Truyện
ngụ ngôn "Bốn con rắn"
Phạm
Kim Khánh
Phỏng viết
theo bài Pháp của ÐẠI ÐỨC NÀRADA MAHÀ THERA,
thuyết tại
Kỳ Viên Tự, Sài gòn, ngày 11-07-1964
... "Ðại Ðức
NÀRADA, Mahà Thera là một vị Tỳ Khưu trứ danh người Tích
Lan. Ngài là một vị cao tăng đã nắm vững chắc phần giáo
lý cao siêu nhà Phật. Thêm vào đó Ngài đã hấp thụ được
phần uyên thâm hoằng đại của nền văn hóa Tây Phương,
về triết học cũng như về khoa học tối tân hiện đại.
"Do cái thiên
tư hiếm có ấy Ngài đã giúp cho hàng học giả Âu Tây thấu
hiểu rõ ràng những điểm rất tế nhị trong Tam Tạng Pali
về vũ trụ quan và tâm linh quan. Cũng nhờ sở năng đặc biệt
đó mà Ngài trình bày dễ dàng và rành mạch, ai cũng hiểu
được, bao nhiêu tài liệu căn bản trong kinh sách Phật Giáo
mà đúng ra những ai không phải là nhà chuyên môn khó lòng
lãnh hội..."
Bác sĩ MIGOT
-ooOoo-
LỜI TỰA
Trong ba tháng kiết
hạ tại chùa Kỳ Viên, Chư Tăng Việt Nam và Ðại đức NÀRADA
Mahà Thera đã sống một nếp sống gương mẫu. Quý Ngài đã
tận dụng thì giờ quý báu vào công trình xây dựng đạo
pháp và tỏ ra rất xứng đáng với chú nguyện giải thoát
và nhiệm vụ lãnh đạo tinh thần của hàng Tăng Bảo.
Ngoài sự trau
dồi Giới - Ðịnh - Tuệ, các Ngài nỗ lực khảo cứu Tam
Tạng, giảng đạo, thuyết pháp, soạn thảo, trích dịch những
tài liệu Phật học và tích cực gia công đào tạo các thầy
Sadi gương mẫu để giao phó nhiệm vụ hoằng pháp trong tương
lai.
Chư vị Tỳ Khưu
cũng như Ðại đức NÀRADA Mahà Thera đã thực hiện tròn đủ
tôn chỉ tự độ, độ tha. Ban đêm tham thiền minh sát, ban
ngày vừa tiếp rước khách thập phương, vừa chia thì giờ
viết sách, sửa bản in, dạy kinh, giảng đạo và huấn luyện
các em Thanh Thiếu Niên Phật tử, các Ngài còn tổ chức những
công tác xã hội như giúp đỡ người nghèo nàn thiếu thốn,
tại chùa tại các trại dưỡng lão, các cô nhi viện v.v...
Các Ngài luôn luôn sẵn sàng đem lòng bác ái xoa dịu mọi
niềm đau khổ.
Chẳng biết lấy
chi đền đáp ân đức cao dầy của Chư Tăng và Ðại đức
NÀRADA Mahà Thera giới cư sĩ chúng tôi chung cùng ấn tống
quyển "Chuyện ngụ ngôn Bốn Con Rắn" trong dịp các Ngài ra
Hạ, mong tạo phước lành hồi hướng đến các Ngài và cầu
nguyện oai lực Tam Bảo hộ trì các Ngài dồi dào sức khỏe
để phụng sự Phật pháp và sớm thành đạt đạo quả Niết
Bàn.
Công phu tạo phần
pháp thí này do đạo hữu Phạm Kim Khánh đã lưu tâm ghi chép
các bài pháp của Ðại đức NÀRADA Mahà Thera cùng sưu tập
những tài liệu quý giá trong kinh sách, nhất là quyển VI DIỆU
PHÁP (Abhidhamma) và cố gắng mô tả phần nào những pháp vô
hình cấu tạo con người, mong giúp chư độc giả ý thức
tính cách vô thường của kiếp sống, hầu nông trang theo dõi
Ðức Phật trên đường tiến hóa đến nơi Vô Sanh Bất Diệt.
Âu cũng là một sự đóng góp hữu hiệu của một Phật tử
chân thành trong công trình hoằng dương Phật pháp. Dĩ nhiên
công tác Phật sự này vừa đem lại cho tác giả một nguồn
phước báu vô biên vừa là một tiến bộ vững chắc của
đạo hữu Phạm Kim Khánh trên đường giác ngộ.
Cầu xin quả phúc
do sự ấn tống quyển kinh này sớm đem lại hòa bình cho quê
hương tổ quốc và hạnh phúc an vui cho dân tộc.
Tín đồ
Phật Giáo Nam Tông
Kỳ Viên
Tự, Sài gòn, 1964
-ooOoo-
Tích
chuyện
Một ông Vua kia
có nuôi bốn con rắn độc. Con thứ nhất tên "Rắn mỏ cây"
(Kattha mukha) vì có cái mỏ cứng như cây, mổ đau lại có
nọc độc. Rắn thứ nhì tên "Rắn mỏ thúi" (Puti Mukha) vì
mỗi lần cắn ai thì thân thể người ấy sình thúi và tan
rã ra nước. Thứ ba là "Rắn mỏ lửa"vì ai bị rắn này cắn
thì nghe trong mình nóng như bị lửa thiếu đốt đến chết.
Thứ tư là "Rắn mỏ khí giới" (Sattha Mukha) vì có răng thật
bén, mỗi lần cắn ai thì cũng như dùng khí giới gây tử
thương người đó. Vua giao phó việc chăm nom bốn con rắn
ấy cho một ông quan cận thần. Khi nào có ai phạm trọng tội
thì bị cho rắn cắn. Lúc có chiến tranh thì Vua thả rắn
ra diệt trừ quân địch.
Hôm nọ có một
tên trộm đáng bị tử tội. Vua truyền đem tội nhân cho rắn
cắn. Ông quan dẫn tên tử tội đến chuồng rắn và mở nắp
ra. Một trong bốn con rắn bò ra, quấn tay mặt tội nhân và
gác đầu bên vai trái. Con thứ nhì quấn mình quanh tay trái
và gác đầu lên vai mặt. Con thứ ba quấn ngang bụng. Con thứ
tư quấn cổ và gác mỏ lên đầu tên trộm. Bị rắn quấn
đầy mình mà anh không tỏ vẻ lo sợ chút nào. Vừa lúc ấy
có một vị hiền nhân giàu lòng bác ái đi ngang qua thấy vậy
hỏi:
- Anh không sợ
chết hay sao?
Anh vừa chỉ rắn
vừa đáp:
- Ðây là các
vật trang sức của tôi. Tay tôi đeo neo, bụng thắt dây lưng,
cổ có kiềng và dây chuyền, đầu lại đội mão.
- Không phải đâu,
đó chỉ là bốn con rắn độc.
- Tôi có thấy
đâu là rắn độc. Nó có vẻ hiền lành lắm và đeo trên
mình tôi thế này là đẹp lắm đấy chớ!
- Bạn nên suy
nghĩ lại kỹ càng và hãy bắt đầu lo từ bây giờ. Không
nên lãng quên. Một ngày kia một con rắn sẽ bảo bạn đứng
dậy nếu không thì nó không chịu. Nếu bạn làm theo thì ba
con rắn kia bất bình. Rồi con thứ nhì sẽ bảo bạn đi tới.
Rồi con thứ ba bảo bạn nằm, con thứ tư bảo bạn ngồi.
Bạn không thể nào thoát khỏi ách nô lệ của chúng nó và
bạn luôn luôn bị tai họa.
- Vậy bây giờ
tôi phải làm thế nào?
- Bạn hãy lén
lén bỏ rắn vào chuồng và mau chạy thoát ra khỏi chốn này.
Tên tội nhân
làm y theo lời dạy.
Khi ông quan hay
được thì vào triều tâu lại tự sự cho Vua. Vua truyền thả
rắn ra rượt theo. Bốn con rắn cố sức chạy theo tên tội.
Cùng một lúc ấy vua truyền năm tên binh sĩ theo phụ sức
với rắn bắt cho được tên trộm, nếu thành công sẽ được
trọng thưởng.
Vua cũng truyền
gọi một người bạn chí thân của tội nhân đến dạy phải
rượt bắt. Nếu bắt được tội nhân, vua sẽ phong cho làm
đại tướng.
Nói về tên trộm,
khi thoát ra khỏi chỗ nguy hiểm thì có ý dễ duôi hưởn đãi.
Vị hiền nhân xuất hiện và nhắc nhở anh rằng tuy đại
nạn vừa thoát khỏi nhưng anh chưa được châu toàn đâu.
Hãy cố gắng, cố gắng tìm phương thoát nạn.
Anh vâng lời ráng
sức chạy. Ðược một đỗi thì đến một làng nọ. Bụng
đói, sức đuối, anh chạy riết vào làng tìm thức ăn và
chỗ nghỉ nhưng đó chỉ là một làng bỏ hoang. Trong làng
có sáu cái nhà mà nhà nào cũng vắng tanh. Chén dĩa nồi niêu
đều trống không. Anh đâm ra chán nản, tìm một gốc cây
dựa lưng vào nghỉ.
Vị hiền nhân
lại xuất hiện và khuyên anh chớ nên trì hưỡn vì có thêm
sáu tướng cướp đang chạy vào làng cùng bắt anh. Anh hoảng
sợ bỏ chạy nữa. Một lúc sau anh đến trước một con sông
rộng lớn. Từ bờ bên này qua bờ bên kia xa xa có một cù
lao, có tất cả ba cù lao. Trong lòng sông, bốn giòng nước
lũ gặp nhau xoay tròn thành một cái xoay rộng lớn. Bên kia
bờ cỏ cây có vẻ yên tĩnh, nhàn lạc và an toàn. Còn bờ
bên này thì chông gai đầy dẫy, phía sau lại có bốn con rắn,
năm tên lính, người bạn thân trở mặt và sáu tên cướp
đang rượt theo.
Nhưng làm sao qua
sông? Không có cầu. Thuyền cũng không. Anh liền tìm cây và
dây trong rừng kết lại làm một chiếc bè và hết sức cố
gắng dùng cả tay lẫn chân bơi cho bè mau tách xa bờ. Khi đến
cù lao thứ nhất anh ngoảnh nhìn lại phía sau thì thấy rắn,
lính, người bạn và tướng cướp tất cả đều đến ven
sông. Nhìn ra phía trước thấy còn hai cù lao và bờ bên kia.
Anh lại nỗ lực bơi riết qua cù lao thứ nhì, thứ ba và rốt
cùng đặt chân lên bờ bên kia, trên giải đất an lành tươi
đẹp. Anh nghe trong người khoan khoái nhẹ nhàng, sẵn sàng
bỏ lại sau lưng chiếc bè và bao nhiêu gian lao nguy khổn.
Bốn con rắn,
năm tên lính, người bạn thân và sáu tên cướp biết rằng
không thể nào bắt được tên tội nên buồn rầu. kẻ trước
người sau, tất cả đều chết.
* * *
Trong chuyện ngụ
ngôn kể trên, ông vua tượng trưng cho Nghiệp. Tên trộm là
chúng sanh. Bốn con rắn tượng trưng bốn yếu tố (tứ đại)
cấu thành phần vật chất của con người. Năm tên lính là
ngũ uẩn. Người bạn thân trở mặt làm thù là cái gọi là
"bản ngã" của con người. Sáu cái nhà bỏ không là lục căn.
Sáu tên cướp lùng bắt tên trộm là lục trần. Rắn, lính,
bạn, tướng cướp, tất cả mười sáu điều đó là những
pháp làm cho chúng sanh phải đắm đuối trong vòng luân hồi.
Sự tham dục, sự luyến ái theo đời sống, tà kiến và vô
minh là bốn giòng nước lũ. Chiếc bè là Bát Chánh Ðạo,
và ba cù lao là ba đạo quả thánh Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm
và A Na Hàm. Khi đắc đạo quả thứ tư - A la Hán - là bước
chân lên bờ bên kia, bờ giải thoát của Niết Bàn vậy.
-ooOoo-
PHẦN
CHÚ GIẢI
Ông Vua tượng
trưng cái Nghiệp. Nghiệp (Kamma), tiếng Bắc Phạn là Karma,
là hành động.
Ðịnh nghĩa cùng
tột của Nghiệp là tác ý, tốt hay xấu (Kusala, Akusala Cetàna).
Mỗi tư tưởng, lời nói hay việc làm của ta đều do ý muốn
làm động cơ thúc đẩy. Ta gọi ý muốn hay ý chí ấy là
tác ý (Cetàna). Tác ý có thể tốt hay xấu. Tác ý thiện (Kusala)
hay bất thiện (Akusalà) đều tạo Nghiệp.
Ðức Phật dạy:
"Này hỡi các Tỳ Khưu Như Lai tuyên bố rằng chính Tác ý
là Nghiệp. Có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu,
hay ý".
Ngoại trừ những
hành động của chư Phật và chư vị A La Hán, mỗi hành động
có tác ý đều gọi là Nghiệp. Mặc dầu chư Phật và chư
vị A La Hán vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của những nhân
đã gieo trong quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới
nữa vì đã hoàn toàn đoạn tuyệt mọi tham vọng. Các Ngài
đã thoát ra ngoài cái lành hay cái dữ. Hành động của các
Ngài không thiện (Kusala), cũng không ác (Akusala), mà hành (Kiriya),
nghĩa là tuyệt đối không gây quả, không tạo Nghiệp.
Chính Tâm tạo
ra Nghiệp. Nếu không có Tâm trong việc làm thì không có Nghiệp.
Cây cỏ không tạo Nghiệp vì không có Tâm. Cây cỏ không tạo
Nghiệp vì không có Tâm, mặc dầu có cử động. Những vật
vô tri vô giác như kim đồng hồ, cánh quạt, mặc dầu có
cử động không tạo Nghiệp vì không có Tâm tức là không
có ý muốn. Một hành động vô tình nghĩa là không do một
ý muốn thúc đẩy thì không tạo Nghiệp bởi vì Nghiệp tùy
thuộc nơi ý muốn hay tác ý dẫn đến hành động. Vậy một
hành động không có tác ý không tạo Nghiệp.
Có một vài hệ
thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi sự chênh lệch
trong xã hội đều do nơi Nghiệp, nhưng khi đề cập đến
Nghiệp lại chủ trương rằng mọi hành động, có tác ý cùng
không, đều tạo Nghiệp. Theo chủ trương ấy thì một người
giết cha giết mẹ, dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng
tội như nhau. Người sát nhân hay đối xử tàn ác với một
chúng sanh khác, dầu vô tình hay cố ý, đều phạm tội bằng
nhau cũng như thò tay vào lửa là bị nóng. Dầu cố tình hay
vô ý, thọc tay vào lửa thì cũng bị phỏng như nhau, không
hơn không kém.
Một lập luận
như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một kết luận phi lý. Ðứa
bé vô tội trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, bà
mẹ vô ý làm đau con trong lòng hẳn cũng phạm tội ác? Vả
lại nêu ra một sự kiện để giải thích một sự kiện tương
tợ như trường hợp của người thọc tay vào lửa và người
hành động ác là một luận cứ không thể đứng vững. Thí
dụ theo luận cứ trên, nếu ông A sai ông B đi giết người
thì chính ông B phạm tội sát nhân mà ông A thì không sao cả
vì chỉ có ông B thọc tay vào lửa. Hơn nữa cũng theo luận
cứ trên, một hành động ác không có tác ý có thể còn tai
hại hơn là hành động ác có tác ý. Nói một cách khác cố
ý làm ác bị hại ít hơn là vô tình vì theo thí dụ người
thọc tay vào lửa, biết rằng lửa nóng người cố tâm tất
phải dè dặt hơn nên ít bị nóng, người vô tình, vì không
định ý trước, không kịp ngăn ngừa ắt bị phỏng nhiều
hơn [1].
Theo Phật Giáo,
trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố quan trọng.
Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do nơi
Tâm. Không kềm chế Tâm tức nhiên không kềm chế được
việc làm, lời nói và tư tưởng. Kềm chế Tâm tức là kềm
chế thân, khẩu, ý.
"Chính Tâm dẫn
dắt thế gian. Chính Tâm lôi kéo thế gian. Và tất cả mọi
người đều làm chủ cái Tâm".
Kinh Pháp Cú cũng
có câu:
"Tâm
dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất
cả. Nếu ta nói hay làm với Tâm ác thì sự đau khổ sẽ theo
ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe".
và:
"...
Nếu ta nói hay làm với Tâm trong sạch, hạnh phúc sẽ theo
ta như bóng theo hình".
Ta lại thắc mắc
vì sao một vật vô hình như Tâm lại có thể gây ra những
sự xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra không có gì
lạ mà cũng không có gì khó hiểu. Chính những bộ máy cực
kỳ hùng mạnh và có khả năng làm đảo lộn thế gian hiện
đại chỉ là sản phẩm của những bộ óc phong phú.
Tên trộm là cái
được gọi là chúng sanh. Tất cả chúng sanh trong dục giới
và sắc giới [2] đều là sự cấu thành của hai yếu
tố danh và sắc (nàma rùpa). Nói một cách khác trong con người
có hai phần:
1. Phần vật
chất hữu hình, biểu hiện ra ngoài bằng hình thể mà ngũ
quan có thể nhận thức được; và
2. Phần tinh thần,
vô hình, nằm bên trong.
Hai phần, hữu hình
và vô hình, cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết
để sinh hoạt.
Mặc dầu tất
cả mọi người đều do danh và sắc hợp thành, không thể
có hai người hoàn toàn giống nhau về mặt vật chất cũng
như về phương diện tinh thần.
Sự khác biệt
ấy có phải do giới thân cận không? Hay do luật truyền thống?
Cả hai đều không hoàn toàn đúng vì không giải thích được
tại sao hai đứa trẻ sinh đôi, cùng một huyết thống, cùng
trưởng thành trong một nhà, mà tánh tình lại khác nhau.
Chắc chắn rằng
giới thân cận và huyết thống có một ảnh hưởng quan trọng
trong bản tính con người. Nhưng hai yếu tố ấy không đủ
tạo nên một người.
Thuyết truyền
thống không thể giải thích vì sao trong một gia đình có tiếng
là hiền lương trong sạch từ mấy đời lại sanh ra một đứa
con ngỗ nghịch, sát nhân, hay vì sao một đứa trẻ hiền lành
đạo đức lại là con của một tên cướp tàn ác hung tợn.
Nếu đi ngược
giòng thời gian và dò lần trở lên nguồn gốc một kiếp
sống ta sẽ đến tế bào đầu tiên của bào thai và tế bào
này là sự phối hợp của hai yếu tố: tinh trùng và minh châu
của cha mẹ.
Hai yếu tố ấy
có đủ để tạo một bào thai không? Nếu cho rằng đủ thì
ta không thể hiểu được vì sao một ông A lại có diễm phúc
lọt vào bào thai của nhà đại phú gia kia còn ông B thì vào
bào thai người cùng đinh nọ.
Phật Giáo chủ
trương phải có một yếu tố thứ ba, rất quan trọng, để
tạo thành bào thai. Nếu không có yếu tố này, tinh trùng và
minh châu chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi tiêu
diệt và chính do yếu tố thứ ba mà có sự khác biệt tế
nhị giữa chúng sanh. Yếu tố ấy là "thức tái sanh" (Patisandhi-vinnàna)
hay là Tâm Thức nối liền hai kiếp sống.
Ðức Phật dạy:
"Này hỡi các Tỳ Khưu! nơi nào có ba yếu tố ấy phối hợp
lại là mầm sống phát sinh. Nếu cha và mẹ gặp nhau mà không
nhằm thời kỳ sanh sản của mẹ và không có một "chúng sanh
đi tái sanh" (Gandhabba) thì không có mầm sống. Nếu cha mẹ
gặp nhau trong thời kỳ sanh sản của mẹ mà không có một
"chúng sanh đi tái sanh" thì cũng không có mầm sống. Nếu cha
mẹ gặp nhau nhằm thời kỳ sinh sản của mẹ và có một
"chúng sanh đi tái sanh" thì có mầm sống, do sự phối hợp
của ba yếu tố" [3].
Một "chúng sanh
đi tái sanh" ở chỗ này tức nhiên phải có một chúng sanh
chết ở một nơi nào khác. Có sanh ở một kiếp này tức
có tử ở một kiếp trước. Sanh và tử chỉ là hai giai đoạn
của một tiến trình. Sanh rồi tử, tử rồi sanh, sự luân
lưu bất tận sanh tử, tử sanh của chuỗi dài những kiếp
sống gọi là luân hồi (Samsara, Ta-bà).
Vậy, tế bào
đầu tiên của bào thai không phải là khởi điểm của sự
sống. Nhưng ngũ quan và luận lý hạn định của ta không thể
đi xa hơn đó nữa và cũng không thể nhận thức được nguồn
gốc của "thức tái sanh".
Ðức Phật đã
trau dồi trí tuệ đến mức tuyệt đỉnh. Ngài thông suốt
những cảnh giới ngoài phạm vi hiểu biết do ngũ quan ta và
thấu triệt rành mạch nguồn gốc của "thức tái sanh". Ðức
Phật dạy rằng thức tái sanh làm khởi điểm một kiếp sống
mới tùy thuộc nơi chập tư tưởng cuối cùng của kiếp sống
quá khứ và tiến trình sanh tử, tử sanh luôn luôn biến đổi,
luôn luôn trở thành là kết quả của Nghiệp tức là của
hành động [4].
Tóm tắt, cái
được gọi là chúng sanh là sự phối hợp của hai yếu tố,
danh và sắc. Và Nghiệp là nguyên do.
Phật Giáo không
chủ trương có một đấng Tạo Hóa toàn tri toàn năng tạo
ra muôn loài vạn vật, cũng không tin có một linh hồn trường
cửu, bất di bất dịch. Ðức Phật dạy rằng chính ta tạo
ra ta. Chính hành động (Nghiệp) của ta trong quá khứ tạo
thể xác hiện tại của ta. Mà cũng chính ta tiêu diệt ta.
Ta tạo thiên đàng cho ta. Ta tạo địa ngục cho ta. Chính cái
nghiệp của ta, tức là hành động của ta trong dĩ vãng, làm
cho ta hôm nay giàu hay nghèo, sang hay hèn, thông minh hay ngu dốt
v.v... Thay vì tin rằng có một thần linh tối thượng sanh ra
ta và cho ta một số mạng, ta tin nơi Nghiệp. Nói một cách
khác, thay vì đổ lỗi cho người khác, chúng ta hoàn toàn nhận
lấy trách nhiệm và bổn phận xây dựng một tương lai tốt
đẹp hơn.
Lời mẹ dạy
con: "Nếu con ngoan thì mẹ cưng. Nếu con nghịch thì mẹ đánh"
là giáo lý Nghiệp Báo của nhà Phật. Gieo giống nào thì gặt
giống nấy. Gieo lành thì gặt lành. Gieo dữ thì gặt dữ.
1.
TỨ ÐẠI
Bốn con rắn,
"mỏ cây", "mỏ thúi", "mỏ khí giới", và "mỏ lửa" tượng
trưng bốn nguyên tố Ðất, Nước, Lửa, Gió cấu thành vật
chất. Ta gọi là Tứ Ðại.
Trong 45 năm hoằng
pháp Ðức Phật gặp rất nhiều hạng người. Ðể cho mỗi
người đều có thể lãnh hội giáo lý, lắm lúc Ngài thuyết
những bài pháp sâu xa tế nhị, đôi khi Ngài cũng dùng ngôn
ngữ thông thường giản dị, tùy trường hợp, tùy căn cơ
của người thính pháp.
Trong tạng Luật
và tạng Kinh Ðức Phật dùng danh từ ước định (conventionnel)
thông thường, như người, thú, chúng sanh v.v... trái lại trong
tạng. Luận mỗi sự vật đều phải được phân tách tỉ
mỉ đến mức cùng tột nên Ðức Phật dùng những danh từ
trừu tượng (abstrait).
Có hai thực tế.
Một biểu hiện ra ngoài mà ngũ quan ta có thể thâu nhận và
một thực tế cùng tột. Thực tế bề ngoài là những chân
lý ước định, (Samuti Sacca, vérité conventionnelle). Thực tế
cùng tột (Paramattha Sacca, vérité abstraite) là những chân lý
trừu tượng, tuyệt đối.
Thí dụ như cái
bàn, cái quạt, con người, con vật v.v... là những thực tế
ước định, bề ngoài. Bằng một cách ước định, chúng
ta chấp nhận danh từ bàn, quạt, người v.v... để chỉ những
vật ấy. Nhưng phân tách cái bàn ta thấy rằng cái mà ta gọi
là bàn chỉ là sự kết hợp của những tế bào và tế bào
chỉ là sự kết hợp của những năng lực (force) và bẩm
tính (qualité). Vậy, phân tách đến mức cuối cùng, vật chất
chỉ là sự cấu thành của những năng lực và bẩm tính.
Năng lực và bẩm tính ấy là thực tế cùng tột, chân lý
trừu tượng.
Một thí dụ khác:
Khi nói chuyện với mọi người, nhà bác học gọi nước là
nước. Nhưng trong phòng thí nghiệm, để chỉ nước, nhà bác
học gọi là H2O mà không gọi nước. Nước là danh từ ước
định, phổ thông. H2O là danh từ trừu tượng, chuyên môn.
Tứ Ðại là bốn
thành phần căn bản trong vật chất, "bất khả phân tán".
Mỗi bản thể vật chất, từ vật vi tế nhất đến vật
to lớn nhất đều do bốn yếu tố này cấu hợp. Danh từ
Ðất, Nước, Lửa, Gió dùng ở đây không phải là đất như
ta thường biết, nước, lửa, gió cũng vậy mà dùng theo nghĩa
trừu tượng. Ðất, Nước, Lửa, Gió ở đây là những chân
lý cùng tột. (Paramattha Sacca) [5].
Cách đây không
bao lâu khoa học còn chủ trương rằng đơn vị nhỏ nhất
và bất khả phân tán của vật chất là nguyên tử. Nhưng
đến mấy năm sau này thì các nhà bác học đã phân tán được
nguyên tử và khám phá rằng trong nguyên tử còn có điện
tử, dương tử v.v..
Ở Ấn Ðộ, vào
thời Ðức Phật, danh từ Paramanu có nghĩa tương đương như
danh từ nguyên tử của thời đại hiện kim. Một hột bụi
rất nhỏ mà ta thấy vởn vơ trong làn ánh sáng, gọi là Ratharenu,
có thể phân làm 16 Tajjàris. Một Tajjàri chia làm 16 Anus, và
một Anu chia làm 16 Paramanus. Vậy, nếu ta chia hột bụi làm
4096 phần thì Paramanu là 1 phần nhỏ ấy. Theo quan niệm thời
bấy giờ thì Paramanu là đơn vị vi tế nhất của vật chất,
không thể phân tách được nữa.
Trí tuệ siêu
thế của Ðức Phật phân paramanu ra làm những thực thể cùng
tột (paramatthas), không thể phân tán. Những thực thể cùng
tột ấy là:
- Nguyên tố
Ðất (Pathavi-Dhàtu)
- Nguyên tố Nước
(Àpo-Dhàtu)
- Nguyên tố Lửa
(Teyo-Dhàtu)
- Nguyên tố Gió
(Vàyo-Dhàtu )
NGUYÊN TỐ ÐẤT
(Pathavi Dhàtu)
Phạn ngữ Dhàtu
có nghĩa là cái gì giữ đặc tính riêng biệt của mình. Pathavi
là Ðất. Pathavi Dhàtu là thành phần đất trong vật chất
làm nền tảng cho các phần tử khác. Pathavi (Do căn nguyên
puth) còn có nghĩa là lan rộng ra, duỗi ra. Vậy Pathavi Dhàtu
là phần tử trong vật chất có tánh cách duỗi ra, nở ra,
lan rộng ra để chiếm không gian.
Tánh cách cứng
rắn hay mềm mại - hoàn toàn tương đối - cũng do nguyên tố
Ðức (Pathavi Dhàtu ). Trong tất cả mọi hình thức vật chất
(trong đất, trong nước, lửa hay trong không khí) đều có nguyên
tố Ðất. Cũng như trong tất cả mọi hình thức vật chất
đều có ba nguyên tố Nước, Lửa, Gió. Nhưng trong một thể
chất, nguyên tố này có thể nhiều hơn nguyên tố kia. Trong
gỗ chẳng hạn, nguyên tố Ðất trội hơn ba nguyên tố kia.
Trong dầu thì nguyên tố nước trội hơn v.v...
Trong một ly nước,
do tánh cách duỗi ra của nguyên tố Ðất hợp với tánh cách
chuyển động của nguyên tố Gió, lớp nước ở dưới tạo
một áp lực để nâng đỡ lớp trên. Tánh cách nóng hay lạnh
của ly nước là do nguyên tố Lửa. Chính nguyên tố Nước
tạo nên thể lỏng.
NGUYÊN TỐ NƯỚC
(Àpo Dhàtu)
Ðúng nghĩa là
phần tử lỏng. Phạn ngữ Àpo do căn nguyên Ap nghĩa là đến
hay là do hai căn nguyên ã và pãy nghĩa là lớn lên trưởng
thành, thêm lên. Nguyên tố Nước (Àpo Dhàtu) là phần tử
trong vật chất có tánh cách dính liền hay kết hợp lại.
Theo Phật Giáo, chính nguyên tố này kết hợp các phần tử
vi tế rời rạc trong không gian và cho ta ý niệm "hình thể"
(corps). Khi một "hình thể" ở thể đặc - như các loài kim
khí - mà biến ra thể lỏng, nguyên tố Nước trở nên trội
hơn ba nguyên tố kia. Khi ta nghiền vật chất ra thành bột
nhuyễn, trong mỗi hột bột vi tế kia cũng có đủ bốn nguyên
tố.
Tánh cách lỏng
và tánh cách teo lại cũng do nguyên tố Nước.
Ta nên ghi nhớ
rằng lạnh không phải là một đặc tánh của nguyên tố Nước.
Hai nguyên tố
duỗi ra và kết hợp lại (Ðất và Nước) liên quan với nhau
mật thiết đến đỗi khi một trong hai mất thì nguyên tố
kia cũng tiêu.
NGUYÊN TỐ LỬA
(Tejo Dhàtu)
Là thành phần
trong vật chất có tánh cách nóng. Phạn ngữ Tejo do căn nguyên
Tij, có nghĩa là làm cho bén nhọn, hay làm cho chín mùi.
Nguyên tố Lửa (Tejo Dhàtu) tạo sinh lực cho vật chất, làm
cho vật chất biến đổi, trở nên già, chín. Giữ cho vật
chất tồn tại hay hủy hoại vật chất đều do nguyên tố
Lửa. Ðặc tánh của nguyên tố này là làm cho vật chất tự
hồi sinh.
Nóng và lạnh
đều là đặc tánh của nguyên tố Lửa. Nguyên tố Lửa nhiều
là nóng, ít là lạnh. Ta không nên hiểu lầm rằng lạnh là
đặc tánh của nguyên tố Nước và nóng là đặc tánh của
nguyên tố Lửa. Nếu hiểu như vậy thì cả hai, nóng và lạnh,
tồn tại chung trong một hình thể cùng một lúc.
NGUYÊN TỐ GIÓ
(Vàyo Dhàtu )
Là thành phần
trong vật chất có tánh di động, luôn luôn dính liền với
nguyên tố lửa. Phạn ngữ Vàyo do căn nguyên Vày có nghĩa
là di chuyển hay rung động. Mọi sự di chuyển mọi dung động,
mọi áp lực của vật chất đều do nguyên tố Gió.
Chính sự chuyển
động là năng lực hay là động lực phát sanh hơi nóng. Chuyển
động và hơi nóng trong địa hạt vật chất có thể so sánh
với Tâm và Nghiệp trong lãnh vực tinh thần.
Bốn nguyên tố
Ðất, Nước, Lửa, Gió luôn luôn dính liền với nhau trong
vật chất.
* * *
Trong chuyện ngụ
ngôn kể trên, bốn con rắn là bốn nguyên tố cấu thành vật
chất, ám chỉ tấm thân tứ đại của chúng ta.
Thể xác này ví
như rắn độc vì nếu ta lơ đỉnh, không kiểm soát được
nhục dục thì chính thân này là mối nguy cơ vô cùng tai hại
vậy. Trái lại, nếu ta thận trọng xem xác thân này như những
con rắn độc thì ta sẽ không bám bíu vào nó, không chú trọng
đến nó, tức nhiên ta sẽ không thèm thuồng, ước mong được
có một thân hình đẹp đẽ hơn, cũng không thất vọng nếu
ta không có sắc đẹp. Ta sẽ không phung phí thì giờ quý báu
và ít oi của ta để sửa soạn, chăm nom, săn sóc thể xác
và luôn luôn cung phụng đầy đủ để thỏa mãn những sự
đòi hỏi của nó. Hiểu như vậy ta sẽ hết sức cố gắng
tránh xa những điều kiện nào khả dĩ tạo cho ta những con
"rắn độc mới".
2.
NGŨ UẨN
Cái được gọi
là chúng sanh là sự kết hợp của hai phần: Danh (Nàma) và
Sắc (Rùpa).
Danh và Sắc cùng
phát sanh một lượt và cùng phối hợp mật thiết để sinh
hoạt. Kinh sách thường so sánh Danh và Sắc với hai người,
một mù một què. Riêng rẽ từng người thì người mù không
thấy đường, người què thiếu chân, cả hai cùng không thể
di chuyển. Nhưng nếu phối hợp lại, người mù cõng người
què, người què chỉ đường cho người mù thì cả hai đều
di chuyển được. Cùng một thế ấy Sắc, vật chất, chỉ
là vô tri vô giác. Danh là vô hình, không thể hoạt động
riêng rẻ. Nhưng phối hợp lại, Danh và Sắc có thể hoạt
động. Một thí dụ: muốn có sự thấy cần phải có ba yếu
tố, nhãn quan, nhãn trần và nhãn thức. Mắt, vật để thấy
(đối tượng của sự thấy) và thức, phối hợp hoạt động
tạo nên sự thấy. Như muốn thấy cái bàn thì cần phải
có cái bàn (nhãn trần), cặp mắt (nhãn quan) và nhãn thức
[6].
Theo Vi Diệu Pháp
(Abhidhamma), Sắc (Rùpa) gồm các đơn vị căn bản, những năng
lực (Tứ Ðại) và những biến đổi, bẩm chất. Có tất
cả 28 loại vật chất.
Danh gồm các tâm
sở (Cetasika) và thức (Vinnàna) [7] . Có tất cả 52 tâm
sở. Thọ (Vedanà) là một. Tưởng (Sannà) là một tâm sở
khác. 50 tâm sở còn lại được gọi chung là Hành (Sankhàra).
Nơi tập trung các tâm sở ấy là thức (Vinnàna). Theo sự phân
tách trên, chúng sanh là sự kết hợp của năm yếu tố gọi
là Ngũ Uẩn: Sắc (Rùpa), Thọ (Vedanà), Tưởng (Sannà), Hành
(Sankhàra) và Thức (Vinnàna).
SẮC (Rùpa),
tức là vật chất.
Các nhà khoa học
cho rằng rất khó mà định nghĩa danh từ "vật chất" một
cách chính xác. Một vài triết học gia định nghĩa "Vật chất
là cái gì trong đó có sự biến đổi gọi là chuyển động
và sự chuyển động là các biến đổi trong vật chất (Ouspensky,
Tertium organum, trang 8).
Trong Phạn ngữ,
vật chất là Rùpa. Danh từ Rùpa do căn nguyên rup là bể ra,
tiêu diệt (nasa).
Theo kinh Vibhàvini
Tikà, Rùpa là cái gì biến hình hay có một hình thái khác
do những điều kiện vật lý như nóng, lạnh v.v...
Theo Phật Giáo,
vật chất (Rùpa = sắc) không những luôn luôn biến đổi mà
còn tiêu diệt nữa (khaya - vaya). Một đơn vị vật chất chỉ
tồn tại trong thời gian của 17 chập tư tưởng [8].
Vật chất biến thay nhanh chóng đến nỗi ta không thể gõ
trên bàn hai cái gõ hoàn toàn giống hệt nhau [9].
Vật chất thay
đổi, thời gian thay đổi, không gian cũng đổi vì trong khoảng
thời gian ấy, vị trí của ta trong không gian, theo sự xoay
chuyển của quả địa cầu, cũng đã thay đổi rất nhiều.
Ðề cập đến
vật chất trong quyển sách "Ý nghĩa của đời sống" (Meaning
of Life), C.E.M. Joad viết: "Như vậy thì vật chất hiển nhiên
tự phân tán dưới mắt ta. Vật chất không còn ở thể đặc
nữa. Không còn tồn tại bền vững nữa..."
Cách đây không
bao lâu, nguyên tử được coi là đơn vị nhỏ nhất của vật
chất, không thể phân chia được nữa và không thể tiêu diệt.
Nhưng khoa học hiện đại phát minh rằng trong nguyên tử còn
có điện tử, dương tử, quan tử v.v...
Phạn ngữ Rùpa
(sắc, vật chất) có khi cũng được định nghĩa là cái gì
tự, mình biểu hiện (Rùpakàsane)
Phật Giáo không
chủ trương tìm hiểu nguồn gốc của vật chất mà xem vật
chất như một vật sẵn có và dạy rằng vật chất gồm những
năng lực và những bẩm chất. Những năng lực là bốn nguyên
tố căn bản: Ðất, Nước, Lửa, Gió, rất hùng hậu, luôn
luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết.
Từ vật vi tế như hột cát hột bụi cho đến vật to lớn
như quả địa cầu hay các hành tinh đều do bốn nguyên tố
ấy cấu thành.
Bẩm chất của
Sắc (Rùpa) hay là những tính chất phát xuất từ Tứ Ðại,
gòm có 24 loại. Vậy, theo Phật Giáo, có 28 loại vật chất
kể cả Tứ Ðại. Năng lực và bẩm chất của Sắc (Rùpa)
phát sanh cùng một lượt, cùng nhau tồn tại và trưởng thành
và cũng cùng tiêu diệt một lúc.
Tóm tắt, vật
chất gồm những năng lực và những bẩm chất luôn luôn biến
đổi, không thể giữ y một trạng thái trong hai khoảnh khắc
kế tiếp. Vật chất chỉ tồn tại trong thời gian 17 chập
tư tưởng.
Các nhà khoa học
giải thích rằng vật chất tồn tại trong một phần rất
ngắn của giây đồng hồ [10].
Theo các nhà sinh
lý học, tế bào đầu tiên mà con người thọ hưởng của
cha mẹ thật là vi tế, bằng phần rất nhỏ của một phân
Anh [11].
Theo kinh sách tế
bào đầu tiên của con người rất vi tế, sánh như một giọt
dầu vi tế dính nơi chót một sợi lông sau khi rảy bảy lần.
Khoảng thời gian
9 tháng trong bào thai tế bào ấy trở nên 15.000 triệu lần
lớn hơn (Sir Charles Shermington, "Life Unfolding", trang 32)
THỌ (Vedanã)
Phạn ngữ "Vedanà"
do căn nguyên "Via" là kinh nghiệm. Thọ (Vedanà) phát sanh do
Xúc (Phassa). Thọ là một cảm giác khách quan có ý thức nhưng
không có sự hiểu biết và không có sự hình dung đối tượng.
Khi sờ một vật ta ý thức rằng vật ấy nóng hay lạnh, cứng,
mềm v.v... nhưng không biết vật ấy là cái gì và cũng không
biết hình dáng vật ấy ra sao. Ðó là Thọ (Vedanà), tức là
cảm giác.
Cũng như Xúc (Phassa)
Thọ là một tánh chất chánh yếu của tất cả các tâm. Nói
một cách khác, trong các loại Tâm Vương (Citta) đều có tâm
sở Thọ. Thọ có năm:
1. Cảm giác
vui thích về tinh thần, hạnh phúc (Somanassa) như khi nhận được
một tin lành, nghe một bài pháp hay v.v...
2. Cảm giác đau
khổ về tinh thần (Domanassa), như khi nhận được tin dữ,
hay nghe những lời nói hung tợn v.v...
3. Cảm giác khoái
lạc về vật chất (Sukha) như khi dùng bữa cơm ngon, ngủ trong
phòng lạnh có nệm êm v.v...
4. Cảm giác đau
đớn về vật chất (Dukkha), thiếu tiện nghi, như ngồi chật
hẹp trên một chiếc xe cũ, đi ngoài nắng, uống thuốc đắng
v.v...
5. Cảm giác vô
ký (Upekkhà), không vui, không buồn, không khoái lạc, không
đau đớn. Như đi nghe Pháp mà không quan tâm đến thành ra
không vui thích mà cũng không bực mình.
Chính Thọ thâu nhận
quả lành hay dữ của những hành động trong quá khứ. Ngoài
tâm sở Thọ không có một linh hồn hay một bản ngã nào hưởng
quả lành hay chịu quả dữ.
Ta nên ghi nhận
rằng đạo quả Niết Bàn là một hạnh phúc không có liên
quan gì đến Thọ hết. Ðức Phật dạy rằng đạo quả Niết
Bàn là hạnh phúc cao thượng nhất trong các hạnh phúc (Sukha)
nhưng đó không phải là sự thọ hưởng những cảm giác vui
thích hay khoái lạc. Ðạo quả Niết Bàn là hạnh phúc giải
thoát khỏi vòng đau khổ.
Thọ (Vedanà) biến
đổi cảnh trạng Tâm. Thọ là một năng lực có thể nâng
đỡ mà cũng có thể hủy hoại đời sống. Hạnh phúc nâng
đỡ, sự đau khổ làm trở ngại đời sống. Vậy, Thọ thủ
một vai trò quan trọng trong đời sống con người.
Ý thức được
hương vị của một vật là tác dụng của Thọ (Vedanà). Cảm
giác hạnh phúc hay khoái lạc làm cho ta ưa thích. Cảm giác
đau khổ làm cho ta ghét. Sự ưa thích hay ghét bỏ phần nhiều
tùy thuộc nơi ngoại cảnh và đến với ta một cách hồn
nhiên. Thí dụ như nằm trên nệm ta ý thức được sự êm
dịu và ưa thích nằm nệm. Còn đi ngoài trời trưa nắng ta
nghe nóng bức và ghét, khó chịu. Sự ưa thích nằm nệm cũng
như sự ghét đi ngoài nắng tùy thuộc nơi ngoại cảnh và
đến với ta một cách hồn nhiên, máy móc, không có sự suy
luận.
Tuy nhiên, đôi
khi ý chí của một người có thể áp đảo ảnh hưởng của
ngoại cảnh và quyết định được Thọ. Thí dụ như gặp
một người thù nghịch thường ta có cảm giác không vui. Nhưng
một người hiểu biết chánh đáng trái lại, rải tâm Từ
của mình đến người thù ấy và tự nhiên hưởng được
cảm giác hạnh phúc.
Nhà hiền triết
Hy Lạp Socrate xưa kia, bị bắt buộc phải uống thuốc độc,
cạn ly độc dược một cách vui vẻ và vui vẻ nhận cái chết.
Một vị Bà la
Môn, một hôm nọ, mắng chửi Ðức Phật thậm tệ. Nhưng
Ðức Phật thản nhiên. Ngài rải tâm Từ đến người ấy
để đáp lại những lời nguyền rủa.
Vị đạo sĩ Khantivàti
mặc dầu bị hành hung tàn nhẫn, vẫn thành thật ước mong
cho ông vua say rượu ác độc đã ra lịnh hại Ngài được
sống lâu và khỏi bị quả dữ của hành động ấy.
Trái lại, một
người ngoại đạo cuồng tín có thể có những tư tưởng
thù hận khi gặp Ðức Phật. Cảm giác của người ấy lúc
đó là đau khổ mặc dầu ngoại cảnh đáng lẽ phải tạo
cảm giác hạnh phúc, cũng như một Phật tử cuồng tín có
thể có những cảm giác tương tợ khi gặp giáo chủ của
một tôn giáo khác. Một vật thực rất bổ ích cho người
này có thể gây tai hại cho người khác. Khoái lạc vật chất
thường được người đời ưa thích và yêu chuộng nhưng
đối với nhà tu ẩn sĩ có trí tuệ, đó chỉ là những trở
ngại trên đường thu hành và sẵn sàng từ khước đời sống
sung túc để tình nguyện sống nghèo nàn và cô độc. Thật
vậy, thiên đàng của một hạng người có thể là địa ngục
cho một hạng người khác. Chính chúng ta tạo thiên đàng cho
ta, chính chúng ta tạo địa ngục cho ta. Và, ít nhiều, chính
Tâm tạo tác tất cả.
TƯỞNG (Sannà)
Phạn ngữ Sannà
do hai căn nguyên Sam và Na là hiểu biết (giống
như chữ la-tinh cognoscere)
Ðặc tánh của
Tưởng (Sannà) là nhận thức một vật nhờ dấu hiệu riêng.
Tỷ như khi có cảm giác lạnh và mềm ta biết là nước. Sự
nhận ra nước là Tưởng. Chính do Tưởng (Sannà) mà, xuyên
qua lục căn và thức, ta nhận ra một vật đã từng biết
rồi.
Anh thợ mộc muốn
tạo một cái sườn nhà phải chuẩn bị dọn cây, cây nào
làm cột, cây nào làm đòn dông, cây nào là kèo v.v... rồi
đánh dấu trên những khúc ấy. Ðến khi ráp, anh nhìn vào
những dấu hiệu ấy. Sự nhận ra những dấu hiệu trên các
khúc gỗ là Tưởng (Sannà).
Vậy Tưởng (Sannà)
là tri giác, tức là sự nhận thức một vật như cây cối,
nhà cửa, bàn ghế v.v... khi giác quan bị kích thích.
Ðể hiểu danh
từ Tưởng (Sannà) rõ ràng hơn, ta thử so sánh ba Phạn ngữ
Sannà (Tưởng), Vinnàna (Thức) và Pannà (Trí Tuệ).
Một em bé thấy
một đồng tiền. Nhờ màu trắng, hình tròn và kích thước
của vật thấy, em biết đó là một đồng tiền. Nhưng không
biết giá trị của đồng tiền ấy. Ðó là Tưởng (Sannà),
chỉ nhận ra một vật đã biết rồi mà thôi.
Một người lớn,
thấy đồng tiền thì phân biệt đồng ấy với những đồng
khác, biết đó là một đồng bạc và biết rằng với đồng
bạc ấy có thể mua một cái bánh. Nhưng anh không biết đồng
tiền ấy làm bằng những chất gì. Ðó là Thức (Vinnàna).
Một người rành
về hóa học phân tách đồng tiền ấy, biết tận tường
những loại kim khí nào đã được dùng để làm ra đồng
tiền ấy và mỗi kim khí có đặc tánh nào v.v... Ðó là Trí
Tuệ (Pannà).
HÀNH (Sankhàra)
Sankhàra là một
Phạn ngữ có rất nhiều nghĩa. Trong Thập Nhị Nhân Duyên
(Paticca Samuppàda) danh từ Hành (Sankhàra) là tất cả những
hành động có tác ý, những tư tưởng tốt và xấu.
Ðể chỉ những
gì chịu biến đổi, đau khổ v.v... thì danh từ Sankhàra là
"pháp hữu lậu", những gì có một hoặc nhiều nguyên nhân
tạo điều kiện để phát sanh.
Kể như một trong
năm uẩn (Pancà Khanda) Hành (Sankhàra) là danh từ gọi chung
50 trong 52 tâm sở. Hai tâm sở kia là Thọ và Tưởng.
THỨC (Vinnàna)
Thức nơi tụ
hội các tâm sở, là sự hiểu biết, sau Thọ và Tưởng. Trong
Ngũ Uẩn, kinh sách thường ví Sắc như cái nồi để nấu
cơm, Thọ như gạo, Tưởng như các món gia vị như cà ri, Hành
như người nấu ăn và Thức như người ăn.
* * *
Tóm tắt, năm
yếu tố, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức phối hợp lại cấu
thành cái được gọi là chúng sanh. Nói một cách khác, con
người cấu thành do Ngũ Uẩn tức là do Danh và Sắc, phần
tinh thần và phần vật chất.
Vật chất gồm
những năng lực và những bẩm chất luôn luôn biến đổi,
không thể tồn tại trong hai khoảnh khắc kế tiếp.
Phần tinh thần,
tâm, là sự ý thức một việc. Ngoài ra không có một cá nhân
hay một linh hồn nào điều khiển các hành động. Tâm gồm
những tâm sở nhất thời, sanh rồi diệt, vô cùng nhanh chóng.
Tâm cũng như một dòng sông bắt nguồn từ chỗ sanh chảy
một mạch ra cửa biển, là chỗ chết, luôn luôn thâu nhận
những luồng nước từ các rạch ngòi của lục căn chảy
đến.
Ta nên ghi nhận
rằng tâm không phải là sự nối tiếp liên tục của những
chập tư tưởng riêng biệt không liên quan với nhau, như những
vòng khoen trong một sợi lòi tói.
Mỗi chập tư
tưởng luôn luôn đổi mới của đời sống tinh thần, trước
khi diệt, chuyển tất cả năng lực cùng với tất cả những
ấn tượng đã thâu nhận cho chập tư tưởng kế. Như vậy,
một chập tư tưởng gồm có những tiềm năng do chập trước
chuyển sang và những gì khác nữa. Chập tư tưởng sau không
hoàn toàn khác chập trước mà cũng không hoàn toàn giống.
Bởi vì tất cả
những ấn tượng đều được thâu nhận trong một cái tâm
luôn luôn đổi mới và bởi vì tất cả tiềm năng của chập
tư tưởng trước đều được chuyển sang chập sau, từ kiếp
này đến kiếp kế, mặc dầu vật chất đã tan rã, ta có
thể giải thích được tại sao người trong một kiếp có
thể nhớ được những sự kiện đã xảy ra trong một kiếp
trước. Nếu trí nhớ chỉ do nơi bộ óc vật chất thì làm
thế nào giải thích được sự kiện đó.
Cũng như điện,
tâm là một năng lực có thể xây dựng mà cũng có thể tàn
phá. Tâm là một loại khí giới có thể dùng trong việc lành
cũng như trong điều ác. Chỉ một tư tưởng, dầu vô hình,
cũng có thể cứu vãn hay tiêu diệt thế gian. Chính tâm tạo
thiên đàng. Cũng chính tâm tạo địa ngục.
3.
NGƯỜI BẠN THÂN
Bản ngã là gì?
Người bạn chí thân trở mặt làm thù, rượt theo bắt tên
tội nhân tượng trưng cái gọi là bản ngã của chúng sanh.
Vậy, bản ngã
là gì? Cái mà chúng sanh chấp là "Ta" là gì?
Nhìn mặt bàn
với cặp mắt thường ta thấy trơn láng. Nếu nhìn mặt bàn
ấy xuyên qua kính hiển vi thì ta không còn thấy nó trơn láng
nữa mà những sớ cây nổi lên ghồ ghề, có góc có cạnh.
Bây giờ, nếu dùng một ống kính hiển vi thật mạnh để
nhìn mặt bàn ta sẽ không thấy những sớ cây nữa mà dưới
mắt ta là sông, núi, rạch ngòi, thung lũng, đồng bằng v.v...
Cả ba trạng thái của mặt bàn đều là thực tế vì chính
mắt ta chắc chắn đã trông thấy. Vậy ta phải tin thế nào?
Cũng cái bàn ấy,
đối với nhà khoa học, chỉ là sự phối hợp những nguyên
tử, điện tử, dương tử, quan tử v.v...
Một cách ước
định, ta nói rằng mặt bàn trơn láng vì mọi người, với
cặp mắt thường đều nhận thấy như vậy.
Cùng một thế
ấy, Ðức Phật dùng những danh từ ước định thông thường
như người, thú, bàn, ghế v.v... trong tạng Luật và tạng
Kinh. Nhưng khi phân tách tỷ mỷ những yếu tố cấu thành
con người thì Ðức Phật chỉ còn thấy những năng lực,
những bẩm chất, những cảm giác, tri giác v.v... luôn luôn
biến đổi, cũng như nhà khoa học, trong phòng thí nghiệm không
còn thấy nước là nước mà chỉ thấy hai phần Hydro và một
phần Oxy (H2O).
Ta nhận thức
sự vật xuyên qua ngũ quan và tìm cái gì ngũ quan thâu nhận.
Một em bé thường ngày thấy mặt trời mọc ở hướng Ðông
và lặn về hướng Tây thì tin chắc chắn rằng mỗi sáng
mặt trời mọc lên và mỗi chiều lặn xuống. Nếu có ai bảo
em bé rằng không phải mặt trời mọc và lặn mà chính quả
địa cầu chuyển động quay tròn và vòng quanh mặt trời thì
em bé sẽ cười và không tin.
Bậc thánh nhân
đã diệt mọi ảo kiến và thấy chân tướng sự vật.
Ðức Phật dạy
rằng phân tách đến mức cùng tột thì không thể có một
bản ngã trường tồn bất biến. Mọi yếu tố cấu thành
con người đều ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi.
"Không có người làm mà chỉ có việc làm". Không có người
thấy mà chỉ có sự thấy. Tóm tắt con người chỉ là sự
phối hợp của năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong
con người không có cái chi có thể gọi là một bản ngã vững
bền tồn tại, không biến đổi.
Về điểm này
triết học gia Descartes có viết "Cogito, Ergo Sum", tôi suy tưởng,
tức là có tôi. Nhà triết học Pháp căn cứ luận lý của
ông trên sự "tôi suy tưởng" nhưng không chứng minh rằng có
cái "Tôi" để suy tưởng.
Trên 2500 năm sau
Ðức Phật, triết gia William James cũng có một quan điểm như
Phật Giáo. Ông chủ trương "Không có người suy tưởng mà
chỉ có sự suy tưởng".
Theo Phật Giáo
cái bản ngã hay là cái Ta chỉ là sự kết hợp của những
yếu tố luôn luôn biến đổi. Ngoài ra không có cái gì có
thể gọi là một linh hồn vĩnh cửu hay một bản ngã trường
tồn. Phật Giáo không nhìn nhận có những nguyên do huyền
bí tạo nên một bản ngã bất diệt.
Về điểm này
ta nên phân biệt thuyết tái sanh của Phật Giáo với thuyết
"đầu thai" tức là sự thoát xác của một linh hồn để nhập
vào một xác khác cũng như người bỏ một căn nhà cũ nát
để ở trong một căn nhà mới.
Một linh hồn
trường cửu tất nhiên phải bất biến. Nếu có một linh
hồn bất diệt làm bản ngã cốt yếu của con người thì
tất nhiên linh hồn ấy không phát sanh, không biến đổi và
cũng không tiêu diệt. Ngoài ra ta cũng không thể hiểu tại
sao từ lúc mới tạo ra, các linh hồn lại khác biệt với
nhau dường ấy.
Quan sát đến
mức cùng tột người Phật tử hiểu biết không thể quan
niệm được một linh hồn bất biến bên trong một vị Chư
Thiên, trong con người hay trong một loài cầm thú nào. Những
hình thể người, thú hay Chư Thiên chỉ là sự biểu hiện
bề ngoài của luồng Nghiệp lực. "Chúng sanh" chỉ là một
khái niệm và danh từ người, thú, hay Chư Thiên chỉ là một
sự ước định. Nói một cách chính xác, chúng sanh chỉ là
sự phối hợp của Danh và Sắc.
Ðể biện minh
rằng có đời sống tối đại hạnh phúc trên một thiên đàng
trường cửu và có những cực hình vô tận trong một địa
ngục vĩnh viễn, một linh hồn bất di bất dịch là tối cần.
Nếu không có một linh hồn trường tồn bất diệt thì cái
gì làm tội trên thế gian và cái gì phải chịu khổ hình
ở địa ngục?
Nhà học giả
trứ danh, ông Bertrand Russel có viết: "Ðúng lý ra ta phải nói
rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác từ
lâu đã tiêu tan như mây khói vì vật chất đã mất dần đặc
tánh cứng rắn và vững bền, mà linh hồn cũng đã mất một
phần thần tính của nó. Tâm Lý
Học vừa bắt
đầu trở thành một ngành khoa học và trong tình trạng hiện
hữu của Tâm Lý Học sự tin tưởng nơi một linh hồn trường
cửu không thể đòi hỏi khoa học tán trợ.
Theo nhà học giả
uyên bác, tác giả quyển "The Riddle of Universe" (Sự bí ẩn
của vũ trụ) "Biện chứng Thần Linh Học chủ trương có một
đấng Tạo Hóa thổi vào con người một linh hồn bất diệt
(linh hồn của con người thường được xem là một phần
của một Ðại hồn của tạo hóa). Ðó là một câu chuyện
thần thoại.
"Biện chứng Vũ
Trụ Luận cho rằng muốn tạo một thế gian điều hòa trong
vòng trật tự tinh thần đạo đức cần phải có một linh
hồn trường tồn bất diệt. Ðó là một giáo điều vô căn
cứ.
"Biện chứng Chung
Quả Luận chủ trương rằng do sự tiến triển không ngừng
của con người để cải thiện vận mạng mình những khuyết
điểm của linh hồn phải được cải tiến mãi mãi trong đời
sống và sau kiếp sống. Ðó là một lối hiểu sai lầm của
Sinh thuyết Vật Ðồng Nhân (Anthropomorphisme) cho rằng tất
cả sinh vật đều có những hành động và tư tưởng như
người.
"Theo biện chứng
Ðạo Ðức Luận những khuyết điểm và những tham vọng chưa
được thỏa mãn trong đời sống phải được bổ khuyết
và đền bù một cách công bình và vĩnh viễn sau đời sống.
Ðó chỉ là một điều mong ước cuồng nhiệt.
"Biện chứng Nhân
Chủng Luận cho rằng sự tin tưởng nơi tính cách bất diệt
của linh hồn cũng như sự tin tưởng nơi một đấng Tạo
Hóa là một chân lý cố hữu trong toàn thể nhân loại. Ðó
hiển nhiên là một sai lầm.
"Biện chứng Bản
Thể Luận chủ trương rằng linh hồn đã là một thực thể
vô hình và bất khả phân chia tất không thể bị liên quan
đến sự vong hoại do cái chết gây ra. Ðiều này căn cứ
trên quan niệm sai lạc của hiện tượng tâm linh một ảo
mộng của Duy Thần Luận.
"Tất cả những
biện chứng kể trên cũng như tất cả những giả thuyết
tương tợ về bản ngã đã lâm vào tình trạng nguy ngập trong
vòng mười năm nay và đã bị khoa học chỉ trích và bác bỏ
hoàn toàn".
Một nhà bác học
khác, ông Hume, sau khi gia công tìm kiếm một linh hồn bất
diệt đã viết trong quyển "Religion and Science" (Tôn Giáo và
Khoa Học) như sau: "Có vài triết gia tưởng tượng rằng trong
mỗi chập tư tưởng chúng ta mật thiết nhận thức cái gọi
là Ta và chúng ta cảm giác rằng cac "Ta" có thật và thật
sự tồn tại. Các triết gia ấy, ngoài sự hiển nhiên của
mọi luận chứng, cũng quả quyết rằng cái Ta hoàn toàn không
biến đổi và không thể phân chia.
"Riêng về phần
tôi, khi thâm nhập mật thiết vào cái mà tôi gọi là "Tôi"
thì luôn luôn tôi vấp phải một cảm giác đặc biệt như
nóng hay lạnh, sáng hay tối, thương hoặc ghét, vui hoặc buồn,
sáng hay tối, thương hoặc ghét, vui hoặc buồn. Tôi chưa từng
bắt được cái "Tôi" ngoài những cảm giác ấy và tôi chưa
hề chiêm nghiệm được cái gì ngoài cảm giác..."
Về vấn đề
linh hồn, Giáo sư William James có viết trong quyển "Principles
of Psychology" (Những Nguyên Tắc về Tâm Lý Học trang 351) "...
Cái Ta (dùng như một túc từ, complément) là một sự kết
hợp do kinh nghiệm cấu tạo với sự vật đã được biết
một cách khách quan. Vậy cái Ta (dùng như một chủ từ sujet)
biết được sự vật ấy không thể là một sự kết hợp.
Không thể dùng cái Ta ấy trong những mục tiêu thuộc về
Tâm Lý và xem nó như một thực thể siêu hình không biến
đổi, một linh hồn trường tồn bất biến. Cũng như không
thể xem nó như một nguyên lý, một bản ngã siêu việt vượt
ra ngoài thời gian. Cái "Ta" chỉ là một tư tưởng biến đổi
từng chập. Không một tư tưởng nào giống chập tư tưởng
trước kế đó, nhưng luôn luôn thuận ứng theo chập tư tưởng
trước để cùng chung hợp lại thành một tư tưởng riêng
biệt".
Trên hai ngàn năm
trăm năm về trước Ðức Phật Gotama đã từng thuyết minh
những điều này khi ngài châu du hoằng pháp trong lưu vực
sông Hằng (gange).
Phật Giáo dạy
một thứ Tâm Lý Học trong đó khong có tâm linh. Phật Giáo
giải thích rằng con người do Danh (Nàma) và Sắc (Rùpa) cấu
tạo và hai phần này ở trong một trạng thái luôn luôn biến
đổi như một dòng suối trường lưu bất tức.
Ðể cho mọi người
được hiểu dễ dàng, đôi khi Ðức Phật gọi toàn thể tiến
trình của những hiện tượng tâm vật lý ấy là cái Ta (Atta)
vì đó là một danh từ ước định đã được thông dụng.
Thực ra trong biến đổi của danh và sắc chỉ có sự tiến
trình là đồng nhất (không biến đổi) mà không có vật đồng
nhất (không có cái chi là trường tồn bất biến).
* * *
Về mặt tâm lý
học, thuyết vô ngã (Anatta) là một chân lý. Ðứng về phương
diện luân lý thuyết ấy là một lợi ích quan trọng.
Bao nhiêu tội
lỗi đã gây ra chỉ vì ta chấp ngã. Ta luôn luôn nói rằng
đây là Ta cái này "Của Ta"và tận dụng tất cả năng lực
và thì giờ để phụng sự cái "Ta". Cái nào thuận chiều
với nó thì ta luyến ái tức là tham (Lobha). Vật nào hay sự
việc nào nghịch lại thì ta bất mãn tức là Sân (Dosa). Tham
với Sân vì bị lớp Si (Moha) bao phủ như đám mây mờ. Ta
nhận ảo là thực, chấp cái ta huyền ảo và luôn luôn biến
đổi là một thực thể trường tồn.
Theo Phật Giáo,
Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả tội lỗi. Vi Diệu
Pháp dạy rằng hành động ác là những hành động do các
loại tâm bất thiện (Akusala citta) làm động cơ thúc đẩy.
Và tâm bất thiện là những loại tâm bắt nguồn từ Tham
(Lobha), Sân (Dosa) và Si (Moha). Vì thế người Phật tử phải
luôn luôn chiến đấu để diệt cái "Ta" cái ngã chấp.
"Hãy dứt
bỏ cái gì không phải của con.
"Sự dứt bỏ
ấy sẽ đem lại cho con Hạnh Phúc và An Vui.
"Cái gì không
phải của con?
"Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức không phải của con.
"Con hãy dứt
bỏ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức
"Ðó là một
sự dứt bỏ sẽ tạo cho con Hạnh Phúc và An Vui"
-- Tạp A Hàm,
XXII, 33
4.
LỤC CĂN VÀ LỤC TRẦN
Sáu cái nhà bỏ
không trong làng là Lục Căn. So sánh như vậy vì khi người
trí tuệ quan sát ngũ quan và cái tâm của mình thì chỉ thấy
sự trống không. Không dấu vết nào của một cái gì - vật
chất hay tinh thần - có thể gọi là của mình. Không thể
tìm ra một linh hồn hay một yếu tố nào vững bền tồn tại,
khả dĩ gọi là bản ngã.
Lục căn là nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Nên hiểu rằng nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
v.v... ở đây không có nghĩa là con mắt hay lỗ mũi bằng da
bằng thịt v.v... Nhãn đây là nhãn căn nhãn quan, phần nhạy
trong con mắt, cái khả năng thấy trong con mắt. Nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý cũng thế. Ý ở đây có nghĩa là nơi xuất phát ra
tư tưởng. [12]
Tất cả chúng
sạnh trong dục giới (Kàmaloka) đều có đủ lục căn, trừ
hững người câm, điếc, mù từ lúc lọt lòng mẹ.
Theo Vi Diệu Pháp,
chúng sanh trong sắc giới (Rùpaloka) không có tỷ căn, thiệt
căn và thân căn. Như vậy có nghĩa là các vị ấy cũng có
mũi, lưỡi và thân nhưng không có khả năng hửi, nếm và
xúc vì các Ngài, ở trên một tầng cao, đã diệt trừ mọi
luyến ái trong dục giới (Kàmaraga). Tuy nhiên các Ngài vẫn
còn nhãn căn và nhĩ căn để dùng trong các việc thiện.
Chúng sanh trong
vô sắc giới, vì không có sắc, không có lục căn. Do ý chí
của các Ngài và năng lực của Thiền, tâm các Ngài không
cần phải nương tựa nơi một loại sắc nào để tồn tại.
Sáu tên cướp
chạy vào làng lùng bắt tên tội là Lục Trần. Lục căn luôn
luôn bị lục trần xâm nhập và lôi cuốn.
Lục trần là
Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.
Sắc (Rùpa) là
đối tượng của sự thấy, vật thấy, cái gì có hình thể
mà mắt nhận thấy được. Nói một cách khác, sắc là nơi
nương tựa, phạm vi, khu vực có màu, là hiện thân của màu
sắc.
Thinh (Sadda), âm
thanh, hay là tiếng động, phát sanh do sự cọ sát của yếu
tố đất trong vật chất.
Hương (Gandha)
và Vị (Rasa) phát sanh do cả bốn yếu tố của vật chất
(Tứ Ðại).
Xúc (Phottobbàrammana)
là vật có thể sờ đụng được (tangible), là đối tượng
của thân căn. Nên ghi nhận rằng xúc (phottabbàrammana) không
phải chỉ là sự đụng chạm (contact). Trong vật chất, ba
yếu tố Ðất, Lửa, Gió có thể sờ đụng được. Ngũ quan
không thâu nhận được nguyên tố Nước.
Pháp (Dhammàrammana)
là tất cả những đối tượng của tâm. Pháp (Dhamma) có thể
là những hiện tượng vật chất hay tinh thần.
Tên cướp thứ
nhất là Sắc. Ðức Phật dạy rằng trên đời không có chi
làm cho tâm một người đàn ông rung động bằng hình dáng
của người đàn bà. Và không có chi làm cho tâm một người
phụ nữ rung động bằng hình dáng của người đàn ông.
Rất khó mà kiểm
soát và thu thúc được nhãn căn vì bao nhiêu hình sắc đẹp
đẽ của ngoại cảnh luôn luôn sẵn sàng làm cho ta xao xuyến.
Lịch sử nhân loại đã chứng tỏ rằng bao nhiêu cơ đồ
đã sụp đổ và bao nhiêu công nghiệp đã phải suy tàn chỉ
vì sắc đẹp. Kinh sách có ghi lại chuyện tích một vị Bồ
Tát đã đắc được nhiều thần thông, chỉ vì không tự
kềm chế được, để tâm rung động trước hình dáng một
phụ nữ mà bao nhiêu công đức tu tập phải tiêu ban như bọt
nước. Chuyện kể ra như sau:
Một vị Bồ
Tát kia đã đắc được nhiều thần thông, thường ngày được
vua thỉnh vào cung điện để dâng cúng vật thực. Một hôm,
từ xa đằng vân tới hoàng thành, vừa hạ xuống hậu cung,
Bồ Tát chợt thấy Hoàng Hậu từ phòng tắm bước ra chỉ
khoác một tấm choàng mỏng. Bất hạnh cho Bồ Tát, trong một
phút xúc động đã mất hết các phép thần thông.
Ta nên ghi nhớ rằng
đây là một câu chuyện xảy đến, không phải cho một người
thường, mà cho một vị Bồ Tát là người đã trong sạch
phát tâm tự nguyện cố gắng trở thành một vị Phật. Ðã
là Bồ Tát và có nhiều thần thông Ngài hẳn đã vượt qua
năm chướng ngại tinh thần (Nivaranà) mà còn phải bị sa ngã
trước hình dáng yêu kiều của một phụ nữ. Vậy chúng ta,
còn phàm phu, phải hết sức cố gắng kềm chế nhãn căn.
Cũng vì lẽ ấy
mà Ðức Phật hằng khuyên nhủ hàng tín đồ nên luôn luôn
thận trọng từng ly từng tý trong việc kiểm soát nhãn quan,
như người lính gác cửa thành từng giây từng phút canh chừng
quân địch. Một khoảnh khắc lơ đỉnh có thể ảnh hưởng
rất tai hại. Bởi thế ai là cha mẹ thầy cô, những người
có trách nhiệm dạy dỗ trẻ em, phải hết sức chú trọng
đến vấn đề nam nữ và luôn luôn ngăn ngừa hậu quả của
sự thân cận giữa đôi bên, người Phật tử thuần thành
cũng phải thận trọng kiểm soát mọi Ái Dục phát sanh do
nhãn quan.
Tuy nhiên, Ðức
Phật không khi nào cố ý khuyên tất cả chúng ta từ khước
mọi lạc thú vật chất để vào rừng tìm nơi thanh vắng
tu hành.
Chúng ta không
tìm cách xa lánh những hạnh phúc vật chất, tuy là tạm bợ
nhưng cũng không làm nô lệ cho thể xác. Ta cảm thấy có hạnh
phúc khi một điều mong mỏi được thỏa mãn. Nhưng bản chất
của chúng sanh là không khi nào biết là đủ. Ðược thỏa
mãn một điều là mong muốn điều khác, không khi nào hoàn
toàn mãn nguyện. Bởi thế ta cần phải cố gắng luôn luôn
giữ tâm trong sạch và thận trọng thu thúc dục vọng.
Một tích chuyện
ghi rằng một ni cô đang hành thiền trong rừng. Một người
đàn ông đi ngang qua, thấy ni cô phải lòng, mãi theo ve vãn
dụ dỗ, Ni cô hỏi: "Tại sao ông lại thương tôi?"
- "Vì Ni cô có
cặp mắt hết sức đẹp". Người đàn ông trả lời.
Ni cô liền thò
tay móc tròng mắt ra, đặt trong lòng bàn tay, đưa cho người
đàn ông và nói: "Ðây là con mắt của tôi, ông còn thấy
đẹp nữa không?".
Muốn giảm bớt
bám bíu vào hình sắc chúng ta nên niệm về sự ô trược
của thể xác là một phương pháp rất hiệu nghiệm. Quán
tưởng thấy xác thân cấu hợp bởi một bộ xương, nhiều
bắp thịt đắp bên ngoài, tất cả bao bọc trong một lớp
da mỏng. Thật không đáng cho ta quý mến chút nào. Vào thời
Ðức Phật có nhiều vị Tỳ Khưu đã đắc quả A La Hán nhờ
tham thiền với đề mục này.
Một hôm có vị
Tỳ Khưu vừa đi bên đàng vừa quán tưởng đề mục xương.
Một người phụ nữ mới giận chồng đi ngược chiều, gặp
vị Tỳ Khưu lại hả miệng cười. Một chập sau chồng của
cô chạy theo tìm cô, thấy vị Tỳ Khưu đi bên đàng thì dừng
lại lễ phép hỏi có thấy một người đàn bà đi trên đường
này không. Vị Tỳ Khưu thản nhiên trả lời: "Bần tăng không
đặng rõ là đàn bà hay đàn ông, bần tăng chỉ thấy có
một đống xương vừa đi qua".
Vị Tỳ khưu trả
lời như vậy vì trong lúc quán tưởng đề mục xương, mắt
vừa thấy hàm răng thì ấn tượng của toàn thể bộ xương
của người phụ nữ phát sanh ra trong nhãn thức ngay.
Mắt bị rung động
vì hình sắc, thì tai bị cảm xúc vì âm thanh, mũi bị kích
thích vì hương, lưỡi vì vị. Về điểm này ta cũng nên hết
sức thận trọng vì mùi ngon ngọt của những vật thực có
chất độc, chất say như rượu mạnh, thuốc phiện v.v... Một
vài hớp rượu mạnh không phải là một trọng tội, tuy nhiên
đó là một khởi điểm nhỏ nhen để đưa ta đến thói quen
chấm chút có chừng mực và cuối cùng tha hồ say sưa vô đội.
Một câu chuyện ngụ ngôn thuật lại như sau:
Một chàng kia,
sau khi ăn học thành tài, từ phương xa về quê nhà, đi ngang
qua một thành phố nọ, nghe tiếng đồn có một đền đài
vô cùng đẹp đẽ, bên trong lại có nhạc kịch tuyệt trần.
Anh lần mò tìm đến và xin vào. Ở một cửa nọ người ta
bảo anh rằng muốn vào chỉ cần phải giết một con vật
sẵn có phía trong. Anh nghĩ thầm: "Xem cung điện và nghe âm
nhạc thì rất là thích thú, nhưng phải giết một sinh mạng
để mua vui thì anh không đành". Anh tìm đến cửa khác thì
được biết rằng muốn vào phải trộm cắp. Anh không chịu.
Qua cửa thứ ba, người ta buộc anh làm điều tà dâm, cửa
thứ tư phải nói dối. Anh cũng từ chối luôn. Cửa thứ năm,
nhỏ hơn các cửa kia, anh được biết rằng muốn vào phải
uống rượu. Anh không chịu. Nhưng người gác cửa nài nỉ
rắng uống chút rượu thì cũng không hại gì mà được xem
cung điện và nghe âm nhạc thì thật là thú vị và mời anh
nếm một giọt thôi. Anh nghĩ thầm: "Uống rượu là một tật
xấu, nhưng nếm thử một giọt nghĩ cũng không đến đỗi
là một lỗi lầm trọng đại. Ta hãy thử nếm một chút xem
sao". Anh chàng liền bằng lòng nếm thử. Thấy ngon và không
có chi hại, anh liền nhắm một hớp, rồi một hớp nữa.
Ngon miệng anh uống một hơi quá chén, và đến lúc bấy giờ
thì, mất bình tĩnh, kém sáng suốt, không tự kềm chế được,
anh hăng hái lần lượt làm những điều xấu xa mà trước
kia anh đã can đảm quyết tâm từ chối. Anh phạm bao nhiêu
lỗi lầm chỉ vì xem thường một giọt rượu.
Thân của ta cũng
là một nhịp cầu để cho ngoại trần xâm nhập và làm cho
ta say mê, sa đọa.
Tâm cũng bị ảnh
hưởng của những tư tưởng xấu xa.
5.
BỐN DÒNG NƯỚC LŨ
Chúng sanh bị
lôi cuốn trong bốn dòng nước lũ (Oghà) hùng mạnh và xoay
tròn thành một cái xoáy vĩ đại, vô cùng nguy hiểm, tràn
ngập ba giới bốn loài.
Bốn dòng nước
ấy là:
- Tham Dục (Kàma),
- Bám bíu vào
đời sống (Bhàva),
- Kiến (Ditthi),
và
- Vô Minh (Avijja).
Bốn dòng nước
lũ này nhận chìm và lôi cuốn chúng sanh vào khổ cảnh.
Dòng nước lũ
đầu tiên là Tham Dục (Kàma), Sự thỏa thích, ham muốn, luyến
ái, đeo níu theo nhục dục ngũ trần.
Phần trên đã
đề cập đến mối nguy cơ của sự dễ duôi để cho lục
trần lôi cuốn. Trong kinh (Potaliya Sutta, M. 54) Ðức Phật so
sánh lòng tham dục với:
1. Một khúc xương
khô, không dính chút thịt, không còn chút máu mà người ta
vứt cho con chó đói. Chó gậm xương mà vẫn đói. Cùng một
thế ấy chúng sanh đeo níu theo nhục dục nhưng không được
thỏa mãn.
2. Một miếng
thịt mà những loại chim như kên kên, quạ, ó, cắn đá nhau
để dành ăn. Nếu một con ngậm được mà dành lấy một
mình thì những con kia bay lại vừa mổ vừa đá, không chết
thì cũng chịu đau đớn. Lòng tham dục cũng đưa chúng sanh
vào những cuộc cạnh tranh huynh đệ tương tàn như vậy thật
vô cùng nguy hiểm.
3. Một cây đuốc
cháy để phía trên gió. Nếu không cẩn thận chạy tránh thì
ắt bị tàn đuốc bay đến làm phỏng da. Cũng dường thế
ấy, tham dục đốt cháy những ai không chịu suy tưởng, không
thận trọng chạy tránh, nhắm mắt lao mình vào những khoái
lạc vật chất với lòng tin tưởng rằng nó sẽ đem lại
ánh sáng và hạnh phúc.
4. Một hầm than
đang cháy đỏ, và chúng sanh như người kia, bị đám người
khác kéo lôi đến. Nếu không mau chân chạy thoát đám người
hung tợn nọ thì ắt bị xô đẩy vào hầm lửa. Tham dục
không khác nào một bể lửa khổng lồ (Mahàbhitàba) và nạn
nhân là những ai bị lục trần lôi cuốn. Lòng tham dục đưa
chúng sanh đến sự tái sanh trong khổ cảnh.
5. Một giấc mộng
đẹp. Nằm mơ thấy phong cảnh đẹp đẽ hữu tình. Lòng nhẹ
nhàng khoan khoái. Nhưng khi tỉnh giấc, cảnh đẹp đều tan
đâu mất. Cùng một thế ấy, tham dục là một ảo kiến ngắn
ngủi (Ittarapaccupathàna), không khác một giấc mộng. Khi tỉnh
giấc mơ, trở về với thực tế, với những lo âu, phiền
não hằng ngày, nạn nhân lấy làm thất vọng và đau khổ.
6. Một món đồ
vay mượn mà người cuồng sĩ lấy làm hãnh diện khoe khoang
với hàng xóm láng giềng. Khi món đồ bi đòi lại thì người
hàng xóm chỉ coi anh là người nói khoác. Tham dục là lòng
ham muốn những thú vui tạm bợ, huyền ảo.
7. Một trái cây.
Chàng kia thèm thuồng, trèo cây bẻ trái. Một người khác,
cũng ham muốn trái ấy mà không trèo được, sanh lòng ganh
tỵ, chặt ngã cây nếu không nhanh chóng tuột xuống thì anh
trèo cây phải bị té, không gãy chân gãy tay thì cũng mang
thương tích. Người có lòng tham dục, nhắm mắt chạy theo
nhục dục ngũ trần cũng bị gãy tay gãy chân như vậy và
thương tích đây có thể là những thương tích vật chất
lẫn tinh thần.
Dòng nước lũ
thứ nhì là sự luyến ái, bám chặt vào đời sống (Bhàva).
Chính Bhàva tạo điều kiện để tái sanh. Bhàva là dòng nước
lũ nguy hiểm lôi cuốn chúng sanh mãi mãi lặn hụp trong vòng
luân hồi.
Tà kiến (Ditthi)
là dòng nước lũ thứ ba. Phạn ngữ (Ditthi) do căn nguyên "dis"
có nghĩa là thấy, trông thấy. Ditthi là quan điểm, sự tin
tưởng, ý kiến v.v... Sammà Ditthi là chánh kiến. Miccha Ditthi
là tà kiến. Ðứng lẻ loi một mình Ditthi có nghĩa là tà
kiến.
Tà kiến (Ditthi)
không đồng nghĩa với S, (Moha). Si (Moha) như đám mây mờ bao
phủ che án, không cho tâm trông thấy sự vật. Tà kiến (Ditthi)
quả là một quan điểm rõ ràng. Tà kiến gồm hai giai đoạn:
nhận xét sai lầm và hiểu biết theo quan điểm sai lầm ấy.
Người có tà kiến nghĩ: "Thực tế phải như vầy, thế này
mới đúng, tất cả đều sai". Tà kiến nghịch nghĩa với
trí tuệ. Trí tuệ nhận xét thực tướng của sự vật. Tà
kiến gạt bỏ chân tướng và chấp nhận một quan điểm sai
lầm.
Người tà kiến
hiểu rằng đây là "Ta". Cái này "của Ta" và do đó bao nhiêu
lỗi lầm phát sanh.
Có mười tà kiến:
1. Tin rằng không
có cái gì gọi là "để bát" (dinnan) (câu này có nghĩa để
bát chư Tăng không đem lại cho ta lợi ích nào).
2. Tin rằng không
có cái gì gọi là "Cúng dường" (ittham), hay
3. Tin rằng không
có cái gì gọi là "Dâng tặng" (butan).
(Hai
câu này có nghĩa là cúng dường Ðức Phật và Chư Tăng, bố
thí vật thực và dâng tặng vật dụng đến những người
cần đến không đem lại cho ta lợi ích gì).
4. Tin rằng không
có nhân quả. Hành động thiện hay ác đều không gây hậu
quả nào.
5. Tin rằng không
có cái gì gọi là "thế gian này", hay
6. Tin rằng không
có cái gì gọi là "Thế gian tới".
(Những
người sanh ở đây không chấp nhận có kiếp sống quá khứ
và những người sống ở đây không chấp nhận một đời
sống vị lai).
7. Tin rằng không
có "mẹ", hay
8. Tin rằng không
có "Cha".
(Hai
câu này ngụ ý rằng đối xử với cha mẹ như thế nào cũng
không có hậu quả).
9. Tin rằng không
có chúng sanh chết và tái sanh (Opapàtika).
10. Tin rằng không
có những bậc tu sĩ xa lánh chốn phồn hoa đô hội để tìm
nơi vắng vẻ tham thiền và những bậc thiện trí thức, đức
độ cao thượng, đạo hạnh trang nghiêm đã thành tựu đạo
quả (ám chỉ chư Phật và chư vị A La Hán).
Dòng nước lũ
thứ tư là Vô Minh (Avijja) không hiểu biết. Vô Minh là không
hiểu biết Tứ Diệu Ðế. Vô Minh dẫn dắt chúng sanh đi mãi
trong vòng luân hồi.
6.
CHIẾC BÈ - BÁT CHÁNH ÐẠO
Chiếc bè tượng
trưng Bát Chánh Ðạo, con đường duy nhất dẫn chúng sanh đến
Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của người tu Phật. Bát Chánh
Ðạo là: Chánh Kiến (Sammà Ditthi), Chánh Tư Duy (Sammà Sankappa).
Chánh Ngữ (Sammà Vacca), Chánh Nghiệp (Sammà Kammanta), Chánh
Mạng (Sammà Ajiva), Chánh Tin Tấn (Sammà Vàyàma), Chánh Niệm
(Sammà Sati) và Chánh Ðịnh (Sammà Samàdhi).
Trong tám yếu
tố này Chánh Kiến và Chánh Tư Duy thuộc về Trí Tuệ; Chánh
Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng thuộc về Giới; Chánh Tin
Tấn, Chánh Niệm và Chánh Ðịnh thuộc về Ðịnh.
Giới (Sila):
Chánh Ngữ
Chánh Nghiệp
Chánh Mạng
Ðịnh (Samàdhi):
Chánh Tinh Tấn
Chánh Niệm
Chánh Ðịnh
Tuệ (Pannà):
Chánh Kiến
Chánh Tư Duy
Theo thứ tự, Giới,
Ðịnh, Tuệ là ba giai đoạn của "con đường" dẫn dắt đến
Niết Bàn.
Một hôm, Ðức
Phật dạy các Tỳ Khưu như sau:
"Hỡi này các
Tỳ Khưu, thí dụ như có một người đi trên đường, thấy
trước mặt có một con sông rộng lớn. Bờ bên này thì hiểm
nghèo đáng sợ còn bờ bên kia thì an toàn và không nguy hiểm.
Ngó quanh quẩn, anh không tìm đâu ra được thuyền bè hay cầu
để sang bên kia bờ. Khách đi đường mới nghĩ: "Ðây là
một con sông rộng lớn. Bờ bên này thì hiểm nghèo đáng
sợ. Bờ bên kia thì an toàn và không nguy hiểm. Ðể sang sông
lại không có thuyền bè, cầu cũng không. Tại sao ta lại không
tìm lau, sậy, cây, nhánh, lá để kết lại làm một chiếc
bè?". Nghĩ vậy anh liền gom góp lau, sậy, cây, nhánh, lá, kết
lại thành bè. Ngồi trên chiếc bè ấy, anh dùng cả tay lẫn
chân, hết sức cố gắng bơi riết, băng sông qua bờ bên kia.
Ðến bờ an toàn anh lại nghĩ: "Chiếc bè này thật hữu ích.
Nhờ nó mà ta vượt qua được con sông rộng lớn. Vậy, bây
giờ ta có nên đội nó trên đầu hay khiêng trên vai để luôn
luôn đem nó theo ta không?" Các vị Tỳ Khưu nghĩ thế nào?
Người đi đường có nên vác chiếc bè theo bên mình không?
- Bạch Ðức Thế
Tôn, không.
- Vậy anh phải
làm thế nào với chiếc bè?
Và Ðức Phật
nói tiếp: "Hỡi này các Tỳ Khưu, khi đã vượt con sông rộng
lớn và bước chân lên bờ bên kia, người đi đường nghĩ:
"Chiếc bè này quả thật hữu ích. Nhờ nó và nhờ sự cố
gắng dùng cả tay lẫn chân để bơi, ta đã vượt qua sông
và đến bờ an toàn. Bây giờ ta kéo nó lên bờ rồi bỏ đi
hay để nó trôi theo dòng nước, còn ta thì thong thả nhẹ
nhàng đi đâu tùy thích. Như vậy có nên không?" Hỡi này các
Tỳ Khưu, người đi đường có nên hành động như thế không?
Cùng một thế
ấy, những lời dạy của Như Lai cũng như chiếc bè: Mục
đích của nó là đưa ta vượt sông chớ không phải để ta
bám vào nó".
* * *
Bát Chánh Ðạo
(Magga Ariya Sacca) chỉ là những phương tiện đưa đến Niết
Bàn.
Tất cả các pháp
hữu lậu đều là VÔ THƯỜNG, KHỔ NÃO, VÔ NGÃ. Người sáng
suốt nhận thức như vậy và sẽ chán chê thân Ngũ Uẩn. Ðó
là Thanh Tịnh Ðạo. -- (Kinh Pháp Cú)
Bố thí vì lòng
từ bi...
Cho những người
thiếu thốn với tấm lòng thương xót...
Ðó là mầm giống
quý báu, cao thượng hơn tất cả những gì rực rỡ huy hoàng
mà vô bổ.
Với tấm lòng
thành kính, dâng cúng đến bậc thầy tổ, mẹ cha, đến bậc
ân nhân và bậc thiện trí thức... lại càng cao quý.
Cho ra để gieo
duyên lành, truyền bá chân lý và mở đường dẫn lối đến
Giới, Ðịnh, Tuệ.
Ðó là bố thí
cao thượng!
* * *
Hạnh phúc thay
Chư Phật giáng sinh!
Hạnh phúc
thay Giáo Pháp cao minh!
Hạnh phúc
thay Tăng Già Hòa hiệp!
Hạnh phúc
thay Tứ Chúng đồng tu!
-- (Kinh Pháp
Cú)
Chú thích:
[1] Poussin. "The
Way to Nirvana" trang 68.
[2] Theo Phật
giáo có ba giới:
1. Dục giới
(Kàmaloka), chia làm 11 cảnh là 4 cảnh khổ (Apàya) 1 cảnh người
(Manussaloka) và 6 cảnh trời dục giới (Sagga).
2. Sắc giới
(Rùpaloka) gồm 16 cảnh mà những người đắc thiền sắc giới
(Rùpaijhànas) tái sanh vào đó.
3. Vô sắc
giới (Arùpaloka). Do nhờ năng lực thiền định, hành giả
thọ sanh trong cảnh vô sắc, chỉ có tâm (danh) mà không có
hình thể (sắc).
Theo thường, danh
và sắc cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết
để sinh hoạt, không thể bị phân tán. Nhưng trong những trường
hợp đặc biệt, do nơi ý chí dõng mãnh trong lúc tham thiền,
hành giả có thể tách rời danh và sắc, như ở cõi vô sắc,
thể xác không còn là một yếu tố cần thiết để tâm tồn
tại.
[3] Majjhima Nikaya
(Trung A Hàm) - Mahatanhà Samkhaya Sutta, Kinh Đoạn Tận Ái, số
38.
[4] Có thể
nói thức tái sanh này là điểm kết hợp (point de liaison) hoặc
là một hình thức di chuyển của giòng nghiệp lực từ một
chúng sanh vừa tắt thở qua một thai bào thích ứng khác để
thể hiện một chúng sanh tương xứng với sức phản động
của hành vi thiện ác quá khứ (nghiệp lực).
[5] Parama
là cái gì không thể thay thế (aviparita) trừu tượng (nibbattita).
Attha là vật. Paramattha là vật không thể thay thế,
vật trừu tượng, thực tế trừu tượng.
[6] Trong sự
thấy, mắt, vật để thấy và thức là 3 yếu tố cần thiết.
Ánh Sáng là môi vật (medium). Cũng như không khí là môi vật
của sự nghe và sự ngửi.
[7] Theo Vi Diệu
Pháp, Vinnàna (Thức) đồng nghĩa với Citta (tâm vương).
[8] Trong một
chớp nhoáng có hằng triệu triệu chập tư tưởng.
[9] Vì trong
khoảng thời gian giữa hai cái gõ thì bao nhiêu triệu tế bào
đã tiêu diệt và được thay thế trong ngón tay cũng như trong
chất gỗ của bàn.
[10] Nếu phân
một giây đồng hồ ra làm 1.000.000.000.000.000.000.000.000.000.
Vật chất tồn tại trong 1 phần ấy.
[11] Phân Anh
(inch), bằng 2,54 cm. Chia 2,54 cm ra làm 30 triệu lần. Tế bào
đầu tiên của con người lớn bằng 1 phần.
[12] Có thuyết
chủ trương rằng tư tưởng xuất phát từ trái tim, khoa học
chủ trương rằng tư tưởng xuất phát từ bộ óc. Ý ở đây
chỉ có nghĩa là nơi xuất phát của tư tưởng.