PHẬT
GIÁO NGUYÊN THỦY THERAVADA
Thoát
đến thực tế
Ananda
Pereira
Phạm Kim
Khánh dịch (1967)
Nguyên tác: "Escape
to reality", The Wheel Publication No. 46/47,
Buddhist Publication
Society, Kandy, Sri Lanka
Lời
nói đầu
Nhân ngày
Rằm tháng bảy Ðinh Mùi (20-08-1967), toàn thể Phật tử hội
viên Hội Phật Giáo Nguyên Thủy ấn tống quyển "Thoát Đến
Thực Tế" nhằm tạo một Pháp thí cao thượng để hồi hướng
đến thân nhân quyến thuộc quá vảng.
Cầu xin quả phúc
này nâng đỡ chư thân nhân và hội viên quá cố được siêu
thoát lên cảnh giới yên vui, hầu tiếp tục tu hành cho mau
đến đạo quả Niết Bàn.
Toàn thể thí
chủ cũng thành tâm hồi hướng pháp thí này đến hương linh
của:
- Hai vị Cao
Tăng đã dày công xây dựng giáo phái Phật Giáo Nguyên Thủy
từ buổi sơ khai là Ðại Ðức Tối Thắng và Ðại Ðức
Giác Quang, và
- Hai vị Hội
viên sáng lập kỳ cựu của bổn hội là: Bà Ðoàn Văn Quờn
và cụ Lâm Ngọc Bút.
Nam Mô Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
SỐNG
HAY CHẾT
Người
điên rồ bị hành động của chính mình thiêu đốt
như một đám
hỏa hoạn tàn khốc.
PHÁP CÚ KINH
Trong
bài diễn văn đọc tại Oslo, khi được trao tặng giải thưởng
cao quí về những hoạt động cho hòa bình, bậc vĩ nhân đầy
lòng nhân đạo, Bác sĩ Albert Schweitzer nói:
"Chúng ta phải
ứng phó thực tế. Con người đã trở thành siêu nhân. Nhờ
khoa học và các tiến bộ kỹ thuật, chẳng những con người
đã sáng tạo và điều khiển những năng lực vật chất theo
ý mình mà lại còn kiểm soát những tiềm năng thiên nhiên.
Tuy nhiên, các bậc siêu nhân ấy vẫn còn một khuyết điểm
không thể tránh là không tự vươn mình lên được đến trình
độ lý trí siêu nhân, tương xứng với sự hùng mạnh siêu
nhân".
Ðó là một lời
tuyên bố hùng biện. Những năng lực tiềm tàng của thiên
nhiên mà con người hiện đã kiểm soát sẵn sàng phục vụ
con người mà cũng sẵn sàng tiêu diệt con người. Như một
lưỡi dao cạo, tuy vô tri vô giác, nhưng thật sự có hiệu
năng. Chính con người phải quyết định dùng nó vào việc
gì. Ðể cạo râu hay để tự cắt lấy cuống họng. Lưỡi
dao thì bất chấp, không cần, thản nhiên, lạnh như tiền.
Chúng ta có thể
tự vươn mình đến trình độ lý trí siêu nhân cần thiết
để sống sót trên hành tinh này không? Ta có đủ trưởng
thành để nhận định rằng chúng ta không thể tiêu diệt
lẫn nhau mà không tự diệt chăng? Bao nhiêu sự việc trong
đời tùy thuộc nơi lối trả lời những câu hỏi trên. Chính
những lối trả lời ấy tạo nên sự khác biệt giữa hai
cảnh: "thiên hạ một nhà" và "nắm mồ chung của nhân loại".
Ta không khỏi
cảm nghĩ rằng các nhà bác học với những tiến triển kỹ
thuật, đã đưa quá sớm vấn đề này vào nhân loại. Những
phán quyết tối quan trọng, đáng lẽ phải do người thật
sự trưởng thành định đoạt, lại nằm trong những bàn tay
non nớt. Trong bao nhiêu lời tuyên bố của các chánh trị gia
có quyền hành, khó tìm thấy ánh sáng trí tuệ, hay như bác
sĩ Schweitzer gọi, một "trình độ siêu nhân". Thỉnh thoảng
con người quen suy gẫm phải lấy làm khủng khiếp kinh ngạc
nghe những lời lẽ ấu trĩ của các cấp lãnh đạo. Khi nói
đến chiến tranh, vài nhà lãnh đạo trên thế gian hình như
còn hình dung những đoàn kỵ mã, những pháo đài và rừng
cờ phất phới của đám quân xung phong. Họ vẫn còn đề
cập đến chiến tranh như một phương tiện "để tạo một
thế gian an toàn và thái bình", theo học thuyết này hay chủ
nghĩa kia, hay một lý tưởng khác nữa. Hình như họ đã quên
rằng nếu có một chiến tranh nữa xảy ra trên phạm vi rộng
lớn, thì những người còn sống sót sẽ không có thì giờ
để thắc mắc với học thuyết và chủ nghĩa. Chừng đó
sẽ chỉ còn lại một thế gian rộng lớn đẩy đầy sự
chết chóc và đầu độc, và con người sẽ có nhiều việc
cấp bách hơn để lo nghĩ.
Ðức Phật nói:
"Người thế gian thật là điên rồ", và chúng ta có thể chấp
nhận điều ấy như một chân lý giản dị. Nếu còn ngờ
vực, ta chỉ cần giở ra một tờ báo hoặc vặn lên máy thâu
thanh. Tờ báo có thể xuất xứ từ phương trời nào, làn
sóng điện có thể phát đi từ đâu, cũng là một chứng minh
hùng hồn cho lời nói trên. Những kiểu chữ thật đẹp, những
giọng nói rành mạch, nói lên rõ ràng bằng những danh từ
không thể làm lẫn được, rằng con người làm đủ tất
cả mọi việc, ngoại trừ suy gẫm.
Nhưng đến bây
giờ thì ta phải suy gẫm. Xây lưng lại với vấn đề sống
còn của nhân loại và tìm nơi ẩn náu trong một loại nha
phiến tinh thần hay vật chất nào thì thật rất dễ dàng.
Nhưng làm như vậy không phải là giải quyết. Ta phải ứng
phó thực tế. Nhân loại phải trưởng thành, bằng không sẽ
tiêu diệt. Trưởng thành thật mau hay tiêu diệt thật nhanh
chóng. Không còn nhiều thì giờ nữa. Ta phải dẹp qua một
bên tất cả những học thuyết, những chủ nghĩa chỉ thúc
giục ta tiêu diệt những kẻ không đồng ý với ta. Hãy loại
bỏ những thứ tâm hồn yêu nước chỉ nhìn người quốc
gia khác bằng cặp mắt căm thù và ngờ vực. Từ nay ta hãy
nhìn nhau như những con người cùng chia nhau sống trong một
thế gian. Phải khởi sự ngay từ giờ phút này. Nếu không
thì quá trễ. Nhưng làm cách nào để đạt đến mức trưởng
thành tinh thần?
Trên 2.500 năm
về trước, Ðức Phật đã vạch cho ta lối đi. Ngài dạy
cho từng cá nhân, những cá nhân biết suy gẫm, những lời
kêu gọi của Ngài vẫn thích hợp cho toàn thể nhân loại.
Ngài dạy: "Tất cả đều vô thường. Không nên luyến ái.
Hãy tiến hành và trở nên tự do".
Từ bao giờ, chỉ
có một trận giặc là chiến tranh chống tham ái. Tham ái về
đất đai, về thương mãi, về quyền lực, về tất cả những
hiện tượng tạm bợ, vô thường của đời sống. Tham ái
chỉ đưa đến tranh chấp và hận thù. Hãy tiến hành, thì
mọi tranh chấp sẽ chấm dứt. Hãy nghĩ đến người khác
như một chúng sanh, một người không có gì đáng cho mình
dành, ngoại trừ hạnh phúc chung, thì mọi tranh chấp sẽ chấm
dứt. Hãy giúp đỡ họ, đó là tự giúp lấy ta. Không cần
biết họ nói tiếng gì, không cần biết chánh kiến họ như
thế nào. Ta cùng với họ chung sống trên, một hành tinh, cùng
thở một thứ không khí, cùng cần dùng một loại vật thực.
Ta không thể tiêu diệt họ và sống sót. Số phận của ta
và của họ nối liền nhau.
-ooOoo-
BẠN
ÐÃ TRƯỞNG THÀNH CHƯA?
Nếu
từ khước một hạnh phúc cỏn con
mà có thể
đạt được hạnh phúc to lớn hơn,
thì bậc thiện
trí thức bỏ cái nhỏ để hướng về cái lớn.
PHÁP CÚ KINH
Cái
khả năng từ khước hạnh phúc nhỏ bé và cấp thời để
tạo hạnh phúc to lớn hơn trong tương lai là dấu hiệu của
sự trưởng thành. Rất ít trẻ con có, nhưng em nào có được
khả năng ấy thật sự em đã trưởng thành hơn nhiều người
lớn. Nó có nghĩa là linh quan sáng suốt, phán đoán đúng và
tự kiểm soát, tự làm chủ lấy mình, những biểu tượng
của một cái tâm trưởng thành.
Rất nhiều người
sống trọn đời mà không bao giờ trưởng thành. Họ cảm
thấy không thể vững lòng cưỡng lại sức quyến rũ của
những khoái lạc cấp thời. Dưới sự hướng dẫn khôn ngoan
và sự kiểm soát của các bậc niên trưởng tinh thần, họ
có thể từ bỏ thú vui tạm bợ ấy để cố gắng thu mình
vào một nếp sống khả dĩ đem lại nhiều hạnh phúc to lớn
hơn trong tương lai, nhưng họ không thể tự mình chọn lấy
con đường đó. Vì lẽ họ có đủ tự do và cơ hội cần
thiết để quyết định nên họ lãng phí thì giờ và năng
lực để chạy theo hạnh phúc cấp thời, mặc cho tương lai
định đoạt.
Ðối với hạng
người này, cần phải tin tưởng một thần linh siêu phàm.
Họ cũng như trẻ con, cần phải có cha mẹ khôn ngoan theo dõi,
bảo vệ và hướng dẫn, ban thưởng những điều hay điều
giỏi, hình phạt những lỗi lầm, khuyến khích những cố
gắng và la rầy những khi lười biếng.
Tuy nhiên, như
Isgeroll nói, trong Thiên Nhiên không có thưởng cũng không có
phạt. Chỉ có hậu quả. Người kia trồng một cây ăn trái,
săn sóc cẩn thận, đầy đủ, và nhẫn nại trông chờ. Cây
trổ trái, không phải là để "ban thưởng". Người ấy có
thể chết trước khi trái trổ, hay vì một biến đổi bất
ngờ, trái có thể không ăn được. Trái trổ không phải để
tưởng thưởng người trồng cây. Ðó chỉ là một sự kiện
dĩ nhiên. Cùng thế ấy, người nọ nuôi một con chó nhỏ
mà không biết tập. Khi nó lớn lên, trở thành hung dữ quạu
quọ. Con chó có thể cắn chủ, có thể không cắn. Nhưng nếu
có cắn thì cũng không phải là để phạt chủ nó về cái
tội không biết dạy dỗ nó. Ðó chỉ là hậu quả dĩ nhiên
của một phương pháp huấn luyện sai lầm.
Ðối với người
Phật tử, tất cả hiện tượng đều là hậu quả. Hiện
tượng có thể là hạnh phúc hay khổ não, đau đớn hay vui
sướng. Người Phật tử không xem đó là sự thưởng hay phạt
của một siêu nhân tối thượng, mà chấp nhận như là hậu
quả của cái nghiệp của mình, của những hành động, những
tư tưởng mình trong quá khứ. Người Phật tử đứng vững
trên hai chân và yên tâm uốn nắn số phận mình trong hiện
tại và tương lai. Ðó là tôn giáo của người trưởng thành,
một tôn giáo quá tự do và thiếu sự che chở đùm bọc đối
với những tâm linh kém thuần thục. Trái lại, đối với
những người trưởng thành, đó là lối sống duy nhất hợp
lý và có thể chấp nhận được.
Người Phật tử
chấp nhận giáo lý chủ trương trách nhiệm cá nhân và thẳng
thắn, thành thật ứng phó đời sống. Người Phật tử có
thể theo đuổi những lạc thú cho nhỏ của nhục dục ngũ
trần, hoặc nếu linh quan sáng suốt, phán đoán đúng, và tự
kiểm soát đầy đủ, có thể từ khước những thú vui cỏn
con để hướng về "một cái gì" vô cùng cao quý hơn. "Cái
gì" ấy là gì? Là tiến bộ tinh thần, là linh quan sáng suốt
hơn, phán đoán càng đúng hơn, càng ngày càng tự chủ hơn,
và hơn nữa, đến sau cùng, như chư vị A-La-Hán, tới chỗ
tuyệt đỉnh của lịch trình tiến hóa tinh thần, đạo quả
Niết Bàn. Ðó là con đường mà chư Phật đã vạch. Con đường
ấy không phải dễ đi mà cũng không phải là ngắn. Phần
đông chúng ta còn phải đi thật xa. Tuy nhiên, chúng ta phải
đi trên con đường ấy và khởi hành càng sớm thì càng mau
đến đích. Không nên đợi chờ nhiều kiếp sống nữa để
bắt đầu cuộc hành trình. Không nên mê hoặc tin rằng nếu
ta nhẫn nại tin tưởng nơi một ngoại nhân nào thì sẽ được
ban hạnh phúc trường cửu. Không nên hành động như những
đứa bé bẩn thỉu, vẩn vơ đợi chờ cha mẹ hay bà vú đem
đi tắm rửa, thay quần áo và đặt lên giường. Làm như thế
ấy ta phải đợi chờ mãi mãi.
-ooOoo-
NGƯỜI
SẴN SÀNG
Chính ta phải
cố gắng, chư Phật chỉ là những vị hướng đạo.
Hành giả nào
đi đúng "Con Ðường"
là đã thoát
khỏi dây trói buộc của Ma Vương.
PHÁP CÚ KINH
Phật
giáo không phải là lớp đường bọc ngoài viên thuốc đắng
"đời sống". Phật giáo không bao giờ chủ trương rằng cái
chết là cánh cửa để mở vào cảnh giới hạnh phúc vĩnh
cửu, không hứa hẹn sự cứu rỗi dễ dàng để đánh đổi
lấy một đức tin. Phật giáo dạy phải tự nương tựa nơi
mình, và dạy một ý niệm về trách nhiệm cá nhân.
Không có vị giáo
chủ nào, dầu từ bi và trí tuệ đến đâu, mà có thể dạy
được một người không chịu học. Khi thực hành trọn vẹn
mười Pháp Ba-La-Mật, người có nguyện vọng trở thành Phật
phát triển những đức tánh cần thiết để trở thành vị
Vô Thượng Thiên Nhân Sư. Như vậy không có nghĩa là Bồ Tát
rửa sạch tội lỗi, những hành động hung ác và điên cuồng,
của người khác, mặc dầu nhiều lần Ngài đã hy sinh mạng
sống trong thời gian chuẩn bị dài đăng đẳng này. Không
có ai, dầu cao siêu và giàu lòng từ ái đến đâu, mà có
thể gội rửa những lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều duy nhất
mà ta có thể làm được là tự cải thiện. Trong trường
hợp của Bồ Tát, người có nguyện vọng và cố gắng trở
thành Phật, tiến trình của sự tự cải thiện vượt xa lên,
ngoài mức cần thiết để tự cứu rỗi. Ngài còn cứu độ
kẻ khác, cứu độ ở đây chỉ có nghĩa là dạy cho người
khác tự cứu lấy họ.
Lời dạy có vẻ
quá nghiêm khắc, nhưng thật ra rất hợp lý với thích ứng
với đời sống thực tế. Ta không thể ăn cho người khác
no. Không thể tập bơi để cho người khác biết lội. Không
thể giữ mình cho người khác được khỏe mạnh. Cùng thế
ấy, ta không thể gội rửa những hành động hung ác và điên
cuồng của người khác. Mỗi người phải trả cái nợ của
mình đã vay và uốn nắn tương lai mình. Cho đến Ðức Phật
cũng chỉ có thể vạch con đường cho ta mà thôi.
Ðức Phật là
một vị Thầy, trong ý nghĩa chánh đáng và cao quí nhất của
danh từ. Giá trị của Ngài không thể có một giới hạn.
Xuyên qua vô số chu kỳ, từ kiếp sống này đến kiếp khác,
chúng sanh sống trong đêm tối, cố bán lấy một tà kiến
này hay một thành kiến sai lầm khác, sống, chết và sống
trở lại, triền miên, mãi mãi. Khi thì ở trong cảnh giới
hạnh phúc, lúc thì trong khổ cảnh. Nhưng không bao giờ ta
được biết phải làm thế nào để thoát ra khỏi vòng lẩn
quẩn.
Rồi, như buổi
bình minh tươi sáng của một ngày vinh quang rực rỡ, một
vị Phật xuất hiện. Ngài vạch cho ta con đường đi đến
tự do. Một vài người vội vã thọ huấn và liền được
hưởng. Các vị ấy là những người sẵn sàng, như chư vị
A-La-Hán thời Ðức Phật. Ðối với các Ngài, một bài kệ,
một câu kinh, một phật ngôn cũng có thể là đủ. Những
người khác học chậm hơn. Cũng có người không chịu học
gì hết. Họ chưa được chuẩn bị đầy đủ để thọ hưởng
Phật Pháp. Cũng như một em bé lớp mẫu giáo chưa được
chuẩn bị đầy đủ để lãnh hội thuyết Tương Ðối.
Ai là người sẵn
sàng để thọ hưởng tức khắc khi có một vị Phật xuất
hiện?
Theo lời dạy
của Ðức Phật, các vị ấy là những người trầm tư đã
có hành thiền. Ðã lâu rồi, có lẽ trong nhiều kiếp sống,
các Ngài đã suy gẫm rõ ràng và đã triển khai trí tuệ. Ðối
với các Ngài, thực hành giáo lý của Ðức Phật là một
niềm vui, một hạnh phúc. Các Ngài không khao khát ước mong
những cái mà ta gọi là phần thưởng của đời sống, như
sự nghiệp, quyền thế, những tiến bộ trong thế gian mà
bao nhiêu người say mê đắm đuối. Các Ngài nhận thấy giá
trị cao quý hơn trong tâm trạng vắng lặng, trong sự tri túc
và tự do. Các Ngài đi dễ dàng trên "Con Ðường" và cắt
đứt mọi sự trói buộc của Ma Vương, của tham ái, sân hận
và si mê. Các Ngài đã thoát tục, siêu phàm.
-ooOoo-
VINH
QUANG
Cao quý
hơn quyền bá chủ trên thế gian,
Cao quý hơn
đời sống trên các cảnh trời,
Cao quý hơn
là chinh phục vũ trụ.
Là đạo quả
của bước tiến Nhập Lưu.
PHÁP CÚ KINH
Người
thế gian tìm vinh quang trong những thành công ở thế gian. Chúng
ta thấy bậc đế vương đang trị vì là vinh quang, triệu phú
là vinh quang, một nghệ sĩ kịch trường nổi danh, một bác
sĩ, một trạng sư hay một họa sĩ lỗi lạc, là vinh quang.
Chúng ta đo lường sự vinh quang bằng cây thước quyền thế
và danh vọng của thế gian.
Ðối với Ðức
Phật, vinh quang là một cái gì hoàn toàn khác hẳn. Ngài đã
thấy chúng sanh chết và tái sanh tùy theo Nghiệp quá khứ.
Ngài biết rằng một hoàng đế, sau khi chết cũng có thể
tái sanh vào cảnh thú. Ngài thấy rằng trong thế gian luôn
luôn biến đổi này, những quyền lực phàm tục không bao
giờ được an toàn, những danh vọng phàm tục không bao giờ
được bền vững. Cái chết cũng đến với người quyền
thế và người danh vọng y hệt như nó đến với kẻ cô thân
và hạng vô danh, không ai biết đến. Và khi chết thì bao nhiêu
quyền lực, của cải, sự nghiệp và bao nhiêu danh vọng, quyền
thế đều phải bỏ rơi lại. Ðó là một việc đã lập lại
nhiều lần. Nhìn trên cái bối cảnh vô thường, luôn luôn
biến đổi, thì không có sự vinh quang nào của thế gian này
là thực. Chính tầm mắt chúng ta cũng có thể thấy như vậy,
nếu ta thấm nhuần giáo lý của Ðức Phật và cố gắng suy
gẫm. Nhưng rất ít người chịu khó làm như vậy. Vì thế,
Ðức Phật dạy rằng: "Thế gian này mù quáng". Rất ít chúng
sanh thật sự thấy.
Bây giờ, nếu
thấy rõ thực tướng của sự vật, ta không thừa nhận có
mảy may vinh quang nào trong quyền thế, danh vọng và những
thành công phàm tục này thì nên kết luận rằng chẳng có
chi là vinh quang cả chăng?
Ðức Phật trả
lời rằng "Có", và Ngài chỉ những vị đã bước vào dòng
suối chảy đến đạo quả Niết Bàn, những vị Nhập Lưu
hay, theo danh từ Phật giáo, chư vị Tu-Ðà-Huờn, và Ðức
Phật dạy rằng những vị ấy vinh quang và cô cùng cao quý
hơn các bậc đế vương, các vị trời, dầu là trời Phạm
Thiên. Trên đạo quả Tu-Ðà-Huờn còn thêm ba bậc thánh đạo
và thánh quả nữa để đến mức giải thoát hoàn toàn, chứng
ngộ đạo quả A-La-Hán.
Tại sao?
Một vị Tu-Ðà-Huờn
có thể là một người nghèo, không danh vọng, không ai biết
đến. Ðứng về phương diện thế gian thì các Ngài có thể
là hạng người mà không ai màn đếm xỉa đến. Vậy thì
vinh quang ở điểm nào? Cái vinh quang của các Ngài là đã
đạt đến mức tiến không còn thoái bộ nữa. Không bao giờ
các Ngài còn mê lầm chấp nhận có một linh hồn trường
cửu, xem như một thực thể trường tồn bất biến. Không
bao giờ các Ngài còn hoài nghi về con đường giải thoát.
Không bao giờ các Ngài mù quáng tin tưởng nơi những lễ nghi
suông. Không bao giờ các Ngài còn phạm một lỗi lầm nào
trong năm giới căn bản. Không bao giờ các Ngài còn phải tái
sanh vào một cảnh giới thấp hơn cảnh người. Các Ngài phải
còn tái sanh nhiều nhất là bảy lần, trước khi chứng ngộ
đạo quả A-La-Hán.
Một vị Tu-Ðà-Huờn
cũng giống như người vượt qua sa mạc, nhìn xa xa thấy dạng
mức đến của cuộc hành trình khủng khiếp. Cát vẫn còn
thiêu đốt chân, ánh nắng mặt trời vẫn còn đè nặng trên
đầu, khách lữ hành rất là mệt mỏi, đói khát. Tuy nhiên,
ở phía trước, cây to bóng mát, ao đầm nước trong đã nằm
trong tầm mắt. Khách hân hoan rảo bước, yên trí rằng mức
đến sẽ không còn bao xa. Người đã tiến đến trình độ
này không bao giờ chịu đổi lấy một cái gì ở thế gian,
dầu đáng giá bao nhiêu, để phải còn lang thang, tuyệt vọng,
lạc loài giữa sa mạc mênh mông. Người kia có thể giàu sang
quyền quý, ăn mặc đẹp đẽ, đi đâu thì tiền hô hậu ủng.
Người ấy chỉ có thể đáng thương hại. Con đường của
người ấy phải đi còn xa, xa lắm mới đến đích.
-ooOoo-
QUYỀN
THẾ VÀ TỰ DO
Ðã
lâu rồi, và rất nhiều lần trong những kiếp sống liên tục
trong vòng luân hồi, hạng phàm nhân chúng ta chạy theo quyền
thế, Quyền lực có sức hấp dẫn mãnh liệt. Ta muốn thành
vĩ nhân. Ta muốn thực hiện những công trình vĩ đại. Ta
muốn kiểm sát tất cả những gì ở xung quanh ta. Nhưng người
muốn tự mình kiểm soát lấy mình thì thật hiếm hoi.
Nếu có ai hỏi
người trí tuệ: "Ông sẽ làm gì nếu được ban cho quyền
làm bá chủ thiên hạ?" thì vị ấy trả lời: "Lẽ dĩ nhiên
là tôi sẽ từ chối". Bởi vì người trí tuệ không tìm quyền
thế. Quyền lực không có ảnh hưởng nào đối với người
trí tuệ. Bao nhiêu người trong chúng ta có trí tuệ? Chúng
ta đi tìm thế lực tưởng tượng rằng đó là chìa khóa để
mở cửa vào cảnh giới hạnh phúc. Chúng ta cố gắng, tận
dụng tất cả năng lực để đạt quyền thế cho kỳ được,
và nếu được, thường ta lạm dụng nó.
Người có trí
tuệ thì chỉ cố gắng làm chủ chính mình vì nhận định
rằng đó là con đường đi đến "Tự do". Ðạo quả Tu-Ðà-Huờn
là nấc đầu tiên trong các thánh quả. Ðó là ngưỡng cửa
của Tự Do. Người đã bước chân vào dòng suối của các
bậc thánh đã vượt ra khỏi những ham muốn, những ước
mơ ở thế gian, đã dứt khoát một cách toàn vẹn những khát
vọng quyền thế.
Các chánh trị
gia, những người ôm ấp trong lòng một tham vọng về quyền
thế, đôi khi cũng đề cập đến tự do như một cái gì có
thể mua được bằng lá phiếu, hay có thể đạt được bằng
một ván bạc đẫm máu như một cuộc cách mạng. Tuy nhiên,
dầu các người ấy có tuyên bố như thế nào, không thể
có sự giải thoát tập thể, không thể từng đoàn người
đạt tự do cùng một lúc. Không bao giờ có thể đó. Trong
đám đông nhân loại, mỗi người như thế nào là tùy theo
người ấy đã như thế nào trong quá khứ. Và trong hiện tại,
hình như chúng ta đang đứng kề bên vực thẳm của khổ cảnh.
Rất có thể là từ đám đông, mỗi người chúng ta sẽ lao
mình xuống vực thẳm và sẽ đau khổ chịu đựng những hậu
quả của nó trong một thời gian. Những trường hợp tương
tợ đã xảy ra nhiều lần và có thể còn lặp lại nhiều
lần khác, vì đó mà mẫu chuyện vô cùng tận của nhân loại
vô minh.
Nhưng, từng cá
nhân một, vẫn có cơ hội để đạt Tự Do. Ðó là Chân Lý
thâm diệu và vinh quang mà Ðức Phật đã dạy. Tự Do không
phải là hậu quả của một quyền thế phàm tục mà là kết
quả của Giới, Ðịnh và Tuệ. Trên con đường giải thoát,
quyền lực cũng đến như một sản phẩm phụ, một thứ quyền
năng lạ lùng mà người phàm không khi nào mơ ước đến.
Nhưng đó không phải là mục tiêu. Nó chỉ là những dấu
hiệu của một bước tiến, một khích lệ để cố gắng
thêm nữa. Tự Do mới là mục tiêu duy nhất và tối hậu.
Ðức Phật có quyền năng vô lượng. Chư vị A-La-Hán cũng
vậy. Các Ngài chỉ dùng những quyền năng ấy để giúp đỡ
người khác. Không khi nào để thống trị.
-ooOoo-
BỐ
THÍ
Bố
thí là một cái gì khác, nhiều hơn là sự cho ra suông. Ðức
quảng đại phải xuất phát từ đáy lòng, phải bắt nguồn
từ tình huynh đệ và có thể biểu hiện dưới trăm ngàn
hình thức. Bố thí là bản chất của một tâm hồn vĩ đại.
Bố thí không
có tính cách bảo bọc người khác. Không có sự ban bố, cũng
như không có sự thọ ơn, giữa người cho ra và người nhận
lãnh. Bố thí hoàn toàn trong sạch và tinh khiết, không có
mảy may ẩn ý. Hai đàng, cả người cho lẫn người nhận,
đều được tự do trọn vẹn.
Từ tình huynh
đệ phát sanh, đức quảng đại phát triển song song mật thiết
với tình thương, với thiện cảm. Người quảng đại rất
lịch sự. Nếu trong một buổi họp mặt vui vẻ mà có ai thuật
một câu chuyện lý thú, được nhiều người để ý và khen
ngợi, thì người có lòng quảng đại không tìm một câu chuyện
khác, lý thú hơn, để người ta chú ý đến mình, quên người
kia. Trong sự cho ra, người quảng đại cũng rất tệ nhị.
Nếu người bạn nghèo vừa thưởng một đứa con ngoan cái
máy ảnh rẻ tiền thì người có lòng quảng đại không vội
mua cho em bé ấy một cái máy ảnh mắc tiền hơn. Vì như vậy
có thể làm khỏa lấp giá trị của phần thưởng kia.
Bố thí cũng không
phải cho ra những sở hữu vật chất mà thôi. Cũng có thể
bố thí sự hiểu biết, sự khôn khéo, năng lực, hay thì giờ.
Cũng có thể bố thí trong khi nghĩ hay nói đến một người
khác. Trong khi phê bình một người mà quyền lợi không đụng
chạm đến ta hay nghề nghiệp không cạnh tranh với ta thì
vẫn còn dễ cho ta phát biểu những ý tưởng quảng đại.
Một luật sư có thể dễ dàng hết lời tán dương một ông
bác sĩ hay một điêu khắc gia, nhưng thế thường, rất dè
dặt khi phải ngợi khen một luật sư khác.
Cũng có thể quảng
đại trong thái độ của ta trước những lời đồn đại
dèm pha. Có người được coi là quảng đại mà vẫn sẵn
sàng tin những lời nói xấu người khác, dầu người đó
là bạn. Khi nghe thuật lại câu chuyện xấu của ai thì họ
liền vội vã chụp lấy để chuyển sang người khác và, trong
khi trao lại, không quên thêm vào đấy chút gì nữa. Người
như vậy không thể thật sự quảng đại. Sâu kín trong lòng,
họ vẫn còn tầm thường, nhỏ nhoi. Những hành động quảng
đại của họ chỉ là một sự bỏ vốn làm ăn. Tỏ tình
thương và thiện chí giúp đỡ kẻ khác trong kiếp sống hiện
tại với ý mong muốn hưởng lợi trong một kiếp vị lai.
Người thật sự
quảng đại cho ra mà không theo đuổi vật bố thí. Có thể
giúp người trong vật chất hay tinh thần, hay bằng thì giờ,
người thật sự quảng đại không hề ước mong được đền
đáp. Bố thí. Cho ra. Rồi thôi. Không còn gì khác nữa. Và
nếu người thọ hưởng nhận lãnh vật bố thí như một việc
phải có, như mình bắt buộc phải giúp đỡ họ thì người
quảng đại không lấy làm chua cay như người thường. Người
ta có thể nghĩ rằng hành động như vậy là phải chịu thiệt
thòi vô lý. Nhưng nghĩ vậy là lầm. Người có lòng quảng
đại vẫn tiến bước trên con đường của mình, và mỗi
lần bố thí là vững mạnh và tự do hơn một bậc. Nếu có
ai ích kỷ lợi dụng lòng quảng đại của mình thì họ cũng
đi trên con đường của họ, và mỗi lần như vậy họ trở
nên yếu hèn hơn và bị ràng buộc thêm lên một bâc. Cũng
vì những hành động tương tợ trong quá khứ mà có người
sanh ra được giàu sang và tự do, có kẻ lại nghèo hèn và
nô lệ. Người quảng đại không có mất gì hết. Người
ích kỷ, lợi dụng đức khoan hồng, cũng không thêm được
gì hết.
Nếu không có
ai quảng đại thì thế gian này hẳn là đen tối và trống
không. Cũng không thể có Phật Pháp, vì Phật Pháp và sự
biểu hiện cao thượng nhất của đức quảng đại. Phật
Pháp là món quà mà Ðức Phật bố thí cho nhân loại, là món
quà Chơn Lý, Ánh Sáng, Tự Do.
-ooOoo-
TÁN
DƯƠNG VÀ KHIỂN TRÁCH
Cũng
dường như tảng đá to trước cơn gió lốc
Bậc thiện
trí thức không bao giờ xao động
vì những lời
tán dương ca ngợi hay khiển trách chê bai.
PHÁP CÚ KINH
Câu
Pháp Cú trên đây có thể áp dụng trọn vẹn cho một vị
A-La-Hán. Tuy nhiên, hạng thường nhân cũng có thể hành pháp
cao siêu ấy đến mức độ nào. Người khôn ngoan không dễ
gì bị một lời khen hay một tiếng chê của thế gian làm
chao động. Bậc thiện trí thức biết suy gẫm, biết nhận
định đâu là lợi ích và vững lòng tiến bước trên con
đường của mình.
Hình như đã là
một thói quen, người thế gian không khiển trách hay tán dương
một hành động vì cái giá trị cố hữu của nó. Trường
hợp một luật sư chẳng hạn. Người ta nói vị luật sư
ấy giỏi hay dở là do những trường hợp mà vị ấy biện
hộ thắng hay là thất. Ðại chúng không thể nhận định
được chân giá trị của ông. Có thể ông rất thông minh
và cần mẩn, nhưng rủi gặp phải một loạt những trường
hợp không may là ông phải mang tiếng bất tài. Trái lại nếu
biện hộ liên tiếp cho vài thân chủ được kiện là ông
sẽ nổi tiếng. Trong phần lớn các ngành sinh hoạt khác cũng
vậy. Những cố gắng của nhân loại chỉ được xét đoán
xuyên qua kết quả của nó.
Con người kém
khí lực sẵn sàng chấp nhận sự kiện ấy và ép mình sống
trong khuôn khổ. Họ thèm muốn thành công, những thành công
của thế gian, và tận lực cố gắng để thành tựu khát
vọng. Họ biết rằng thế gian không cần tìm hiểu chân giá
trị của họ. Như vậy họ mua cái thành công của họ bằng
đồng tiền giả. Họ tưởng được chú ý đến trong cái
mà đại chúng cho là lý thú.Họ tưởng như vậy là họ thương
người và sẽ được người giúp. Họ tưởng như vậy là
họ ở đúng nơi, mặc đúng y phục làm đúng việc. Và họ
thành công. Rất ít có người chịu khó quan sát và thí nghiệm
đồng tiền giả. Tuy nhiên không bao giờ họ có thể vượt
lên đến cấp lãnh đạo, dầu trong những sinh hoạt ở thế
gian. Muốn lãnh đạo phải có đủ khí khái, đủ can đảm
để đôi khi dám đi một mình, phải có những tư tưởng riêng
của mình.
Lẽ dĩ nhiên,
kỳ khôi không phải là khí khái. Ta có thể ngăn cản dễ
dàng không cho người kỳ khôi làm một việc gì bằng cách
"chỉ huy", bắt buộc họ phải làm điều ấy. Người khí
khái không bị vướng mắc trong chiến thuật này. Người khí
khái không cần người ta nghĩ mình là thế nào. Thiên hạ
có thể cho mình là cứng cỏi, độc lập, hay yếu đuối,
ươn hèn. Người có khí lực nhất định đi trên con đường
đã chọn, dầu có bị bắt buộc thế nào. Chính trong đức
hạnh khí khái có sự tự do.
Phần đông chúng
ta bị ảnh hưởng sâu xa của những ức đoán người ta sẽ
nghĩ thế nào về mình. Chúng ta phán xét người xuyên qua hoàn
cảnh của chính mình. Nếu ta khâm phục và hâm mộ vài đức
tính như sự khôn khéo, sự vui tính, hay lòng quả cảm thì
ta ước đoán rằng người khác cũng khâm phục và hâm mộ
các đức tính trên như vậy. Và ta cố làm ra vẻ như ta cũng
có những đức tính ấy. Làm ra vẻ có nghĩa là kềm hãm,
ép buộc, luôn luôn cố gắng, không dám ngừng nghỉ, không
dám để lộ bản chất tự nhiên. Chúng ta cố làm ra vẻ giống
một vài lý tưởng thay vì thẳng thắn chấp nhận rằng đó
chỉ là lý tưởng, ta vẫn còn xa cách lý tưởng ấy, nhưng
ta đang cố gắng đạt đến.
Bậc thiện trí
thức có một căn bản liêm khiết, ngay thật, khinh thường
những cái giả dối bề ngoài. Ðó là sức mạnh, là khí khái,
là cái khả năng để giữ mình tương đối không xao động
trước những lời ca tụng tán dương và những tiếng chê
bai khiển trách. Bậc thiện trí thức cũng có lý tưởng, nhưng
không bao giờ làm ra vẻ mình là kết tinh của lý tưởng ấy.
Trái lại, cố gắng, nhẫn nại, lần bước trên con đường
dẫn đến đó với một niềm tin vững chắc. Nếu có ai khen
ngợi cũng không hãnh diện hay lộ vẻ vui mừng. Nếu có ai
khiển trách cũng không vì đó mà lo âu sầu muộn. Bậc thiện
trí thức nhận lãnh lời phê bình một cách trầm tĩnh và
hiểu biết, và suy gẫm, tìm hiểu lời phê bình có đúng không,
người phê bình có đủ tư cách không. Và khi đã quan sát
tận tường lời phê bình, tức nhiên người thiện trí thức
nhận định rõ con đường của mình.
Ðôi khi lời khen
hay tiếng chê là một sự hướng dẫn hữu ích. Nhưng không
phải luôn luôn như vậy. Nếu là một lời phê bình không
nhằm lối, thì ta nên gát qua một bên, không cần để ý đến
nó. Cũng như một tâm trí lành mạnh không cần để ý đến
những lời chưởi rủa của người điên.
-ooOoo-
SÂN
HẬN
Khi lòng
sân nổi dậy như một con ngựa chứng,
Người nào
kềm chế nó được thì Như Lai gọi là mã kỵ.
Những kẻ
khác chỉ là những người cầm cương.
PHÁP CÚ KINH
Mỗi
người chúng ta đều có thể hồi nhớ lại một lần nào
ta đã giận dữ. Sân hận là cảm xúc mà loài người chia
sẻ với loài cầm thú, có lẽ ngoại trừ một vài loại côn
trùng, sò ốc, hay các loại sứa. Thế gian này vẫn còn cách
xa sự toàn thiện toàn mỹ. Về những sự việc đã xảy ra,
ta có cảm nghĩ rằng những việc ấy có thể xảy ra một
cách khác nếu đương sự thông minh và ôn hòa hơn, bớt ích
kỷ và bớt tham lam hơn một chút. Trong những trường hợp
tương tợ, cái sân của ta lồng lộn nổi dậy, tựa hồ như
một tuấn mã bất kham, và chúng ta có một thái độ thấp
kém hơn loài người một bậc.
Ðể cho tâm sân
mặc tình nổi lên và mặc tình phát triển thì thật là dễ.
Con ngựa sân đã tế nước lớn thì rất dễ mà giục nó
càng tế mau hơn nữa nếu ta dùng ngọn roi "tự cho là chánh
đáng" để đập vào lưng nó. Nếu con ngựa chạy điên không
bị đụng chết ở đâu thì nó sẽ mệt dần, bớt dần tốc
độ, và đến một lúc nào nó sẽ trở lại trạng thái bình
thường, nhận ra mình hơi điên rồ và tự thấy trơ trẽn.
Có lẽ không có gì xấu xa hơn là phô bày cho người xem sự
thô lỗ bất lịch sự của mình.
Tuy nhiên, những
con ngựa điên như thế thường bị đụng chết trước khi
mệt. Ở Tích Lan, lãnh thổ của Phật Pháp, hàng năm số người
giết nhau trong những vụ cãi vã đã lên đến mức đáng lo
ngại. Ðáng sợ hơn nữa là, phần lớn các trường hợp,
lý do để sát hại nhau thật không có gì hết. Một va chạm
tưởng tượng trong tiệc cưới, một vụ khất nợ không quan
trọng, một cuộc cãi vã về quyền sở hữu một cây hay một
trái đi nữa cũng đủ làm đầu dây mối nhợ cho một vụ
chém giết nhau tàn nhẫn.
Tại sao vậy?
Rõ ràng nguyên
nhân chánh không phải là đầu đề tranh chấp, mà là thái
độ của đương sự. Nếu là người có tánh trẻ con, ưa
quạu quọ hay kém trí xét đoán, kém hiểu biết, thì một
việc hết sức nhỏ nhặt có thể dễ dàng dẫn đến cảnh
ngục tù hay sự hành quyết.
Giáo lý của Ðức
Phật đã hiến cho ta một phương pháp vô song để xây dựng
một con người hùng mạnh, trí tuệ và hiền lương. Tại sao
rất nhiều người sống trên đất lành của Phật giáo mà
không hấp thụ được bẩm tánh quý báu ấy? Chắc chắn rằng
họ không hiểu giáo lý của Ðức Phật mặc dầu sống trên
một phần đất Phật Giáo. Họ được coi là phạt tử. Họ
đã có tham dự những buổi lễ Phật Giáo. Một đôi khi họ
có nghe thuyết pháp. Nhưng giáo lý không thấm nhuần họ, giáo
lý không có thâm nhập vào bên trong họ để đưa vào cho họ
sự mát mẻ và sự thanh tịnh. Họ cũng như những đứa trẻ,
khi thì vui vẻ, rộng rãi, dễ thương, nhưng đến lúc nổi
cơn sân lên thì trở thành dữ tợn, hung ác, thật là đáng
sợ. Trong những giai đoạn đen tối ấy, họ hành động như
không có bao giờ Ðức Phật sống trên thế gian này, như Ðức
Phật không bao giờ gởi đến cho nhân loại lời kêu gọi
từ bi và trí tuệ.
Là phàm nhân,
chúng ta không mong có thể hoàn toàn chế ngự được tâm sân.
Ðối với ta sân hận là một vấn đề nan giải. Tuy nhiên
nhiều việc còn có thể làm được. Có một lối suy tư giúp
ta kiểm soát tâm sân dễ dàng hơn. Ðầu tiên, phải nhận
định rằng không chế ngự được nó là dấu hiệu của sự
yếu hèn, không khi nào là dấu hiệu của sức mạnh. Chúng
ta thích được xem là tự chủ, là hùng mạnh. Khi nổi sân,
ta có cảm tưởng như ta mạnh và tự chủ hơn lúc thường.
Nhưng đó chỉ là một ảo tưởng, một sự lầm lạc, một
tai họa. Thật ra trong những lúc tương tợ, ta yếu hèn và
kém hiệu năng hơn thường. Nếu một võ sĩ biết rằng đối
thú của mình nóng tính thì chắc chắn anh sẽ hết sức cố
gắng để khiêu khích, chọc giận cho kỳ được, vì biết
rằng một khi tức giận thì đối thủ anh sẽ có chỗ hở,
dễ dàng bị hạ hơn. Mỗi khi giận ta phải nhận định rằng
cái sức mạnh mà ta cảm thấy lúc bấy giờ không phải là
sức mạnh của tay mã kỵ. Nó chỉ là sức mạnh của con ngựa
chứng chạy điên. Như vậy tức khắc ta phải cố gắng kềm
cương, thuần vó ngựa. Nếu thành công thì ta là chủ. Nếu
thất bại tức nhiên ta là nô lệ.
Ta cũng nên suy
luận rằng, và đây là một điểm cần thiết, thật ra sự
việc không được đến phân nửa phần quan trọng mà ta đã
gán cho nó. Có nhiều người tự quan trọng hóa mình một cách
quá đáng. Những người ấy nên nhận định rằng những cơn
giận dữ mà họ đã bộc lộ không làm xúc động người
khác như họ tưởng. Người đang sân trông rất xấu xa và
có thể là một tai họa. Cái sân chỉ làm cho người ta cười
chớ không làm cho người ta sợ. Người khôn ngoan thỉnh thoảng
phải biết cười mình. Nếu không, người khác sẽ cười.
-ooOoo-
ÐỘ
THỰC
"Một
là gì?
- Là tất cả
chúng sanh phải nhờ vật thực để sống".
Ðó
là câu hỏi và câu trả lời đầu tiên trong mười câu mà
một thầy sa-di phải học. Ðó là chân lý căn bản có thể
áp dụng cho tất cả chúng sanh. Từ chúng sanh to lớn nhất
đến chúng sanh nhỏ bé nhất, từ cao nhất đến thấp nhất,
tất cả đều sống nhờ vật thực. Nếu lột bỏ tất cả
những lớp ngoài cho đến phần tinh túy nhất của nó thì
đời sống là một tiến trình ăn và cố tránh khỏi bị ăn.
Ðặt một giọt
nước dơ dưới ống kính hiển vi thật mạnh, sự thật sẽ
được chứng minh một cách rõ ràng. Xuyên qua ống kính, ta
sẽ thấy bao nhiêu sinh vật tý ty, mỗi sinh vật là một chúng
sanh, một cá nhân. Mỗi sinh vật đều lăn xăn lích xích, rối
rích nhộn nhịp để giành lấy sự sống. Những hoạt động
ấy là gì? Là ăn có cố tránh khỏi bị ăn. Nếu quan sát
kỹ từng con vật bé nhỏ ấy ta sẽ thấy rằng cuộc tranh
đấu của chúng nó để giành quyền sống vô cùng gay cấn,
vô cùng ác liệt, không khác nào cuộc tranh hùng giữa hai con
cá kình. Con này vồ lấy con kia. Con kia cố sức vùng vẫy
để thoát. Một đàng cố bắt cho kỳ được. Một đàng cố
chạy để khỏi chết. Cả hai đều tận lực, dằn co cho đến
lúc con yếu hơn quá mệt mỏi, bỏ cuộc và bị ăn. Ðó là
thảm kịch của đời sống, và thảm kịch này tiếp tục
diễn tiến trong mỗi giọt nước chưa có nấu chín, trong mỗi
ly khối đất. Cao hơn một bậc, trong thế gian hữu hình, cuộc
tranh đấu lại càng ác liệt. Trong lòng đất, dưới nước,
trên mặt đất, giữa không trung, từng phút, từng giây, đều
có những sinh vật đang ăn và những con khác đang bị ăn.
Xuyên qua những
cảnh tượng khủng khiếp của đời sống, đức tính ôn hòa
hiền lương và dịu dàng rất là ly hữu, tựa hồ như không
bao giờ có. Khi mà tiến trình của đời sống chỉ có nghĩa
là bảo vệ mạng sống và căn cứ trọn vẹn trên sự ăn
và cố tránh khỏi bị ăn thì những đức tính như ôn hòa,
hiền lương và dịu dàng chỉ dẫn đến chỗ tự sát. Một
con vật hiền lương sẽ không sống được lâu, dầu ở trong
trí nhớ của một con khác đã ăn nó. Một con cọp hay một
con cá mập cũng vậy. Ái dục (Tanha) là loại tâm mạnh nhất
trong mỗi chúng sanh. Ái dục là ham ăn. Càng ăn nhiều càng
to lớn, càng mạnh bạo, càng lánh xa tai họa bị kẻ khác
ăn, càng có nhiều hy vọng được sống sót.
Ðó cũng là một
chân lý đối với đời người mặt dầu hiện tượng sống
của con người phức tạp hơn nhiều. Trong thời sơ khai của
nhân loại, con người phải săn bắn để tìm thức ăn. Con
người cố gắng để trở thành một người thợ săn thiện
xạ. Con người cũng cố gắng trở thành một tay thiện chiến
để rồi cưới được nhiều vợ và sanh được nhiều con,
hơn người bạn yếu kém. Nhưng xã hội đã tiến hóa, đổi
thay, và trở nên phức tạp vì nhiều yếu tố mới đã chen
vào đời sống. Như người kia ăn ít, nhỏ bé, nhưng khéo
tay khéo chân, sản xuất được những vật đặc biệt, làm
ra tiền nhiều hơn anh thợ săn. Nhưng bên trong, con người
của anh cũng bị định luật trên chi phối, anh có nhiều hy
vọng sống sót hơn những người kém khả năng.
Trong xã hội sang
trọng hơn của loài người, người ham ăn, người ăn nhiều,
được thay thế bằng người đến mức, hãnh tiến, vô sở
bất vi. Con người ấy biết mình muốn gì và có đủ khôn
ngoan, đủ khéo léo, đủ thủ đoạn để thành tựu nguyện
vọng. Ðó cũng là một lối ăn. Quyền lực và danh vọng là
một thức ăn. Càng có thế lực càng được trọng vọng.
Trò chơi ăn và cố trách khỏi bị ăn vẫn tiếp tục diễn
tiến, trong một ý nghĩa rộng rãi hơn. Thay vì ham ăn, người
ta ham quyền thế, địa vị, của cải, sự nghiệp và những
cái mà ta gọi là "những vật tốt đẹp của đời sống".
Người ta chiến đấu để giành những điều ấy.
Ngược hẳn với
tất cả, Giáo Lý của Ðức Phật dạy một tiến trình "lên
đường" để đi đến tự do. Ðức Phật vạch ra cái chân
lý căn bản của thế gian là phải tùy thuộc nơi vật thực,
nơi sự kiện ăn và tránh khỏi bị ăn. Nhưng Ngài cũng vạch
ra một con đường, một lối sống để đạt đến tự do,
để thoát ra khỏi những hoạt động thô bỉ, ra khỏi vòng
sanh, lão, bệnh, tử đáng ghê sợ. Ngài dạy một lối tranh
đấu trường kỳ để đạt cho được cái cần thiết và
cố giữ cái đã đạt được. Một cách rất giản dị ta
nói rằng Giáo Lý của Ngài nhấn mạnh trên điểm: Tự Do
(Giải Thoát) là mục tiêu tối hậu mà người thông minh đặt
nguyện vọng cố đạt cho kỳ được. Ngoài ra, tất cả đều
là vô thường, tạm bợ, không đáng cho ta mong muốn, tất
cả chắc chắn đều phải diệt. Không nên bám bíu vào bất
luận cái gì trên thế gian này.
-ooOoo-
NGHI
THỨC
Không phải
chỉ trong nghi thức lễ bái cúng dường,
cũng không
phải học rộng hay tham thiền nhập định, hay tu ẩn sĩ,
hay nghĩ rằng
"ta đang thọ hưởng hạnh phúc của sự xuất gia",
Này hỡi Tỳ
Khưu,
các thầy chớ
nên thỏa mãn mà không lo dập tắt các pháp trầm luân.
PHÁP CÚ KINH
Người
chưa thấu hiểu giáo lý của Ðức Phật đôi khi nhận định
sai lạc về các nghi thức ở chùa. Lễ dâng bông cúng dường
Ðức Phật, kinh thọ giới mà người cư sĩ đọc đi đọc
lại, kinh cầu an (Paritta), đảnh lễ chư sư và nhiều nghi
lễ khác, được xem là những bằng chứng hiển nhiên chỉ
rõ Phật Giáo chỉ chú trọng đến nghi thức.
Lầm lẫn như
vậy vì thiếu hiểu biết. Ðức Phật dạy rằng cũng như
mỗi giọt nước trong biển cả đều có một vị là vị mặn
của muối, trong toàn thể giáo lý của Ngài chỉ có một vị
là vị giải thoát. Trong câu Pháp Cú trích lên, Ðức Phật
chỉ rõ rằng những hình thức lễ bái cúng dường không phải
trọn vẹn là lối sống của Ngài đã dạy. Những xáo động
mà ta phải tận diệt là 4 asavas (Tham ái, luyến ái đeo níu
theo đời sống, tà kiến và vô minh) xem như bốn dòng nước
lũ, xoay tròn thành một cái xoáy vĩ đại, lôi cuốn chúng
sanh vào khổ cảnh. Diệt tận bốn dòng nước ấy là thoát
ra khỏi vòng sanh tử triền miên. Trên con đường, khi đắc
quả Tu-Ðà-Huờn rồi, thì không còn tin tưởng nơi sự cần
thiết của các nghi thức lễ bái ấy nữa. Như vậy, dầu
ta có cố tình kéo dài trí tưởng tượng đến đâu cũng không
thể cho rằng Phật giáo đặt tất cả giá trị tôn giáo vào
nghi lễ suông.
Tuy nhiên, chắc
chắn rằng đối với ai còn là phàm nhân, đối với ai chưa
bước vào dòng suối của các bậc thánh, thì nghi thức lễ
bái vẫn còn có giá trị. Nó là phương tiện đưa ta đến
cứu cánh. Trong những cơn phong ba bão táp, nó là cái neo. Trong
những lúc sầu muộn, nó là một niềm an ủi. Trong những
khi bị quyến rũ, nó là một lời nhắc nhở rằng trong đời
còn có cái chi cao siêu quý trọng hơn là những khát vọng
vật chất tầm thường.
Người Phật tử
góp nhặt những cành hoa đủ màu sắc để dâng dưới cội
bồ đề hay dưới chân tượng Phật, trong khi ấy suy tưởng
đến sự toàn thiện vô song của bậc Toàn Giác. Người Phật
tử lúc ấy cũng suy niệm đến lý vô thường, xuyên qua cái
đẹp nhất thời của hoa. Với những tư tưởng tương tợ,
tâm trở nên lắng dịu và vững chắc.
Người Phật tử
đọc đi đọc lại những câu kinh thọ ngũ giới, ngày này
qua ngày khác, để tự nhắc nhở lấy mình những điều mình
đã tự nguyện cố giữ.
Người Phật tử
đọc và nghe kinh cầu an (Paritta) vì nó là những chân lý kết
tinh trong lời nói của chính Ðức Phật.
Người Phật tử
đảnh lễ chư sư vì các Ngài và bộ y vàng mà các Ngài đắp
lên mình tiêu biểu cho lối sống cao thượng nhất của con
người.
Ðó là những
nghi thức, nếu ta thích gọi như vậy. Nhưng đó không phải
là những nghi thức vô ý nghĩa. Những nghi thức ấy nhất
định là những phương tiện để đến cứu cánh. Chỉ có
những người nông cạn, những người không biết suy tư, mới
vội vã kết luận, khi thấy người kia mài búa, rằng mục
tiêu cứu cánh nằm trong việc mài cái búa.
Lẽ dĩ nhiên là
cũng như nhiều phương tiện hữu ích khác, hạng người cuồng
nhiệt có thể đặt nghi thức trên một địa vị quá đáng.
Ta phải cẩn thận, không nên lầm lẫn phương tiện với cứu
cánh. Chính Ðức Phật, trong câu Pháp Cú trích ở trên, cũng
chỉ rằng lời khuyên có thể áp dụng cho sự tu học, sự
tham thiền nhập định, cho đời tu ẩn sĩ và hạnh phúc xuất
gia. Không có điều nào là cứu cánh. Tất cả những điều
ấy chỉ là cái bè để đưa ta qua sông. Khi qua đến bờ bên
kia thì ta bỏ lại chiếc bè.
-ooOoo-
Phần
II