(tiếp theo)
SỢ
SỆT
Người nhận
thấy cái sợ trong những việc không đáng sợ,
Và không sợ
những việc đáng sợ,
Là còn mang
tà kiến và phải chịu trạng thái đau khổ.
PHÁP CÚ KINH
Theo
lời dạy của Ðức Phật, chỉ có một việc ta cần phải
sợ. Nhưng bất hạnh thay! Chính đó là điều mà phần đông
những người phàm như chúng ta ít sợ nhất. Ðiều duy nhất
đáng cho ta sợ là hành ác, tạo nghiệp bất thiện (Akusala
Kamma), bất luận dưới hình thức nào. Hành động (Kamma) bất
thiện là những hành động bắt nguồn từ tham, sân, si, là
những hành động có khuynh hướng tăng trưởng lòng tham, sân,
si vì nó cũng tăng trưởng và kéo dài sự đau khổ trong vòng
luân hồi, sanh tử triền miên. Bậc trí tuệ thì rất sợ
và cố gắng lánh xa những hành động bất thiện, những hạng
cuồng si thì thấy không có gì hại, lắm khi còn thấy vui
sướng và đáng làm, đáng khen. Do đó có những hạng phụ
huynh khuyên dạy con em "lăn xả vào đời", làm bất luận việc
gì, có ngờ đâu đứa trẻ phải trả một giá rất đắc
và rất đáng ghê sợ về sau, để hưởng trong hiện tại
những tiến bộ vật chất tạm bợ, nhất thời, thật ra không
đáng.
Một đàng khác
người thế gian ghê sợ những điều mà đối với Ðức Phật,
không có gì đáng sợ. Ta sợ những tai họa vật chất, những
lỗ lả về tài chánh, ta sợ bệnh, sợ mất quyền thế, mất
tiếng tăm và bao nhiêu cái sợ khác phụ thuộc vào hoàn cảnh
ta đang sống. Ðối với Ðức Phật những cái sợ ấy và
vô căn cứ. Khi nó phát sanh Ngài tự nghĩ "nó chỉ phát sanh
ở hạng cuồng si, không thể phát sanh ở bậc trí tuệ". Ðó
là một bài học cho người còn nhận thấy cái sợ trong những
việc không đáng.
Ngày kia, có một
đạo sĩ Bà-La-Môn đến hỏi Ðức Phật rằng người tu ẩn
sĩ, một mình ở giữa rừng vắng vẻ quạnh hiu, khi mà chưa
nhập định được thì có sợ không? Câu trả lời của Ðức
Phật thật là sáng tỏ. Ngài nói "Thầy đã trả lời, này
đạo sĩ, Thầy đã trả lời, và Ngài giải thích rằng những
người tu ẩn sĩ, vì một lý do nào, chưa được chuẩn bị
đầy đủ để sống đời cô độc ở giữa rừng sâu sẽ
còn sợ sệt. Lúc chưa đắc quả Chánh Ðẳng Chánh Giác, Bồ
Tát hằng tìm những nơi rùng rợn, ghê tởm sợ và sống một
mình ở đó chờ cảm giác ghê sợ phát sanh để cố gắng
chẽ ngự và dập tắt nó. Lúc ấy Ngài đã có tham thiền
nhiều làm rồi và đã đạt được nhiều kết quả tinh thần
rất cao, nên mỗi khi cái sợ phát sinh thì Ngài cố gắng vận
dụng tâm lực để dập tắt và lần lần tiến đến mức
thanh tịnh tuyệt đỉnh, chỉ có thể so sánh với một vị
Phật. Tuy nhiên, Ðức Phật xác nhận rằng có sợ, đã nhìn
thấy nguyên nhân của nó và Ngài nhìn nhận đối với người
thế gian, tinh thần chưa được vững bền, đạo đức chưa
được chắc chắn thì sợ là một sự thật. Thi sự có sự
sợ sệt.
Ðành rằng, như
Ðức Phật dạy, cái sợ chỉ phát sinh cho hạng cuồng si.
Nhưng người thế gian thật sự là cuồng si. Cũng vì thế
mà ta còn là người thế gian. Chúng ta luyến ái vật kia vật
nọ, cố bám bíu lấy nó, giành giựt, ganh ghét lẫn nhau vì
nó, và càng đi sâu càng bị màn vô minh che lấp. Vì thế ta
đâm ra sợ. Nếu đôi khi chúng ta quyết can đảm lên, thế
thường sự can đảm ấy có những lý do lầm lạc. Thí dụ
như người thợ săn can đảm, với những khí giới tối tân,
không sợ một thớt tượng. Trong khi mang theo súng ống đầy
đủ để trừ một cái sợ nhỏ trong những cái không đáng
sợ thì người thợ săn lại không sợ cái đáng lẽ phải
sợ là tạo nghiệp bất thiện. Sự si cuồng tăng lên gấp
đôi.
Chỉ có một con
đường để thoát ra khỏi cái sợ. Ðó là con đường mà
Ðức Phật đã vạch. Ngày nào mà ta chưa đến mức cuối
cùng của con đường ấy, chừng nào mà ta chưa được hoàn
toàn giải thoát, thì ta còn sợ. Nhưng ít ra, từ bây giờ
ta hãy nhận ra nó và tìm hiểu nó là gì. Có phải là hậu
quả bất hạnh của tham, sân, si không?
-ooOoo-
THOÁT
RA KHỎI CÁI SỢ
Tất cả đều
sợ hình phạt.
Tất cả đều
sợ chết.
Hãy so bụng
ta với bụng người,
Không nên sát
sanh và không nên làm cho người khác sát sanh.
PHÁP CÚ KINH
Người
có đạo đức, nhờ căn bản đạo đức, làm cho người khác
yên tâm khi nghĩ đến mình. Con người đạo đức không khi
nào là một dọa nạt, không khi nào giết người, không khi
nào cướp giựt của ai, không cám dỗ, không nói xấu hay xay
sưa phá rối. Một người đã nghiêm trì ngũ giới hẳn là
trong sạch, là một người bạn láng giềng dễ chịu.
Có người cố
làm giảm thiểu giá trị của 5 giới căn bản, cho rằng đó
là những quy tắc "tiêu cực". Họ không chịu nghĩ đến hậu
quả tích cực của nó là cái không khí yên lành mát mẽ mà
người trì giới nghiêm chỉnh tạo quanh mình. Ðôi khi ta quên
rằng điều mà phần đông mong mỏi không phải là sự trợ
giúp tích cực mà chính là sự tự do, không bị phiền phức,
không bị ai chen vào công việc mình. Người ta có thể tự
mình lo công việc của mình và muốn được để yên. Ðó
cũng là một điều mà người có tâm nhiệt thành với công
tác xã hội nên lưu ý. Trong cái thế gian tranh chấp và phiền
não lo âu này, không khí vui vẻ thuận hòa và yên tĩnh hẳn
là đáng quý. Người nào có thể tạo nên một hoàn cảnh
tương tợ là đã phục vụ nhân loại rất nhiều.
Ðã có bao nhiêu
nhà tu ẩn sĩ, sống cô độc ở giữa rừng sâu mà không mang
theo mình một loại khí giới nào. Vậy mà rất ít khi, nếu
không phải là chưa bao giờ, ta nghe nói có vị nào bị thú
dữ hành hung. Ðó vì chính những con thú rừng cũng nhạy cảm
và tương ứng với không khí an lành từ ái mà các vị ấy
đã tạo. Về điểm này, có nhiều lý do để tin rằng thú
rừng tốt hơn người. Rất có thể loài thú không bao giờ
làm tổn thương đến những nhân vật như chúa Jesus hay Giordano
Bruno.
Người Phật tử
tin chắc rằng một hành động có phương hại đến người
khác không khi nào đem lại lợi ích cho mình. Vì vậy mà trong
toàn thể lịch sử Phật Giáo không có trang nào bị máu làm
hoen ố. Không có một người nào bị giết chóc hay bị hành
hung vì không tin ở Ðức Phật. Phật Pháp là một lối sống
tự do và cao thượng, chỉ thích hợp với một hạng người.
Người Phật tử không tìm cách bắt buộc người khác phải
chấp nhận lối sống ấy, bởi vì bắt buộc là đi ngược
lại với tự do. Người Phật tử cũng không chủ trương rằng
muốn được giải thoát hoàn toàn thì phải theo đạo Phật
tức khắc. Vẫn còn thì giờ. Còn rất nhiều thì giờ. Còn
cả một thời gian vô hạn. Những người không chấp nhận
được Giáo Lý của Ðức Phật ngày hôm nay sẽ chấp nhận
một ngày khác. Ta không cần phải lo sợ cho họ, cũng không
nên làm ra vẻ ta đây là Cứu Tinh. Họ sẽ tự cứu lấy họ,
mặc dầu chậm trễ, mặc dầu không phải bằng những phương
tiện mà hiện nay họ đang tin tưởng.
Bây giờ, người
Phật tử phải có thái độ như thế nào đối với người
khuyên mình đổi tôn giáo theo về với họ? Thái độ của
ta phải là hiểu biết, từ ái và nhẫn nại. Dầu sau, dẫu
có trá hình đi nữa, đó cũng là một cử chỉ thân thiện.
Người Phật tử phải lấy thiện ý đáp lại thiện ý. Ta
hãy nói qua cho họ biết một ít về Phật giáo.
-ooOoo-
TINH
THẦN QUỐC GIA
Không
phải trên không trung, giữa biển sâu,
Hay trong hang
đá của ngọn núi nào,
Cũng không
thể tìm ra một nơi nào trên thế gian này để ẩn náu,
Mà khỏi phải
chết.
PHÁP CÚ KINH
Lời
kêu gọi của Ðức Phật gởi đến mọi người, mọi thời
đại. Ngài sanh trưởng trong hoàng tộc dòng Thích Ca (Sakya),
ở miền Bắc Ấn Ðộ. Nhưng khi tưởng niệm đến Ngài, chúng
ta không hề nghĩ rằng Ngài là người Ấn hay là một người
của dòng họ Thích Ca. Ngài quá cao quý và đã vượt lên khỏi
những điều ấy.
Ðối với người
đi theo con đường của Ðức Phật thì tinh thần quốc gia
không có ý nghĩa gì. Tại sao ta cất tiếng lên hát bản quốc
nhiều với tất cả tâm hồn và một niềm tin đầy thiện
cảm khi mà, theo lời dạy của Ðức Phật, chắc chắn ta phải
chết một ngày nào, và sau khi chết, ta có thể tái sanh trong
một quốc gia khác. Tinh thần quốc gia có thể có đầy đủ
ý nghĩa đối với người không thể nhìn xa hơn kiếp sống
này. Những người không tin ở sự tái sanh. Hơn nữa, tinh
thần quốc gia bắt nguồn từ ý niệm lầm lạc về "Ta" và
"của Ta". Ðức Phật dạy rằng không có cái gì trường tồn
bền vững trong một chúng sanh. Không có cái chi mà ta có thể
nói rằng "đây là Ta" "Cái này là của Ta". Vậy thì làm sao
người Phật tử thành thật có thể nói đây là "quốc gia
của Ta" hay đây là "dân tộc của Ta". Nếu thật sự ta đã
chấp nhận giáo lý của Ðức Phật thì ta không thể nghĩ
rằng ta là người của một quốc gia riêng biệt nào. Một
cách chính xác, ta cũng không thể nghĩ đến ta như một con
người, vì cho đến cái trạng thái người của ta cũng là
tạm bợ, nhất thời. Ta chỉ có thể coi ta như là một chúng
sanh, nghĩa là một diễn tiến của dòng Danh Sắc, Tâm Thể
Xác, luôn luôn biến đổi, luôn luôn sanh, trụ rồi diệt.
Trên nhiều phần
đất của thế gian ngày nay tinh thần quốc gia hẹp hòi hình
như càng ngày càng bành trướng. Con người có khuynh hướng
càng ngày càng mạnh rằng mình có dân của quốc gia này hay
quốc gia khác, thay vì là một chúng sanh sáng suốt. Cũng như
một cái ung thư nguy hiểm, tinh thần quốc gia hẹp hòi ấy
ăn dần vào tất cả cái gì cao quý và quảng đại nhất của
con người, khoét dần tình thương và đức tính liêm khiết,
thanh bạch, để thay vào đó bằng những tế bao xấu xa bẩn
thỉu. Nhiều người xem đó là một thay đổi trong sạch. Nhưng
không có người Phật tử chân chánh nào giẫm chân trên con
đường lầm lạc ấy.
Trong lúc đang
sống kiếp người hãy có đủ sáng suốt để tự nhận là
một con người, thay vì là người Tích Lan, người Hoa Kỳ,
người Miến Ðiện hay là người Nga. Không nên có những ý
tưởng ty tiện về ngôn ngữ, y phục, tập quán, nghi thức,
lễ tiết.
Ðức Phật như
mặt trời. Pháp của Ngài như ánh sáng, bao trùm tất cả mọi
người, không cần biết ai nói tiếng gì, mặc y phục gì hay
ở xứ nào. Ngôn ngữ Ðức Phật là Chân Lý, y phục của
Ngài là Chân Lý và quê hương của Ngài là vũ trụ bao la,
bởi vì Chân Lý là một, ở mọi nơi, mọi thời đại.
-ooOoo-
DANH
TỪ
Chỉ một
câu mà đem lại sự vắng lặng cho người nghe.
Còn hơn cả
bài Pháp dài hàng ngàn chữ
Mà không chứa
đựng ý nghĩa bổ ích nào.
PHÁP CÚ KINH
Nó
tràn ngập chúng ta. Mỗi khi ta giở ra một tờ báo, mỗi khi
ta vặn máy phát thanh thì nào là danh từ, danh từ, danh từ...
Ai nói lên những danh từ ấy? Ai viết nó ra trên giấy? Lắm
khi chúng ta cũng không màn tìm hiểu. Ta không có thì giờ.
Nhưng âm thầm, lặng lẽ, tế nhị và khôn ngoan, những danh
từ mà ta nghe, những danh từ mà ta đọc dần dần gieo ảnh
hưởng đến ta. Cũng vì lẽ đó mà người ta chịu tốn bao
nhiêu tiền để đăng mấy cột quảng cáo trên mặt báo hay
để được phát thanh trong chương trình thương mại. Người
ta biết rằng danh từ làm được rất nhiều việc. Những
danh từ khéo chọn và khéo ráp lại với nhau có thể đưa
trí tưởng tượng của ta đi dễ dàng. Người ta biết rằng
những danh từ khêu gợi, lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ
được chấp nhận như một chân lý.
Ai là người bền
công, chịu khó tận dụng sự công hiệu của danh từ? Chắc
chắn rằng đó là những người muốn bán một món hàng. Hàng
có thể là một dược phẩm, có thể là một năm bảo hiểm,
có thể là một ý thức hệ chánh trị. Họ cố gắng tung
ra thị trường một món hàng và họ dùng những danh từ -
danh từ hãi hùng rùng rợn, những danh từ khêu gợi sự thèm
muốn và kích thích cảm xúc. Ít khi, nếu không phải là không
khi nào, có những danh từ khêu gợi lý trí và trí tuệ.
Khêu gợi lý trí
và trí tuệ là khuyến khích người nghe suy gẫm và đó là
một điều tối kỵ đối với ai muốn bán một món hàng.
Gợi những khát vọng và kích thích những cảm xúc của khách
hàng hẳn là có lợi hơn.
Khát vọng thì
mênh mông, cảm xúc thì có rất nhiều loại, phạm vi hoạt
động của khách rao hàng thật là rộng rãi. Nghiên cứu kỹ
càng một bài quảng cáo đăng trên mặt báo ta sẽ thấy nó
vừa bổ ích vừa lý thú. Ta được biết rằng chỉ có những
người "sang trọng nhất" mới mặc cái áo "hiệu này" hay "hiệu
nọ". Người ta không cho ta biết tại sao, cũng không khuyến
khích ta tìm hiểu tại sao. Ta chỉ được biết rằng trong
xã hội có một hạng người gọi là "sang trọng nhất" và
chỉ có hạng người này mới mặc cái áo "hiệu này" hay "hiệu
nọ". Bao nhiêu đó đủ khêu gợi đủ làm cho người ta muốn
cũng mặc cái áo như vậy. Phần lý thú của câu chuyện là
đánh giá cái bản chất của nhân loại như vậy tỏ ra là
xác đáng. Bởi vì hiệu áo này bán chạy một cách khả quan.
Rồi lại có sự
khêu gợi bản tính sợ sệt. Các công ty bảo hiểm khai thác
cái bản tính này một cách quá đáng. Người ta thúc giục
nên đi bảo hiểm mọi tai họa. Người ta không cho biết tại
sao công ty bảo hiểm lại hết sức sốt sắng muốn bảo hiểm
cho ta và cũng không gợi ý tò mò của ta. Người có hùn vốn
trong công ty thì biết tại sao, vì mỗi tháng câu trả lời
nằm trọng vẹn trong bản báo cáo chia lời. Phần đông những
người đi bảo hiểm không cần phải được bảo hiểm. Nếu
không phải vậy thì các công ty bảo hiểm đã phá sản.
Trong giới chánh
trị cũng vậy. Muốn bán món hàng của mình người ta khêu
gợi sự thèm thuồng và kích thích cảm xúc nhiều hơn là
lý trí và sự sáng suốt. Người ta dùng danh từ, ngàn này
đến ngàn kia danh từ khêu gợi, có khuynh hướng bóp chết
khả năng suy gẫm, phê bình. Người ta lặp đi, nhắc lại
nhiều lần trên diễn đàn, trên mặt giấy, trên những làn
sóng điện và rốt cùng, người khác sẽ chấp nhận những
danh từ ấy như sự thật. Người ta làm như vậy một cách
quả quyết. Bị chận ngăn bên trong làn sóng tuyên truyền
thì rất khó mà nhận định rõ ràng và mạch lạc. Và các
chính trị gia đã hiểu như vậy. Công việc của họ không
phải là khuyến khích người ta suy gẫm rõ ràng và mạch lạc.
Tuy nhiên, từng
cá nhân, chính ta phải suy gẫm. Ðó là bổn phận của chúng
ta nếu ta muốn giữ mình được liêm khiết, trong sạch. Trong
tất cả bao nhiêu ngàn danh từ mà người buôn hàng tung ra
tràn ngập ta, không có một chữ có thể đem lại cho ta sự
vắng lặng của tâm. Chỉ có những danh từ làm cho ta muốn
vật này hay vật kia, những món hàng mà người ta muốn bán.
Nhưng sự vắng
lặng của tâm thì không có ai bán. Nó chỉ là một món quà
mà ta tự cho ta. Nếu ta có trí tuệ, nó là món quà mà từ
ngàn xưa hạng người trí tuệ tự cho mình. Nếu ta có thể
đóng những cái cửa của tâm lại, gát ra ngoài bao nhiêu lời
kêu gọi, rao hàng, của những người cố gắng bán cho ta những
vật không có giá trị nào thì chừng ấy ta có thể nghe câu
nói đầy ý nghĩa, câu nói đem lại cho ta sự vắng lặng,
câu nói mà Ðức Phật đã dạy:
"Trong thế gian
này, người nào kiểm soát được cái khát vọng vô lối và
bất kham của mình thì phiền não sẽ rời mình cũng như những
giọt nước rời lá sen để rớt xuống".
-ooOoo-
SI
MÊ
Tất cả những
bợn nhơ trong tâm hẳn là xấu xa,
trong thế gian
này và trong thế gian kế.
Cái bợn nhơ
to lớn và tệ hại hơn tất cả là si mê.
Này hỡi các
Tỳ Khưu, hãy gội rửa bợn nhơ ấy
Và trở nên
toàn thiện.
PHÁP CÚ KINH
Ðôi
khi người ta hỏi người Phật tử tại sao Ðức Phật không
dạy những điều chúng ta đã khám phá ra ngày nay mà lúc bấy
giờ chưa ai biết. Người ta hỏi, nếu Ðức Phật là toàn
tri toàn giác thì hẳn Ngài đã thông suốt tất cả các hiện
tượng trong vũ trụ, và đã biết rõ Thái Dương Hệ, Giãi
Ngân Hà v.v... Như vậy tại sao Ngài không sửa chữa lại những
tin tưởng sai lầm của thời bấy giờ.
Một câu hỏi
như vậy thật là hợp lý, bởi vì người nêu lên nó cảm
thấy đầy đủ, cảm thấy bằng lòng với sự biểu biết
của mình ngày hôm nay và bằng lòng với sự không biết một
điều nào về mục đích của đời sống Ðức Phật. Trước
tiên, ta có nên thật sự quả quyết một cách độc đoán
rằng những hiểu biết của chúng ta ngày nay sẽ không bị
chứng minh là sai lầm một ngày nào không? Bởi vì những điều
mà ta biết ngày hôm nay có thể cũng cách xa chân lý như những
hiểu biết của người ở thời đại thạch khí. Ngàn năm
sau, nếu khí giới nguyên tử không biến quả địa cầu ra
một hành tinh chết thì người ta sẽ sắc nhắc đến những
tư tưởng ngày nay cũng tương tợ như hiện nay ta nhắc lại
tư tưởng của người sống trước thời Copernic. Ðối với
trí tuệ của Ðức Phật những tư tưởng sẽ thạnh hành
trong một ngàn năm sau vẫn còn chưa được vững.
Tuy nhiên, những
điều mà Ðức Phật muốn dạy ta còn quan trọng hơn những
thắc mắc ấy nhiều, vì là tối cần thiết để giải thoát.
Ngày kia, khi đi ngang qua một cụm rừng, Ðức Phật nắm trong
tay một nắm lá và nói rằng những điều Ngài dạy chỉ như
số lá trong tay và sự hiểu biết của Ngài thì cũng như tất
cả lá trong rừng. Tuy nhiên bao nhiêu điều dạy ấy rất đầy
đủ để giúp cho ta giải thoát. Ngài không bỏ sót một điều
cần thiết nào.
Bây giờ chắc
chắn rằng ta không còn ngây ngô quả quyết rằng một nhân
vật như Ðức Phật lại còn thắc mắc ái ngại với những
việc như sửa sai quan niệm lầm lạc của chúng sanh về những
hiện tượng vật chất và những cơ cấu vũ trụ. Cũng như
làm cha mẹ, thấy con vui mừng tin tưởng nơi ông già Noẽl
thì cho đó là không có gì hại, Ðức Phật thấy rằng những
tin tưởng lầm lạc về cơ cấu của vũ trụ cũng không có
gì là hại. Ðối với Ngài, dầu chúng sanh tin rằng mặt trời
xoay chung quanh quả địa cầu hay là trái đất xoay quanh mặt
trời thì cũng không sao. Mặc dầu tin rằng nếu đi mãi, đi
mãi, một ngày kia ta sẽ đến chân trời, người kia vẫn có
thể hiền lành và thông minh sáng suốt. Có rất nhiều người
trí tuệ và hiền lành hơn ta biết mấy mà vẫn tin như thế.
Ðức Phật không
quan niệm rằng chính sự hiểu biết là mục đích cứu cánh.
Nhưng tại sao Ngài dạy rằng si mê là cái bợn nhơ vĩ đại
và tệ hại hơn tất cả. Bởi vì chính si mê nằm chẻn ngang
trên con đường giải thoát của chúng sanh. Chính si mê nuôi
dưỡng lửa tham và lửa sân. Chính si mê dẫn dắt chúng ta
triền miên trôi vạt trong vòng luân hồi, hết kiếp này đến
kiếp khác.
Mặc dầu nghĩ
thế nào về sự khôn ngoan sáng suốt của ta, tất cả chúng
ta vẫn còn chìm đắm trong si mê. Chúng ta vẫn chưa chứng
nghiệm được rằng vạn hữu là vô thường, không đáng cho
ta ham mê bám bíu, rằng tất cả đều biến đổi và tiêu
tan, tất cả đều tạm bợ. Như vậy ta ưa thích, luyến ái,
rồi bám bíu, rồi hy vọng, rồi mưu toan, thảo kế hoạch.
Ta gieo những hạt giống, tạo những kiếp sống tương lai
trên một thế gian đầy phiền não, trong cảnh giới ảo huyền,
giữa những hình bóng luôn luôn biến đổi. Như vậy thì biết
rằng trái đất xoay quanh mặt trời có lợi ích gì? Tất cả
những gì mà khoa học đã khám phá không giúp cho nhân loại
tiến lên được tấc đất nào trên con đường hạnh phúc.
Thật vậy, sự điên cuồng của con người quả là trọng
đại. Càng hiểu biết thêm cái thế gian vật chất này ta
càng nhận ra là mình bé nhỏ và bần tiện. Ngày nay nhân loại
đã trở thành bần tiện đến đỗi chúng ta có cảm giác
như đang luận phiên tự sát, giống như loài bò cạp, tự
chích lấy đuôi mình đến chết, chết vì nọc độc của
chính mình. Nếu đó là hậu quả của sự hiểu biết thì
thà kém hiểu biết còn hơn. Có lẽ Ðức Phật đã thấy trước
như vậy khi Ngài giữ lại bao nhiêu hiểu biết mà không dạy
thế gian. Ngài dạy một lối sống khả dĩ mở mang trí tuệ
mà không đề cập đến những hiểu biết vô ích và có thể
nguy hại.
-ooOoo-
NĂNG
LỰC CỦA CHÂN LÝ
Trên
thế gian này chắc chắn là có đạo đức, có thiện tâm.
Có sự gội
rửa, có sự cải thiện
Do nơi sự
kiện này ta quả quyết xác nhận chân lý.
TÚC SANH TRUYỆN
Người
phương Đông từ lâu nay vẫn tin rằng có một năng lực phi
thường trong sự "xác nhận chân lý". Có rất nhiều trường
hợp được ghi nhận trong kinh điển Phật Giáo chỉ rằng
năng lực của chân lý được sử dụng với những mục đích
khác nhau, như để chữa bệnh chẳng hạn. Chân lý đặc biệt
có hiệu năng khi người xác nhận nó rõ ràng có đầy đủ
tư cách, như khi người biền lương đạo đức nói lên hoặc
quán tưởng: "Do nơi oai lực của Chân Lý cho rằng có đạo
đức và thiện tâm trên thế gian, mong rằng bệnh tật của
ông... được tiêu tan". Ta có thể hiểu được rằng người
hiền lương đạo đức như vậy xác nhận chân lý với một
niềm tin vững chắc hơn là một người xấu xa gian ác, và
tâm của người ấy chuyển đạt năng lực chân lý dễ dàng
hơn. Chắc chắn rằng niềm tin rất là thiết yếu.
Có một thời
nào, người ta cho rằng ai là người tân tiến, theo kịp thời
đại, phải chê bai và chế nhạo, không tin những gì mà ngũ
quan không ghi nhận được. Như tâm lực chẳng hạn. Nhưng
ngày nay, ở Á Ðông, cho đến người sống theo chủ nghĩa
duy vật cũng được cnảh tỉnh nhận rằng tâm thật sự có
một năng lực phi thường mà khoa học hiện tại không thể
giải thích được. Ngay đến vật chất cũng đã không còn
là một cái gì bền vững trường tồn như một vài năm trước
và đã phản bội con người duy vật. Vật chất chỉ còn là
một biểu hiện của năng lực. Vậy năng lực là gì? Không
ai biết. Người ta chỉ gọi nó bằng những danh từ khác nhau
và nêu lên thí dụ của những hình thức biểu hiện của
nó như điện, từ tính, sức hấp dẫn, sức nóng và ánh sáng.
Như vậy có hợp lý chăng, khi ta giả thiết rằng tâm cũng
là một hình thức năng lực và tâm lực của thể ảnh hưởng
đến cái mà ta gọi là thế gian vật chất.
Lẽ dĩ nhiên,
không phải là tất cả mọi người đều có thể dùng tư
tưởng của mình mà chẻ đôi được một tảng đá hay cất
lên một vật nhẹ như cái lông chim đi nữa. Tuy nhiên ta hỏi
lại, bao nhiêu người biết làm cách nào để phát sanh ra đầy
đủ điện lực để chẻ đôi một tảng đá hay cất lên
một cái lông chim? So với số đông đảo dân chúng, tỷ số
thật là thấp, rất thấp. Vậy mà không ai phủ nhận năng
lực của điện.
Ðiểm khác biệt
trọng yếu giữa tâm lực và điện lực là trong cái thế
gian tân tiến này, điện lực đã trở thành khí cụ cho bất
luận kẻ điên cuồng nào biết bấm một cái nút, còn tâm
lực thì chỉ phát sanh trong từng cá nhân. Từng cá nhân phải
tự mình cố gắng để phát động tâm lực vì không thể
giúp ai có được tâm lực, ngoại trừ bằng những lời khuyên
thích hợp. Mỗi người phải tạo lấy cho mình cái máy phát
tâm lực và tự luyện tập để sử dụng nó. Mỗi người
phải là một chuyên viên và một trắc nghiệm viên lành nghề.
Ở phương đông,
chúng ta không thiếu gì huấn luyện viên, và ngày nay nhiều
phương pháp đã được trình bày rành rẽ trong sách vở. Vị
thầy cao cả nhất là Ðức Phật. Ngài đã thấu triệt bản
chất của tâm lực hơn tất cả và Ngài biết một phương
pháp tương đối dễ để phát động tâm lực. Phương pháp
ấy là "Xác Nhận Chân Lý". Tuy nhiên, ta phải nhận định
rằng mục đích duy nhất của Ðức Phật là dạy chúng sanh
làm cách nào để thoát ra khỏi cảnh khổ não triền miên
dính liền với kiếp nhân sinh chớ không phải là để phát
triển tâm lực. Tâm lực chỉ đến tự nhiên như một sản
phẩm phụ. Ðức Phật không cho riêng nó một giá trị.
Dầu sao ta không
thể phủ nhận rằng phàm nhân chúng ta đôi khi phải cần
đến tâm lực để giúp đỡ kẻ khác. "Xác Nhận Chân Lý"
một cách thích đáng tất tạo nên năng lực. Nhưng ta phải
có đủ tư cách. Hành động của ta phải biểu lộ cái Chân
Lý mà ta muốn tạo năng lực để xử dụng. Ðịnh luật thiên
nhiên không cho phép một người chơi bời phóng túng lạm dụng
chân lý về đạo đức hay một người bỏn xẻn keo kiết
lạm dụng chân lý về thố thí. Nếu ta có đủ tư cách để
sử dụng nó thì sự xác nhận chân lý là một nguồn năng
lực chẳng sai.
Với năng lực
ấy ta có thể giúp một người bệnh được khỏe mạnh, làm
cho người điên được tỉnh trí, đưa những tia hy vọng đến
cho người thất chí và đổi sận hận oán ghét ra tình thương.
Ngày nay, đối
với người có đủ lương tri để giúp cho thế gian này khỏi
trở thành một lò sát sanh, thì "thiện tâm lực" là điều
tối cần. Bài này được viết ra với hy vọng rằng tất
cả những người có thiện tâm, bất luận thuộc tôn giáo
nào, sẽ tận dụng tâm lực mình để phục vụ nhân loại.
-ooOoo-
CON
ÐƯỜNG HẠNH PHÚC
Ai đã
dứt bỏ các thằng thúc ở cảnh người
và vượt ra
khỏi những vấn vương ở cảnh trời
là đã hoàn
toàn thoát ra khỏi mọi ràng buộc.
Như Lai gọi
người ấy là bậc thiện trí thức.
PHÁP CÚ KINH
Ðức
Phật đã vạch con đường để thoát ra khỏi mọi sự trói
buộc ở cảnh giới người và trời, con đường dẫn đến
tự do tuyệt đối. Ðối với người thế gian, còn vấn vương
trong những thằng thúc của thế gian như khát khao danh vọng,
tiền tài, thì chắc là khỏi cần phải đề cập đến các
dây trói buộc ở cảnh trời. Người như vậy chưa kịp nhận
ra ý nghĩa của tự do thì cái chết đã sù sù đến trước
mặt. Họ sống với những rung động của lòng tham trần tục,
và chết với những rung động ấy. Nếu đến giờ lâm chung
mà những khát vọng ấy chưa được thỏa mãn như bao nhiêu
trường hợp đã xảy ra - vì có bao giờ ta biết là đủ -
thì hy vọng có được một tái sanh tốt đẹp thật là mỏng
manh.
Tuy nhiên cũng
có người sáng suốt, biết từ khước những khát vọng thô
lỗ của thế gian để tìm cái gì thanh tao cao quý hơn. Những
người ấy nhận định rằng cái chết phải đến với tất
cả mọi người, và chết nghĩa là bỏ tất cả của cải,
sự nghiệp, danh vọng và quyền thế trần gian. Thay vì nghĩ
đến những thành công ở hiện tại, họ sống với một con
mắt hướng về tương lai. Người ta có thể cho rằng họ
không thực tiễn, là họ sống ngoài thế gian. Thật ra họ
chỉ thấy xa. Hơn là không thực tiễn. Họ cũng như người
kia nhịn xài, để ra một số tiền, tạo vốn làm ăn, thay
vì làm ra bao nhiêu thì xài hết. Như vậy họ vẫn thực tiễn,
vẫn sống trong thế gian này.
Thấy xa vẫn có
lợi, trong hiện tại và trong các kiếp tương lai, Ðức Phật
dạy như vậy. Sáng suốt vẫn có ích. Người tối tăm khờ
dại không có lý do nào để cảm thấy mình hơn người trí
tuệ vì mình không cần nghĩ đến ngày mai. Và khi ngày mai
đến, người khờ dại không có lý do nào để bào chữa cho
sự rung sợ của mình trong những hoàn cảnh bất hạnh.
Người trí tuệ
bỏ vốn trong hiện tại để hưởng lợi ở tương lai thì
không phải là không thực tiễn. Người ấy sẽ gặt hái quả
lành như là phần thưởng cho sự thấy xa của mình. nhưng
dầu có được tái sanh trong cảnh trời đi nữa, nhưng phần
thưởng ấy vẫn còn là phàm tục. Người ấy vẫn còn vấn
vương trong những dây trói buộc và vẫn còn phải chết. Tuổi
thọ trong những cảnh trời thật là dài, dài lắm. Nhưng rồi
một ngày nào, khi duyên kỳ đến, nghiệp lực dứt, thì người
kia phải chết, và từ cảnh trời sẽ tái sanh vào cảnh giới
tương xứng với chiều hướng của luồng nghiệp lúc lâm
chung. Người ấy có thể tái sanh vào cảnh người trở lại
mà cũng có thể tái sanh vào một cảnh giới thấp hơn. Và
như thế mẫu chuyện của đời sống liên tục tiếp diễn,
mãi mãi, triền miên, đến khi chứng ngộ đạo quả Niết
Bàn. Tất cả chúng ta đều sống ở thế gian và tất cả
những ước vọng của chúng ta về một kiếp sống hạnh phúc
và an toàn là phàm tục, nếu ta không thể vượt lên và đi
xa hơn nữa.
Cái nguy cơ đáng
sợ là tính cách biến đổi không ngừng của tâm. Người
kia có một đời sống lương thiện và sáng suốt, tích trữ
nghiệp lành, và nhờ đó, tái sanh vào cảnh trời. Nhưng có
thể là trong cảnh giới đầy lạc thú này người ấy không
còn lương thiện và sáng suốt nữa. Giai đoạn nhộng của
người tinh tấn, vững bước trên đường tiến bộ ở kiếp
sống này có thể biến thành giai đoạn bướm trong cảnh trời,
ở kiếp sống kế. Và nếu tái sanh trở lại vào cảnh người,
quên hết dĩ vãng, người ấy không biết tại sao mình được
giàu sang may mắn và có thể trở nên phóng túng hư hèn.
Vì lẽ ấy, Ðức
Phật khuyên ta nên tháo bỏ mọi trói buộc ở cảnh người
và cảnh trời để tiến đến mức giải thoát hoàn toàn.
Bỏ vốn để hưởng lợi trong kiếp tương lai là tốt, nhưng
chưa đủ. Trong khi bỏ vốn ra, ta phải hướng nó về con đường
dẫn đến Niết Bàn. Hạnh phúc tương lai và an toàn phải
là những phương tiện đưa ta đến cứu cánh. Cứu cánh là
Tự Do, là Giải Thoát Hoàn Toàn.
-ooOoo-
XUẤT
GIA
Không
nên mật thiết với người thân.
Không bao giờ
mật thiết với người mình không thích.
Xa lìa người
thân và chạm mặt với người không thích đều là phiền
não.
PHÁP CÚ KINH
Những
tư tưởng về "Ta" và "Của Ta" là nguyên nhân của tất cả
sự ưa thích và oán ghét. Ta có thể nghĩ rất tốt về một
người, vì đức hạnh cao quý của người ấy, và có những
ý nghĩ xấu xa về người khác vì các tệ đoan của họ. Nhưng
ta không thể thương yêu người này hay oán ghét người kia
nếu không tiếp xúc với họ. Khi xa lìa người thân yêu, ta
cảm thấy như mất một cái gì. Khi bị bắt buộc phải chung
sống với người mà ta ghét thì ta cảm thấy khó chịu. Cả
hai cảm giác (thọ) đều là phiền não.
Ðức Phật thấy
rằng các cảm giác ấy phát sinh từ ảo kiến về cái "Ta"
và được kích thích do sự tiếp xúc bản thân. Cái khái niệm
về bản ngã là một yếu tố không thay đổi và tồn tại
đến chừng nào ta nhận ra thực tướng của vạn hữu. Trong
những bước đầu tiên trên con đường Giác Ngộ, dầu ta
có tự hào là đã diệt được cái khái niệm sai lầm ấy
cũng vô ích. Vậy ta hãy chấp nhận nó và ứng phó với những
tiếp xúc bản thân, làm cho sự va chạm càng nhẹ càng hay.
Sự kết hợp
mật thiết với người thân yêu, cũng như với người mình
oán ghét, là nguyên nhân của sự khổ. Ðàng khác, sự lánh
xa có khuynh hướng làm nhẹ bớt mức độ của những cảm
xúc ấy và do đó, giảm phần khổ não. Ðó là lời dạy của
Ðức Phật, rõ ràng, minh bạch và không thể lầm lẫn. Mỗi
người chúng ta đều có đủ tự do để chọn lối sống cho
ta. Có thể có người chỉ trích rằng lời dạy của Ðức
Phật là lạnh nhạt và vô nhân đạo. Người ta có thể nói:
"Thà đã có thương yêu rồi mất còn hơn là không có thương
gì hết". Những người ấy có đủ tự do để thương yêu
rồi mất, bao nhiêu lần cũng được, trong đời sống hiện
tại và trong các kiếp sống tương lai, đến chừng nào họ
nhận định rằng họ đang làm những việc điên cuồng. Cũng
có kẻ lấy làm hãnh diện thấy mình oán ghét nhiều người.
Những người này cũng vậy, có đủ tự do để tiếp tục
cuộc hành trình trên con đường của họ, đến khi nào hoàn
cảnh đau thương tấp nập tới, dạy cho họ biết rằng người
có tật ưa oán ghét làm hại mình nhiều hơn là người mình
ghét.
Có rất ít, thật
là ít người hưởng ứng mạnh mẽ lời kêu gọi của Ðức
Phật. Họ là những người trưởng thành, những lữ khách
quen thuộc từ bao giờ trong vòng luân hồi, những người đã
quá chán chê với mọi cảm xúc thương và ghét. Họ đã bắt
đầu cảm thấy rằng muốn đạt tự do phải ra đi, lánh xa.
Ðó là những người mà Ðức Phật muốn nhắn nhủ. Những
người khác chỉ tình cờ có mặt để nghe những lời vàng
ngọc ấy, nhưng họ nghe bằng tai, không phải bằng tấm lòng.
Ta có thể nói
rằng hành động như vậy là ích kỷ không? Chắc chắn là
không, vì đó là lối sống dẫn đến sự diệt kỷ. Kết
hợp mật thiết với người khác không phải là vị tha. Ðó
là loại phân bón để bồi bổ cái cây "Ta", giúp cho cây chóng
to và trổ quả sum suê, những quả khổ của đời sống. Lánh
xa thì trái ngược lại. Lánh xa là loại phân bón để bồi
bổ cái cây "Trí Tuệ", giúp cho nó chóng to và trổ quá sum
sê, quả Giác Ngộ.
Ta không nên lầm
lẫn, mải mê trong ảo tưởng. Cái thế gian mà ta sống đây
được xây dựng trên khái niệm sai lạc về cái "Ta". Ðức
Phật dạy nên diệt bỏ khái niệm ấy. Tất cả những sinh
hoạt của thế gian, tất cả những lợi lộc của thế gian
đều dính liền với ý niệm căn bản ấy. Người nào từ
khước lối sống của phần đông bị coi là phản xã hội.
Lánh xa là từ khước lối sống của phần đông. Người trí
tuệ có cần phải đổi thái độ không?
-ooOoo-
VẮNG
LẶNG
Cũng
như ở giữa lòng đại dương thì không có sóng gió.
Tất cả đều
yên lặng.
Này hỡi các
Tỳ khưu, hãy giữ tâm bình thản;
Không nên để
tính ngã mạn chi phối.
TUVATAKA SUTTA
Sâu
dưới lòng đại dương, nơi mà biến thật là sâu, ở nửa
cây, một cây, hai cây số cách xa mặt nước, tất cả đều
yên lặng. Không sóng gió. Không bão bùng. Ở đây không có
những phiền phức, những xáo động ầm ĩ như ở phía trên.
Trạng thái của
những vị đã hoàn toàn giải thoát cũng dường thế ấy.
Những vị ấy đã đạt đến mức vắng lặng cùng tột. Các
vị ấy không còn bị xáo động ầm ĩ, phiền phức, không
còn lo âu sợ sệt, không còn ham muốn, thèm thuồng những
sinh hoạt vô lý của thế gian.
Trong câu Pháp
Cú trên, Ðức Phật khuyên nhủ các vị tỳ khưu nên sống
yên tĩnh. Lời khuyên này vẫn thích hợp với hàng cư sĩ.
Mặc dầu người thế gian chúng ta chưa đạt đến trạng thái
vắng lặng hoàn toàn, nếu cố gắng luyện tâm được thanh
tịnh thì ta cũng có thể, đến mức độ nào, chứng nghiệm
được cái bóng lu mờ của sự vắng lặng ấy.
Tại sao phải
tập luyện để giữ tâm thanh tịnh? Câu trả lời rất là
giản dị. Trong khi di chuyển, ta không thể nhận định rõ
ràng những chuyển động ở quanh ta. Hai chiếc xe chạy song
song cùng một tốc độ, một chiều hướng, ngồi trong xe ta
có cảm tưởng như cả hai chiếc đều dừng lại. Trái lại,
cây cối hình như chuyển động. Cảm tưởng của ta về cảnh
vật xung quanh luôn luôn bị sự di chuyển của chính ta chi
phối. Tâm của ta cũng vậy. Khi tâm bị xáo động thì khó
mà nhận định được những chân lý cao thâm và vĩnh viễn.
Chấp nhận là vững bền, những pháp luôn luôn biến đổi.
Trái lại, các pháp thật sự trường cửu, như những chân
lý vô thường, khổ não, vô ngã (Anicca, Dukkha, Anatta) thì không
hề nhận ra. Tâm của ta mãi bận rộn với những hiện tượng
luôn luôn biến đổi, luôn luôn bị phiền phức, không thể
nhận định rõ ràng và không thể thấu triệt chân lý.
Vì thế Ðức
Phật khuyên nên giữ tâm yên lặng. Toàn thể những đề mục
mà Ngài dạy ta quán tưởng đều nhằm vào mục đích làm
cho tâm yên lặng (Samatha bhavana, Thiền vắng lặng). Khi mọi
tư tưởng trần tục đều được gội rửa, tâm an trụ gôm
vào một đề mục thiền định (Kammatthana, Đề mục thiền
định) và trở nên vắng lặng. Tâm lực càng ngày càng hùng
mạnh, đến mức độ có thể phát triển thần thông như thiên
nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng minh v.v.. Tuy nhiên
những năng lực ấy chỉ là những sản phẩm phụ của thiền
Samattha Bhavana. Mục đích duy nhất của thiền này là làm cho
tâm trở nên vắng lặng. Sự vắng lặng đem lại quan kiến
rõ ràng, sáng suốt, sâu sắc và chân thật.
Người cư sĩ
thường bị trở ngại trong đời sống hàng ngày. Phần lớn
các trở ngại ấy không phải là những phận sự xã hội,
mặc dầu công việc này chiếm mất rất nhiều thì giờ. Trở
ngại quan trọng nhất là sự lo âu sợ sệt. Ta thường lo
âu về những việc đã làm, đang làm và những việc mà ta
dự định sẽ làm. Ta sợ cho những điều đã hay đang xảy
ra và những điều có thể sẽ xảy ra. Ðức Phật dạy rằng
những lo âu sợ sệt ấy là vô ích và điên cuồng.
Làm thế nào để
chặn đứng nó? Một hình ảnh thích hợp có thể giúp ta.
Trong những lúc lo âu, ta hãy hình dung cảnh vắng lặng ở
giữa lòng đại dương.
-ooOoo-
NHIỆT
TÂM
Này
hỡi các Tỳ khưu,
Như Lai ân
cần nhắc nhở các thầy.
Tất cả các
pháp đều vô thường.
Với tâm đạo
nhiệt thành, hãy cố gắng đạt đến mục tiêu.
MAHA PARINIBBANA
SUTTA
Ðó
là lời dạy tối hậu của Ðức Phật. Những lời giản dị,
rõ ràng, thẳng thắn, đưa ngay vào đề. Ngài đã trải qua
vô lượng kiếp sống, tự trau giồi, tiến đến mức toàn
thiện, để rồi dạy chúng sanh một lần cuối cùng, con đường
thoát ra khỏi sự đau khổ. Trong kiếp sống cuối cùng của
vòng luân hồi, Ðức Phật đã dành tất cả năng lực hùng
hậu của Ngài đê dắt dẫn chúng sanh, không bao giờ tiếc
công, không bao giờ gát lại ngày mai những gì có thể làm
hôm nay. Và sau cùng, trong giờ phút tối hậu của một kiếp
sống vô cùng vinh quang rạng rỡ, đó là lời dạy của Ngài.
Tất cả giáo lý của Ngài nằm vỏn vẹn trong câu phật ngôn
ấy. Mọi người Phật tử đều có thể coi đó là cái tinh
hoa của Phật Giáo và lấy đó làm phương châm cho việc tu
học.
Nếu so với Ðức
Phật và chư vị A La Hán thì chúng ta quả thật là yếu kém.
Phần đông chúng ta quan niệm rằng đời sống đáng được
ưa thích và chúng ta luyến ái, bám bíu lấy nó, chúng ta muốn
sống, ham sống. Ta cũng đọc đi, lập lại những lời của
Ðức Phật và yên trí là đang đi theo dấu chân Ngài. Nhưng
bất hạnh thay! hành động của ta còn thiếu nhiệt thành,
cố gắng của ta không do đạo tâm trọn vẹn làm nòng cốt.
Một cách thê thảm, chúng ta còn thiếu những yếu tố cần
thiết để thành công. Chúng ta cũng tựa như những người
nối đuôi nhau nhẫn nại đứng chờ xe buýt. Chuyến xe "Phật
Gotama" vẫn chưa thấy đến. Chúng ta vẫn còn mong đợi, kẻ
trước người sau, sắp thành hàng dài và, để tiêu khiển
thì giờ, chúng ta đem những chuyện xe cộ, những vấn đề
tổ chức xe buýt ra bàn nhãm, nói khào. Chúng ta đang chờ đợi
để bỏ ra vài đồng tiền, mua lấy cái vé đi Niết Bàn và,
khỏi cần phải cố gắng ti ti nào, ta chỉ nhẫn nại chờ
Ðức Phật Di Lạc đến, đưa ta đi với đầy đủ tiện nghi.
Trên thế gian này không còn gì khuyến khích ta rảo bước
trên đường.
Nhưng thảm đạm
thay, những công tác thật sự không phải là một loại xe
buýt hay một phương tiện di chuyển có thể đưa ta đến Niết
Bàn. Chư Phật chỉ là những vì hướng đạo, theo ý nghĩa
đầy đủ và cao quý nhất của danh từ. Các Ngài dẫn dắt
chúng ta đi trên "Con Ðường Giải Thoát". Giáo Pháp của Ðức
Phật Gotama vẫn còn tồn tại. Nếu chúng ta không thể lãnh
hội và bắt đầu cố gắng lên đường, tiến dần đến
mục tiêu, thì dẫu có mong đợi Ðức Phật Di Lạc cũng vô
ích, vì Ngài sẽ ban cho ta một giáo pháp y hệt. Lời dạy
của Ðức Phật rất là rõ ràng, không thể rành rẽ hơn nữa.
Nếu có một điều gì thiết sót thì sự thiếu sót ấy do
chính nơi ta.
Vậy bây giờ
ta phải làm gì? Trước tiên, đứng về phương diện tinh thần,
ta không nên đứng chờ ở bến xe. Ta phải nhận định rằng
đạo quả Niết Bàn chỉ có thể thành tựu với sự tinh tấn
riêng của mỗi người chớ không phải là một cảnh thiên
đàng mà có một vị Phật nào có thể đưa ta đến. Ðức
Phật có rất nhiều oai lực, nhiều hơn tất cả chúng sanh,
nhưng Ðức Phật không thể thành tựu đạo quả Niết Bàn
cho ta. Mỗi chúng sanh phải tự lực đạt lấy cứu cánh của
mình.
Ðã nhận định
như vậy, ta phải tức khắc lên đường, từ ở đây, từ
giờ phút này, theo đúng lời dạy của Ðức Phật và thành
thật, cố gắng, ghép mình vào một nếp sống khả dĩ đưa
đến đạo quả Niết Bàn. "Hãy cố gắng với một tấm lòng
nhiệt thành", Ðức Phật dạy như vậy. Ta hãy học lấy nằm
lòng. Ta hãy nghiêm trì giới hạnh với một tấm lòng nhiệt
thành. Hãy hành các Pháp Ba-La-Mật với tấm lòng nhiệt thành.
Với một tấm lòng nhiệt thành ta hãy giữ tâm vắng lặng
và trong sạch, theo đúng phương pháp mà Ðức Phật đã dạy.
Hãy tận dụng
những cơ hội mà ta đang có, ở đây và trong hiện tại.
-HẾT-