LÝ
NHÂN QUẢ
Nàrada
Mahà Thera- Phạm Kim Khánh dịch
(Trích "Đức
Phật và Phật Pháp", Chương 18-21)
-ooOoo-
1.
Nghiệp Báo
"Tất cả chúng
sanh đều có cái nghiệp của mình." -- Trung A Hàm
Định
luật nhân quả trong lĩnh vực tinh thần đạo đức là Nghiệp
Báo, Kamma [1].
Tái Sanh là hệ
luận tự nhiên của Nghiệp. Nghiệp Báo và Tái Sanh là hai
giáo lý căn bản trong đạo Phật có liên quan mật thiết với
nhau.
Từ trước thời
Đức Phật, hai học thuyết Nghiệp Báo và Tái Sanh đã được
truyền bá sâu rộng tại Ấn Độ. Tuy nhiên, chính Đức Phật
đã giải thích tận tường và trình bầy đầy đủ Giáo Pháp
cao siêu ấy, đến nay vẫn còn lưu truyền.
Vì sao có sự
bất đồng trong nhân loại?
Ta phải giải
thích thế nào những chênh lệch tựa hồ như bất công trong
thế gian?
Tại sao có hạng
người sanh trưởng trong cung điện nguy nga, giàu sang vinh hiển,
trí tuệ xuất chúng, đạo hạnh thanh cao, thân hình tráng kiện,
trong khí ấy có kẻ khác lại phải chịu sống trong cảnh
cùng đinh, cơ hàn khốn khổ? Tại sao người kia có tiền của
ức triệu mà người nọ lại thiếu trước hụt sau? Tại
sao có người thông minh tuyệt vời và có kẻ tối tăm ngu
muội? Tại sao người nầy được sanh ra với bản tánh hiền
lương của các bậc thánh nhân, kẻ nọ lại sẵn nết hung
dữ từ khi lọt lòng mẹ? Tại sao có hạng thần đồng thông
suốt nhiều thứ tiếng, có hạng thần đồng về môn toán
học, thần đồng về khoa hội họa, văn chương, âm nhạc
v.v...? Tại sao có những trẻ em sanh ra đã mù, điếc, câm,
ngọng hoặc kỳ hình dị thể? Tại sao có những trẻ em vừa
mở mắt chào đời đã được hưởng mọi phước lành, và
có em lại bị xem như một tội khổ?
Có chăng những
nguyên nhân nhất định, tạo nên hoàn cảnh chênh lệch trong
thế gian? Nếu không, những trạng thái bất đồng kể trên
hẳn là những sự kiện ngẫu nhiên sảy ra hoàn toàn do sự
may rủi.
Bậc trí tuệ
không thể tin nơi sự may rủi mù quáng và không chấp nhận
lối giải thích bằng sự ngẫu nhiên.
Trong thế gian
nầy không có điều chi xảy đến cho người nào mà không
do một hay nhiều nguyên nhân. Quả vui, quả khổ của những
người đang gặt hái đều trổ sanh do những nhân tốt hay
xấu đã tạo, hoặc trong kiếp hiện tại, hoặc trong những
kiếp quá khứ. Nhưng với lý trí phàm tục, với sự hiểu
biết tùy thuộc nơi giác quan của nhục thể, không dễ gì
thấu triệt những nguyên nhân vô hình và phức tạp của guồng
máy thế gian. Ta chỉ thấy hiển hiện trước mắt cái quả
đang trổ mà không thấy được tất cả các nguyên nhân vi
tế đã tạo điều kiện cho quả ấy phát sanh, vì nhân kia
không phải hoàn toàn được tạo nên trong kiếp hiện tại
mà có thể được rải rác gieo trồng từ vô lượng tiền
kiếp.
Có chăng những
bậc cao minh sáng suốt, tiếp nhận được bằng tuệ giác
những điều mà mắt thịt tai phàm không thể nghe thấy? Phật
Giáo xác nhận rằng có thể có.
Vài hệ thống
tín ngưỡng chủ trương rằng tất cả các sự khác biệt
trong đời đều do một nguyên nhân duy nhất, và nguyên nhân
ấy là do sự quyết định tối cao của Đấng Tạo Hóa. Đức
Phật không nhìn nhận có một Đấng Tạo Hóa toàn tri, toàn
năng, tạo ra càn khôn vũ trụ.
Các nhà bác học
hiện đại giải thích thế nào sự chênh lệch của nhân loại?
Căn cứ trên sự
cảm nhận của giác quan, nhà khoa học cho rằng tình trạng
bất đồng kia do những nguyên nhân vật lý và hóa học hổn
hợp, do truyền thống và do giới thân cận.
Nhà sinh lý học
trứ danh, ông Julien Huxley, có viết như sau:
"Mầm giống sơ
khởi cấu tạo con người là những đơn vị sinh lý gọi là
"gene" (gene là những cực vi tế bào trong tinh trùng do đó mầm
giống của cha truyền sang con gọi là định luật truyền thống).
Có những loại
"gene" tạo ra màu sắc cho cơ thể. Có loại chi phối bề cao,
sức nặng. Có loại ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, tuổi
thọ, và sức khỏe của con người. Cũng có loại "gene" ảnh
hưởng đến hình hài thể vóc. Phần lớn các đặc tánh di
truyền, nếu không phải là tất cả, đều do các đơn vị
sinh lý "gene" chi phối.
"Riêng về những
đặc tính tinh thần - phức tạp và tế nhị hơn - thật khó
mà chứng minh một cách cụ thể. Mặc dầu có những sự kiện
hiển nhiên có sự di truyền thuộc về tinh thần, nhưng không
có hiện tượng nào xác nhận rằng những đặc điểm tinh
thần từ ông bà cha mẹ truyền xuống cho con cháu phải theo
một thể thức nào giống như thể thức truyền thống về
xác thịt.
"Mọi truyền thống,
tinh thần và vật chất, bằng cách nầy hay cách khác, đều
tùy thuộc nơi tác động tương quan giữa các bẩm thụ "gene"
mà mỗi người mang trong mình từ lúc mới được thọ thai."
Ta phải nhìn nhận
rằng tất cả các hiện tượng lý-hóa mà nhà khoa học hiện
đại nêu lên đã giải thích một phần vấn đề. Tuy nhiên
các hiện tượng lý-hóa ấy không thể là nguyên nhân duy nhất
quyết định sự khác biệt tế nhị giữa những cá nhân.
Nếu thuyết truyền thống hoàn toàn là đúng, nếu con cái
nhất định phải giống cha mẹ, thì ta phải giải thích thế
nào trường hợp hai bé sanh đôi, thụ hưởng một thứ sanh
khí, một thứ "gene", được nuôi dưỡng in như nhau, tại sao
bẩm tánh của mỗi em lại khác? Trí tuệ và tánh nết lại
càng khác biệt.
Truyền thống
không đủ để giải thích chỗ âm u sâu rộng của vấn đề
chênh lệch trong đời. Đúng ra, thuyết nầy giải thích những
chỗ giống nhau nhiều hơn là chứng minh những điểm dị biệt.
Hạt "gene" cực kỳ vi tế - lối một phần ba chục triệu
của một phân Anh (1/30.000.000 inch) - chỉ giải thích được
một phần vấn đề, phần vật chất. Đối với sự chênh
lệch tinh thần, trí tuệ đạo đức, vô cùng phức tạp và
tế nhị hơn, chúng ta vẫn còn cần nhiều tia sáng khác. Truyền
thống không thể giải thích tại sao có những đứa con hung
dữ, sát nhân, trong một gia đình có tiếng là lương thiện,
và trái lại, có những trẻ con hiền từ, sanh trưởng trong
một gia đình hung ác. Thuyết truyền thống cũng không thể
giải thích do đâu có những thần đồng, những bậc vĩ nhân,
những bậc Đại Giáo Chủ v.v...
Luận về thuyết
truyền thống, Tiến sĩ Th. Pascal viết như sau trong quyển "Reincarnation":
"Quay về vai trò
của bẩm thụ "gene" trong vấn đề truyền thống, chúng ta
lập lại rằng bẩm thụ vật lý"gene" tự nó giải thích phần
vật chất của con người. Về khả năng trí thức và đạo
hạnh, bẩm thụ "gene" không rọi được tia sáng nào. Nếu
bẩm thụ "gene" cấu tạo được trọn vẹn con người, ta sẽ
tìm thấy trong mọi người tất cả bẩm tánh của cha mẹ
và không khi nào có những tánh khác.
"Như vậy sẽ
không có những người con sát nhân trong gia đình lương thiện
và cũng không có những bậc hiền nhân sanh trưởng trong gia
đình hung ác. Trong đời sống hằng ngày ta có thể gặp hai
đứa trẻ sinh đôi, cùng cha, cùng mẹ, cùng thừa hưởng một
bẩm thụ của cha mẹ, cùng được sanh ra trong những điều
kiện như nhau, cùng trưởng thành trong những điều kiện như
nhau, cùng trưởng thành trong một giới thân cận, thân hình,
mày mặt thật giống nhau, những một đứa thì hiền lương,
còn một đứa thì hung ác tàn bạo. Ngoài ra, số trẻ thần
đồng cũng khá nhiều và đủ làm bối rối các học giả
chủ trương thuyết truyền thống. Nếu đi ngược dòng thời
gian, phăng mãi lên trong gia phả các vị thần đồng, ta có
thể tìm được chăng những vị tổ tiên cũng thần đồng
như vậy? Vậy, không phải tất cả bẩm tánh và trí tuệ
của con người đều do nơi cha mẹ, ông bà, cũng không truyền
lại hết cho con. Bằng chứng là trong hàng con cháu của Mozart,
Beethoven và Dantes không có một thần đồng hay một vĩ nhân
nào, và trong phạm vi của các nhà duy-vật-học, chưa có gì
chứng minh được thuyết truyền thống một cách thiết thực.
"Về mặt thể
xác, không phải tất cả đặc điểm vật lý của cha mẹ
đều được truyền hết cho con, trí tuệ và tính nết mỗi
người con một khác [2] và nhiều gia đình lương thiện lấy
làm đau khổ mà sanh ra những đứa con ngỗ nghịch bất lương."
Phật Giáo cũng
nhìn nhận có phần ảnh hưởng của sự truyền thống và
của giới thân cận, nhưng cho rằng không đủ. Phật Giáo
thêm vào đấy định luật Nghiệp Báo (Kamma), tức là sự
tổng hợp các hành động khác trong quá khứ và hiện tại.
Chính chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm về những hành
động của chúng ta trong quá khứ và gặt hái hoàn cảnh an
vui hay đau khổ trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đàng cho
ta. Cũng chính ta tạo địa ngục cho ta. Ta là người xây dựng
tương lai của ta. Chính ta tạo cái mà người thế gian gọi
là Định Mệnh.
Nguyên Nhân
của Sự Chênh Lệch
Thuở Đức Phật
còn tại tiền, có chàng thanh niên tên Sudha, thắc mắc trước
trạng huống bất đồng giữa loài người, muốn tìm chân
lý, đến gần Ngài và bạch rằng:
"Bạch Đức Thế
Tôn, vì lý do nào và nguyên nhân nào trong đời có người
yểu (appayuka) và có người thọ (dighayuka), người bệnh hoạn
(bavhabadha) và người khoẻ mạnh (appabadha), người xấu xa
(dubbanna) và người đẹp đẽ (vannavanta), có hạng người
làm gì cũng không ai làm theo, nói chi cũng không ai nghe (appesakka)
và hạng người có thế lực, làm gì cũng có người theo,
nói chi cũng có người nghe (mahesakka), có người nghèo khổ
(appabhopga) và người giàu sang (mahabhoga), có người sanh trưởng
trong gia đình bần tiện (nicakulina) và có người dòng dõi
cao sang (uncakulina), có người dốt (duppanna) và có người trí
tuệ (pannavanta)?
Đức Phật trả
lời vắn tắt như thế nầy:
"Tất cả chúng
sanh đều mang theo cái Nghiệp (Kamma) của chính mình như một
di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ
nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi
khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh. [3]"
Rồi Đức Phật
giải thích cho Subha nghe từng trường hợp:
"Nếu người kia
trọn đời chỉ biết sát sanh, người thợ săn chẳng hạn,
bàn tay luôn luôn đẩm máu, hằng ngày sống trong sự giết
chóc và gây thương tích không chút xót thương. Do tính hiếu
sát ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, người ấy sẽ là
một người có mạng "yểu".
"Nếu người kia
luôn luôn thận trọng, không hề xác phạm đến tính mạng
của ai, sống xa gươm đao, giáo mác và các loại khí giới,
lấy lòng tứ ái đối với tất cả chúng sanh.Do sự không
sát sanh (Tâm Từ) ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, người
ấy sẽ trường " thọ".
"Nếu người kia
độc ác, luôn luôn tìm cách hại người, luôn luôn dùng đấm
đá và gươm đao đối sử với mọi người. Do nết hung dữ,
nếu tái sanh trong cảnh người, người ấy sẽ ươn yếu bệnh
hoạn.
"Nếu người kia
không bao giờ làm tổn thương ai khác. Do đức tánh hiền lương
nhu hòa, nếu tái sanh trong cảnh người, người ấy sẽ được
mạnh khỏe.
"Nếu người kia
thô lỗ, cộc cằn, luôn luôn giận dữ, chưởi mắng, nguyền
rủa kẻ khác.Do hậu quả của sự thô lỗ, cộc cằn ấy,
nếu tái sanh trong cảnh người, người ấy sẽ xấu.
"Nếu người kia
thanh tao nhã nhặn, dầu ai có chưởi mắng thậm tệ cũng không
hề oán giận và tìm cách trả thù. Do hậu quả của phong
thái thanh nhã ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, người
ấy sẽ đẹp đẽ.
"Nếu người kia
có tánh đố kỵ, thèm thuồng, ham muốn lợi danh của kẻ
khác, không biết tôn kính người đáng kính, luôn luôn chứa
chấp lòng ganh tỵ. Do hậu quả của tính tật đố ganh ấy,
nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ là người có ảnh hưởng,
nói gì không ai nghe, làm gì không ai theo.
"Nếu người kia
không có tánh đố kỵ, không thèm ham muốn lợi danh của người
khác, biết tôn trọng người đáng kính, không chứa chấp
lòng ganh tỵ. Do ảnh hưởng của tâm không ganh tỵ ấy, nếu
tái sanh trong cảnh người, sẽ là người có thế lực, nói
gì cũng có người nghe, làm gì cũng có người theo.
"Nếu người kia
không bao giờ biết bố thí vật gì. Do tánh keo kiết, bám
níu vào tài sản sự nghiệp của mình, nếu tái sanh trong cảnh
người, sẽ là người nghèo nàn thiếu thốn.
"Nếu người kia
giàu lòng quảng đại, tánh ưa bố thí. Do lòng quảng đại
rộng rãi ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ là người
giàu có dư dã.
"Nếu người kia
không biết phục thiện, tánh ưa kiêu hãnh, không tôn trọng
người đáng kính. Do tánh ngạo mạn và vô lễ ấy, nếu tái
sanh trong cảnh người, sẽ là người đê tiện thấp hèn.
"Nếu người kia
biết phục thiện, tánh không kiêu hãnh, biết tôn trọng người
đáng kính. Do đức tính biết phục thiện và có lễ độ
ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ là người sang trọng
quyền quý.
"Nếu người kia
không chịu gần người có tài đức để học hỏi điều
hay lẽ phải và phân biệt chánh tà. Do sự kém học ấy, nếu
tái sanh trong cảnh người, sẽ là người dốt.
"Nếu người kia
cố công tìm đến người có tài đức để học hỏi. Do sự
học hỏi chánh đáng ấy, nếu tái sanh trong cảnh người,
sẽ là người thông minh trí tuệ." [4]
Trên đường tái
sanh luân hồi, con người chịu ảnh hưởng của nghiệp quá
khứ nhiều hơn truyền thống.
Như trường hợp
của Đức Phật. Ngài đã thọ sanh nhờ tinh trùng, minh châu
và bẩm thụ "gene" của cha mẹ cũng như mọi chúng sanh. Nhưng
về mặt thể chất cũng như về phương diện tinh thần, trong
quý tốc, từ tổ tiên mấy đời xuống đến Ngài, không ai
có thể sánh với Ngài. Đức Phật đã có lần dạy rằng
Ngài không thuộc dòng dõi vua chúa mà thuộc dòng của chư
Phật, chắc chắn Đức Phật là bậc siêu nhiên. Ngài sanh
ra với cái nghiệp phi thường mà chính Ngài đã tạo nên từ
vô lượng kiếp.
Theo kinh Lakkhana
Sutta [5], Đức Phật sanh ra với tướng mạo khác thường -
32 đặc điểm phi thường - là do bao nhiêu công đức cao dày
mà ngài đã tạo ra trong vô lượng kiếp quá khứ. Kinh Lakkhana
Sutta cũng giải thích rành mạch mỗi tướng tốt của Đức
Phật, tướng nào phát sanh do nhân nào.
Trường hợp hy
hữu của Đức Phật chứng tỏ rằng năng lực của Nghiệp
chẳng những chi phối cơ thể mà còn vượt lên, làm mất
phần hiệu năng của tinh trùng, minh châu và bẩm thụ "gene"
của cha mẹ. Vì thế Ngài dạy rằng :
"Ta là kẻ thừa
hưởng những hành vi tạo tác của ta như một di sản từ
quá khứ truyền lại."
Đề cập đến
sự khác biệt giữa chúng sanh, sách Atthasalini ghi rằng:
"Do sự khác biệt
giữa cái nghiệp mỗi chúng sanh nên có trạng thái chênh lệch
trong sự tái sanh. Người sanh ra sang cả, kẻ thì đê hèn.
Người sanh ra trong sự khinh khi nguyền rủa, kẻ thì được
tôn trọng kính vì. Người được hạnh phúc an vui từ lúc
lọt lòng mẹ, kẻ lại khổ sở khốn cùng.
"Do sự khác biệt
giữa cái nghiệp mỗi chúng sanh nên có sự khác nhau về hình
dung, sắc diện: người thì đẹp đễ, kẻ lại xấu xa, người
cao, người thấp, kẻ thì tuấn tú phương phi, người thì
kỳ hình dị tướng.
"Do sự khác biệt
giữa cái nghiệp mỗi chúng sanh nên có trạng thái chênh lệch
trong xã hội như được, thua, danh thơm, tiếng xấu, được
ca tụng hay bị khiển trách, hạnh phúc hay đau khổ."
"Do nghiệp, thế
gian luân chuyển.
Do nghiệp, chúng
sanh tồn tại.
Và cũng do nghiệp,
mà chúng sanh vướng víu.
Liên kết với
nhau như bánh xe,
cấu hợp, dính
liền và quây tròn quanh cái trục.
"Do nghiệp, chúng
sanh được vinh hạnh tôn sùng.
Do nghiệp, chúng
sanh chịu cảnh nô lệ tôi đòi,
Bị nạn độc
tài đàn áp và đi đến chỗ bại vong .
Đã biết rằng
nghiệp sanh quả
Tại sao vẫn
tin rằng:
Trong đời nầy
không có nghiệp báo?" [6]
Tóm tắt, theo
Phật Giáo, những sự chênh lệch về tinh thần, đạo đức,
trí tuệ và bẩm tánh, một phần lớn đều tùy thuộc hành
động và khuynh hướng của chúng ta trong quá khứ và trong
hiện tại, tức là nghiệp.
Không Phải
Tất Cả Đều Do Nghiệp
Mặc dầu chủ
trương rằng nguyên nhân chánh tạo nên hoàn cảnh chênh lệch
trong đời sống là sự khác biệt giữa cái Nghiệp mỗi chúng
sanh, Phật Giáo không quả quyết rằng tất cả đều do nơi
Nghiệp. Nói cách khác, Nghiệp không phải là nguyên nhân duy
nhất tạo nên những khác biệt, những sự chênh lệch giữa
chúng sanh. Định luật Nghiệp Báo tuy quan trọng, chỉ là một
trong 24 nguyên nhân (Paccaya) [7] trong đời sống được mô tả
trong triết hoặc Phật Giáo. Để điều chỉnh quan niệm sai
lầm cho rằng:"Những quả lành, dữ, hay không-lành, không-dữ,
tất cả đều phát sanh do những hành động [8] (nghiệp đã
tạo ra) trong quá khứ (Pubbekatehetu)", Đức Phật dạy:
"Nếu luận như
vậy và quả quyết rằng do những hành động trong quá khứ
mà con người trở thành sát nhân, trộm cướp, dâm loàn, láo
xược, thô lỗ, nhảm nhí, tham lam, xảo quyệt, hư hèn, thì
ta có lý do để ỷ lại, dựa trên quá khứ mà không muốn
thực hiện, không cố gắng thực hiện,và cũng không cần
thiết phải thực hiện, hay không thực hiện, một hành động,
dầu hành động ấy có đáng thực hiện hay không. [9]"
Đoạn kinh quan
trọng trên đây đính chánh một quan điểm sai lầm chủ trương
rằng tất cả những xảy ra trong lãnh vực tinh thần cũng
như vật chất, đều do tiền nghiệp mà phát sanh.
Nếu kiếp sống
hiện tại tuyệt đối do hành động quá khứ chi phối hay
hoàn toàn do tiền nghiệp chủ động thì định luật Nghiệp
Báo chẳng có gì khác hơn là Thuyết Định Mệnh hay Tiền
Định. Không ai còn tự do để cải thiện đời sống mình,
trong hiện tại hay trong tương lai,và tự do ý trí chỉ là
một điều phi lý. Đời sống trở nên hoàn toàn tự động
và con người không mấy khác biệt với một cái máy.
Tin rằng chúng
ta được sanh ra do một đấng Tạo Hóa Toàn Năng, toàn quyền
định đọat số phận và sắp đặt trước định mạng mà,
dầu muốn dầu không, ta không thể nào thay đổi được, hoặc
tin rằng cái Nghiệp tạo ra số phận và định đoạt đời
sống của chúng ta thì có gì khác nhau? Có khác chăng chỉ
ở hai danh từ.
Thuyết định
mạng như vậy không phải là định luật Nghiệp Báo trong
Phật Giáo.
Năm Niyama (Định
Luật)
Theo Phật Giáo
có năm định luật, hay tiến trình (Niyama) [10] tác động trong
lĩnh vực vật chất và tinh thần. Đó là :
1. Utu Niyama,
là định luật vật lý có liên quan đến tiến trình của
những sự vật vô cơ như hiện tượng thời tiết, mưa, gió,
nhiệt, hàn v.v... bốn mùa tám tiết và đặc tánh của mỗi
mùa như hạ thì nóng, đông thì lạnh cũng nằm trong định
luật nầy.
2. Bija Niyama,
là định luật vật lý có liên quan đến tiến trình của
những sự vật hữu cơ như cây cỏ. Do định luật nầy thì
mầm nào sanh giống đó. Cây lúa thì do bột lúa, cây cam thì
do hột cam, vị ngọt do đường, mía, mật ong mà ra v.v... Lý
thuyết khoa học về tế bào và bẩm thụ gene trong việc thọ
thai cũng do định luật nầy chi phối. Sự giống nhau về phương
diện vật lý của hai trẻ sanh đôi cũng vậy.
3. Kamma Niyama,
là định luật nhân quả hay là sự tiến triển từ hành động,
thiện hoặc ác, đến quả, lành hay dữ. Nhân gieo thì quả
trổ. Nhân lành đem lại quả tốt. Nhân ác đem lại quả xấu.
Đó là định luật thiên nhiên, quả phải trổ sanh do nhân
như vậy, chớ không phải là hình thức thưởng hay phạt.
Tiến trình từ nhân đến quả cũng tự nhiên và cần thiết
như sự xoay chuyển của mặt trăng quanh mặt trời. Đó là
nguyên tắc nhân quả tương xứng của định luật Nghiệp
Báo.
Nguyên tắc của
luật nhân quả là quả trổ liên tục. Một nhà bác học tìm
tòi, học hỏi, thâu thập được nhiều kiến thức và kinh
nghiệm trong đời sống, đến lúc chết và tái sanh, tất cả
những kinh nghiệm và kiến thức ấy cũng được chuyển từ
kiếp nầy sang kiếp khác. Đối khi ta phảng phất nhớ lại
một vài kinh nghiệm và kiến thức trong kiếp trước, nhưng
lắm lúc ta quên hẳn, cũng như ta quên một vài kinh nghiệm
và kiến thức đã thu thập lúc còn nhỏ, trong cùng một kiếp
sống. Do nguyên tắc quả trổ liên tục có những trường
hợp thần đồng nhạc sĩ, họa sĩ, sử học gia, ngôn ngữ
gia v.v..., những em bé chưa học mà nói được nhiều thứ
tiếng.
4. Dhamma Niyama,
là định luật của vạn pháp, như những hiện tượng xảy
ra khi một vị Bồ Tát đản sanh trong kiếp chót, luật hấp
dẫn lực và những định luật khác trong vũ trụ v.v... đều
có thể liệt vào lịch trình tiến triển nầy.
5. Citta Niyama,
là định luật tâm lý, như tiến trình tâm, sự cấu tạo
phần tâm linh, những năng lục của tâm như thần giao cánh
cảm, hiểu biết quá khứ vị lai, huệ nhãn, huệ nhĩ, tha
tâm htông, và những hiện tượng tượng tương tợ mà khoa
học hiện đại chưa giải thích được.
Năm lịch trình
tiến triển tự nó là những định luật dựa theo đó ta có
thể giải thích tất cả những hiện tượng tâm lý cũng như
vật lý.
Nghiệp Báo chỉ
là một trong năm định luật ấy.
Cũng như tất
cả định luật trong vũ trụ, năm lịch trình tiến triển
kể trên không do một oai lực thiêng liêng huyền bí nào tạo
nên.
Định luật liên
quan đến sự tiến triển vật lý, loại vô cơ, loại hữu
cơ, định luật của vạn pháp (Dhamma Niyama) là những lịch
trình tiến triển ít nhiều tự động, mặc dầu trong một
giới hạn nào, trí thông minh của con người cũng có thể
kiểm soát được. Thí dụ như lửa nóng có đặc tánh làm
phỏng da, tiết lạnh đến mức độ nào thì làm đông nước,
nhưng cũng có người có thể đi trên lửa mà không bị phỏng
mà cũng có người khỏa thân ngồi trên tuyết lãnh sơn mà
không sao. Những người trồng hoa chuyên nghiệp có thể tạo
những cảnh vườn tụyêt đẹp với các loại hoa trái mùa,
người luyện phép du dà (yoga) có thể dùng oai lực thần bí
nâng cao một vật nặng.
Định luật thuộc
về phần tâm linh cũng như máy móc như các định luật khác,
nghĩa là cũng tác động một cánh hồn nhiên, tự động, vô
ý thức, không cần kích thích, không tùy thuộc nơi ý muốn
nào bên ngoài. Khi nhân đã gieo thì, do Nghiệp Báo, quả phải
trổ.
Công phu tu tập
trong Phật Giáo nhằm mục đích kiểm soát tâm, và sự kiểm
soát nầy có thể thực hiện được nhờ hiểu biết chân
chánh và tư tưởng trong sạch. Luật nhân quả tác động một
cách rất máy móc. Khi Nghiệp quá nặng thì dầu con người
có muốn cũng không thể sửa đổi hậu quả nghiêm khắc của
nó. Nhưng trong những trường hợp ấy cũng vậy, Chánh Kiến
là tác ý trong sạch có thể sửa chữa phần nào cái Nghiệp.
Trong một giới hạn nào Nghiệp lành có thể làm dịu bớt
quả dữ.
Định luật nhân
quả thật phức tạp. Chỉ có Đức Phật mới thấu hiểu
được cội nguồn của nó.
Mục tiêu tối
hậu của người Phật tử là tận diệt Nghiệp.
-ooOoo-
Chú thích:
[1] Sanskrit là
Karma.
[2] Đại tá Ingersol
viết như sau về văn hào trứ danh nước Anh, ông Shakespeare.
"Cả cha lẫn mẹ ông Shakespeare đều không biết đọc biết
viết. ông Shakespeare trưởng thành trong một làng bé nho giữa
những người dốt".
[3] Kammassaka
manava satta, Kammadayada, Kammayoni, Kammabandhu, Kammapatisarana, Kamma
satte vibhajati yadidam hinappanitataya'ti. (Majjhima Nikaya, Trung
A Hàm, bài kinh Cullakammavibhanga Sutta, số 135).
Xem lời giải
đáp của Đại đức Nagasena cho Vua Milinda về vấn đề nầy.
(Warren, Buddhism in Translation, trang 214).
[4] Về sự báo
ứng của nghiệp, khi đề cập đến mối tương đồng giữa
nhân và quả (nhân nào tạo quả ấy), Tiến sĩ Crimm có viết
như sau:
"Trong tất cả
những trường hợp tương tợ, ta có thể dẫn chứng dễ dàng
rằng đinh luật tương đồng có tác dụng điều chỉnh và
chuyển hướng cho thức tái sanh phối hợp với một tế bào
mới. Như người kém lòng từ bi, giết chóc người và vật
một cách dễ dàng, đã ôm ấp dưỡng nuôi sâu kín trong lòng
bản tánh sát sanh.
"Người ấy sẽ
không ngần ngại và lắm khi cũng lấy lòng thỏa thích mà
giết một sanh mạng, tức là cắt đứt một sự sống của
một chúng sanh, hay nói cách khác, là thâu ngắn đời sống
của một chúng sanh. Tức nhiên mầm giống có khuynh hướng
sát sanh, mầm giống có bẩm tánh thâu ngắn đời sống, thấm
nhuần trong người ấy và đến lúc chết, do định luật tương
đồng, bị hấp dẫn đến một cảnh giới cũng có những
khuynh hướng tương tợ, và trong cảnh giới ấy đương nhiên
đời sống bị thu ngắn lại. Cùng một thế ấy, người có
tâm ác, vui thích trong việc hành hạ chúng sanh và làm cho kẻ
khác đau đớn tật nguyền cũng nuôi sâu kín trong lòng mầm
giống hung ác ấy. Khi chết - do định luật tương đồng,
cái gì giống nhau có sức hấp dẫn lẫn nhau, xấu hút xấu,
tốt hút tốt - tâm ác sẽ bị thu hút đến những cảnh giới
cũng hung ác như vậy, với năng lực tạo nên một thân thể
xấu xa dị tướng.
"Một người có
tánh nóng giận hằng kích thích những mầm giống có tính
chất làm cho sắc diện trở nên xấu xa. Vì đổi sắc diện
là đặc tánh của sự giận dữ.
"Người nào có
tánh ganh tỵ, keo kiệt, kiêu hãnh, hằng tích trữ những bẩm
chất thù hận, ác cảm, khinh rẻ kẻ khác, những khuynh hướng
khai triển mầm giống tương xứng với cảnh nghèo khổ v.v...
"Đó dĩ nhiên,
chỉ là hậu quả của nghiệp đã tạo trong quá khứ, có thể
thay đổi tánh nam hay tánh nữ, như kinh Digha Nikaya, Trường
A Hàm, số 21 có thuật rằng Gopiksa, vì bà rất ghét tâm tánh
đàn bà và do đó tự tạo cho mình một bẩm tánh đàn ông".
The Doctrine of the Buddha, trang 191.
[5] Digha Nikaya, Trường
A Hàm, iii, trang 112, số 30.
[6] The Expositor,
trang 65, chương 87.
[7] Xem Compendium
of Philosophy, trang 191, Manual of Abhidhamma, tác giả Narada Thera.
[8] Hành động
bằng thân, khẩu hay ý.
[9] Angutatara Nikaya,
Tăng Nhứt A Hàm, trang 173; Gradual Sayings; Phần i, trang 157.
[10] Xem Abhidhammavatara,
trang 54. Bà Rhys Davids, Buddhism, trang 119.
2.
Nghiệp là gì?
"Tác ý là Nghiệp"
-- Tăng Nhứt A Hàm
Nghiệp (Kamma)
Kamma,
Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc
làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác ý (cetana).
Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do "ý muốn
làm" tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác
ý (cetana). Tất cả những hánh động có tác ý, dầu biểu
hiện bằng thân, khẩu, hay ý , đều tạo Nghiệp. Tất cả
những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo
Nghiệp. Những hành động không có chủ tâm, mặc dầu đã
biểu hiện bằng lời nói hay việc làm, đều không tạo Nghiệp.
Đức Phật dạy:"Nầy
hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác ý là Nghiệp.
Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý
[1]".
Ngoại trừ những
hành động của chư Phật và chư vị A La Hán, mỗi hành động
có tác ý đều gọi là Nghiệp. Mặc dầu chư Phật và chư
vị A La Hán vẫn còn chịu ảnh hưởng của những nhân đã
gieo trong quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới nữa
vì các Ngài đã thoát ra ngoài cái lành và cái dữ, đã tận
diệt vô minh và ái dục là hai nguồn gốc của Nghiệp. Ratana
Sutta (Tam Bảo Kinh) ghi rằng: "Mầm giống (Khina-bija) đã bị
tận diệt, những ham muốn vị kỹ không còn khởi sanh."
Như vậy không
có nghĩa là chư Phật và chư vị A La Hán sống một cách thụ
động. Các Ngài luôn luôn tích cực hoạt động để tạo
an lành hạnh phúc cho chúng sanh. Hành động của các ngài,
thường được coi là thiện, không có năng lực tạo Nghiệp.
Am hiểu tận tường thực tướng của vạn pháp, các Ngài
phá tan mọi thằng thúc (kiết sử) trói buộc chúng sanh trong
vòng luân hồi, những chuỗi dài nhân và quả.
Một vài hệ thống
tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi chênh lệch trong xã
hội đều do Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp, lại
chủ trương rằng mọi hành động, có tác ý hay không, đều
tạo Nghiệp.
Theo chủ trương
ấy, một người giết cha, giết mẹ dầu cố tâm hay vô ý,
đều phạm trọng tội như nhau. Cũng như đối với lửa, dầu
vô tình hay cố ý thọc tay vào lửa thì phải bị phỏng như
nhau, không hơn không kém.
Lập luận như
vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một định thức phi lý. Đứa
bé trong bào thai, vô tình làm cho mẹ đau đớn, hay bà mẹ
vô ý làm đau đứa con trong lòng mình, hẳn cũng tạo Nghiệp
bất thiện? Vã lại, nêu ra một sự kiện để giải thích
một sự kiện tương tợ, như trường hợp của người thọc
tay vào lửa và một người hành động ác là một luận cứ
không thể đứng vững. Thí dụ,theo luận điệu trên, nếu
ông A sai ông B đi giết người, thì chính ông B phạm tội
sát nhân mà ông A thì không sao cả, vì chỉ có ông B là người
"thọc tay vào lửa". Hơn nữa, cũng theo luận điệu trên, một
hành động ác không có tác ý có thể còn tai hại hơn một
hành động ác có tác ý. Nói cách khác, cố ý làm ác bị
hại ít hơn là vô tình, vì theo ví dụ người thọc tay vào
lửa, biết rằng lửa nóng người cố tâm tất phải dè dặt
hơn nên ít bị nóng. Người vô tình, vì không định ý trước,
không kịp ngăn ngừa, ắt bị phỏng nhiều hơn. [2]
Trong sự báo ứng
của Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả
những việc làm,lời nói và tư tưởng đều do tâm ảnh hưởng.
"Khi không điều phục được tâm tức nhiên không thể kềm
chế được việc làm, lời nói, và tư tưởng. Điều phục
tâm tức kềm chế thân, khẩu, ý." [3]
"Chính tâm dẫn
dắt thế gian, chính tâm lôi kéo thế gian; và tất cả mọi
người đều làm chủ cái tâm."
Kinh Pháp cú có
câu:
"Tâm dẫn đầu
mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu
nói hay làm với tâm ác thì do đó, đau khổ sẽ theo liền
với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe." (câu 2)
Ta có thể thắc
mắc vì sao một vật vô hình như tâm lại có thể gây ra những
xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra không có gì khó
hiểu. Chính các bộ máy cực kỳ hùng mạnh và có khả năng
làm đảo lộn thế gian hiện đại chỉ là sản phẩm của
những bộ óc phong phú.
Cái tâm vô hình
tạo nên tất cả những tác động báo ứng của Nghiệp.
Nghiệp không nhất
thiết chỉ là những hành động trong quá khứ, mà bao trùm
quá khứ và hiện tại. Như vậy, nói một cách, chúng ta như
thế nào trong hiện tại là tùy thuộc trong quá khứ chúng
ta đã hành động như thế nào, và trong tương lai chúng ta
sẽ hành động như thế nào tùy thuộc nơi hành động của
chúng ta như thế nào trong hiện tại. Hiểu một cách khác
nữa, ta phải thêm rằng trong hiện tại chúng ta như thế nào
không hoàn toàn bởi vì trong quá khứ ta đã như thế và trong
tương lai chúng ta sẽ như thế nào cũng không hoàn toàn tùy
thuộc nơi chúng ta như thế nào trong hiện tại.
Hiện tại chắc
chắn là con đẻ của quá khứ, đồng thời cũng là mẹ sanh
của tương lai.
Nhưng trong sự
báo ứng vô cùng phức tạp của Nghiệp, ta không thể nhìn
vào hiện tại mà quả quyết quá khứ và tương lai. Thí dụ
như tên cướp sát nhân ngày hôm nay có thể là một người
hiền như bậc thánh nhân ngày mai. Một người hiền lương
đạo đức ngày hôm qua có thể hôm nay trở nên hư hèn hung
dữ.
Lời mẹ dạy
con: "Nếu con ngoan sẽ được mẹ cưng và con sẽ vui vẽ. Nếu
con không ngoan mẹ sẽ không cưng và con sẽ buồn" là giáo
lý Nghiệp Báo.
Cái gì giống
nhau thu hút lẫn nhau. Tốt đem lại tốt, xấu đem lại xấu.
Đó là định luật Nhân Quả.
Tót tắt, Nghiệp
Báo là định luật Nhân Quả trong lĩnh vực luân lý hay như
người phương Tây thường nói, là "ảnh hưởng của hành
động".
Nghiệp và Quả
(Kamma và Vipaka)
Nghiệp là hành
động. Quả là phản ứng của hành động ấy. Nói cách khác,
Quả (Vipaka) là hậu quả của hành động. Cũng như mỗi vật
đều dính liền với cái bóng của nó, mỗi hành động có
tác ý (cetana) đều dính liền với quả. Nghiệp có thể ví
như một cái hột có khả năng trở thành cây. Quả như trái
cây. Lá, hoa các thứ là những sự khác biệt bên ngoài như
sức khỏe, sự thịnh vượng, sự giàu sang, sự bệnh hoạn
và những điều bất hạnh trong đời sống vật chất mà không
ai tránh khỏi.
Nói một cách
chính xác, Nghiệp và Quả đều tùy thuộc nơi Tâm. Hành động
(Nghiệp) và hậu quả của hành động ấy (Quả) đều do Tâm
tạo nên. Vì Nghiệp có thể tốt hay xấu, Quả có thể lành
hay dữ.
Nếu hành động
thuộc về tâm thì quả cũng thuộc về tâm. Lắm khi ta nghe
an vui hạnh phúc, khoan khoái trong lòng, hay buồn bực đau khổ
v.v... đó là đang thọ Quả thuộc về tâm. Quả trổ sanh tốt
hay xấu tùy theo Nhân gieo tốt hay xấu.
Trong phạm vi vật
chất, Anisamsa là những phước lành như giàu sang, khỏe mạnh,
tuổi thọ v.v..., Adinava là những tôi khổ như bần cùng, xấu
xí, bệnh tật, yểu tử v.v... Nghiệp là những tâm thiện
và bất thiện tại thế (Kusala akusala lokiya citta) và Quả (Vipaka)
là những loại tâm Quả tại thế (lokiya vipaka citta).
Theo Vi Diệu Pháp
[4], Nghiệp gồm 12 loại tâm bất thiện và 8 loại tâm thiện
thuộc Dục Giới (kamavacara), 5 loại tâm thiện thuộc Sắc
Giới (rupavacara) và 4 loại tâm thiện thuộc Vô Sắc Giới
(arupavacara). Tổng cộng là 29 tâm tại thế (lokiya citta).
Ngoài ra, 8 loại
tâm siêu thế (lokuttara citta) không thể coi là Nghiệp vì các
loại tâm ấy có khuynh hướng diệt Nghiệp.
Động cơ của
tất cả các loại tâm tại thế là Tác ý (cetana), trái lại,
yếu tố chánh yếu trong các loại tâm siêu thế là Trí tuệ
(panna).
9 loại tâm thiện
thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới (5 thiện Sắc Giới và 4
thiện Vô Sắc Giới ) hoàn toàn thuộc về tâm, không biểu
hiện dưới hình thức việc làm và lời nói như 20 loại tâm
thuộc Dục Giới.
Mọi hành động
đều do tâm. Chính tâm biểu hiện bằng thân, khẩu hay ý.
Tất cả 29 loại
tâm kể trên (12+8+5+4) đều được gọi là Nghiệp vì các
loại tâm ấy có khả năng tạo Quả một cách tự động,
không cần trợ lực của yếu tố nào từ bên ngoài.
Vui, buồn, hạnh
phúc hay đau khổ, hậu quả dĩ nhiên phải có của các loại
tâm thiện hay bất thiện, gọi là tâm Quả thuộc Dục Giới.
Năm loại tâm Quả thuộc Sắc Giới và 4 loại tâm Quả thuộc
Vô Sắc Giới đều là hậu quả đương nhiên của Nghiệp.
Đã gieo nhân tức
phải gặt Quả, lúc nầy, nơi nầy, hay lúc khác, nơi khác,
ở kiếp hiện tại hay trong kiếp vị lai. Ngày hôm nay ta gặt
hái những gì chính ta đã gieo trong hiện tại hay trong quá
khứ.
Trong bộ Samyutta
Nikaya, Tạp A Hàm, có những lời dạy như sau:
"Đã gieo giống
nào,
Sẽ gặt quả
nấy.
Hành thiện sẽ
thâu gặt quả lành.
Hành ác sẽ thâu
gặt quả dữ.
Hãy gieo giống
tốt,
Ta sẽ hưởng
quả lành. [5]"
Nghiệp Báo tự nó
là một định luật có hiệu lực trong một phạm vi riêng
biệt, không chịu ảnh hưởng của tha lực nào từ bên ngoài
đưa vào.
Khả năng trổ
Quả đã dính liền với Nghiệp. Trong hành động (bằng thân,
khẩu, ý) đã có tiềm tàng năng lực tạo Quả, cũng như trong
hột đã có tiềm tàng tạo nên cây và sanh ra trái. Nhân sanh
Quả, Quả giải thích Nhân. Hột sanh trái, thấy trái ta biết
hột như thế nào. Sự liên quan giữa hột và trái cũng như
giữa Nghiệp và Quả. "Trong Nhân đã có sẳn mầm giống của
Quả."
Hạnh phúc và
đau khổ, thường xảy đến cho nhân loại, là Quả phải có,
trổ sanh do những nhân nào. Phật Giáo không chủ trương có
sự thưởng phạt do một oai lực siêu phàm toàn tri, toàn năng,
tối thượng ban bố cho những linh hồn đã làm lành hay gây
dữ. Thuyết Duy Thần cố giải thích mọi việc bằng kiếp
sống trường cửu trong tương lai mà không biết đến quá
khứ. Thuyết Duy Thần tin rằng linh hồn của người chết
sẽ trãi qua một cuộc phán xét và xem những phước báu và
tội khổ trong đời hoàn toàn do ý muốn của một Tạo Hóa
Tối Thượng, ngự trên một cảnh trời nào đó, tạo ra càn
khôn vạn vật và trọn quyền định đoạt số phận của
nhân loại, vật do mình tạo ra.
Phật Giáo không
nhìn nhận có một linh hồn trường cửu, được tạo nên
một cách ngẩu nhiên và độc đoán. Phật Giáo tin có định
luật và công lý thiên nhiên, không phải một đấng Thượng
đế toàn năng hay một Đức Phật đại từ đại bi tạo nên.
Theo định luật và công lý thiên nhiên ấy thì mỗi hành động
đều gây nên một phản ứng tương xứng mà người đời
thường lầm tưởng là sự ban thưởng hay hình phạt.
Một vài người
dựa theo nhận thức riêng của mình cho rằng thuyết Nghiệp
Báo trong Phật Giáo là một loại nha phiến để thoa dịu và
ru ngủ người xấu số bằng luận điệu như sau:
"Bây giờ anh phải
chịu khó nghèo khổ vì đã tạo Nghiệp xấu trong quá khứ.
Anh kia được giàu sang vì anh ấy tạo Nghiệp tốt. Như vậy,
hãy cam tâm chịu lấy số phận nghèo đói của anh và cố
gắng tạo Nghiệp tốt trong hiện tại để được giàu sang
trong kiếp tới.
"Trong kiếp nầy
anh bị hà hiếp bóc lột vì đã tạo Nghiệp xấu trong quá
khứ. Hãy nhận lãnh số phận hẩm hiu ấy và nhẫn nại cam
tâm chịu khổ. Từ nay hãy ăn hiền ở lành, chắc rằng kiếp
sau anh sẽ được giàu sang hạnh phúc."
Đức Phật không
hề dạy như vậy. Thuyết Nghiệp Báo trong Phật Giáo cũng
không bao giờ chấp nhận một cuộc phán xử sau kiếp sống.
Đức Phật vị tha, từ bi vô lượng vô biên, truyền dạy
Nghiệp Báo không phải để bảo vệ người giàu sang và an
ủi người nghèo khổ bằng cánh hứa hẹn hạnh phúc huyền
ảo trong tương lai.
Theo lý Nghiệp
Báo, chúng ta không nhất định phải bị trói buộc trong hoàn
cảnh nào, vì Nghiệp Báo không phải là số mạng, cũng không
phải Tiền Định do một oai lực huyền bí nào đã định
đoạt cho ta một cách bất khả kháng. Chính hành động thiện
hay ác của ta gây phản ứng lành hay dữ. Do đó chúng ta hoàn
toàn tự do tạo ra những phản ứng mới để hòa dịu Nghiệp
lực. Chúng ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái
Nghiệp của chúng ta theo ý muốn. Chuyển đến mức độ nào
chỉ tùy nơi ta.
Như vậy chúng
sanh không bị bắt buộc phải gặt hái trọn vẹn những gì
đã gieo. Trong một tình trạng nào đó và trong một giới hạn
nào đó, với sự cố gắng chánh đáng, ta có thể sửa đổi
cái Nghiệp của ta.
Nguồn Gốc
của Nghiệp
Vô minh (avijja)
hay không hiểu biết thấu đáo thực tướng của sự vật
là nguyên nhân chính tạo ra Nghiệp. Trong Thập Nhị Nhân Duyên
(Paticca Samuppada) có câu:
"Tùy thuộc nơi
Vô Minh, Hành phát sanh" (avijja paccaya samkhara)."
Vì không am hiểu
chân tướng của vạn pháp nên mới có những hành động tạo
Nghiệp.
Ái dục (Tanha)
- đi liền với Vô Minh - là một nguyên nhân khác tạo duyên
sanh ra Nghiệp. Chính Vô Minh và Ái Dục là cội rễ của mọi
tội ác. Tất cả những hành động của hạng phàm nhân (puthujjana,
là những chúng sanh còn trong tam giới) mặc dầu bắt nguồn
từ ba căn trong sạch là bố thí (alobha, không tham), từ bi
(adosa, không sân) và trí tuệ (amoha, không si) vẫn còn tạo
Nghiệp, vì chưa tận diệt Vô Minh và Ái Dục. Trái lại, những
loại tâm siêu thế (maggacitta, đạo tâm) không tạo Nghiệp
vì bản chất của các loại tâm ấy có khuynh hướng tận
diệt Vô Minh và Ái Dục.
Người Tạo
Nghiệp
Ai tạo Nghiệp?
Ai gặt quả? "Nghiệp có phải là một sự tích trữ trong linh
hồn không?"
Để trả lời
câu hỏi tế nhị ấy, Đại Đức Buddhaghosa viết như sau trong
sách Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo):
"Không có người
tạo Nghiệp.
"Không có người
gặt quả,
"Chỉ có những
thành phần cầu tiến mãi mãi (chỉ có sự vận chuyển của
pháp hành).
"Đó là nhận
thức chân chánh. [6]"
Theo Phật Giáo, có
hai thực tế. Thực tế biểu hiện ra bề ngoài và thực tế
cùng tột. Thực tế bề ngoài là những chân lý mặc ước,
hay
Tục đế (sammuti sacca). Thực tế cùng tột là chân lý trừu
tượng, tuyệt đối, cùng tột, hay Chân đế (paramattha sacca).
Thí dụ như cái bàn, cái quạt, con người, con vật v.v... là
những thực tế biểu hiện ra ngoài mà ngũ quan ta có thể
cảm nhận. Bằng một cách mặc ước, chúng ta đồng ý chấp
nhận danh từ bàn, quạt, người, vật v.v... để chỉ những
vật ấy. Vậy bàn là thực tế bề ngoài, chân lý mặc ước,
tục đế.
Nhưng nếu phân
tách cái bàn, ta thấy rằng cái mà ta gọi là bàn chỉ là
sự kết hợp của những tế bào, và tế bào chỉ là sự
kết hợp của những năng lực và tánh chất. Vậy, phân tách
đến mức cùng tột, vật chất chỉ là sự cấu thành của
những năng lực và tánh chất. Năng lực và tánh chất ấy
là thực tế cùng tột, chân lý tuyệt đối, chân đế.
Khi nói chuyện
với mọi người, nhà bác học gọi nước là nước. Nhưng
trong phòng thí nghiệm, nhà bác học gọi nước là H2O. Nước
là danh từ mặc ước, chế định, phổ thông. H2O là danh từ
chuyên môn, là thực tế tuyệt đối.
Cùng một thế
ấy, trong những câu chuyện thông thường, ta dùng danh từ
mặc ước như đàn ông, đàn bà, chúng sanh v.v... Những cái
được gọi là hình sắc ấy, khi được phân tách tỉ mỉ
cho thấy rằng chỉ là những thành phần tâm-vật-lý luôn
luôn biến đổi, không thể tồn tại y hệt trong hai khoảnh
khắc kế tiếp.
Như vậy, Phật
Giáo không tin rằng có một thực thể đơn thuần như một
người hay một linh hồn vĩnh cửu, hành động ngoài sự hành
động, tri giác ngoài sự tri giác, hay ý thức một việc ngoài
ý thức. Nói cách khác, Phật Giáo chủ trương có sự hành
động mà không có người hành động, có sự tri giác mà không
có người tri giác, có thức mà không có người ý thức.
Vậy thì ai tạo
Nghiệp và ai gặt Quả?
Tác ý (cetana)
hay ý muốn, làm động cơ phát xuất hành động (bằng thân,
khẩu, ý), là người tạo người Nghiệp. Thọ (vedana), cảm
giác, là người gặt Quả. Ngoài hai tâm sở"tác ý" và "thọ",
không có người tạo Nghiệp cũng không có người gặt Quả.
Đại Đức Buddhaghosa
dạy rằng khi những thành phần vật chất phối hợp lại,
cấu thành cái gọi là cây, một ngày nào và ở một điểm
nào, và trổ ra trái, thì ta nói"cây sanh trái" hay "cây trổ
trái". Cùng dường thế ấy, năm uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) phối hợp lại, cấu thành cái gọi là trời hay người
và, một ngày nào, quả lành hay quả dữ thổ sanh thì ta nói
rằng vị trời hay người ấy có phước hay vô phước.
Về điểm nầy
Phật Giáo cũng đồng quan điểm với giáo sư William James khi
giáo sư bác bỏ luận cứ của Descartes và chủ trương rằng:
"Chính tư tưởng
là người tư tưởng. [7]"
Nghiệp ở đâu?
Một nhà phân
tách tâm linh như sau viết như sau:
"Nghiệp được
tích trữ bên trong phần tâm linh, nhưng thông thường chỉ
có một số ít người tìm ra và xâm nhập được vào thâm
cung bí hiểm của tâm linh ấy. Nghiệp là sự thâu nhận trọn
vẹn tất cả những kinh nghiệm đã trãi qua, những cảm giác
đã thọ, những ảnh hưởng đã thâm nhiễm của một cá nhân.
Tiềm thức không phải chỉ trung thực ghi nhận những kinh
nghiệm cá nhân mà còn giữ lại những cảm xúc và những
khuynh hướng sơ khởi và - mặc dầu hình như suy giảm lần
trong con người văn minh dưới lớp lễ nghi hình thức của
xã hội - vẫn còn tiềm lực mạnh mẽ có thể bộc phát một
cách bất ngờ với một năng lực hùng hậu không thể đóan
trước được."
Người Phật tử
cũng nhận định như vậy, nhưng với một ý niệm sửa đổi
căn bản khác biệt.
Phật Giáo chủ
trương rằng cái Nghiệp không được tàng trữ trong một nơi
nào gọi là tâm linh, bởi vì không có chi chứng minh rằng
có một nơi nào trong guồng máy phức tạp và luôn luôn biến
đổi con người có thể làm nơi chứa đựng như một kho tàng.
Tuy nhiên, mỗi
kinh nghiệm, mỗi cảm giác, mỗi ảnh hưởng đã ghi nhận,
mỗi đặc tính, phàm hay thánh, của một số cá nhân đều
được phát triển tùy sự biến đổi liên tục của những
hiện tượng tâm-vật-lý của cá nhân ấy như một dòng suối
luân lưu bất tận.
Tóm tắt, tất
cả nghiệp lực đều tùy thuộc nơi sự biến đổi của luồng
tâm lực (citta santati) và luôn luôn sẵn sàng phát hiện trong
muôn ngàn hiện tượng, mỗi khi có cơ hội.
Một hôm Vua Milinda
hỏi Đại Đức Nagasena:
-"Kính bạch Đại
Đức, Nghiệp được tích trữ ở đâu?"
- Tâu Đại vương,
ta không thể nói Nghiệp được tích trữ ở một nơi nào
trong cái tâm luôn luôn biến đổi, hay ở một nơi nào khác
trong thân thể con người. Nhưng tùy thuộc nơi danh và sắc,
Nghiệp khởi hiện trong một lúc thích ứng. Cũng như ta không
thể nói trái xoài được tích trữ ở nơi nào trong cây xoài
nhưng, tùy thuộc nơi cây xoài và khi đầy đủ cơ duyên, nó
sẽ trổ ra đúng lúc, đúng mùa. [8]"
Cũng như ta không
thể nói gió hay lửa nằm ở nơi nào nhất định, ta không
thể quả quyết Nghiệp được chứa đựng trong hay ngoài thân.
Nghiệp là một
năng lực cá biệt được chuyển từ kiếp nầy sang kiếp
khác. Nghiệp thủ một vai trò quan trọng trong việc cấu tạo
tâm tánh con người. Nghiệp giải thích những hiện tượng
kỳ diệu mà ta gọi là vĩ nhân, thiên tài, thần đồng v.v...
Một sự hiểu biết rành mạch về định luật Nghiệp Báo
là điều kiện chánh yếu khả dĩ tạo tình trạng an lành
hạnh phúc cho thế gian.
-ooOoo-
Chú thích:
[1] Anguttara Nikaya,
iii, 415; The Expositor phần I, trang 117; Atthasalini, trang 88.
[2[ Xem Poussin,
"The Way to Nirvara", trang 68.
[3] Atthasalini,
trang 63; The Expositor, phần I, trang 91.
[4] Xem Compendium
of Philosophy; Abhidhammattha Sangaha, Ch. 1; Manual of Abhidhamma, Ch.
1.
[5] Quyển 1, trang
227. Kindred Sayings, phần I, trang 293.
[6] Quyển II, trang
602. Xem Warren, Buddhism in Translation, trang 248. The Path of Purity,
chương iii, trang 728.
Kammasa karako
natthi - vipakassa ca vedako; Suddhadhamma pavattanti - evetam samma dassanam.
[7] Psychology, trang
216.
[8] Visuddhi Magga,
Thanh Tịnh Đạo, chương XVII.
-ooOoo-
Phần
II