xưa,
ngài La Thập sau khi hỏa thiêu cái lưỡi vẫn còn. Nhưng ở
đây mọi thắc mắc dị nghị hoàn toàn không có được nữa.
Vì đây là việc mà trên dưới 50 ký giả, đa số là ký giả
quốc tế, không những cũng chứng kiến mà còn dự vào.
Về
quả tim này tôi vẫn nói đến vào gần cuối bản tự ghi
này. Ở đây chỉ nói khi hỏa thiêu ngài rồi, tôi thảo để
ngài Hội chủ ký một thông bạch. Cuối thông bạch ấy tôi
viết “cầu nguyện vị nhục thân Bồ tát gia hộ cho cuộc
vận động của Phật giáo đựơc thành tựu“. Và niệm.
“Nam mô đại hùng đại lực Quảng Ðức bồ tát“ Hồng
danh Bồ tát Quảng Ðức khởi đầu từ đó. Hồng danh ấy,
và Bồ tát Quảng Ðức, cho đến nay chính những người duy
vật cũng không thể không công nhận. Một trong những sự
bất diệt của cuộc vận động 1963 là sản xuất một vị
Bồ tát.
Sự
tự thiêu của Bồ tát Quảng Ðức ngay khi mới xảy ra đã
làm cho ông Diệm rụng rời. Rồi mấy giờ sau, cả thế giới,
nhất là ở Mỹ, ngọn lửa tự thiêu của Ngài rực lên trên
máy truyền hình, đốt cháy tan tành hình ảnh ông Diệm và
chế độ của ông. Ngọn lửa Quảng Ðức chung đúc và làm
sáng lên cái khí thế cao độ mà ông Diệm không còn giữ
được gì về thái độ và chính sách của ông.
Dân
tộc Việt Nam có lắm vỉ nhân. Nhưng Bồ tát Quảng Ðức
là vỉ nhân mà siêu nhân. (Trích Hồi Ký chưa xuất bản
của Tỷ kheo Thích Trí Quang, bản riêng Mai Lan lệ Ấn)
Nguồn
Tư Liệu : http://www.khuongviet.net/PD63/Quangduc.htm
Từ Rạch Cát
tới Tòa Ðại Sứ
Tỷ
kheo Thích Trí Quang
……Quân
đội vòng ngoài, cảnh sát lái xe tải chờ sẵn, rồi lực
lượng đặc biệt có công an phụ lực, tấn công vào chùa
lúc 11 giờ đêm. Ðạn thật, đạn giả, lựu đạn cay, phi
pháo, rồ lên loạn xạ. Dùi cui và búa được dùng để đập
phá cửa ngõ của chùa, đánh vào đầu vào ngang lưng của
tăng ni Phật tử. Chết chóc cũng có, bất tỉnh nhiều nhất,
nhiều hơn nữa là lỗ đầu, u trán, sưng mặt, vẹo người,
què tay chân. Khói lựu đạn cay và thuốc súng xông lên, bám
hay xém vào y áo tăng ni Phật tử mà sau đó mười ngày ở
trong Rạch Cát vẫn còn nồng nặc. Các thầy Tâm Châu, Thiện
Hoa, Hộ Giác, Ðức Nghiệp, Giác Ðức, Chánh Lạc, cụ Chánh
Trí, đều bị còng tay điệu ra, tống lên xe tải hay xe nhỏ.
Ngài Hội chủ, một bên trán mặt đỏ và sưng lên thấy rõ,
cũng bị điệu ra, lên một xe riêng. Còn tăng ni Phật tử,
Nam tông cũng như Bắc tông, thương tích máu me, y áo tơi tả,
vừa bị đánh đập vừa bị lôi kéo, tống hết lên xe tải,
đậu từ Xá Lợi ra đến đường Hiền Vương. Ðồ đạc
Xá Lợi thì trên từ tòa sen của Phật xuống đến bất cứ
cái gì, chúng nghi và ghét là đập phá. Chúng lại tịch thu,
ăn cắp. May mà trước đó quả tim của ngài Quảng Ðức và
những gì trong tủ két đã được cụ Chánh Trí đưa gửi
ngân hàng. Bản thảo một cuốn sách của tôi đang sửa chữa
cũng được gửi theo.
Ngang
đây tạm ngưng để nói đến hai vị Thánh, hai vị Bồ tát,
đầu tiên trong giai đoạn thiết quân luật, là cháu Quách
Thị Trang và ngài Quảng Hương.
Nguyên
cảnh sát canh gác chúng tôi ở trại Rạch Cát có một số
người Miên. Ngay hôm mới vào, họ đã bí mật liên lạc với
chư tăng Nam tông chùa Changransey, cho biết khá nhiều tin tức
và tình hình ở ngoài.
Tin
tức họ cho có sự bị giết của cháu Quách Thị Trang và
sự tự thiêu của ngài Thích Quảng Hương. Ngài thì tôi đã
ghi rồi, ở trong chương 28. Còn cháu Quách Thị Trang là nữ
sinh trung học đệ nhất cấp, đoàn Gia đình Phật tử Giác
Minh.
Ðêm
hôm ông Diệm thiết quân luật thì ngay sáng hôm ấy cháu cùng
một số Phật tử tức khắc trà trộn vào chợ Bến Thành,
từ đó xông ra công trưòng trước chợ mà biểu tình. Cháu
cầm biểu ngữ bằng tấm bảng, viết vội vàng "yêu cầu
thả tăng ni Phật tử". Cháu xông lên trước, hô lớn "phản
đối đàn áp Phật giáo", "đả đảo đánh phá chùa chiền",
"đả đảo", "đả đảo"…Cháu vừa hô vừa khóc. Phật tử
cùng biểu tình cũng hô cũng khóc. Quần chúng Phật tử trong
chợ đổ ra, hô theo.
Nhân
viên công lực bấy giờ tàn bạo hết nói. Chúng có cái quyền
"tiền trảm" mà không cần "hậu tấu"; Chúng đây là cảnh
sát đồn Lê Văn Ken hay gì đó. Chúng bắn cháu chết tại
chỗ, bắn ngay vào ngực của cháu. Rồi chúng bắn thật, bắn
dọa, đánh đập hết cỡ, hành hung loạn xạ, vây bắt đem
đi hết. Ở trong trại Rạch Cát ai nghe cũng ngậm ngùi, ứa
nước mắt. Chỗ cháu bị bắn chết, sau này, học sinh sinh
viên đặt tên là công trường Quách Thị Trang. Chợ Bến Thành
được đổi gọi là chợ Quách Thị Trang. Một tượng bán
thân của cháu được một sinh viên tự đắp lấy và dựng
tại công trưòng này.
Quay
lại kể tiếp. Riêng tôi, khi tấn công Xá Lợi, chúng dỡ
họa đồ ra tìm đúng chỗ tôi là các tầng tháp Xá Lợi.
Chỗ nằm, chỗ làm việc, chúng tìm không sai. Nhưng chúng không
ngờ một tuần trước đó vì chịu không nổi mùi sơn viết
biểu ngữ, tôi đã xuống hậu tẫm của chánh điện Xá Lợi.
Ở đó sát vách với bộ phận tăng ni đánh máy quay ronéo.
Nên tôi bị bắt với bộ phận ấy. Vì vậy mà chúng đã
không tìm ra.
Lúc
lên xe tải, cảnh sát lái và cảnh sát gác hỏi nhỏ có ông
lớn nào thoát không? Chúng tôi không ai trả lời gì. Sau đó
biết cảnh sát trên các xe khác cũng hỏi như vậy. Rồi cả
đoàn xe chạy. Một hồi thì ngừng. Thì ra chiếc xe đi truớc
hết bị hỏng (sau này nghe nói là cố ý). Mà đường thì
hẹp. Nhìn ra thấy đường nằm trên cánh đồng. Ðường thấp,
đồng có nước mà chắc là cạn. Các anh cảnh sát nói chuyền
với chúng tôi, nói rất nhỏ, rằng ai muốn thì thoát đi.
Nhưng không ai làm việc ấy cả.
Một
hồi thì xe lại chạy. Ðến một nơi mà sau đó biết tên
là đồn Rạch Cát. Bấy giờ quãng 3,4 giờ sáng. Không mưa
nhưng lạnh. Chúng tôi bị lùa vào hai dãy nhà. Tôi với một
số chư tăng vào một nhà. Thì đã thấy có chư tăng ở trước
đó. Mới biết Giác Minh, Ấn Quang, Già Lam, Huệ Nghiêm, Pháp
Quang, Changransey cũng bị bắt cả rồi. Bên dãy nhà chư ni
và Phật tử cũng là như vậy.
Tôi
hơi mệt, nền nhà lạnh và dơ mà vẫn nằm. Thì có một tăng
sĩ mà đến nay tôi vẫn chưa biết là ai, đến ngồi xếp
bằng bảo tôi gối đầu lên vế của thầy mà ngủ. Quảng
một giờ cả nhà hơi nhốn nháo. Thì ra cụ Chánh Trí bị
buộc đi theo hai cảnh sát ruồng trong các nhà. Vừa đi, cụ
vừa nhìn vừa nói không có, không có. Khi đến tôi, chúng
tôi nhìn nhau mà cụ càng nói không có, không có. Mới hay chúng
dẫn cụ đi nhìn mặt để bắt tôi. Sau đó biết các lãnh
đạo cấp cao và cấp kế đều bị bắt đi riêng cả. Ai chưa
thì họ lùng trại Rạch Cát mà bắt.
Thế
nhưng sót lại còn ngài Thiện Luật, tôi với thầy Huyền
Quang, thầy Hộ Giác. Phần tôi, họ lùng không ra, lại nghi
tị nạn ở tòa đại sứ nào rồi. Sau đó tin cho biết như
vậy. Lại cho biết họ vẫn còn nghi, đã cho một thầy vốn
học cùng Phật học viện với tôi, làm như bị bắt mà vào
Rạch Cát dò xét. Quả có thầy ấy. Thầy giáp mặt tôi mà
không nói gì, rồi cũng không thấy gì.
Nay
hãy tiếp tục câu chuyện. khi họ lùng rồi, vị tăng sĩ trên
nói với tôi, bây giờ gần sáng rồi. Khi thầy ngủ, chúng
con đã bàn với nhau. Bây giờ xin thầy mặc y Nam tông (đã
có một tăng sĩ Nam tông đợi đổi y áo với tôi). Rồi dời
qua ở bên nhà của chư tăng Nam tông. Ở đó có cả chư tăng
chùa Changransey, sẽ bảo hộ thầy. Ngoài ra chư tăng Già Lam
được phân công theo dõi thầy mà giúp đỡ. Bổn phận con
đến đây là hết. Tôi ngạc nhiên và cảm kích sự sắp đặt
ấy, nên bấy giờ nằm sát với ngài Thiện Luật, thầy Hộ
Giác. Tăng ni hỏi ý kiến gì thì tôi bàn với hai vị này
mà chỉ bày.
Ở
đây nói trước về tăng ni Phật tử trẻ đã. Suốt cuộc
vận động 1963 của Phật giáo, không một ai bị bắt trước
hay sau thiết quân luật mà để cho đối phương khinh thuờng.
Tăng ni Phật tử lớn tuổi đã đành là như thế. Tăng ni
Phật tử trẻ càng là như thế. Họ thật khôn ngoan, trung
hậu, và rất anh hùng. Họ tin tưởng và bảo vệ lãnh đạo
đến kỳ lạ. Chính những ngày ở Rạch Cát với họ mà tôi
thấy rõ và tin tưởng họ hơn lên. Nội việc trên dưới
500 người ở chung mà tin tức về tôi không bị lộ ra, đã
là cả một vấn đề. Sau CM 1/11, tin tức nghe được từ mọi
phía, tại Sài Gòn cũng như tại các tỉnh, không ai mà không
thán phục tăng ni Phật tử trẻ mà cang cường. Không ai gặp
một tăng ni Phật tử trẻ nào bị tra tấn mà khuất phục,
phản bội. Cũng không ai mà không công nhận rằng, trong tình
trạng giới nghiêm, tăng ni Phật tử trẻ đã gây ra bao nhiêu
là xúc động, cảm phục, tích cực hoạt động theo. Lại
tiếp tục câu chuyện.
Ở
trại Rạch Cát, sau một ngày bị bắt, thầy Nhật Thiện (vốn
đồng sư và đồng châu với tôi) và thầy Hành Tuệ (sau chết
trong chuồng cọp ở Côn đảo) bàn nhau cùng ở sát tôi, dời
ở một nơi nhỏ hơn. Họ lo cho tôi hết sức hết lòng. Trong
thì gian này họ bắt khai lý lịch, lăn tay, chụp ảnh; Ðến
lượt tôi, thầy Nhật Thiện kéo một tăng sĩ Nam tông nữa
cùng đi với tôi. Ðến bàn làm việc họ cùng ngước lên
nhìn rồi cùng cúi xuống cả. Rõ ràng có cái gì đó. Nên
lời khai thì tôi đọc, hình thì thầy Nhật Thiện chụp, dấu
tay thì tăng sĩ kia lăn. Họ làm việc mà không hỏi hay nhìn
kỹ đối phương là ai. Thầy Nhật Thiện nói phiếu lý lịch
này không dùng được vào việc gì cả. Ni sư Huệ Nghiêm qua
thăm, tôi dặn kỹ công việc khi được phóng thích. Rồi viết
một bài gọi là Thiền của ngài Qui Sơn, bằng cách nhớ và
dịch giải bài minh trong văn Cảnh sách của ngài.
Thì
gian này thầy Nhật Thiện và ni sư Huệ Nghiêm bàn riêng với
nhau, sắp đặt cho tôi thoát ra. Họ liên lạc được với
một cảnh sát vốn là công chức bị bắt mặc đồ cảnh
sát vào gác ban đêm. Người này chịu, hẹn tối hôm đó mang
thêm một bộ đồ cảnh sát vào cho tôi thay để sáng sớm
hôm sau đèo xe người ấy chở ra. Nhưng gần trưa hôm sau đã
được phóng thích. Việc phóng thích cũng ngồ ngộ.
Nguyên
trước đó thầy Thiện Hoà vào thăm cả trại, có xuống thăm
riêng tôi, nói hễ được phóng thích thì thầy đưa về Ấn
Quang. Nhưng khi phóng thích thì cả thầy ấy và thầy Nhật
Minh cho người xuống nói với tôi, rằng họ biết đích xác
có tôi ở đây rồi. Xin thầy tự liệu.
Tôi
chẳng liệu gì cả. Cũng không phiền gì. Nguyên lãnh đạo
Phật giáo có đem việc bị bắt ra bàn, rằng ai ở ngoài được
thì nên ở. Nhưng chẳng ai chịu cả. Ðến nay tôi cũng chẳng
thiết gì lắm được phóng thích ra. Chúng tôi ý thức bị
bắt, hơn nữa bị giết, thì rất có tác dụng. Nên bấy giờ
tôi vẫn thản nhiên. Nhưng một tăng sĩ Nam tông, người Huế,
miệng nói tay đẩy, thúc tôi đi ra với nhóm chư tăng Pháp
Quang.
Khi
điểm danh, đúng lúc thầy Hộ Giác bị bắt xuống xe tải
thì tôi lên xe tải ấy, trước cái nhìn của ngài Thiện Luật.
Ngài thản nhiên. Nhưng ai cũng biết ngài vừa thương vừa
mừng. Chư ni đứng chờ, mừng lộ quá, thấy là biết liền,
không hiểu tại sao chẳng xảy ra chuyện gì.
Về
Pháp Quang thì tôi đi tắm giặt, thầy Nhật Thiện xuống Xá
Lợi, chạy về với ni sư Huệ Nghiêm, cùng báo tin họ biết
tôi không ra với chư tăng Changransey thì với chư tăng Pháp
Quang. Họ sắp đến đây. Quả nhiên, trời mưa như trút nước
mà nhìn thấy họ đã bao vây bốn phía Pháp Quang, súng đã
chĩa vào qua hàng rào.
Cùng
lúc, bộ phận chỉ huy vào thưa với ngài Thiện Luật bảo
chư tăng ra cho họ kiểm tra, "kẻo thiếu ai thì họ bị trách
nhiệm". ngài giằng co, từ chối, hẹn sáng mai, nói hôm nay
mới về, chư tăng có người thưa tôi đi ra ngoài không ít.
Họ không chịu. Ðúng lúc ấy, với ý nghĩ vừa phát sinh,
tôi bảo thầy Nhật Thiện và thầy Nhâm đi với tôi, xuống
thưa ngài Thiện Luật, ngay trước mặt họ rằng chúng con
đã viết thư ngài bảo (mà thật ra tôi mới viết vội vàng).
Xin ngài ký cho để chúng con đưa về Thầy Thiện Hòa. Thư
có nội dung cám ơn việc được phóng thích mà chúng tôi qui
công cho thầy ấy. Biết ý, ngài bảo đọc, rồi ký, lại
nói trời sắp tối rồi, các thầy đi mau mà về. Ði bây giờ
để tỏ lòng chân thành.
Chúng
tôi vâng dạ rồi đội mưa mà đi. Thì trước sân chùa, gần
ngoài ngõ, đã có hai chiếc taxi đậu ở đó, không bình thường.
Xe sơn vành đỏ, có nghĩa tài xế có thể bắt về tổng nha
công an. Nhưng tôi vẫn đi một trong hai chiếc xe ấy, bụng
nghĩ mọi việc ở chính cái anh chàng tài xế công an này.
Thật ra hai thầy vẫn nghĩ tôi đi Ấn Quang, nhưng biết rằng
cần yên lặng để tôi liệu.
Xe
ra đến đường lớn, tôi nói với hai thầy, kỳ hạn xuất
gia của tôi quá hơn một tháng rồi. Chuyến này tôi sẽ xin
sư cụ trở về, lập gia đình. hiểu ý, hai thầy nói anh em
tôi cũng vậy. Anh tài xế bèn lên tiếng, vậy ra các ông không
muốn tu nữa ? Tôi cắt nghĩa cái lệ xuất gia có kỳ hạn
của Phật giáo Nam tông là thế nào: ai muốn tu một thì gian
để kiếm phước và tập tánh tốt thôi, thì có thể xuất
gia từ một tháng cho đến vài ba năm, tùy ý, sau đó về nhà
như thường. Ở các xứ Miên, Lào còn được mến trọng hơn
lên.
Tài
xế hỏi, các ông vừa rồi có bị bắt không ?
Tôi
nói bị bắt mới được thả ra trưa nay.
Tại
sao bị bắt ?
Tại
đi biểu tình.
Ai
bảo các ông đi biểu tình ?
Thấy
trên đi thì đi. Tôi nói thế, nghĩ vừa phải rồi nên bẻ
qua chuyện khác. Rằng từ chùa về tới Ấn Quang mà chỉ được
20 đồng tiền xe. Mấy ngày nay tù túng quá, chúng tôi muốn
ra bến tàu chơi một chút rồi đi Ấn Quang, anh giúp được
không?
Ðược,
được.
Tôi
biết chắc anh sẽ trả lời như vậy để có dịp dò xét
hơn nữa. Tôi nghĩ, thế thì được quá đi rồi. Và biết
hai thầy đã thừa hiểu ý tôi; Ra bến tàu, đến gần đường
Hàm Nghi, tôi nói khi sáng đến giờ nặng đầu quá, anh làm
ơn quẹo vào đây cho tôi tìm hiệu thuốc mua vài viên aspirine,
được không ?
Anh
lại nói được, được, và thêm, kể như làm phước giúp
mấy ông vậy mà; Khi tìm ra hiệu thuốc thì tôi nói cả ba
cùng đi bộ cho giản chân cẳng một chút. Vừa đi vào hiệu
thuốc tôi vừa hỏi nhỏ thầy Nhật Thiện, biết tòa đại
sứ Mỹ ở ngay trước cửa hiệu thuốc, lại biết luôn luôn
mở cửa.
Ra
khỏi hiệu thuốc, tôi nói với tài xế, anh cứ lái xe theo
chúng tôi ra bến tàu, chúng tôi đi bộ chút nữa; Nói rồi
tôi đi luôn, không để tài xế phản ứng gì.
Tòa
đại sứ Mỹ bấy giờ nằm trên đường Hàm Nghi, cùng phía
với hiệu thuốc. Hiệu thuốc ở góc trên, tòa đại sứ ở
góc dưới, của con đường nhỏ hơn, băng ngang đường Hàm
Nghi. Nhưng khi đi qua thấy cửa hơi khép. Tôi đi thẳng.
Ði
qua chiếc xe ca đang đậu ở đó, ngoái lại thì cửa mở rộng;
Thế là chúng tôi bất ngờ quay lại, đi nhanh vào. Công
an cảnh sát gác ngoài cửa ấy càng bất ngờ, không phản
ứng kịp, chỉ nắm được tay thầy Nhâm nhưng thầy ấy giựt
ra.
Anh
lính Mỹ đứng sẵn nơi cửa, hai tay khoanh lại cho đúng thủ
tục, nhưng xê ra cho chúng tôi vào phòng anh, nhỏ và gần sát
lề đường. Anh đóng cửa lại liền, hỏi các ông là phe
ông Trí Quang? thầy Nhật Thiện chỉ tôi, nói thầy Trí Quang
là vị này. Không hỏi gì nữa, anh kéo ba chiếc ghế mời
chúng tôi ngồi, rồi gọi điện thoại.
Một
lát, người Mỹ đã gặp tôi ở Từ Ðàm đến, nói gì đó
mà tôi chắc là xác nhận về tôi. Thế là chúng tôi được
đưa vào thang máy, lên một phòng có vẻ là nơi làm việc.
Rồi ba người Mỹ nữa đến mà sau này tôi biết một trong
ba người là ông cố vấn chính trị tòa đại sứ. Họ chỉ
hỏi thăm bình thường; Rồi đem một chiếc radio, mở đài
BBC cho tôi nghe. Thì ra đài này đang loan tin tôi đã vào tòa
đại sứ Mỹ. Từ khi vào đây đến lúc nghe BBC chỉ non một
tiếng đồng hồ.
Trong
khi nghe BBC, có tiếng chiến xe chạy tiếp nhau quanh quần tòa
đại sứ. Mấy người nói với tôi, chắc là quân đội đang
bao vây. Họ trịnh trọng nói, nếu thầy có ý tỵ nạn thì
thầy là người khách của chúng tôi. Tôi nói, "tôi vào đây
là để, xin lỗi, coi người Mỹ giải quyết thế nào về
sự việc mà, dầu sao, nguời Mỹ cũng có trách nhiệm liên
đới. Tôi yêu cầu tị nạn chính trị một thời gian cần
thiết mà thôi"; Họ xác nhận với tôi, trịnh trọng mời
lên nghỉ tạm tại phòng họp của họ.
Về
anh lính Mỹ gác cửa, sau này lên gác phòng chúng tôi, nói
chuyện mới biết anh vốn là quân nhân Mỹ hồi thế chiến
thứ 2, có lần đóng gần Bồ Ðề Tràng ở Ấn Ðộ, tìm
hiểu Phật giáo và qui y với một tăng sĩ Tàu có chùa ở
đó. Anh kể hôm các thầy mới vào, cửa hơi khép nhưng tôi
vẫn chú ý. Thấy ba áo vàng đi qua, tôi đoán biết nên mở
lớn cửa ra. Thì có các thầy vào thật.
Quyết
định tị nạn tại tòa đại sứ Mỹ tuy mới phát sinh trong
lúc khẩn cấp, nhưng trước đó, gần ngày thiết quân luật,
cụ Hiểu, hội trưởng Phật giáo Nguyên Thỉ, đã nói riêng
với tôi, rằng ông đại sứ Thái lan quen cụ, nhắn lời nói
tôi có thể vào tị nạn chỗ ông nếu tôi muốn. Tôi nói
với cụ Hiểu xin gửi lời cám ơn, nhưng không có ý định
tị nạn.
Thầy
Tâm Giác cũng nói tương tự, tôi cũng trả lời tương tự;
Ðến hôm sắp thiết quân luật; 7 giờ tối đã có một người
Nhật mà thầy Tâm Giác nói là nhân viên tòa đại sứ Nhật,
vẫn vào đợi quyết định của tôi. Thầy Tâm Giác và người
ấy đợi gần 11 giờ khuya, hỏi tôi lần chót, ghi nhận lãnh
đạo Phật giáo có ý thức không tị nạn, mới về. Họ về
quãng nữa giờ thì Xá Lợi bị tấn công. Khi ở tòa đại
sứ Mỹ, họ mời tôi lên sân thượng hứng gió chiều tối.
nhìn xuống thấy quần chúng bên kia đường Hàm Nghi có vẻ
nhận ra tôi và vui mừng. Thế là không bao giờ tôi lên nữa.
Tôi nói với người Mỹ, rằng không muốn một ai nghĩ tôi
ỷ vào các ông nên không e ngại gì cả. (Trích Hồi Ký
chưa xuất bản của Tỷ kheo Thích Trí Quang, bản riêng Mai
Lan lệ Ấn)
Nguồn
Tư Liệu: http://www.khuongviet.net/PD63/Rachcat.htm