Phật Giáo
Nguyên Thủy Việt Nam
ÐỨC
PHẬT GOTAMA,
TỐI
THƯỢNG Y VƯƠNG
Bs.
Ananda Nimalasuria-Phạm Kim Khánh dịch (1967)
Nguyên tác: "Buddha
The Healer", Dr. Ananda Nimalasuria,
Buddhist Publication
Society, Kandy, Sri Lanka
LỜI
NÓI ÐẦU
Phạn ngữ "Buddha"
(Phật) có nghĩa là hoàn toàn giác ngộ. Phật là hồng danh
của Ðức Bồ Tát CỒ ÐÀM SĨ ÐẠT TA (Siddhatta Gotama) khi
Ngài thành đạo. Giáo lý của Ðức Phật truyền dạy gọi
là Phật Giáo.
Hoàng tử SĨ ÐẠT
TA sanh ra nhằm một ngày trăng tròn tháng 5, năm 623 trước
dương lịch, tại Lâm Tì Ni, sát ranh giới Ấn Ðộ và Tây
Tạng. Cha là Ðức vua TỊNH PHẠN (Suddhodana), mẹ là Hoàng
hậu MA DA (Mahà Maya). Hoàng tử SĨ ÐẠT TA trưởng thành trong
khung cảnh huy hoàng sung túc. Vừa sau khi hoàng tử ra đời
một hiền nhân tiên tri rằng, vì tình thương nhân loại, một
ngày kia. Ngài sẽ bỏ nhà ra đi, tìm chân hạnh phúc. Lên 16
hoàng tử cưới bà công chúa DA DU ÐÀ LA (Yasodhàra) và 13 năm
sau, khi công hcúa hạ sanh một trai thì hoàng tử cất bước
lên đường, từ khước cả một sự nghiệp lớn lao và cung
vàng điện ngọc để chấp nhận đời sống tu sĩ. Ngài đi
tìm thầy, từ vị này đến vị khác, nhưng không thỏa mãn.
Sau 6 năm khổ hạnh, lúc ngồi tham thiền dưới cội bồ đề
tại BỒ ÐỀ ÐẠO TRÀNG (Buddha-Gaya), bắc phần Ấn Ðộ,
Ngài chứng ngộ chân lý tối thượng, đắc quả Chánh Ðẳng
Chánh Giác, Ngài tuyên bố:
"Cửa vô sanh
bất diệt từ nay đã rộng mở.
Ai có tai muốn
nghe hãy đặt niềm tin tưởng".
Bài Pháp đầu tiên
của Ngài, thuyết tại BA LA NẠI (Benares), giảng về bốn chân
lý thâm diệu (TỨ DIỆU ÐẾ): Khổ, nguồn gốc sự khổ,
chấm dứt sự khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ.
Trong 45 năm Ngài truyền bá giáo lý giải thoát cho tất cả
ai muốn nghe, từ người thấp hèn nhất đến bậc cao sang
quyền quý nhất. Giáo Hội Tăng Già do Ngài thành lập vẫn
còn truyền nối đến nay. Năm 80 Ngài tịch diệt. Lời dạy
tối hậu của Ðức Phật là:
"Này hỡi
các tỳ khưu, Như Lai ân cần nhắc hở:
Tất cả các
pháp hữu lậu đều là vô thường. Hãy cố gắng tu tập để
giải thoát".
Giáo lý của Ngài
dần dần truyền bá khắp toán cõi Ấn Ðộ và từ Ấn sang
Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật
Bản, Lào, Cam Bốt, Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Ðến
đâu Phật Giáo gieo ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống dân
tộc ở đó. Nâng cao mức sống đạo đức và văn hóa, tạo
nguồn hứng cho giới văn nghệ sĩ, khuyến khích các công tác
từ thiện như săn sóc bệnh nhân và người tàn tật, đánh
đổ tập tục buôn tôi bán mọi, đặt luân lý làm khuôn vàng
thước ngọc để đánh giá sự quý trọng của con người
và đưa vào xã hội một ảnh hưởng nhân đạo đối với
đời sống. Giáo pháp được hoằng dương với lòng nhiệt
thành của nhà truyền giáo, không bao giờ có sự ép buộc,
không đẫm máu.
Xuyên qua thời
gian, tâm đạo nhiệt thành lúc ban đầu dần dần kém sút.
Tuy nhiên vẫn còn phần nào của nền đạo đức cổ truyền
và lý tưởng cao siêu, như lòng từ bi, đã thấm nhuần và
ăn sâu vào đời sống. Trải qua mấy thế kỷ, Phật Giáo
ở vào một trạng thái tiềm tàng. Dầu sao trong thực tế,
triết lý, văn hóa và đời sống của dân nghèo ở Á Ðông
vẫn mang nặng ảnh hưởng sâu rộng của Phật Giáo.
Thế kỷ hiện
đại ghi nhận sự chấn hưng Phật Giáo. Giáo lý của Ðức
Phật, gồm Tam Tạng Kinh chép bằng phạn ngữ Pali, được
phiên dịch ra nhiều sinh ngữ ở Âu Châu và Á Châu. Nhiều
triết lý gia, nhiều nhà đạo đức đã phát biểu tư tưởng
liên quan đến Phật Giáo.
Cái gì trong Phật
Giáo làm cho con người hiện đại và nhất là các tư tưởng
gia, các triết gia và các nhà khoa học đặc biệt lưu ý? Phật
Giáo khác biệt với các tôn giáo khác như thế nào?
Ðức Phật vạch
ra một lối sống có phương pháp và căn cứ trên ba đặc
tính: vô thường, khổ não, vô ngã. Ðời sống gồm danh và
sắc (nàma-rùpa) và trong cả hai, danh và sắc, không có cái
gì là trường tồn không biến đổi. Mặt khác, cả hai chỉ
là sự kết hợp của những đơn vị vật chất và tâm linh.
Các đơn vị vật chất luôn luôn sanh rồi diệt để nhường
chỗ cho các đơn vị khác. Ðơn vị tâm linh biến đổi và
bị thay thế càng nhanh chóng hơn. Do đó, mặc dầu có sự
liên tục trong con người, không có cái gì trường tồn bất
biến trong danh cũng như sắc. Ðặc tính cố hữu thứ nhì
của đời sống là khổ não. Thứ ba là vô ngã. Chúng ta thường
có cảm giác và tin tưởng rằng trong ta có cái gì vững bền
không biến đổi. Nhưng càng phân tách ta càng nhận định
rằng không có một thuần chất nào, xem như một đơn vị,
mà ta có thể gọi là bản ngã hay linh hồn. Con người luôn
luôn đi tìm hạnh phúc và con đường giải thoát của Ðức
Phật vạch ra căn cứ trên những đặc tính vô thường, khổ
não, vô ngã của kiếp nhân sinh.
Trong Phật Giáo,
điều thích hợp nhất với con người hiện đại là không
có giáo điều bắt buộc tín đồ phải nhắm mắt tin.
"Không nên hấp
tấp tin tưởng mù quáng một điều gì chỉ vì được nghe
lập đi lập lại nhiều lần, vì tập quán đã truyền lại
như vậy, vì có lời đồn đãi, vì kinh sách đã ghi chép,
vì có lời phỏng đoán hay quả quyết, vì có lời ngụy biện,
vì khuynh hướng tự nhiên tín nhiệm những điều đã được
nghiền ngẫm trước, vì bề ngoài có vẻ khéo léo khôn ngoan
của người khác, hay vì nghĩ rằng các bậc tăng sĩ là thầy
ta. Này hỡi người Kalama, khi nào chính các bạn biết rằng
điều này phải, tốt, điều này không đáng bị chê trách,
điều này được bậc thiện trí thức tán dương, khi thực
hành đúng, điều này sẽ đem lại hạnh phúc, chừng đó các
bạn sẽ chấp nhận và an toàn ẩn náu trong ấy".
Quyển sách nhỏ
này nằm trong một loạt kinh sách ấn tống do hội BUDDHIST
PUBLICATION SOCIETY, Forest Hermitage, Kandy, Sri Lanka.
Một trong các
sắc thái của Phật Giáo là chữa bịnh tâm. Nếu có điều
bất hạnh xảy ra làm ta bất mãn, thế thường ta đổ là
tại ngoại cảnh, tại kẻ khác. Nhưng lắm khi chính vì tại
quan kiến ta lệch lạc, nhận định sai lầm, thấy sự vật
không đúng, chớ không phải tại ngoại cảnh. Ðức Phật
vạch một đường lối tư tưởng chánh đáng mà bài viết
sau đây sẽ nêu ra nhiều thí dụ. Những trường hợp này
được gom góp lại với hy vọng làm sáng tỏ vấn đề, nhất
là đối với các nhà tâm lý học và các bác sĩ vì những
vị này hiểu rõ hơn ai hết bịnh trạng của con người. Người
ta thường nói rằng tâm lý học Phật Giáo căn cứ trên lý
trí bởi vì Phật Giáo xây dựng đạo pháp trên nền tảng
luân lý và nâng cao con người từ chỗ nhơ bẩn thấp hèn
của cuộc xung đột giữa những tình cảm cá nhân, lấy bản
ngã làm trung tâm điểm, đến trình độ cao siêu, thản nhiên,
vô ký, trước mọi cảm giác và thay thế bản ngã bằng lòng
từ bi quảng đại bao gồm tất cả chúng sanh.
-ooOoo-
Chuyện
Kisa Gotami
Thời Ðức Phật,
nàng Kisa Gotami sanh ra tại Savathi, trong một gia đình nghèo
khó. Vì thân hình ốm yếu người làng gọi nàng là Gotami
gầy. Khi lập gia đình, nàng bị bên chồng bạc đãi và gọi
nàng là đứa con hoang. Nhưng đến k hi hạ sanh được một
trai thì họ hàng nhà chồng trở lại kiêng nể. Lúc em bé
lớn lên, vừa biết chạy chơi thì em chết. Nàng vô cùng sầu
não, và đã thấy rõ ràng sự thay đổi thái độ của bên
chồng đối với nàng từ khi nàng sanh được con trai, nàng
tự nghĩ: "Con mình đã vắn số, người ta còn có thể dành
lại nó để đem bỏ ở bãi tha ma". Rồi nàng ôm con vào lòng,
đi như người điên, từ nhà này sang nhà kia để van lơn cầu
cứu: "Xin làm phúc cứu tử con tôi". Mọi người đều ngao
ngán trả lời: "Có thuốc nào cứu được bây giờ". Nàng
không thể hiểu được thiên hạ. Nhưng có người kia minh
mẫn n ghĩ rằng tâm trí nàng đã bấn loạn vì rầu con, vị
Tôn Sư có mười oai lực (Ðức Phật) ắt biết một phương
thuốc để giúp nàng. Và người ấy nói: "Này hỡi người
mẹ đáng thương, hãy đến với Ðức Phật và xin thuốc cho
con". Nàng lật đất ôm con đến chùa, gặp lúc Ðức PHật
đang giảng pháp. Nàng bạch:
- Bạch hóa Ðức
Thế Tôn, xin Ngài từ bi cứu sống con của con.
Nhận thấy nàng
có duyên lành sắp được giác ngộ, Ðức Phật dạy:
- Con hãy đi vào
thành phố, tìm một ít hột cải trong nhà nào chưa có ai chết.
Nàng Kisa Gotami
yên tâm ra đi. Ðến nhà đầu tiên nàng hỏi: "Con tôi cần
một ít hột cải để sống lại. Nếu trong nhà từ xưa đến
nay không có người chết xin làm phúc cho tôi chút đỉnh để
cứu con". Người nhà trả lời rằng hột cải thì có nhưng
ai có thể đếm được bao nhiêu người đã chết trong nhà
này? Hột cải ở đây không thể cứu con, nàng sang nhà bên
cạnh, và nhà kế đó, đi mãi... Sau một lúc chán nản, thất
vọng, nàng bình tâm tĩnh trí, sực nghĩ ra: "Ðó là định
luật chung cho khắp thành phố, là trật tự chung cho sự vật.
Ðức Thế Tôn đã đoán trước và, thương hại ta, Ngài muốn
chính tự ta tĩnh ngộ". Nghĩ đến đây nàng vô cùng xúc động,
bồng con quày quả ra thành, đi đến bãi tha ma. Nàng nói:
"Không phải
ở một thôn xóm, một thành phố,
Không phải
chỉ ở trong một giai cấp này hay giai cấp khác,
Mà khắp càn
khôn vũ trụ, và cho đến chư thiên trên cảnh trời.
Chỉ có một
định luật: Tất cả đều là vô thường".
Rồi nàng trở lại
chùa. Ðức Phật hỏi: "Gotami, con có tìm được hột cải
không?
- Bạch hóa Ðức
Thế Tôn, con đã làm theo lời Ngài. Xin Ngài từ bi mở đường
dẫn lối cho con.
Ðức Phật dạy:
"Ai đã để
hết tâm trí, chia sẻ tư tưởng ra từng mảnh
Ðể vào con
cái và sự nghiệp,
Tử thần sẽ
đến như một tràn nước lũ vĩ đại, trong đêm tối,
Cuốn đi cả
một xóm làng đang ngon giấc ngủ say".
Trong khi Ðức Phật
giảng, nàng Kisa Gotami thoáng ngộ được chân lý, đắc quả
Tu - Ðà Hườn và xin phép được xuất gia. Ðức Phật chấp
nhận. Tỳ khưu ni Gotami cố gắng quán tưởng về nguồn gốc
của sự vật, Ánh Sáng Chân Lý dần dần đến, và một ngày
kia, sau khi nghe Ðức Phật dạy:
"Người sống
cả trăm năm
Mà không hưởng
được hương vị của đạo quả
Thì tốt hơn
chỉ sống trong một ngày
Mà nếm được
quả phúc của bậc thánh nhân",
bà đắc quả A La
Hán.
"Ở trong cảnh
sanh lão bệnh tử
Ta đi tìm một
nơi không bịnh không tử
Một nơi tuyệt
đối châu toàn".
(Tích chuyện
Sumedha, ch.1, tr. 18, "Buddhism in Translation", Waren)
Ðức Phật là vị
Y Vương vô tiền khoáng hậu đã khám phá được chứng bịnh
chung kiếp của toàn thể chúng sanh, một chứng bịnh dính
liền với đời sống, không ai tránh khỏi. Ngài gọi là bịnh
Dukkha (khổ bịnh). Khổ là chân lý cao thượng đầu tiên trong
bốn chân lý "Tứ Diệu Ðế.
Thực ra khám bịnh
và tìm ra chứng bệnh không phải là công việc khó làm, đối
với một danh y. Làm cho bịnh nhân nhận thức rằng mình thật
sự có bịnh mới thật là khó.
Vô minh và Ái
dục là nguyên nhân của chứng bịnh. Ðó là chân lý cao thượng
thứ nhì trong Tứ Diệu Ðế.
Diệt khổ, phương
thức trị liệu, là chân lý thứ ba. Phương thức trị liệu
rất là công hiệu nhưng cần phải có sự gia công cố gắng
của bịnh nhân, từng ly từng tý và liên tục, phải trải
qua nhiều giai đoạn khó khăn. Chính bịnh nhân phải tự mình
trị lấy mình với tinh thần tích cực, luôn luôn chuyên cần
ghi chú và với trí tuệ. Khi bịnh đã lành, sức khỏe đã
được hồi phục, mục tiêu được thành tựu thì không thể
có biến chứng nữa và bịnh không còn tái phát.
Bát Chánh Ðạo,
chân lý thứ tư trong Tứ Diệu Ðế là liều tiên dược.
Triệu
chứng và phép chẩn đoán
Ðức Phật đã
điềm chỉ cho ta cái bí quyết chẩn mạch và đoán bịnh để
khám phá chứng bịnh chung của thế gian khi Ngài dạy:
"Này hỡi các
tỳ khưu, có bốn điều mà không ai có thể đem lại được,
đầu là tu sĩ khổ hạnh, tăng sĩ, dầu là chúng sanh ở cõi
trời. Không có ma quỷ, người hay vị trời nào trên thế
gian này có thể làm được. Bốn điều ấy là gì?
- Cái gì phải
già cỗi, làm cho nó có thể không già cỗi,
- Cái gì phải
bịnh hoạn làm cho nó có thể không bịnh hoạn,
- Cái gì phải
chết làm cho nó có thể không chết,
- Những hành
động tạo sự đau khổ cho người khác và dẫn chứng sanh
đi mãi mãi trong vòng luân hồi, sanh, lão, bịnh, tử, làm cho
những hành động ấy có thể không trổ quả".
-- ("Path To
Deliverance", Nyanatiloka)
Trong bài pháp đầu
tiên (kinh Chuyển Pháp Luân) và trong nhiều đoạn kinh khác
Ðức Phật dạy:
"Sanh là khổ,
già là khổ, bịnh là khổ, tử là khổ, sống chung với người
mình không ưa thích là khổ, xa lìa những người thân yêu
là khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm tắt thân
ngũ uẩn là khổ".
Tất cả những
pháp hữu lậu đều là vô thường vì luôn luôn sanh, trụ
rồi diệt. Cái gì vô thường tất phải đau khổ. Sự vô
thường khổ não của tất cả những pháp hữu lậu là nền
tảng vững chắc cho cái cơ sở đồ sộ mà chúng ta gọi là
Phật Giáo. Tất cả giáo lý của Ðức Phật đều gôm vào
sự sưu tầm thấu đáo ba đặc tính cố hữu của các pháp
hữu lậu: vô thường, khổ não, vô nã và sự thoát ra ngoài
các pháp ấy để đạt đến nơi tuyệt đối thường tồn,
hạnh phúc vĩnh cửu.
Căn
bịnh
Nguồn gốc chứng
bịnh là Vô Minh (Avijjà) và Ái Dục (Tanhà).
Vô Minh là nơi
bắt nguồn của tất cả hành động tội lỗi, tất cả nghiệp
xấu. Chính do nơi Vô Minh mà chúng sanh phải chịu cảnh trầm
luân, từ kiếp này đến kiếp khác, mãi mãi không ngừng.
Ái Dục là nguyên
nhân khác của chứng bịnh đau khổ.
"Người mà
chỉ biết sống để hưởng khoái lạc vật chất,
Chỉ biết
thích thú trong nhục dục ngũ trần
Sẽ đau khổ
không khác nào bị một mũi tên bắn vào mình khi những thú
vui ấy chấm dứt".
Ngoài ra, Ái Dục
đeo níu trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới sẽ đưa ta tái sanh
vào nhàn cảnh.
Phương
thức trị liệu
Một quan niệm
về đời sống như đã trình bày có thể làm cho người không
thích suy gẫm vội vã kết luận rằng Phật Giáo là một tôn
giáo bi quan, gợi cho tín đồ một nỗi buồn man mác và như
vậy, Phật Giáo là một trở ngại cho sự nỗ lực, cố gắng,
là một loại nha phiến. Thực ra, nhận định như vậy là
nông nổi, là chỉ thấy bề ngoài. Sự thật khác hẳn vì
Ðức Phật không những khám phá căn nguyên chứng bịnh mà
lại còn chỉ cho bịnh nhân một phương thức trị liệu rất
là linh nghiệm.
Một người kia
được biết rằng mình đang lâm bịnh, một bệnh ung thư hay
bịnh lao phổi chẳng hạn. Sau đó người áy cũng đặng biết
rằng chứng bịnh của mình, tuy trầm trọng, nhưng có thể
chữa khỏi. Như vậy, vừa bị xúc động vì cái tin bất hạnh
thì bịnh nhân đã nhận ra lối thoát. Chưa kịp quá thất
vọng vì chứng bịnh ngặt nghèo đã có người mách cho thầy
giỏi thuốc hay. Chừng ấy bịnh nhân mới tự nghĩ: "Thật
là may mắn. Ta đã kịp thời nhận ra chứng bịnh trầm kha
này và đã gặp thầy gặp thuốc". Nghĩ như vậy bịnh nhân
yên lòng cố gắng tự mình chữa bịnh cho mình với niềm
tin mãnh liệt ở tương lai. Thầy tuy giỏi, thuốc tuy công
hiệu đến đâu mà bịnh nhân không gia công điều trị lấy
thì cũng không ích gì.
Chính nhờ lòng
tin tưởng vững chắc ở thầy, ở thuốc, và sự bình tĩnh
yên tâm tín nhiệm nơi tương lai mà người Phật tử luôn
luôn thản nhiên và an vui, mặc dầu phải ở trong hoàn cảnh
nào. Nhờ niềm tin vững chắc ở tương lai ấy mà người
Phật tử có thể đạt được trạng thái phỉ lạc (Piti),
một trong thất giác chi, tức là bảy yếu tố giúp ta được
giác ngộ, có trí tuệ.
Khi đề cập đến
định luật Nhân Quả Tương Quan Ðức Phật dạy:
"Sự đau khổ
(hiểu là vô thường) dẫn đến Ðức Tin, niềm tin tưởng
nơi Tam Bảo (Saddhà), Ðức Tin dẫn đến Phỉ (Pamojja), phỉ
đến Lạc (Piti), Lạc đến sự yên tĩnh, Trụ (Passadhi), Trụ
đến Hạnh Phúc (Sukha), Hạnh Phúc đến Ðịnh (Samàdhi), Ðịnh
đến Tuệ (Yathà bhuta nànadassana) tức là sự giác ngộ, thấy
được chân tướng sự vật và do đó phát sanh sự chán ghét,
nhờm gớm (Nibbida). Do sự nhờm gớm chán ghét phát sanh ý
muốn dứt bỏ, không luyến ái bám bíu (Viràga), sự dứt bỏ
dẫn đến sự giải thoát (Vimutti), giải thoát dẫn đến sự
hiểu biết thế nào là dập tắt mọi dục vọng (Khaye nàna)".
Phật ngôn trên
chứng tỏ rằng, nếu ta nhận định đúng, một giọt nước
mắt là một trợ lực để cho ta tiến bộ, một cây gậy
mà ta có thể nương theo đó để đi một đoạn đường. Hiểu
biết và hành động chánh đáng dẫn ta dần dần đến mức
cùng tột là thánh đạo và thánh quả, sự giải thoát hoàn
toàn, hạnh phúc tuyệt đối.
Câu chuyện bà
Kosi Gotami là một thí dụ. Thái độ của bà Gotami thật là
trái hẳn với thi hào Tennyson, người Anh Quốc, trước cái
chết của một người bạn:
"Có người viết
rằng những người bạn khác vẫn còn sống,
Rằng: chết là
số phận chung của nhân loại.
Hiểu rằng chết
là số phận chung của nhân loại
Không làm giảm
bớt sự đau khổ của tôi,
Trái lại tôi
cảm thấy còn thống thiết thảm đau hơn nhiều".
Trước sự đau
khổ, thái độ của bà Kosi Gotami và của thi hào Tennyson làm
cho ta nhận định rằng kết quả của sự đau khổ như thế
nào là tùy thuộc nơi trình độ nhận thức của ta trước
sự đau đớn và khổ não mà thôi. Thật ra, nếu nhìn một
cách khách quan, phiền não và đau khổ chỉ là những cảm
giác đau đớn (về vật chất) hay khổ não (về tinh thần).
Bằng suy luận đúng lý và hiểu biết chánh đáng, nhờ sự
quan sát, quán tưởng đến tánh cách vô thường của vạn
vật dẫn đến sự nhờm gớm, chán ghét, sự không bám bíu,
luyến ái, sự từ bỏ cuối cùng, tức nhiên ta đi đến sự
giải thoát toàn vẹn.
Ðó là sự khác
biệt căn bản giữa người chỉ trích hấp tấp, nông nổi,
cho rằng Phật Giáo là bi quan yếm thế và người cố gắng
chân chánh (Chánh Tin Tấn) để am hiểu thấu đáo sự đau
khổ.
Ðức Phật không
bao giờ phủ nhận những lạc thú vật chất trong đời, nhưng
Ngài lưu ý chúng sanh rằng những du khoái ấy là tạm bợ,
không đáng cho ta bám bíu, chỉ tồn tại nhất thời giữa
bao nhiêu nguy hiểm rất là tai hại nếu ta dễ duôi để chìm
đắm trong nhục dục ngũ trần.
Trong kinh Bahuvedaniya,
sau khi xác nhận rằng thật sự có những hạnh phúc vật chất,
Ðức Phật dạy thêm rằng có nhiều hạnh phúc khác cao thượng
hơn, tế nhị hơn những thú vui ít nhiều thô lỗ mà ngũ quan
ta có thể thân nhận. Nhờ chú tâm tham thiền và phát triển
trạng thái Ðịnh (Samàdhi) để đắc sơ thiền, hành giả
có thể lần lượt tiến dần qua bảy giai đoạn nữa của
thiền Sắc Giới và Vô Sắc Giới và trong mỗi giai đoạn,
hành giả hưởng được những hương vị luôn luôn mới kẻ,
luôn luôn tế nhị và cao thượng hơn.
Ngoài ra, trong
kinh Atthanàgara Sutta, để trả lời một câu hỏi mà hai nhà
cư sĩ Dasama và Atthaka đã nhiều lần lập đi lập lại, ngỏ
ý muốn biết Ðức Thế Tôn có nêu ra hay không trạng thái
hạnh phúc mà một nhà sư chuyên cần tu niệm được hưởng
sau khi cương quyết cố gắng gội rửa tâm cho được hoàn
toàn trong sạch, không còn chút bợn nhơ, dập tắt mọi dục
vọng, phá tan mọi trói buộc, luyến ái, Ðức Ananda trả lời
rằng có và dạy thêm:
"Một vị tỳ
khưu đã dứt bỏ mọi luyến ái, bám bíu, đeo níu theo nhục
dục ngũ trần, đã dập tắt mọi dục vọng, bước vào trạng
thái an vui, hạnh phúc và tế nhị của sơ thiền, rồi nhị
thiền, tam thiền và tứ thiền Sắc Giới hay là có thể bước
vào trạng thái an vui hơn, hạnh phúc và tế nhị hơn của
những bậc thiền Vô Sắc hay là bao trùm thế gian, khắp nơi
trong càn khôn vũ trụ với tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỉ, tama Xả
và đạt đến một tâm trạng hoàn toàn trong sạch, đồng
thể hóa với tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả".
Khi đạt đến
trạng thái rất cao thượng ấy vị tỳ khưu tiếp tục tu
niệm, suy tưởng và nhận định rằng những trạng thái tâm
tuy là cao thượng, rất an vui và tế nhị vẫn còn bị định
luật vô thường chi phối và một ngày nào cũng phải chấm
dứt.
Tin tưởng và
cương quyết, vị tỳ khưu cố gắng thêm, vượt qua mọi trở
ngại và thành tựu đạo quả tuyệt đối châu toàn. Nói một
cách, người Phật tử thuần thành, có trí tuệ, mặc dầu
đã hưởng được hương vị cao thượng của các bậc thiền
trong kiếp hiện tại, biết nhận định chân giá trị của
phước báu ấy và không ước mong được tái sanh trong một
cõi trời, tuy đầy lạc thú nhưng vẫn bị định luật vô
thường chi phối. Một ngày nào rồi cũng phải cất bước
ra đi, mãi mãi lang thang trong vòng luân hồi, nghĩa là đã tách
rời khỏi con đường chân chánh dẫn đến mục tiêu tối
hậu, Niết Bàn.
Về phương diện
này, Phật Giáo là tôn giáo duy nhất chủ trương rằng mục
tiêu tối thượng có thể đạt được trong kiếp sống hiện
tại nếu ta cố gắng đứng mức và nếu ta thành tựu đầy
đủ những điều kiện cần thiết để đạt đạo quả.
"Ðây là đạo
quả mà bậc thiện trí thức có thể cố gắng tu niệm để
thành tựu,
Ðạo quả
ấy, gọi là Niết Bàn, có thể đạt được ngay nơi đây
và trong hiện tại".
Phương
thuốc
Mặc dầu các
nhà phê bình đã định nghĩa danh từ tôn giáo và triết học
như thế nào Phật Giáo chắc chắn là một lối sống, một
con trường, một đạo pháp dạy tín đồ của mình sống một
cách tích cực và tinh tấn từng giây, từng phút, từng giờ,
từ ngày này qua ngày khác, chớ không phải là một đề tài
để học hỏi, nghiên cứu và tranh luận suông. Ðức Phật
là vị Y Vương đại từ, đại bi. Chúng ta là bịnh nhân.
Chú tâm của Ngài là chữa bịnh, chớ không phải để thỏa
mãn tánh tò mò của bịnh nhân hay để giải quyết giùm cho
bịnh nhân những bí ẩn của vũ trụ. Mối quan tâm chánh yếu
của Ngài là thuyết phục bịnh nhân rằng thật sự họ đang
lâm bịnh và thật sự chứng bịnh ấy trầm kha, vô cùng nguy
hiểm. Công việc ấy không phải là dễ dàng và càng khó khăn
hơn nếu bịnh nhân là một thanh niên tráng kiện, có sức
khỏe dồi dào và một đời sống vật chất đầy đủ. Trong
trường hợp này, dầu vi lương y có tài giỏi đến đâu cũng
khó làm cho bịnh nhân nhận định rằng mình thật sự bịnh
vì triệu chứng cơn bịnh tiềm tàng chớ không phải là nổi
bật lên để lộ ra ngoài cho ta có thể trông thấy dễ dàng.
Vả lại, giữa hai cơn khủng hoảng trầm trọng cũng có những
giai đoạn xem chừng như dễ chịu.
"Phiền não
trá hình, ẩn náu dưới bộ mặt hạnh phúc,
Thù hận dưới
hình thức tình thương,
Tội khổ dưới
lớp phước báu,
Người dễ
duôi lười biếng vị tha tràn ngập". -- Udàna (ch. II-VIII, tr.18)
Trong những trường
hợp tương tợ rất có thể bịnh nhân không nghĩ đến việc
đi tìm bác sĩ cho đến ngyà nào cơn bịnh trở nên trầm trọng.
Chú tâm thứ nhì của Ðức Phật là tạo cho bịnh nhân một
niềm tin, những tia hy vọng, lòng hăng hái tự chữa phát sanh
do sự hiểu biết căn nguyên chứng bịnh và chí nhất quyết
tin tưởng vững chắc trong sự thành công diệt trừ căn bịnh
mặc dầu phải trải qua nhiều giai đoạn lâu dài, khó khăn,
phiền phức và có thể đau khổ. Ðức Phật bắt đầu giải
thích cho bịnh nhân sự cần thiết phải có một ý niệm rõ
rệt về chứng bịnh của mình và miêu tả đại cương phương
thức trị liệu tùy theo trình độ hiểu biết và hoàn cảnh
của từng người. Ðức Phật cũng phác họa cho bệnh nhân
đại khái những giai đoạn tiến triển lần đến sự dứt
tuyệt chứng bịnh, nhờ đó ngươi bịnh có thể liên tục
theo dõi phương thức trị liệu khó khăn ấy một cách hăng
hái, có ý thức và hiểu biết.
Nhiều lần và
trong nhiều trường hợp khác nhau, tùy căn cơ của người
nghe, Ðức Phật giảng đi nhắc lại rằng nền tảng của
Giáo Lý Ngài gồm bốn Chân Lý Cao Siêu thâm diệu: chân lý
về sự đau khổ, về nguồn gốc sự khổ, về sự dập tắt
cái khổ và con đường đi đến sự diệt khổ. Nhiều lần
Ðức Phật lập lại rằng:
"Này hỡi
các con, chính vì không hiểu biết, không thấu đáo bốn Chân
Lý Cao Thượng (Tứ Diệu Ðế) ấy mà đã bao nhiêu lâu chúng
ta, các con và Như Lai, mãi lang thang lê bước trong vòng luân
hồi triền miên này, và vì không nhận thấy thực tướng
của bốn Chân Lý ấy nên con đường mà chúng ta đã phải
trải qua xuyên nhiều kiếp sống thật là dài. Ngày nào nhận
thức được nó, là chấm dứt tái sanh, tận diệt phiền não
và thoát khỏi vòng luân hồi". -- (Digha Nikaya XVI, ch.II. 23;
ch. IV.2)
Chính vào thời Ðức
Phật còn tại tiền Ngài cũng thấy cần thiết phải chứng
minh rõ ràng và rộng rãi điểm chính yấu. Nhiều lần Ngài
phải gởi người đi gọi về để giảng lại, một môn đệ
đã hiểu lầm và truyền bá sai lạc giáo lý. Ðến nay vẫn
có người tự coi là Phật tử thuần túy mà còn nhận định
sai lầm rằng lý Tứ Diệu Ðế không nằm trong kinh điển
nguyên thủy mà do các nhà sư hậu thế thêm vào.
Ðức Phật dạy:
"Như Lai chỉ
dạy một điều duy nhất là khổ và thoát khổ". -- (Majjhima
Nikàya, II, ch.IX, trang cuối cùng)
Và một lần khác
Ngài lập lại:
"Cũng như biển
cả tuy mênh mông nhưng đâu đâu nước biển chỉ có một
vị, vị mặn của muối. Này hỡi các tỳ khưu, Giáo Pháp
của Như Lai chỉ có một vị, đó là vị giải thoát" -- (Udàna,
ch. V, Kinh số 5)
Thật là rõ ràng,
minh bạch, không còn chỗ nào mơ hồ, khả nghi, không có lý
do nào để lầm lẫn. Ở nhiều đoạn khác, Ðức Phật thường
nhấn mạnh rằng ta chỉ có thể gặt hái những gì đã gieo
và mặt khác, ta không bị bắt buộc phải gặt hái tất cả
gì ta đã gieo, bởi vì, Ngài dạy trong kinh Anguttara Nikàya:
"Nếu nói rằng
ta phải gặt hái tất cả những gì đã gieo thì không thể
có đời sống đạo đức, cũng không thể có cơ hội để
hoàn toàn chấm dứt phiền não".
Như vậy, Ðức
Phật đã phân minh vạch rõ rằng sự hy sinh của một người
không khi nào có thể cứu rỗi được một người khác và
không thể có một hình thức tiền định hay định mạng trong
Phật Giáo. Những khoa học gia và nshững bác sĩ đã được
huấn luyện về phương pháp quan sát và suy luận diễn giải
sẽ không tặp một trở ngại hay bất mãn nào trong giáo lý
của Ðức Phật. Bởi vì theo Phật Giáo người bịnh không
cần phải tin tưởng một giáo điều hay một siêu nhân huyền
bí để được săn sóc và bịnh có được chữa khỏi hay
không cũng không cần có sự quyết định của một vị thần
linh. Ðức Phật đoan chắc rằng bịnh nhân nào cố gắng liên
tục theo dõi phương pháp trị liệu của Ngài sẽ khỏi bịnh
một cách chắc chắn và lâu dài. Không phải nhờ ân huệ
của Ngài vì Ngài chỉ là người vạch cho lối đi. Cũng không
phải nhờ một thần linh nào khác. Ðó là hậu quả dĩ nhiên
phải có, khi bịnh nhân áp dụng đầy đủ và đúng mức phương
pháp trị liệu.
Người sơ cơ
đi đến với Ðức Phật như một bịnh nhân đã được nghe
ngóng rằng có người kia cũng bịnh nay đã được một danh
y chữa khỏi nên lập tâm cố gắng áp dụng phương pháp chữa
bịnh của vị lương y. Dầu sao đức tin của bịnh nhân vẫn
ở trong một giới hạn. Ðức tin trong Phật Giáo thật sự
chỉ bắt đầu với sự hiểu biết căn cứ trên một "dĩ
nhiên có thể có", phát triển dần cùng một nhịp với Giới
Luật (Silà), phát triển nhanh chóng hơn với tâm Ðịnh (Samàdhi)
và trở thành hoàn toàn trọn vẹn với Trí Tuệ (Pannà). Ðức
Phật không đòi hỏi ở tín đồ một sự tôn sùng mù quáng
hay một sự ngưỡng mộ thán phục nào đối với Ngài hay
đối với giáo lý Ngài. Ðức Phật dạy:
"Không nên mặc
nhiên chấp nhận một điều nào chỉ vì tập tục cổ truyền
đã trao đến tay ta hay chỉ vì điều ấy đã được ghi chép
trong kinh điển nào. Cũng không nên chấp nhận chỉ vì nó
thích hợp với tiên kiến ta, hay chỉ vì người thốt ra điều
ấy trong có vẻ là một người tốt, khả kính, khả ái. Này
hỡi người xứ Kalama, khi nào các người tự mình biết rằng
những điều này hợp với đạo đức, những điều này không
bị chê trách, những điều này được bậc thiện trí thức
tán dương, những điều này đem ta đến an vui hạnh phúc.
Chừng ấy các người hãy hành động đúng như vậy". -- (Anguttara
Nikàya)
Một lần khác,
có nhà triệu phú nổi danh tên Upàli, nguyên là tín đồ của
một tôn giáo lạ, sau khi nghe Ðức Phật thuyết pháp thì lấy
làm hoan hỷ xin theo ngài tu tập. Nhưng Ðức Phật lưu ý ông:
"Này hỡi trưởng
giả, hãy suy xét lại cho cặn kẽ. Một bậc trưởng giả
nổi tiếng phải suy đi xét lại tận tường trước khi hành
động".
Rất ngạc nhiên
khi nghe Ðức Phật dạy như vậy Upãli càng kính phục và ngưỡng
mộ. Ông bạch với Ðức Phật:
"Bạch hóa Ðức
Thế Tôn, nếu con đến yết kiến một vị giáo chủ khác
để xin theo học đạo thì ắt là các môn đệ của vị ấy
sẽ bồng con lên đi vòng trong thành phố để khoe rằng nhà
triệu phú kia đã bỏ tôn giáo của ông để theo về với
chúng tôi. Bạch hóa Ðức Thế Tôn, nghe Ngài dạy vậy con
càng cảm hóa". -- (Majjhima Nikaya)
Trong một dịp
khác Ðức Phật hỏi:
"Trên đường
đi, người kia gặp một con sông rộng lớn chặn trước mặt.
Bờ bên này thì đầy nguy hiểm đáng sợ, còn bờ bên kia
thì an toàn. Khách tìm cây, nhánh, lau, sậy, kết lại thành
một chiếc bè để sang sông. Này hỡi các tỳ khưu, bây giờ,
thí dụ như người kia nói rằng chiếc bè này thật là hữu
ích vậy ta nên đội nó trên đầu, mang theo với ta trong suốt
cuộc hành trình. Hành động như vậy có phải là sử dụng
chiếc bè đúng theo tác dụng của nó không?
- Bạch hóa Ðức
Thế Tôn không.
Và Ðức Phật
dạy:
"Cùng thế ấy,
giáo lý của Như Lai truyền dạy là để sang sông, chớ không
phải để mang theo". -- (Majjhima Nikàya L-22.135, Alagaddùpama Sutta
- Kinh Xà dụ)
Vậy, rõ ràng
Phật Giáo là một giáo lý để áp dụng trong đời sống hằng
ngày chớ không phải là đề tài để tranh luận suông, dầu
là để thảo luận nghiêm chỉnh, trịnh trọng, nhưng không
có mục tiêu. Giáo lý của Ðức Phật cũng không giống như
một bảo vật mà ta thận trọng cất kỹ trong một bảo tàng
viện để tỏ lòng sùng bái ngưỡng mộ vị giáo chủ.
Ðể rọi sáng
điểm này, sau đây là lời dạy của Ðức Phật:
"Hỡi này các
đạo hữu, nếu có kẻ ngoại đạo nói xấu hay chỉ trích
Như Lai, hay Giáo Pháp, hay Giáo Hội, thì các đạo hữu không
nên buồn phiền hay hờn giận vì nếu các đạo hữu bất
mãn và nổi giận thì không còn có thể xét đoán lời nói
kia đúng hay sai đến mức nào". -- (Digha Nikàya L.i. 5, The Brahmajàla
sutta, kinh Phạm Võng)
Và một lời tuyên
bố hy hữu mà không có vị giáo chủ nào truyền dạy môn
đệ:
"Nếu các con muốn,
chính các con cũng có thể trở thành Phật".
Phần chánh yếu
của phương thức trị liệu gồm Bát Chánh Ðạo (Atthangika
magga), là chân lý cuối cùng trong Tứ Diệu Ðế. Bát Chánh
Ðạo có thể tóm tắt như sau:
TUỆ (Panna):
Chánh Kiến (Sammà
Dithi)
Chánh Tư Duy (Sammà
Sankappa)
GIỚI (Sìla):
Chánh Ngữ (Sammà
Vacà)
Chánh Nghiệp
(Sammà Kammanta)
Chánh Mạng (Sammà
Aviva)
ÐỊNH (Samàdhi):
Chánh Tinh Tấn
(Sammà Vayama)
Chánh Niệm (Sammà
Sati)
Chánh Ðịnh (Sammà
Samàdhi)
Chánh Kiến là thấu
triệt tận tường cái chân lý cố hữu của thế gian là khổ,
nguồn gốc của sự khổ, chữa bịnh khổ và phương pháp
trị liệu.
Chánh Tư Duy gồm
ba phần: (i) những tư tưởng không chứa đựng tham dục, sân
hận và hung bạo. Nói cách khác, (ii) những tư tưởng có tánh
cách thoát ly ra khỏi sự tham dục và luyến ái (Nekkhama), và
(iii) những tư tưởng Từ (Mettà) và Bi (Marunà).
Chánh Ngữ là
không nói dối, không nói đâm thọc, không nói thô lỗ cộc
cằn và không nói nhảm.
Chánh Nghiệp là
không sát hại, không trộm cắp và không tà dâm.
Chánh Mạng là
tránh xa cuộc sống có thể làm tổn thương đến chúng sanh
khác.
Chánh Tinh Tấn
là cố gắng xa lánh hay vượt qua những điều xấu xa và không
trong sạch và phát triển những điều trong sạch.
Chánh Niệm là
thận trọng quán tưởng đến thân, thọ, tâm, pháp.
Chánh Ðịnh là
giữ tâm trụ vào một điểm.
Ðức Phật, vị
lương y đầy lòng từ bi, đã giải thích bằng nhiều lối
để cho mọi khả năng tinh thần đều có thể lãnh hội được
rằng bịnh tình của chúng ta quả thật là trầm trọng và
phần lớn các triệu chứng nguy hiểm ấy thường tiềm tàng
chớ không nổi bật lên cho ta thấy. Ngài giải thích căn nguyên
của chứng bịnh và thảo cho ta một phương thức trị liệu
chắc chắn, không thể lầm lẫn. Nhiều lần Ðức Phật đã
giải thích từng chi tiết về cách dưỡng bịnh và đã kê
cho ta toa thuốc.
Phần chúng ta
phải nghiên cứu tánh chất của phương thức trị liệu mà
Ngài đã dạy, suy luận tận tường và chính ta phải tự chữa
lấy mình.
Ðức Phật có
đề cập đến ba hạng trí tuệ: Trí tuệ đạt được nhờ
học hỏi (Suttamaya-panna, Văn huệ), trí tuệ đạt được nhờ
sự suy luận (Cintàmaya panna, Tư huệ) và trí tuệ thành tựu
được nhờ phát triển thiền định (Bhavàna maya panna, Tu huệ).
Hai hạng đầu
là tri thức, hiểu biết. Hạng thứ ba là chứng ngộ, thấu
triệt. Uống thuốc là phát triển dần sự hiểu biết, cùng
một lúc với đức tin và tâm đạo. Cả hai phần phải được
phát triển song song và điều hòa. Nếu đức tin phát triển
mạnh mà không có trí tuệ thì sự tin tưởng trở nên mù
quáng và có thể là điên rồ. Nếu trí tuệ phát triển quá
mạnh mà đức tin không có thì trở nên kỳ xảo, khôn khéo
mà không có nền tảng đạo đức.
Ta không thể quan
niệm một hệ thống trị liệu nào khác mà có thể phân tách
được hoàn toàn, đầy đủ, có thể giải thích được rõ
ràng, minh bạch và hợp lý, thích hơjp với sự quan sát riêng
của chính ta. Trong chúng ta, những ai đã không được thỏa
mãn với thực tướng của sự vật hãy thử chấp nhận, như
một giả thuyết để thí nghiệm, phương thuốc mà Ðức Phật
đã trao đến. Hãy phát triển thêm phần quan sát bằng cách
sử dụng những phương tiện thích hợp như triển khai trí
tuệ bằng thiền định. Ta sẽ nhận thấy rằng những điều
quan sát mới rất phù hợp với giả thuyết. Ðức tin của
ta tăng trưởng dần và rốt cùng giả thuyết để thí nghiệm
biến thành một sự kiện vững chắc. Ta đã biến tri thức
thành chứng ngộ. Ðó là con đường duy nhất mà phương thuốc
của bậc Ðại Y Vương đưa ta đến.
-ooOoo-
Tất cả các pháp
hữu lậu đều là Vô Thường, Khổ Não, Vô Ngã.
Người sáng
suốt nhận thức như vậy và sẽ chán chê thân Ngũ Uẩn.
Ðó là Thanh
Tịnh Ðạo.
-- (Kinh Pháp
Cú)
Tâu Ðại Vương,
Ðức Phật đã hốt những vị thuốc để chữa bịnh cho toàn
thể chúng sanh các cảnh trời và người. Thuốc ấy là: "Tứ
Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực,
Thất Giác Chi và Bát Chánh Ðạo".
Những vị thuốc
này chữa cho chúng sanh khỏi bịnh: Tà Kiến, Tà Tư Duy, Tà
Ngữ, Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Tinh Tấn, Tà Niệm và Tà Ðịnh,
và làm cho chúng sanh nhờm gớm những sự luyến ái và tham
dục, những tâm trạng hôn trầm dã dượi, hoài nghi, ngã mạn,
phóng dật, không biết xấu hổ, không biết thương người
và tất cả những điều xấu xa tội lỗi. -- (Ðức Vua Milinda
vấn đạo - Milinda-Panha)
Xuyên qua nhiều
kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai đi, đi mãi...
Như Lai đi
tìm mãi mà không gặp, tìm người thợ cất cái nha này.
Ðời sống
quả thật là khổ não!
Hỡi người
thợ làm nhà! Như Lai đã tìm ra ngươi.
Từ đây ngươi
kông còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn
nhà đều gãy, cây đòn dong của ngươi cũng bị phá tan.
Như Lai đã
chứng quả Vô Sanh Bất Diệt và đã tận diệt mọi Ái Dục.
-- (Kinh Pháp
Cú)
-ooOoo-
Một
lời an ủi bịnh nhân
(Lý Vô ngã)
Ts. Anton Kropatshch,
Vienna
Trong
những bài pháp Ðức Phật thường nhắc đến sự khổ và
khi giảng về cảnh khổ của đời sống, luôn luôn Ngài đề
cập đến bịnh tật như một sự kiện mà chúng sanh không
thể tránh được. Sau đây là một thí dụ trích trong kinh
Nakulapità:
Một ông lão tên
Nakulapità, người gầy yếu bịnh hoạn, đến bái yết Ðức
Phật để xin được an ủi trong tuổi già. Ông lão bạch với
Ðức Phật:
"Bạch hóa Ðức
Thế Tôn, nay con đã lớn tuổi, thân mòn, sức kiệt, gần
đến ngày phải lìa trần. Thân của con đã tàn tạ và thường
đau ốm. Lâu lắm con mới đi được đến đây để hưởng
cái phước báu nghe Ðức Thế Tôn giảng dạy, cúi xin Ðức
Thế Tôn ban cho pháp tu học nào c thể giúp con hưởng được
lâu dài sự an vui hạnh phúc".
Ðức Phật dạy:
"Ðúng như vậy,
thân người thật là yếu đuối, mỏng manh và thường hay
đau ốm. Nếu có người nào nghĩ rằng họ hoàn toàn khỏe
mạnh, không bịnh tật, thì thật là lầm lạc. Như vậy, này
ông lão, hằng ngày hãy quán tưởng như thế này: 'Thân
này dầu bịnh hoạn, moing rằng tâm tôi luôn luôn khỏe mạnh'."
Trong đường lối
tư tưởng, Ðức Phật và các môn đệ Ngài hoàn toàn thực
tiễn. Các Ngài chấp nhận sự vật đúng như thực tướng
của nó, không giấu diếm mà cũng không tô điểm thêm. Các
Ngài nhìn thẳng vào đời sống và nhận chân thực tế. Ðức
Phật trầm tĩnh lắng nghe những lời than của ông lão Nakulapità
về bịnh hoạn của ông và xác nhận rằng lời than ấy đúng
lý. Nhưng Ngài hướng ông về một chiều khác. Thay vì nghĩ
đến tấm thân tàn tạ, hãy cố gắng huấn luyện cho cái
tâm mạnh khỏe. Nếu bịnh nhân không ôm ấp những thành kiến
mê lầm thì dầu cho xác thân có yếu kém, tâm vẫn sáng sủa
và tư tưởng vẫn trong lành.
Câu Phật ngôn
trên vừa thoáng nghe hình như trái ngược với câu phương
ngôn la tinh: "meas sana in corpore sano" nghĩa là "một tâm
hồn mạnh khỏe trong một thể xác tráng kiện". Ðể chỉ
mối tương quan giữa tâm và thân, câu trên rất hợp lý. Tuy
nhiên ta phải bổ túc bằng câu: "corpus sanum in mente sana"
nghĩa là "một thể xác tráng kiện với một tâm hồn mạnh
khỏe". Bởi vì, chắc chắn rằng nếu ta thường thấy một
tâm hồn trong sạch và khỏe mạnh được phát triển dễ dàng
và mau lẹ trong một thân hình vạm vỡ tráng kiện thì lắm
khi ta cũng được mục kích những tư tưởng đen tối và những
ý niệm sai lầm về đời sống làm cho thể xác tiều tụy
và sanh ra bịnh hoạn.
Hơn nữa, nếu
những lời Ðức Phật khuyên ông lão Nakulapità được hiểu
biết thấu đáo và thực hiện đầy đủ thì cũng có thể
xoa dịu nỗi đau khổ của bịnh nhân và, trong vài trường
hợp, cũng có thể chữa khỏi căn bịnh.
Sau khi nghe lời
Ðức Phật dạy ông lão Nakulapità lại gặp Ðức Xá Lợi
Phất và xin Ngài giảng rộng thêm. Lời an ủi của vị đại
đệ tử của Ðức Phật thoạt nghe có thể làm cho ta ngạc
nhiên. Ngài khuyên ông lão bịnh hoạn rằng tâm mạnh khỏe
là cái tâm đã dứt khoác những thành kiến ngã chấp, thí
dụ như tin rằng ngũ uẩn (khanda) là một linh hồn trường
tồn, một thực thể vĩnh cửu, một bản ngã bất biến (theo
Phật Giáo, ngũ uẩn là năm thành phần cấu hợp thành ra một
chúng sanh). Ngũ uẩn ấy bao gồm trọn vẹn và toàn thể tri
giác của chúng ta và cũng được gọi là "mầm tham ái" (upadana
khanda) bởi sau màn vô minh như lớp mây mù, tâm mê muội của
ta nhận nó là "Ta" và bám víu vào cái gọi là "Của Ta" như
những vật sở hữu không thể rời bỏ được. Nhưng trong
thực tế, Ðức Phật dạy, đó chỉ là một quan niệm sai
lầm.
Phủ nhận một
bản ngã được người thế gian cố chấp là trường tồn
để khuyên giải một ông lão đang đau khổ vì tuổi già và
bịnh hoạn thì thật lạ đời và thoáng nghe hình như phi lý.
Nhưng hãy lắng nghe Ðức Xá Lợi Phất giảng tiếp: "Thí dụ
như cái gọi là bản ngã của một chúng sanh với năm uẩn
là một, hoặc bản ngã là chủ tể của năm uẩn, hoặc năm
uẩn dính liền hay nằm trong bản ngã, hoặc ngũ uẩn bao trùm
bản ngã, nếu vậy thì người bịnh có đủ lý lẽ để lo
sợ đến khi chết vì chứng bịnh đang liên tục làm suy mòn
uẩn này hay uẩn kia và lan tràn qua uẩn khác. Trong trường
hợp này mối lo âu và kinh sợ rất sâu đậm vì bịnh nhân
tin tưởng rằng chính cái bản ngã mình đang chịu những sự
biến đổi đau đớn và có thể một ngày kia nó sẽ bị tiêu
diệt hoàn toàn. Nhưng, nếu được thụ hưởng giáo huấn
của Ðức Phật về lý vô ngã (Anatta), bịnh nhân sẽ nhận
định rằng tất cả những thành phần cấu hợp và những
cơ năng của thể xác chỉ là những hiện tượng trong tiến
trình của đời sống mà trong đó không có bản ngã nào và
dĩ nhiên, không có bản ngã nào bị tiêu diệt. Bịnh nhân
quán triệt được rằng cái gọi là bản ngã trường tồn
thực ra chỉ là một huyền tượng và thành kiến chấp ngã
phát sinh như một ảo ảnh do sự điều hành phức tạp của
năm uẩn."
Theo chiều tỉnh
giác ấy, một khi đã nhận thức rõ ràng rằng trong thực
tế không có một bản ngã hay linh hồn trường tồn bất biến,
bịnh nhân, sẽ nhìn cơ thể mình như vật xa lạ, dần dần
không còn luyến ái, bám dính vào thể xác mình nữa, xem nó
như một hiện tượng giữa vô số hiện tượng trong thế
gian và không còn quan tâm đến những thay đổi bất thường,
đến sự sanh diệt của năm uẩn. Bịnh nhân sẽ nhìn nhận
và chấp nhận lý vô thường như sự kiện căn bản của thực
tế và hết còn phiền não lo âu. Với tâm thanh ý tịnh bịnh
nhân sẽ trầm tĩnh thản nhiên trước sự tan rã của cơ thể
diễn trình biến đổi của vật chất và tinh thần. Cái chết
sẽ đến một cách êm ái, người sắp lìa trần sẽ tỉnh
táo, không xao động.
Một sự kiện
đáng sợ xảy ra. Nếu chúng ta quan sát tận tường sự kiện
ấy dưới ánh sáng trí tuệ và theo phương pháp suy niệm của
Ðức Phật dạy và hiểu biết rõ ràng thì sự kiện kia cũng
bớt phần đáng sợ. lẽ dĩ nhiên, hiểu biết hay giúp cho
người khác hiểu biết như thế không có nghĩa là trị dứt
bịnh nhưng chắc chắn là rất hữu ích cho bịnh nhân.
Ngoài ra, tầm
quan trọng của sự tu tập theo đường lối quán tưởng ất
thật là không thể lường được. Theo đúng giáo lý nhà Phật,
cái chết không phải là sự chấm dứt hoàn toàn của một
chúng sanh mà chỉ là một giai đoạn tạm thời trong luồng
sống tâm linh. Tâm vẫn hoạt động và, tùy nghiệp lực, sẽ
tái sanh vào một bào thai hay một cảnh giới nào khác để
tiếp diễn, tương xứng với những khuynh hướng đã được
phát triển trong kiếp quá khứ. Vậy, một cái tâm đã chấp
nhận lý vô ngã, đã dứt khoát với những tư tưởng sai lầm,
những ảo tưởng, và đã tìm được sự bình thản vắng
lặng sẽ có nhiều hy vọng tạo một kiếp tái sanh tốt đẹp
hơn là cái tâm hoảng hốt sợ sệt trước cái chết, lo âu
hối tiếc cái "Ta" và những cái "Của Ta" tưởng tượng hay
bị vầy vò cấu xé giữa những sự lo sợ và tham muốn. Hơn
nữa, người đã vượt khỏi lớp vô minh nhìn đúng thực
chất của bản ngã, trong những trường hợp thuận lợi, có
thể hoàn toàn thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn của bánh xe luân
hồi, chấm dứt mọi khát vọng của đời sống và mọi năng
lực tái sanh để tiến tới đạo quả Niết Bàn. Kết quả
này thành tựu được, không phải nhờ sự quán triệt lý
vô ngã bằng trí thức, mà phải chứng ngộ bằng một lối
sống thật sự và thuần túy vô ngã.
Như vậy, lời
dạy trên của Ðức Phật và vị đại đệ tử Ngài không
phải là một lời khuyên suông hay một tối an ủi lấy lệ
mà là một sự giúp đỡ thiết thực. Các Ngài đã chỉ dạy
cho ông lão bịnh hoạn một lối sống lợi ích có thể mở
đường đến chỗ giác ngộ hoàn toàn. Nếu quan sát kỹ lời
dạy của Ðức Xá Lợi Phất ta sẽ thấy một khía cạnh khác.
Ngài giảng về
cái quan niệm sai lầm thông thường về bản ngã vì phạm
vi hiểu biết và kinh nghiệm của ta có giới hạn. Ngoài phạm
vi ấy ta không thể biết gì hơn về bản ngã. Tâm lý học
Phật Giáo dạy rằng cái mà ta gọi là người, cá nhân, ông
này hay bà kia, chỉ là sự kết hợp của năm uẩn: sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Tùy theo duyên nghiệp kết hợp của năm
uẩn ấy, phát sanh tất cả những hiện tượng vật chất
và tâm linh cấu thành chúng sanh. Những đoạn trong tạng Kinh
và về sau, tâm lý học Phật Giáo (Vi diệu pháp), có nêu lên
nhiều thí dụ về điểm này.
Tâm lý học Tây
Phương cũng phát biểu nhiều tư tưởng thiện cảm mà học
giả Bertrand Russell, trong quyển History of Western Psychology tóm
tắt như sau:
"Ta có thể
biết gì về ông Smith? Khi nhìn ông thì ta thấy một khối
có nhiều màu sắc. Khi ông nói thì ta nghe một loạt âm thanh.
Ta nghĩ rằng ông cũng tư tưởng và cảm giác như ta. Tuy nhiên,
ngoài ra những hiện tượng ấy ông Smith là gì? Vỏn vẹn
chỉ là một cái móc mà ta cho là để treo những hiện tượng
kia (một cái cốt để những hiện tượng kia bám vào). Trong
thực tế, các hiện tượng ấy không cần cái móc hơn là
mặt đất cần con voi để voi đứng trên đất. (Voi đứng
trên đất là một ngẫu nhiên. Không phải vì có voi nên phải
có đất hay vì có đất nên phải có voi. Cũng không phải
vì có đất nên phải có voi để voi đứng trên đất. Trong
thực tế những âm thanh hay hình sắc là những hiện tượng
không cần sự hiện hữu của một cá nhân như một cái móc
để đeo vào đó. Cũng như đất không cần voi). Smith là danh
từ chung cho một số hiện tượng. Nếu ta xem Smith như một
cái gì khác nữa thì cái ấy sẽ hoàn toàn không thể hiểu
được".
Nếu một tư tưởng
gia vẫn khư khư căn cứ trên những kinh nghiệm thông thường
và quả quyết có một bản ngã trường tồn thì vị ấy cũng
tin chắc rằng bản ngã đồng nhất với một trong năm uẩn
hay với toàn thể tiến trình vật chất và tâm linh của đời
sống mà năm uẩn ấy tiêu biểu. Nhưng một sự tin tưởng
như thế ấy sẽ bị tan vỡ ngay, vì không còn chân đứng
khi ta nhận thấy rằng năm uẩn phát sanh và tiêu diệt, tức
là biến đổi, vô thường, và do đó, không thể cấu thành
một bản ngã trường tồn bất biến.
Ðức Phật và
chư Ðệ Tử của Ngài là bậc chứng ngộ Chân Lý, không bao
giờ để cập đến việc mù mờ, vô căn cứ mà luôn luôn
hướng dẫn chúng sanh trên đường thực tế.
-ooOoo-
PHẬT
NGÔN
1) Mục
đồng dùng roi gậy đuổi bò ra đồng như thế nào thì cái
già và cái chết cũng lùa mạng sống của chúng sanh đi như
thế đó. -- (Kinh Pháp Cú).
2) Này
hỡi các Tỳ khưu, có hai thứ bịnh. Hai thứ là gì?- Bịnh
thể xác và bịnh tâm.
Nhiều người
nói rằng thể xác mình khỏe mạnh trong một năm, hai năm,
ba năm, bốn năm, năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi,
bốn mươi, năm mươi hay một trăm năm, hay hơn nữa.
Nhưng, ngoài
những vị đã gội sạch bợn nhơ (những bậc thánh), trên
thế gian này rất ít chúng sanh có thể nói rằng tâm mình
khỏe mạnh, dầu trong khoảnh khắc.
-- (Anguttara
Nikaya, Tăng Nhất A Hàm).
3) "Hãy
dứt bỏ cái gì không phải của con. Sự dứt bỏ ấy sẽ
đem lại cho con hạnh phúc và an vui.
Cái gì không
phải của con?Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải của
con. Hãy dứt bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ðó là một
sự dứt bỏ sẽ tạo cho con Hạnh Phúc và An Vui". -- (Tạp
A Hàm XXII, 33).