Những
bước thăng trầm
Hòa thượng
Narada
Phạm Kim Khánh
dịch
Giới thiệu:
Nguyên tác quyển sách nhỏ này, tựa đề "The Eight Worldly Conditions",
được Ðại Ðức Nàrada Mahà Thera soạn thảo vào năm 1970,
trước khi Ngài lâm trọng bệnh tại Việt Nam. Bản dịch được
được xuất bản lần đầu tiên vào dịp Lễ Phật Ðản
2516/1972, và từ đó được tái bản nhiều lần, ở Việt
Nam cũng như tại hải ngoại.
-ooOoo-
Tám Pháp thế
gian (Atthalokadhamma) - Những Thăng Trầm Của Ðời Sống
Thế gian chênh
lệch nầy quả không hoàn toàn tươi đẹp như cánh hoa hồng.
Nó cũng không tuyệt đối gai góc như cây hồng. Hoa hồng dịu
dàng, đẹp đẽ, và mùi thơm ngào ngạt. Nhưng cái cây sanh
ra nó thì mình đầy gai góc. Hoa là hoa. Gai là gai. Cái gì thuộc
về hoa là của hoa. Cái gì thuộc về gai là của gai. Không
vì hoa mà ta lao mình vào gai, cũng không vì gai mà xa lánh hẳn
hoa hồng.
Với người lạc
quan, thế gian nầy tuyệt đối như cánh hoa hồng. Người bi
quan trái lại, thấy nó đầy gai chướng. Nhưng đối với
người thực tiễn, thế gian không tuyệt đối tươi đẹp,
cũng không hoàn toàn xấu xa. Nhìn với cặp mắt thực tiễn
thì nó sanh ra với những hoa hồng xinh tươi đẹp đẽ cùng
với gai nhọn đầy mình.
Người hiểu biết
sẽ không say mê sắc đẹp của hoa hồng nhưng nhận định
đúng nó là thế nào. Thấu triệt bản chất của gai người
ấy thấy đúng thực tướng của nó và sẽ hành động đủ
thận trọng để khỏi bị gai quào hay đâm chích.
Giống như quả
lắc của đồng hồ, đánh qua trái rồi sang phải, phải rồi
trở lại trái, luôn luôn như vậy, có bốn phước lành và
bốn điều bất hạnh trong đời sống mà tất cả mọi người,
ai ai cũng phải đương đầu, không ai tránh khỏi.
Ðó là được
(làbha) và thua (alàbha), danh thơm (yasa) và
tiếng xấu (ayasa), ca tụng (pasamsà) và khiển trách
(nindà), hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha).
Ðược và Thua
(Làbha và Alàbha)
Thế thường,
các nhà doanh thương phải gặp cả hai điều: được và thua,
hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lã. Dĩ nhiên, khi được
lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Ðiều nầy tự nó
không có gì sai lầm. Những mối lợi tương tợ, dầu chánh
đáng hay không, đều đem lại niềm vui mà người đời ai
cũng ước mong, ai cũng tìm kiếm. Nếu không có những giờ
phút vui vẻ, dầu là phù du tạm bợ, đời quả thật không
đáng sống. Trong thế gian tranh chấp và bấp bênh nầy, con
người được rất ít cơ hội thọ hưởng một vài loại
hạnh phúc để làm phấn khởi tinh thần. Những lạc thú tương
tợ, dầu vẫn là vật chất, chắc chắn sẽ giúp ta thêm sức
khoẻ và tuổi thọ.
Nhưng đến khi
lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Ta có thể dễ
dàng mĩm cười khi lợi lộc, nhưng lúc thua thiệt thì không.
Nhiều trường hợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn
trí, lắm khi đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu không
còn chịu đựng được nữa. Chính trong những hoàn cảnh tương
tợ ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và giữ tâm bình
thản, không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời
sống tất cả mọi người đều phải gặp những lúc thăng,
lúc trầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng
đối phó, nhất là trong nghịch cảnh. Nổi thất vọng sẽ
giảm thiểu.
Mất một vật
gì tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cái buồn không
giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phải nghĩ rằng ai
đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởng một cách
bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ, an lành và
hạnh phúc!
Hoặc giả ta có
thể tự an ủi: "Ðây chỉ là một mất mát nhỏ nhen, không
quan trọng." Hay ta có thể chấp nhận một thái độ triết
lý cao thượng: "Không có gì là 'Ta', không có cái gì là 'Của
Ta'.
Vào thời Ðức
Phật còn tại thế có một thiếu phụ cao sang đến chùa trai
tăng Ðức Sàriputta (Xá Lợi Phất) và vài vị tỳ khưu khác.
Trong khi chuẩn bị dâng vật thực đến các Ngài thì bà được
tin chồng và tất cả các con bị người ta phục kích, giết
chết lúc đang đi hòa giải một cuộc tranh chấp. Bà không
tỏ vẻ buồn phiền. Thản nhiên, bà lặng lẽ cất giữ thơ
vào túi rồi tiếp tục để bát chư Tăng như không có gì
xảy ra. Lúc ấy một người tỳ nữ bưng hũ mật và sửa
để dâng chư Tăng rủi trật chân té, làm bể cái hũ. Nghĩ
rằng có thể bà thí chủ sẽ tiếc cái hũ và thức ăn đựng
trong đó Ðức Sàriputta (Xá Lợi Phất) an ủi rằng các vật
như cái hũ, đã mang tính chất "bể" theo liền với nó, ắt
phải bể một ngày nào. Bà tín nữ trí tuệ điềm tĩnh trả
lời: "Kính bạch Ðại Ðức, đó chỉ là một mất mát tầm
thường. Con vừa nhận được tin chồng và các con của con
bị kẻ sát nhân giết chết. Con bỏ thơ vào túi và vẫn giữ
tâm bình thản, không bấn loạn. Và mặc dầu được tin dữ,
con vẫn tiếp tục để bát Ngài và chư Tăng."
Ðức quả cảm
quý báu của người thiếu phụ quả thật đáng ca ngợi và
đáng làm gương cho người khác.
Lần kia Ðức
Phật đi trì bình trong một làng nọ. Do sự phá rối của
Ma Vương, hôm ấy Ðức Phật không được ai để bát và không
có gì để độ ngọ. Ðến khi Ma Vương sống sượng hỏi
Ngài có nghe đói bụng không, Ðức Phật nghiêm chỉnh giải
thích thái độ tinh thần của người đã vượt khỏi mọi
trở ngại và đáp: "Hạnh phúc thay, Như Lai sống không bị
chướng ngại. Dưỡng nuôi phỉ lạc, Như Lai lúc nào cũng
như các vị Trời ở cảnh Quang Âm Thiên."
Lần khác, Ðức
Phật và các môn đệ an cư kiết hạ trong làng nọ, theo lời
cung thỉnh của một người Bà La Môn. Nhưng vị nầy hoàn
toàn lãng quên bổn phận là phải chăm lo các Ngài. Suốt trọn
thời gian ba tháng Hạ, Ðức Phật và chư Tăng bình thản dùng
những thức ăn của ngựa mà một người lái ngựa đã dâng
đến, mặc dầu Ðức Moggallàna (Mục Kiền Liên) tình nguyện
dùng thần thông đi tìm vật thực khác. Ðức Phật không một
lời than van hay phản đối.
Bà Visakhà, vị
nữ thí chủ quan trọng trong thời Ðức Phật, thường đến
chùa chăm lo mọi nhu cầu của Ðức Phật và chư Tăng. Một
hôm, bà đắp một cái áo choàng rất quý giá để đi chùa.
Khi đến cổng chùa, như thường lệ, bà cổi áo choàng ra
đưa cho người tỳ nữ cầm giữ. Lúc ra về, cô nữ tỳ vô
ý bỏ quên lại. Ðức Ànanda (A Nan Ða) thấy, đem cất lại
một nơi, chờ khi bà Visakhà đến chùa sẽ trao lại. Về đến
nhà bàVisakhà sực nhớ, bảo người nữ tỳ quay trở lại
tìm. Nhưng nếu có vị tỳ khưu nào đã đụng đến thì không
nên lấy về. Cô tỳ nữ đến chùa hỏi thăm, biết rằng
Ðức Ànanda (A Nan) đã cất giữ cái áo choàng nên trở về
báo tin cho chủ. Bà Visakhà liền đến hầu Phật và tỏ ý
muốn làm việc thiện với số tiền bán cái áo choàng quý
giá ấy. Ðức Phật khuyên bà nên kiến tạo một ngôi tịnh
xá để chư Tăng có nơi cư trú. Vì không ai có đủ tiền
mua cái áo choàng quý giá như thế nên chính bà mua lại, và
dùng số tiền ấy xây dựng một ngôi tịnh xá đẹp đẽ,
dâng đến chư Tăng.
Sau khi dâng xong
ngôi chùa bà ngỏ lời tri ân người tỳ nữ như sau: "Nếu
con không lỡ bỏ quên cái áo choàng ắt ta không có cơ hội
tạo nên công đức nầy. Vậy, ta xin chia phần phước nầy
đến con."
Thay vì buồn rầu
hay phiền giận vì tạm thời mất một vật quý giá, và la
rầy người tỳ nữ vô ý, bà cám ơn người ấy đã giúp
cho bà cơ hội tạo phước.
Thái độ gương
mẫu của bà thiện trí thức Visakhà đáng làm một bài học
cho những ai dễ nóng giận vì lỗi lầm của người giúp việc
thế cô.
Ta phải dũng cảm
chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt. Phải đương đầu với
nó, và như câu "họa vô đơn chí" diễn tả, nó đến một
cách đột ngột, từng đoàn, từng đám đông, chớ không đơn
độc. Ta phải điềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà)
hoàn toàn, và nghĩ rằng đây là cơ hội vàng ngọc để thực
hành đức tánh cao thượng nầy.
Danh Thơm và
Tiếng Xấu (Yasa và Ayasa)
Danh thơm (yasa)
và tiếng xấu (ayasa) là cặp thăng trầm khác mà ta phải
đối phó hàng ngày.
Danh thơm, chúng
ta hoan hỷ đón mừng. Tiếng xấu thì chúng ta không thích.
Danh thơm làm phấn khởi tinh thần. Tiếng xấu làm cho ta phiền
muộn, khổ đau. Chúng ta thích được trứ danh. Chúng ta mong
muốn thấy tên tuổi và hình ảnh mình trên mặt báo. Chúng
ta rất thỏa thích thấy những hoạt động của mình, dầu
không đáng kể, được tường thuật và được nhiều người
nhắc nhở, nhiều người biết đến. Lắm khi ta cũng cố gắng,
một cách bất chánh, làm cho người ta chú ý đến mình.
Ðể thấy hình
ảnh mình trên báo chí, vài người sẵn sàng trả một số
tiền to tát. Ðể được danh dự, vài người sẵn sàng đóng
góp quan trọng, hay hối lộ nhóm người quyền thế. Ðể tự
quảng cáo, vài người biểu dương tâm trong sạch bố thí
của mình bằng cách trai tăng cả trăm vị tỳ khưu, hay hơn
nữa. Nhưng có thể những người ấy sẽ hoàn toàn thản nhiên
trước những nỗi thống khổ của người nghèo nàn đói rách
sống ngay bên cạnh mình. Ta có thể rầy la và hành phạt một
tên trộm quá đói khát, vào vườn ăn cắp một trái dừa
để làm dịu bớt cơn đói, nhưng ta sẽ không ngần ngại
cho ra cả thiên dừa để đổi lại chút danh thơm.
Ðó là khuyết
điểm của con người. Chí đến khi làm điều thiện, phần
đông chúng ta cũng làm với ẩn ý vụ lợi. Những người
hoàn toàn vị tha rõ thật hiếm hoi trên thế gian nầy. Vì
lẽ ấy, người nào đã làm một việc thiện -- dầu động
cơ thúc đẩy đến hành động không mấy đáng được ca ngợi
--cũng đáng được tán dương vì đã làm điều thiện ấy.
Phần đông người thế gian chúng ta luôn luôn còn giấu một
cái gì trong tay áo. Ai là người trăm phần trăm tốt? Bao nhiêu
người hoàn toàn trong sạch, từ động cơ đến hành động?
Bao nhiêu người tuyệt đối vị tha?
Chúng ta không
cần chạy theo danh thơm tiếng tốt. Nếu ta xứng đáng ắt
nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượm mật đầy đủ
thì ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mời ong, hay mời bướm.
Ðúng thật vậy,
chúng ta cảm nghe tự nhiên hoan hỷ, vô cùng hạnh phúc, khi
thanh danh của chúng ta bay xa, lan rộng. Tuy nhiên, phải nhận
định rằng tiếng tốt, danh vọng, vinh quang, chỉ theo ta đến
nấm mồ, rồi tan biến ra mây, ra khói. Nó chỉ là những ngôn
từ, mặc dầu là kim ngôn, là mỹ từ, làm êm dịu tai ta.
Còn tiếng xấu
thì sao?
Chúng ta không
thích nghe, hay nghĩ đến. Chắc chắn là khi những lời nói
xấu lọt vào tai, nó sẽ làm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu.
Nỗi khổ tâm càng sâu đậm hơn nếu những lời gọi là tường
thuật hay báo cáo ấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.
Thông thường,
phải mất cả năm trường, hay hơn nữa, để kiến tạo một
ngôi nhà nguy nga vĩ đại. Nhưng chỉ trong nháy mắt khí giới
tối tân hiện đại có thể tàn phá, tiêu hủy dễ dàng. Lắm
khi phải mất nhiều năm hay trọn cả kiếp sống để gây
dựng thanh danh. Bao nhiêu công trình lao khổ ấy có thể tàn
rụi trong khoảnh khắc. Không ai có thể tránh khỏi câu nói
tai hại bắt đầu bằng tiếng "nhưng". Thật vậy, ông ấy
rất tốt, ông ấy đã làm việc nầy, điều kia. Nhưng ...
Phần đầu tốt đẹp của câu nói đã bị cái "nhưng" đẩy
vào đêm tối của lãng quên.
Bạn có thể sống
đời đạo đức trong sạch như một vị Phật, nhưng bạn
không thể tránh những lời chỉ trích, tấn công và nguyền
rủa.
Ðức Phật là
vị giáo chủ trứ danh nhất thời bấy giờ mà cũng là người
bị nguyền rủa và sỉ vả nhiều nhất thời bấy giờ.
Các bậc vĩ nhân
thường không được biết đến, hay có được biết chăng
nữa, cũng một cách sai lạc.
Vào thời Ðức
Phật, có một thiếu phụ thường lui tới Tịnh Xá lúc ban
đêm. Những người ở đạo khác truyền rao tiếng đồn, vu
oan Ðức Phật và các đệ tử Ngài đã sát hại thiếu phụ
ấy và chôn vùi dưới một đống hoa tàn, trong vòng Tịnh
Xá. Khi Ðức Phật đã hoàn thành viên mãn sứ mạng lịch
sử của Ngài và khi rất nhiều người tìm đến xin xuất
gia, các vị đạo sĩ đối nghịch phỉ báng rằng tại vì
Ðức Phật mà mẹ phải lìa con, vợ lìa chồng. Chính Ngài
đã làm trở ngại mọi tiến bộ của đất nước.
Chính người em
họ, và cũng là môn đệ của Ðức Phật, nhiều lần âm mưu
làm sụp đổ phẩm hạnh cao quý của Ngài, nhưng thất bại.
Ông lại sanh tâm mưu sát Ðức Thế Tôn bằng cách từ trên
cao lăn đá vào mình Ngài.
Ðã là một vị
Phật Ngài không thể bị sát hại.
Nếu đó là số
phần bất hạnh của một người vô tội và trong sạch như
Ðức Phật, hạng người tầm thường còn phải chịu như
thế nào nữa?
Lúc trèo núi,
ta càng lên cao, người đứng dưới đồng bằng càng để
ý đến ta và càng thấy ta nhỏ hơn. Và họ chỉ thấy phía
sau lưng, không thấy phía trước. Thế gian thổi lông tìm vết
nầy chỉ muốn trưng bày khuyết điểm và lỗi lầm của người.
Bao nhiêu đức hạnh tốt đẹp thì giấu nhẹm. Cái xây quạt
lúa quạt đi bụi bặm và những hột lúa hư lép, nhưng giữ
lại các hột tốt, no đầy. Cái rây thì trái lại, giữ phần
xác thô sơ mà lượt đi nước trái cây ngon ngọt. Người
có trau giồi trí thức giữ cho mình phần tinh tế, và bỏ
đi những gì thô sơ. Hạng vô học giữ cái thô sơ và vứt
bỏ đi phần tinh vi tế nhị.
Mỗi khi bị hiểu
lầm và bị người ta vô tình hay cố ý, truyền rao một cách
bất công, ta nên sáng suốt suy tư, hay nói như Epictetus đã
khuyên:
"May quá, người
ta không quen mình nhiều. Họ chỉ biết mình sơ sài nên chỉ
nói xấu mình có bấy nhiêu. Nếu người ta biết mình nhiều
hơn chắc mình còn bị chỉ trích nhiều hơn nữa."
Không nên phung
phí thì giờ để sửa sai những lời đồn đãi sai lạc nếu
hoàn cảnh không bắt buộc ta phải làm sáng tỏ vấn đề.
Kẻ thù nghịch sẽ lấy làm thỏa thích mà thấy ta bực bội
vì lời nói của họ. Ðó chính là điều mà họ mong muốn.
Nếu ta thản nhiên, lời vu oan sẽ rơi vào tai điếc.
Trong
khi thấy lỗi lầm của người khác, ta phải làm như người
mù.
Trong khi nghe
lời chỉ trích người khác, ta phải làm như người điếc.
Trong khi nói
xấu người khác, ta phải làm như người câm.
Không thể
chấm dứt những lời buộc tội, những tường thuật hay đồn
đãi sai lầm.
Thế gian đầy chông
gai và đá nhọn. Ta không thể dẹp sạch gai và đá. Nhưng
nếu phải đi trên đó bất kể những trở ngại thì, thay
vì dời gai và đá -- chuyện mà ta không thể làm -- tốt hơn
nên mang giày và thận trọng đi từng bước. Chúng ta sẽ được
an toàn.
Giáo Pháp dạy:
"Hãy
như sư tử, không run sợ trước tiếng động.
Hãy như luồng
gió, không dính mắc trong màn lưới.
Hãy như hoa
sen, từ bùn nhơ nước đục mọc lên
Nhưng không
bị nước đục và bùn nhơ làm ô nhiễm.
Hãy vững bước,
đơn độc một mình, như con tê giác."
Là chúa sơn lâm,
sư tử không sợ hãi. Bẩm chất thiên nhiên của sư tử là
không run rẩy giựt mình khi nghe tiếng gầm thét của các loài
thú khác. Trên thế gian nầy chúng ta có nghe thuật lại những
câu chuyện trái tai, bất lợi, những lời buộc tội giả
mạo, những tiếng vu oan phỉ báng đê hèn, vì miệng lằn
lưỡi mối không thiếu chi. Như sư tử, ta không cần nghe đến.
Như một loại khí giới của người Úc (boomerang), khi
được tung ra, nó bay tới đánh vào mục tiêu rồi trở về
tay chủ, cùng thế ấy, những lời rêu rao xấu xa đê tiện
ấy sẽ chấm dứt nơi mà nó bắt đầu.
Mặc chó chó sủa,
đoàn lữ hành cứ tiến bước.
Chúng ta đang sống
trong thế gian bùn nhơ nước đục. Nhiều đóa hoa sen đã từ
đó vượt lên, tô điểm sơn hà, mà không bị nước đục
và bùn nhơ làm hoen ố. Chúng ta phải cố gắng sống như hoa
sen, một cuộc đời trong sạch và cao quý, không màng quan tâm
đến bùn nhơ mà người khác có thể ném vào ta. Phải sẵn
sàng đón nhận bùn dơ mà người khác có thể ném vào mình,
thay vì mong đợi những đóa hoa hồng mà người ta có thể
tặng. Ta sẽ không thất vọng.
Mặc dầu khó,
chúng ta phải cố gắng trau giồi hạnh từ khước, buông bỏ,
không luyến ái.
Chúng
ta đến đây một mình, một thân.
Một thân một
mình, chúng ta sẽ ra đi.
Trong thế gian
nầy, không luyến ái là hạnh phúc.
Không cần để ý
đến nọc độc của những lưỡi mối miệng lằn. Ðơn độc
một mình, chúng ta hãy ra đi đó đây, tận lực phục vụ
và tạo an lành cho kẻ khác.
Âu cũng lạ! rằng
các bậc vĩ nhân thường bị vu oan, phỉ báng, đầu độc,
treo lên thánh giá, hay bị bắn chết.
Ông Socrates vĩ
đại bị đầu độc. Ðức Jesus Christ (Chúa Ky Tô) cao quý
bị treo trên thánh giá. Ðức Mahatma Gandhi bất bạo động
bị bắn chết.
Vậy phải chăng
tốt quá cũng nguy hiểm?
Ðúng. Khi còn
sống các vị ấy bị chỉ trích, tấn công và sát hại. Sau
khi chết, các Ngài được tôn sùng và kỉnh mộ như thần,
như thánh.
Bậc vĩ nhân thản
nhiên khi được khen cũng như lúc bị chê. Các Ngài không để
tinh thần suy sụp khi bị chỉ trích hay vu oan, bởi vì không
chạy theo thanh danh. Người ta có biết được việc làm của
mình không, các Ngài không quan tâm đến. "Các Ngài làm việc,
phục vụ, nhưng không màng đến việc thọ hưởng."
Ca Tụng và
Khiển Trách (Pasamsà và Nindà)
Ðược ca tụng
và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng trầm khác hằng
ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi được ca tụng
thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bị khiển
trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu. Giữa những
lời ca tụng hay khiển trách Ðức Phật dạy, bậc thiện trí
không thỏa thích cũng không ủ dột ưu phiền, mà tựa hồ
như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dưới cơn bão táp
phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng đáng, những lời
khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta không xứng, như trường
hợp có người nịnh bợ, thì những lời ấy dù có êm tai,
cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và là một tai hại. Dầu sao,
đó cũng chỉ là những tiếng động, những âm thanh, không
đem lại hậu quả nào nếu không lọt vào tai.
Ðứng về phương
diện thế gian, lời ca tụng có thể đi rất xa. Một tiếng
khen tặng nhẹ nhàng, đúng lúc, có thể giúp ta dễ dàng thâu
đạt điều mong muốn. Một câu giới thiệu xứng đáng đủ
làm cho toàn thể cử tọa chăm chú lắng nghe diễn giả. Nếu
diễn giả có lời khen tặng cử tọa ắt sẽ được chú ý.
Trái lại, nếu diễn giả bắt đầu bằng những lời khiển
trách hay chỉ trích, thái độ đáp ứng của người nghe ắt
không thuận lợi.
Người đã thuần
thục không tin càn những lời nịnh bợ, cũng không muốn được
nịnh bợ. Khi khen tặng ai xứng đáng, người già dặn thuần
thành thật lòng khen tặng mà không ẩn ý ganh tỵ. Khi khiển
trách, các Ngài khiển trách mà không ẩn ý khinh khi. Các Ngài
chỉ khiển trách vì lòng bi mẫn, muốn cải thiện người
lầm đường lạc nẻo.
Những bậc vĩ
nhân được tất cả người lớn kẻ nhỏ khen tặng nhưng
thản nhiên, không hề chao động.
Nhiều người
thân cận với Ðức Phật thường ca tụng phẩm hạnh Ngài,
mỗi người một cách. Upàli, một nhà triệu phú mới quy y
với Ðức Phật, kể ra hằng trăm đức tánh của Ngài. Chín
hồng danh của Ðức Thế Tôn thời bấy giờ người ta thường
nhắc nhở, chí đến nay hàng tín đồ Phật Giáo vẫn còn
đọc lên như kinh nhật tụng. Và mỗi lần tụng đến các
phẩm hạnh cao quý ấy chúng ta nhìn lên pho tượng trầm ngâm
tự tại với tấm lòng kỉnh mộ tôn sùng. Chín hồng danh
ấy còn là đề mục hành thiền cho người có tâm đạo nhiệt
thành và vẫn còn là nguồn gợi cảm quan trọng cho những
ai tự xem mình là Phật tử.
Còn khiển trách
thì sao?
Ðức Phật dạy:
"Người nói nhiều bị khiển trách. Người nói ít bị khiển
trách. Người lặng thinh cũng bị khiển trách."
Hình như khiển
trách là phần di sản chung của nhân loại.
"Người thế
gian phần đông sống không kỷ luật," Ðức Phật ghi nhận
như vậy và dạy tiếp, "Như voi chiến ở trận địa, hứng
lãnh lằn tên mũi đạn từ mọi hướng dồn dập bắn đến,
cùng thế ấy, Như Lai hứng chịu mọi nguyền rủa của thế
gian."
Kẻ si mê lầm
lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khác mà không nhìn
cái tốt cái đẹp của ai. Ngoại trừ Ðức Phật, không ai
trăm phần trăm tốt. Cũng không ai xấu trăm phần trăm. Giữa
chúng ta, bên trong con người tốt nhất cũng có phần hư hỏng.
Trong con người xấu nhất cũng có điểm tốt đẹp. Người
biết làm câm như cái mõ bể khi bị tấn công, nguyền rủa,
chửi mắng, người ấy, Ðức Phật dạy, đã đứng trước
Niết Bàn, mặc dầu chưa chứng ngộ Niết Bàn.
Ta có thể phục
vụ nhân loại với tấm lòng cao cả nhất, nhưng người thế
gian thường hiểu lầm và gán cho ta những mục tiêu, những
lý tưởng mà chính ta không bao giờ mơ đến.
Ta có thể tận
lực phục vụ và giúp đỡ một người bạn trong cơn nguy
ngập. Lắm khi muốn được việc, ta phải vay nợ hay bán cả
đồ đạc, nhà cửa. Nhưng về sau, thế gian mê lầm nầy hư
hỏng đến đổi chính người được phục vụ kia trở lại
phủ nhận lòng tốt của ta, phiền trách, nói xấu, bôi bẩn
ta và sẽ thỏa thích thấy ta suy sụp.
Trong Túc Sanh Truyện
có tích chuyện một nhạc sĩ tên Guttila, hết lòng dạy dỗ
các đệ tử và không bao giờ giấu giếm điều gì. Tuy nhiên,
có một người học trò vô ân bạc nghĩa nọ cố tình làm
đủ mọi cách để tranh giành ảnh hưởng với thầy. Về
sau người đệ tử nầy thất bại.
Devadatta (Ðề
Bà Ðạt Ða), đệ tử, vừa là em họ của Ðức Phật, đã
có thần thông, không những cố gắng làm mất thanh danh của
Ðức Thế Tôn mà còn mưu toan sát hại Ngài bằng cách lăn
đá từ đỉnh núi cao xuống trong khi Ngài tới lui kinh hành
dưới chân núi.
Một lần nọ
có người Bà La Môn cung thỉnh Ðức Phật về nhà trai tăng.
Theo lời thỉnh cầu, Ðức Phật đến. Nhưng thay vì tiếp
đón phải lẽ, người Bà La Môn tuôn ra một loạt những lời
lẽ thô kịch và nhơ bẩn vô cùng. Ðức Phật lễ độ hỏi
thăm:
-- Nầy Ông Bà
La Môn, có khi nào khách đến nhà Ông không?
-- Có, Ông Bà
La Môn trả lời.
-- Khi biết khách
đến nhà thì Ông làm gì?
-- Tôi sẽ dọn
một bữa cơm thịnh soạn để đãi khách.
-- Nhưng nếu khách
bận việc không đến thì sao?
-- Thì gia đình
chúng tôi sẽ hoan hỷ chia nhau bữa cơm.
-- Tốt lắm, nầy
Ông Bà La Môn, hôm nay Ông mời Như Lai đến nhà để trai tăng
và Ông đã khoản đãi Như Lai bằng những lời nguyền rủa
chửi mắng thậm tệ. Như Lai không nhận. Vậy xin Ông vui lòng
lấy trở lại.
Ðức Phật không
giận, không trả thù, nhưng Ngài lễ độ trao trả lại người
Bà La Môn những gì người nầy đã khoản đãi Ngài.
Không nên trả
thù. Không nên báo oán. Ðức Phật khuyên dạy như vậy. Hận
thù sẽ đối diện với hận thù. Báo oán, trả thù không
bao giờ đưa đến hoà bình và an tĩnh. Sức mạnh chắc chắn
phải đương đầu với sức mạnh. Bom đạn sẽ gặp bom đạn.
"Sân hận không bao giờ dập tắt sân hận. Chỉ có tâm Từ
mới diệt lòng sân." Ðó là giáo từ của Ðức Bổn Sư. Không
có vị giáo chủ nào được ca tụng và tôn sùng như Ðức
Phật. Tuy nhiên, Ngài cũng là vị giáo chủ bị chỉ trích,
bị khiển trách và bị sỉ vả nhiều nhất. Ðó là số phần
của các bậc vĩ nhân.
Trước giữa đám
đông, một thiếu phụ tên Cincà giả làm người có mang, vu
oan Ðức Phật. Với gương mặt từ bi Ngài nhẫn nại chịu
đựng những lời nguyền rủa, và đức hạnh trong sạch của
Ngài được chứng minh tỏ rõ.
Ðức Phật cũng
bị vu cáo là đã sát hại một thiếu phụ với sự đồng
lõa của các vị đệ tử.
Lần kia những
người khác đạo chỉ trích Ngài và các môn đệ với lời
lẽ nặng nề đến độ Ðức Ànanda xin Ngài rời bỏ nơi
đó để qua một làng khác.
-- Nầy Ànanda,
nếu những người ở làng kia cũng chửi mắng chúng ta nữa
thì phải làm sao?
-- Kính Bạch Ðức
Thế Tôn, chúng ta sẽ sang một làng khác nữa.
-- Nầy Ànanda,
nếu làm như thế toàn thể lãnh thổ của xứ Ấn Ðộ sẽ
không có đủ chỗ cho chúng ta. Hãy nhẫn nại. Những lời
nguyền rủa tự nhiên sẽ chấm dứt.
Một bà thứ phi
của ông vua nọ tên Màgandiya, có nuôi mối hận thù với Ðức
Phật bởi Ngài tỏ ra không tôn trọng sắc đẹp mỹ miều
của bà khi, vì không biết, cha bà muốn gả bà làm vợ Ðức
Phật. Khi đi ngang qua quốc gia bà đang ở, Màgandiya thuê những
người say rượu công khai chửi mắng Ðức Phật vô cùng thậm
tệ. Với tâm Xả hoàn toàn Ðức Phật chịu đựng tất cả.
Nhưng Màgandiya
phải chịu đau khổ vì hành động sai lầm của bà.
Nguyền rủa, chửi
mắng là thường tình. Càng hoạt động, càng phục vụ, chúng
ta càng trở nên vĩ đại hơn và càng phải chịu sỉ nhục
và nguyền rủa nhiều hơn.
Ðức Chúa Ky Tô
bị chửi mắng, nhục mạ và treo lên thánh giá.
Socrates bị chính
vợ ông chửi mắng. Mỗi khi ra ngoài để phục vụ đồng
bào Ông Socrates thường bị bà vợ tâm tánh hẹp hòi của
ông rầy rà, la mắng. Ngày kia Bà Socrates lâm bệnh nên không
thể thực hành "công tác" rầy rà thường lệ. Hôm ấy Ông
Socrates ra đường với vẻ mặt buồn rầu. Bạn bè thăm hỏi
vì sao. Ông giải thích rằng vì hôm nay bà vợ ông đang bệnh
nên không có rầy ông.
-- Sao lạ vậy?
Ông phải vui mới phải chớ. Không bị rầy, tại sao ông lại
buồn?
-- Không phải
vậy đâu. Khi bị rầy tôi được cơ hội để thực hành
pháp nhẫn nại. Hôm nay tôi đã mất một cơ hội. Vì lẽ
ấy mà tôi buồn. Trên đây là bài học quý báu cho tất cả.
Khi bị chửi mắng ta phải nghĩ rằng đây là cơ hội để
hành pháp nhẫn nhục. Thay vì tức giận, phải biết ơn người
chửi mắng ta.
Hạnh Phúc và
Ðau Khổ (Sukha và Dukkha)
Hạnh phúc (sukha)
và đau khổ (dukkha) là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó
cũng có nhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống
nhân loại.
Ðiều gì làm
được dễ dàng là hạnh phúc (sukha). Cái gì khó chịu
đựng là đau khổ (dukkha). Thông thường, thỏa mãn điều
mong ước là hạnh phúc. Nhưng, liền khi vừa đạt được
điều mong ước ấy ta đã ước mong một loại hạnh phúc
khác. Túi tham không đáy. Lòng tham không bao giờ hoàn toàn
thỏa mãn, không bao giờ biết là đủ. Ðối với hạng người
thường, hưởng thọ những lạc thú của nhục dục ngũ trần
là hạnh phúc duy nhất và cao thượng nhất. Chắc chắn là
có hạnh phúc tạm bợ cấp thời trong lúc mơ ước, trong khi
thọ hưởng, và khi hồi nhớ lại những khoái lạc ấy mà
người thiên về đời sống vật chất rất ưa thích. Nhưng
quả thật là ngắn ngủi và ảo huyền.
Tư sản vật chất
có thể đem lại cho ta hạnh phúc thật sự không? Nếu có,
các nhà triệu phú hẳn không bao giờ nghĩ đến chuyện quyên
sinh. Trong một quốc gia nọ mà tiến bộ vật chất đã lên
đến mức tuyệt đỉnh, có khoảng mười phần trăm dân số
mắc phải những chứng bệnh thần kinh.
Tại sao vậy?
Tài sản và sự
nghiệp có đủ đem lại hạnh phúc thật sự không?
Cầm quyền thống
trị toàn thể thế gian có phải là hạnh phúc thật sự không?
Ðại Ðế Alexander,
người đã rầm rộ kéo quân vào Ấn Ðộ một cách hiên ngang,
hùng vĩ và vẻ vang, người đã chinh phục tất cả lãnh thổ
trên đường đi của mình, người ấy than rằng không tìm
đâu ra một quốc gia nào khác để chinh phục.
Các vị đế vương,
các vì vua đang còn đội mão, các vị ấy có luôn luôn hạnh
phúc không? Ðời sống của các nhà lãnh đạo chánh trị và
các nhà lãnh đạo quốc gia rất thường bị các phe đối
nghịch lăm le hăm dọa. Cái chết của Mahatma Gandhi và của
Tổng Thống J.F. Kennedy là một vài trường hợp điển hình.
Chân hạnh phúc
nằm bên trong chúng ta và không thể được định nghĩa bằng
những danh từ như tài sản, quyền thế, danh vọng, hay chinh
phục xâm lăng.
Nếu những tư
hữu trần tục kia được thâu đoạt bằng bạo lực, cường
quyền, hay bằng một phương tiện bất công nào khác, hoặc
theo một chiều hướng sai lầm, hoặc nữa, được nhìn với
cặp mắt trìu mến hay tham lam, thì nó sẽ là nguồn đau khổ
và sầu muộn cho chính người làm chủ nó. Cái gì là hạnh
phúc cho người nầy có thể không phải là hạnh phúc cho người
kia. Cái gì là thức ăn chất uống cho một người có thể
là thuốc độc cho người khác. Ðức Phật kể ra bốn loại
hạnh phúc của người tại gia cư sĩ.
Loại đầu tiên
là hạnh phúc được có tư hữu (atthi sukha) như sức
khoẻ, tài sản, sống lâu, sắc đẹp, vui vẻ, mạnh mẽ, sự
nghiệp, đông đảo con cháu v.v...
Nguồn hạnh phúc
thứ nhì là thọ hưởng những tư hữu ấy (bhoga sukha).
Thông thường ai cũng muốn thọ hưởng, ai cũng ưa vui thích.
Ðức Phật không bao giờ khuyên dạy rằng tất cả mọi người
nên từ khước hạnh phúc trần gian và rút vào sống ẩn dật
chốn rừng sâu vắng vẻ.
Thọ hưởng tài
sản không phải là chỉ dùng nó cho riêng mình, mà cũng là
bố thí ra để tạo an lành cho người khác. Cái gì mà ta ăn
chỉ tồn tại nhất thời. Cái gì mà ta tích trữ, ta sẽ bỏ
lại, và ra đi. Nhưng, cái gì mà ta cho ra sẽ trở lại với
ta. Những hành động thiện mà ta làm với những tư hữu trần
tục sẽ tồn tại lâu dài, không thể mất.
Không nợ nần
(anana sukha) là một nguồn hạnh phúc khác. Nếu tri túc,
biết an phận với những gì mình có và nếu ăn ở kiệm cần,
ta sẽ không nợ nần với ai. Người mang nợ luôn luôn sống
trong tâm trạng thấp thởm lo âu và nơm nớp sợ chủ nợ.
Nếu không nợ nần, mặc dầu nghèo, ta vẫn cảm nghe thoải
mái dễ chịu và thơ thới trong lòng.
Nếp sống trong
sạch (anavajja sukha), hay hạnh phúc của người không
đáng bị khiển trách, là nguồn hạnh phúc cao thượng nhất
của người cư sĩ. Người có đời sống trong sạch là một
nguồn phước báu cho mình và cho kẻ khác. Người trong sạch
được tất cả khâm phục. Người ấy cảm nghe hạnh phúc
vì nằm trong phạm vi ảnh hưởng của những rung động an
lành mà nhiều người khác gởi đến mình. Tuy nhiên, ta phải
ghi nhận rằng rất khó, vô cùng khó, mà được tất cả mọi
người khâm phục. Người có tâm tánh cao quý chỉ biết giữ
mình để sống đời trong sạch và thản nhiên trước dư luận.
Phần đông thỏa
thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đời sống.
Nhưng cũng có hạng người thỏa thích trong sự từ khước,
buông bỏ các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượt lên
trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh phúc đối với người
đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn -- tức trạng thái thoát ra
khỏi mọi đau khổ -- là hình thức hạnh phúc cao thượng
nhất.
Chúng ta vui vẻ
đón mừng hạnh phúc. Nhưng đau khổ thì không được niềm
nở tiếp nhận.
Ðau đớn (vật
chất) và phiền muộn (tinh thần) đến với ta dưới nhiều
hình thức.
Chúng ta đau khổ
khi phải chịu già yếu, đó là lẽ tự nhiên. Phải bình thản
chịu đựng những khổ đau của tuổi già.
Càng đau khổ
hơn hoàn cảnh già nua, là bệnh hoạn. Và nếu là một chứng
bệnh trầm kha làm đau nhức lâu ngày, ta sẽ cảm thấy thà
chết còn hơn. Chỉ một cái răng đau hay một lúc nhức đầu,
đôi khi cũng làm cho ta vô cùng khó chịu. Khi lâm bệnh, không
nên lo sợ mà phải cố gắng chịu đựng. Ðúng vậy, phải
tự an ủi rằng ta khỏi phải mang một chứng bệnh trầm trọng
hơn.
Lắm khi chúng
ta phải xa lìa thân bằng quyến thuộc. Cảnh biệt ly vô cùng
đau khổ. Chúng ta phải nhận định rằng mọi kết hợp đều
phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Ðây là cơ hội quý báu
để ta thực hành tâm Xả.
Một việc thường
xảy ra là chúng ta phải kết hợp với người mình không ưa
thích, sống chung với người mà ta ghét. Phải cố gắng chịu
đựng và nghĩ rằng mình đang gặt hái quả xấu của một
cái nghiệp nào mà chính mình đã tạo, hoặc trong quá khứ,
hoặc trong hiện tại. Chúng ta phải cố gắng tự tạo cho
mình một nếp sống thích hợp với hoàn cảnh mới và, bằng
cách nầy hay cách khác, phải cố gắng vượt qua mọi trở
ngại.
Chí đến Ðức
Phật, đấng toàn thiện đã tận diệt mọi ô nhiễm, mà còn
phải chịu đau đớn vì bệnh hay vì tai nạn.
Ðức Phật nhiều
lần bị nhức đầu. Chứng bệnh kiết lỵ sau cùng làm cho
Ngài đau đớn không xiết kể. Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða)
lăn đá từ đỉnh núi cao gây thương tích cho Ngài ở chân
phải mổ. Lắm lúc Ngài phải nhịn đói. Ðôi khi Ngài phải
dùng thức ăn dành cho ngựa. Một lần nọ, vì các đệ tử
không vâng lời, Ngài vào rừng ở ba tháng. Giữa rừng sâu
Ngài phải nằm trên một lớp lá ủ, trải trên mặt đất
gồ ghề thô cứng và phải đối phó với những cơn lạnh
buốt xương. Nhưng Ngài vẫn thản nhiên. Giữa những hoàn
cảnh đau khổ, cũng như những lúc an vui hạnh phúc Ðức Phật
luôn luôn giữ tâm Xả hoàn toàn.
Trên bước thênh
thang trong vòng luân hồi, chết là mối ưu phiền trọng đại
nhất mà chúng ta phải đối phó. Ðôi khi cái chết không đến
lẻ loi cho một người thân mà đến trùng hợp cho nhiều người
thân trong một lúc.
Bà Patàcara mất
một lúc bao nhiêu người thân thuộc: cha, mẹ, chồng, anh,
và hai con. Bà trở nên loạn trí. Ðức Phật khuyên giải và
an ủi bà.
Bà Kisà Gotami
mất người con thân yêu duy nhất. Tay bồng con, bà chạy đi
tìm thuốc chữa trị và đến cầu cứu với Ðức Phật.
-- Ðược, con
có thể tìm ra một vài hột cải không?
-- Bạch Ðức
Thế Tôn, con sẽ tìm ra hột cải, chắc như vậy.
-- Nhưng hột cải
nầy phải lấy từ trong nhà nào mà chưa từng có ai chết.
Hột cải thì
có. Nhưng bà không tìm ra nơi nào mà thần chết chưa hề đến
viếng.
Bà tỉnh ngộ
và nhận thức bản chất thiên nhiên của kiếp sinh tồn.
Một lần nọ
bà kia được người ta hỏi tại sao không khóc cái chết thê
thảm của người con. Bà trả lời: "Không ai mời mọc, nó
đến. Không cho ai hay, nó đi. Ðến thế nào, nó ra đi cùng
thế ấy. Tại sao ta khóc? Khóc có ích gì?
Từ cành cây có
nhiều trái rơi rụng -- trái non có, trái già có, trái chín
có -- cùng thế ấy, ta có thể lìa đời lúc sơ sinh, lúc thiếu
niên, lúc tráng niên, hay khi niên cao tuổi lớn. Mặt trời
mọc ở phương Ðông chỉ để lặn ở phương Tây. Hoa nở
tốt tươi buổi sáng để úa tàn vào lúc chiều.
Cái chết không
thể tránh, đến với tất cả mọi người, không trừ ai.
Và ta phải bình thản đối phó.
"Cũng như trên
đất ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua, dầu ngọt,
dầu sạch, dầu dơ. Ðất vẫn thản nhiên một mực trơ trơ,
không giận cũng không thương. Vậy, cùng thế ấy, trong hạnh
phúc, trong phiền muộn, lúc thăng lúc trầm, ta phải giữ tâm
như đất."
Ðức Phật dạy
như vậy.
Trước những
thăng trầm của thế gian, tâm của vị A La Hán không bao giờ
chao động. Giữa những hoàn cảnh được và thua, danh thơm
và tiếng xấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau
khổ, chúng ta hãy giữ tâm bình thản.