Lời
Giới Thiệu
Thời
giờ của mỗi người chúng ta rất ít mà công việc thì lại
rất nhiều cho nên ta thường không lo tu học mà chỉ lo chu
toàn những việc trong cuộc sống thôi. Cuộc đời này
không bao giờ hết việc vì vừa xong và buông bỏ việc này
thì lại còn việc khác. Do đó chúng ta phải tranh thủ
thời gian để tu học không nên để tới ngày mai vì khi vô
thường đến thì làm gì có được ngày mai. Trong cái
vô thường thì người tu phải ý thức rằng những gì mà
mình có thể làm được để tốt đẹp về mặt đạo đức
thì mình nên làm ngay chẳng nên đợi tới lúc mình già hoặc
ổn định mới làm. Đạo Phật là hiện thực không có
chờ đợi hoặc hẹn hò vì vậy mới có câu “Cần tu như
lửa đốt đầu”. Hạnh phúc mà chúng ta đang có là được
nghe và học giáo lý Phật, được gặp gỡ nhau trên cùng một
đạo lộ và sẽ cùng đến một mục tiêu, được cùng chia
xẻ kinh nghiệm của các vị tu sĩ và pháp hữu. Đây
là hạnh phúc Phật đã nói trong Kinh Pháp Cú: “Hạnh phúc
thay chư Phật giáng sinh, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh
phúc thay Tăng già hòa hiệp và hạnh phúc thay tứ chúng đồng
tu.” Chúng ta cố gắng tranh thủ thời gian trong cuộc
sống để tìm một hạnh phúc thật trong mỗi ngày bằng con
đường chánh niệm của đức Phật đã dạy. Làm thế
nào để nhận thức được quá trình thời gian vô thường
trôi qua trong cuộc sống? Làm thế nào để có chánh niệm
vững chắc có thể phá vỡ được những ràng buộc của tự
thân để cuối cùng tự đạt được an lạc? Tiếng phạn
có danh từ “maya” nghĩa là ảo ảnh dùng để diễn tả
cuộc sống của chúng ta đây. Trải qua một thời gian
của 10 hoặc 20 năm cách xa quê hương, biết bao thay đổi từ
thế hệ này qua thế hệ khác, những thay đổi đó gọi là
ảo ảnh. Khi nhận thức cuộc sống này là ảo ảnh thì
chúng ta làm gì để giữ được sự an ổn hoặc, nói một
cách khác, nhân cách sống của đạo Phật làm gì để hỗ
trợ cho chúng ta được ổn định, tìm hạnh phúc thật sự
trong từng giây phút ngắn ngủi của maya? Đức Phật nói rằng
mỗi Phật tử khi hiểu được hành động, lời nói, suy nghĩ
của mình thì người đó sống một đời sống chân thật
thanh tịnh và vì người mà không vì mình thì sẽ không bao
giờ chiêu cảm đau khổ. Hạnh phúc là những cái mà
chúng ta sẵn có, cảm nhận được chứ không phải là cái
mà chúng ta chạy đi tìm kiếm. Khi chờ đợi, theo đuổi
hạnh phúc thì chúng ta vô tình đóng hết những hạnh phúc
đang có sẵn ở xung quanh mình. Hạnh phúc xung quanh còn tồn
tại là bởi vì chúng ta có một kho tàng trí tuệ mà đức
Phật đã giáo dưỡng cho chúng ta. Đức Phật đã nói
rằng: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” và ngọn đuốc
đó là tự thân của mỗi người chúng ta.
Sau
đây là những góp nhặt của 6 bài giảng của Thầy Thích
Minh Hiếu. 6 bài giảng này (Hạ Thủ Công Phu, Thực Tập Quán
Niệm, Nghệ Thuật Chăn Trâu, Phóng Hạ Đồ Đao, Hồi Đầu
Thị Ngạn, Thiền Tịnh Song Tu) chỉ là phần nhỏ của số
băng thâu cho những thời giảng Pháp của Thầy tại Úc, Mỹ,
Gia Nã Đại và Âu Châu. Vì đề tài của những bài này có
phần liên quan với nhau nên đã được tóm tắt lại thành
một bài để chúng ta nắm được ý chính trước khi tuyển
lựa đề tài để nghe và học hỏi thêm trong hơn hàng trăm
băng giảng của Thầy (www.minhquangthienvien.com).
*****
HẠ
THỦ CÔNG PHU
Trong
việc tu học thì có nhiều nhưng phần hạ thủ thì lại hiếm
hoi vì hành giả không chịu xả cho nên tiếp thu không được.
Hạ thủ là ra tay và cần sự dấn thân, công phu là làm việc
gì đó một cách cần mẫn, tập trung. Khi hiểu được
rõ ràng thì thực hành mới có thể đem đến kết quả hữu
hiệu cho sự học tập. Đạo Phật là con đường hiện thực
và chỉ thẩm thấu trong ta thì mới tồn tại được.
Con đường này sẽ không đi hết nếu như ta không có một
sở đắc hoặc thành tựu nào đó để chúng ta tiếp tục
trong đời này hoặc đời sau. Hạ thủ công phu đem đến
sự thành tựu cần thiết đó. Phật đã hạ thủ công
phu, đã nhất quyết ngồi cho đến khi giác ngộ thì nay chúng
ta mới có những giáo lý của Ngài.
Chúng
ta không nên phân biệt giai cấp trong việc tu học Phật.
Tâm lý ta là hay nhìn lên nên chỉ có thấy những sai biệt.
Đức Phật đứng trên nhìn xuống thì ngài nhìn tổng quát,
không thấy sai biệt. Khi Phật giác ngộ, Ngài muốn nhập
Niết Bàn vì thấy thế giới này quá phức tạp, đầy dẫy
hoài nghi cho dù có dạy Pháp cũng không chịu nghe. Tứ
Thiên Vương hiện ra để thỉnh Phật chuyển pháp luân và
thưa rằng: “Thế gian này tuy là như vậy nhưng cũng có người
thượng căn muốn nghe Pháp”. Phật nhìn hồ sen thì thấy
có sai biệt trong những bông sen trong hồ và hiểu những sai
biệt đó cho nên đem ra nhiều phương tiện để độ sanh.
Nếu chúng ta cố gắng hạ thủ công phu thì một ngày nào
đó ta cũng có thể vươn lên trên mặt hồ. Cho dù sinh
ra trong cái chỗ tận cùng trong thế giới, ta cũng có khả
năng để vươn lên và thoát ra khỏi những chỗ dơ bẩn, đau
khổ, chỉ cần ta có quyết tâm hạ thủ hay không.
Bước
đầu tiên là xả toàn bộ tất cả những gì thuộc về nhân
ngã cá nhân để ta có thể tiếp thu tinh hoa của Phật
học bởi vì chỉ có vô ngã mới có Niết Bàn. Kiến
thức rất dễ tạo nên cái ngã và ngã sở hữu cho nên phải
biết rằng kiến thức là để trang bị cho sự tu học của
chính mình và chia xẻ kinh nghiệm với bạn đồng tu chứ không
để hơn thua.
Hạ
thủ công phu là trở lại tìm mình hoặc tìm cái bản lai diện
mục của mình. Sau đây là những phương pháp tu liên
hệ đến hạ thủ công phu:
HẠ
THỦ
1.
Quyết tâm dừng lại những khát vọng, nhu cầu. Chúng ta cần
có sự thành tâm và một căn bản vững vàng để không dễ
bị lay chuyển.
•
Phải chấp nhận dừng khát vọng thì mới có thể hạ thủ
công phu
•
Nhân quả rất là chính xác. Chúng ta có thể dối thiên
hạ hay chính ta, nhưng ta không thể dối công lý. Cho nên
khi ta dừng lại những tham vọng thì mới có thể tránh gieo
nhân quả xấu.
•
Phước hữu lậu và công đức: Phước hữu lậu chỉ
đem đến giàu sang, phú quý mà chính những thứ đó nhiều
khi lại là chướng ngại cho hạ thủ công phu. Khi có
công đức thì sự thành tựu đó có thể đem ta đến chỗ
cao thượng hơn và ta có y báo nên đi đâu cũng có sự bảo
vệ.
2.
Quyết tâm xả bỏ tạp niệm.
•
Tịnh tâm lắng nghe chính mình có nghĩa là tìm vị chân sư
của chính mình. Chân lý là chính ta và ta phải tự dấn
thân để tìm chân lý. Nói một cách khác là mỗi người
chúng ta đều có Phật tánh. Muốn được tịnh tâm thì
ta phải làm chủ những khái niệm, hành động của chính ta
trong đời sống hằng ngày thì cơ may ta mới có sở đắc.
•
Khi không có tạp niệm thì ta sẽ nhận ra chân lý nhưng lúc
này là còn nghe Phật nói. Mãi lắng nghe cho đến khi mình
không còn thấy Phật, không còn nghe Phật nói nữa thì ta đã
hoàn toàn hội nhập với Phật tánh trong ta.
•
Luyện tập cho đến lúc tâm hoàn toàn nhất như, không có
tạp niệm thì mới mong có thành công trong phần hạ thủ.
Khi bước vào thiền, tất cả những kiến thức, nhu cầu của
chúng ta đều phải dừng lại, không còn truy cầu nữa.
Cho nên trước khi bắt đầu hạ thủ chúng ta cần phải có
một thời gian dừng lại. Thường thì ta hay để cho tâm
suy nghĩ đủ thứ chuyện của thế gian và tự gieo nhân khổ
đau. Khi ta bắt đầu hạ thủ thì ta nên kiểm soát và
tế nhị trong mỗi ý niệm, hành động và việc làm vì chính
những thứ này gieo nhân quả.
“Thường
tự thấy lỗi mình
Không
nói lỗi của người
Người
lỗi ta không lỗi
Nói
lỗi là tự mình lỗi
Tâm
trụ chỗ niệm Phật”
3.
Quyết tâm làm cái phương pháp đã chọn và phải miên mật
với phương pháp đó một thời gian lâu dài.
•
Khi hạ thủ thì ta phải có sự chuẩn bị để đi một con
đường dài.
•
Phải tìm một phương cách nào đó để tìm chỗ tham trú,
quyết tâm tìm về bản lai của ta và hạ thủ công phu.
Chỉ có như vậy thì mới giống như chư Phật, chư Bồ Tát
hạ thủ công phu xưa kia. Chúng ta ngày nay là chỉ tu chơi
thôi chứ không miệt mài như các Ngài.
•
Nếu như chúng ta tu mà cứ hướng ngoại hoài thì càng mệt
mỏi. Chúng ta không có thời gian để giải đáp những
thắc mắc viễn vông của xã hội, thế giới mà mỗi người
chúng ta phải tìm lại chính mình tức là cần phải hướng
nội. Ta tự hỏi rằng lâu nay ta chưa tu cái gì? Chưa
làm được cái gì?
CÔNG
PHU
Công
phu là làm một việc gì đó cho đến khi hoàn mỹ cho nên tốn
rất nhiều công sức và tâm niệm.
1.
Quyết tâm công phu miên mật để tích trữ nhân thiện và
hưởng quả thiện, thí dụ: muốn nhơn thừa thì thọ
tam quy và ngũ giới, muốn thiên thừa thì tu thập thiện nghiệp.
2.
Khi niệm Phật thì tránh được miệng nói lời thị phi và
lạy Phật để thân bớt đi những hành vi ác:
Thêm
niệm nhiều câu Phật bớt nhiều lời thị phi
Thêm
lạy nhiều đức Phật bớt nhiều ác hành vi
•
Thời gian không có nhiều cho nên ta phải quyết tâm hạ thủ
công phu mà không hề để ý đến những chuyện xung quanh nữa.
Thế giới này lần lần hủy diệt, biến động và chi phối
bởi vô thường và ta không còn nhiều thời gian nữa nên ta
phải nhanh chóng quyết tâm hạ thủ công phu. Ta cần dùng
thời gian để niệm Phật, để tìm lại bình an cho chính mình
và lạy Phật để cầu nguyện cho chính mình, để tăng thêm
công đức hoặc sám hối tội lỗi, có nghĩa là ta nên làm
những hành động thiết thực thay vì những niềm tin vu vơ.
Nhưng cái chính là phải có căn bản vững vàng để làm tư
lương.
THỰC
TẬP QUÁN NIỆM
Quan
điểm đạo Phật có hai khía cạnh:
1.
Khi đức Phật giới thiệu cảnh Niết Bàn thì đồng thời
ngài cũng cho chúng ta thấy được khổ đau của sinh tử.
2.
Trong Tứ Diệu Đế, đức Phật thuyết minh về nguyên nhân
nào đưa đến khổ rồi tuần tự ngài đưa ra con đường
diệt khổ và đạo diệt khổ. Nếu muốn thoát sinh tử,
chúng ta phải biết nguyên nhân nào đưa đến khổ đau và
đạo lộ nào đi đến Niết Bàn.
Khi
chúng ta bị quá nhiều đau khổ, áp lực, tuyệt vọng thì
chúng ta đâm ra ước mơ, mong đợi, thiết tha. Tỷ dụ
như người rớt sông mà khi mất đi cái phao chính thì họ
bám víu vào bất cứ người nào. Cũng vậy, trong quá
khứ chúng ta đã mất mát quá nhiều cho nên chúng ta bám víu
vào cái hạnh phúc của hiện tại dù cho hiện tại này rất
mỏng manh. Chính cái bám víu đó tạo cho chúng ta khổ
đau bởi vì hy vọng nhiều thì tuyệt vọng nhiều. Chánh
niệm là con đường mà không cho chúng ta bám víu vào những
cái hạnh phúc mỏng manh mà là con đường đưa chúng ta đến
hạnh phúc thực tại. Con đường chánh niệm này chỉ
có thể thành tựu với những ai tự đi từng bước, tự nhận
thức từng kinh nghiệm để hưởng được hạnh phúc, tự
nổ lực vượt ra khỏi những tham ái để có được sức
mạnh chịu đựng cuộc đời và biến thế gian này thành Tịnh
Độ. Cho nên bến vinh quang chỉ chờ đón những con thuyền
đi trong giông tố. Để thật sự hưởng cái hạnh phúc của
chánh niệm, chúng ta phải tự nhận ra những gút mắc, nhận
ra con đường nào tháo gỡ gút mắc đó để tự giải thoát
và tiết ra những chất liệu gì để có đủ sức mạnh dấn
thân vào đời và biến thế gian này thành Tịnh Độ.
Đi
trong chánh niệm là đi để mà đi chứ không phải đi để
tìm chỗ đến, có nghĩa là đi với một tâm tư an lạc, hơi
thở nhẹ nhàng và miệng mỉm cười bởi vì chúng ta có hạnh
phúc. Từng bước chân đi chúng ta biết là mình đang
nghĩ gì, đang nói gì, đang làm gì và không chạy theo ảo ảnh
của maya. Khi thực tập trong chánh niệm, chúng ta không
hồi tưởng về quá khứ hoặc ước mơ của tương lai.
Như vậy, sau khi nhận chân nguyên nhân đưa đến khổ đau,
chúng ta tìm nguyên nhân nào đưa đến Niết Bàn.
Vô
Ngã là Niết Bàn
•
Nguyên nhân đưa đến sinh tử khổ đau là tham ái, chấp thủ,
vô minh đã đem chúng ta qua 12 năm, 120 năm, 1200 đời.
•
Nguyên nhân đưa đến Niết Bàn là tỉnh thức, trí tuệ, chánh
niệm và chánh trí thường soi sáng từng bước chân, từng
ý niệm của chúng ta.
Theo Duy
Thức Học, trong khi đi vào đời, mỗi hành động, ý niệm
chúng ta huân tập từng chút một rồi chúng ta lầm lẫn nghĩ
rằng chúng ta có thể hóa giải được tất cả và không bị
đời làm ô nhiễm, do đó không tự nổ lực để quán niệm
và giải thoát khỏi những ràng buộc của chính mình mà cứ
lo nhìn vào những lỗi lầm của người khác thì cuối cùng
chúng ta chẳng thể đạt giải thoát.
Pháp
môn quán niệm là pháp môn của chánh niệm tức là mỗi người
phải tự quán sát nội tâm của chính mình để tự cắt đứt
những sợi dây phiền não, tham ái. Thường tự nổ lực
với chánh kiến tạo nên một sức mạnh đề kháng để chúng
ta chịu đựng được trần gian, và cho dù sau này có đi vào
trần gian nhiều lần chúng ta cũng không sợ trần gian làm
cho hoen ố.
Chỉ
có phút hiện tại là phút chánh niệm và là giây phút tuyệt
vời bởi vì chúng ta hưởng hạnh phúc bằng chính mình tạo
nên chứ không qua một môi trường nào khác. Thường
tự quán sát lại chính mình trong chánh niệm tức là phản
quan tự tánh để tiêu diệt những tham chấp, thanh lọc đi
những hạt giống bất tịnh và dùng từ, bi, hỷ, xả mà tưới
vào vườn tâm chứa đựng những hạt giống của thương yêu,
hiểu biết, an lành. Cho dù sống trong ảo ảnh, chúng
ta cũng không bị ảo ảnh lôi cuốn và như vậy chúng ta đang
sống trong chánh niệm. Khi nào tự mình vượt ra được
những ràng buộc, chướng ngại và hiểu rõ nguyên nhân làm
cho mình sinh tử để rồi không còn ngã chấp nữa thì trong
thế giới này chúng ta được tự tại, đây là con đường
đi vào Niết Bàn. Trong Kinh nói rằng Phật đã sống trong
thiền định suốt 24 giờ mỗi ngày tức là sống trong chánh
niệm. Ngài tự điều động ba nghiệp thân, khẩu, ý
thiện lành bằng khả năng của chính mình và hướng dẫn
cuộc sống đưa đến con đường hạnh phúc cho chư thiên và
loài người.
Tìm
lại chính mình, tìm được sự an tịnh, tìm được cái hạnh
phúc mà không cần dùng đến dục vọng là chúng ta đã làm
chủ thân và tâm. Giá trị của chánh niệm, của những
người tu học theo đạo Phật là làm chủ được phút giây
nào có nghĩa là chúng ta được giải thoát giây phút đó.
NGHỆ
THUẬT CHĂN TRÂU
Đức
Phật nói: “Trong đời này có 4 hạng người:
Đó
là người từ bóng tối đi vào trong bóng tối: Có những
người rất nghèo khổ dù cho được ở trong một nước văn
minh, tốt đẹp mà họ vẫn đi theo con đường cũ và tiếp
tục tạo ác nghiệp
Người
từ bóng tối đi lần vào ánh sáng: Người sanh ra bất
hạnh hơn người khác nhưng vì hiểu đạo và rõ nhân quả
nên tạo thiện nghiệp để kiếp sau tốt hơn, tiếp tục học
Phật và làm người lương thiện
Người
từ ánh sáng đi vào trong bóng tối: Người được sanh
vào cảnh giàu có, đầy đủ do kiếp trước có phước lành
nhưng kiếp này lại không chịu tu học và chỉ tạo ác nghiệp
Người
từ ánh sáng đi lần vào ánh sáng: Người được sanh vào
chỗ giàu có, quyền lực mà vẫn tiếp tục làm việc thiện
Là
một người Phật tử thì ta nên biết làm thế nào để duy
trì cái hạnh phúc của mình để không bị rơi vào khổ đau.
Muốn cho mình không bị khổ đau thì mình không gieo khổ đau
đến với những người khác. Nếu muốn biết quả báo
sau này thì mình xem những việc mình đang làm bây giờ là
gieo hạt giống gì trong tương lai. Khi mình thấy là mình
sống đầy đủ, bình an và mình làm những việc tốt cho người
khác để họ bớt đau khổ thì đó là người từ ánh sáng
đi vào trong ánh sáng. Trong cuộc đời vô thường này,
không có ai có thể bảo đảm hoặc che chở cho ai hết và
chỉ có phước đức mà tự mình tạo nên là có thể che chở
cho mình. Do đó khi mình ở trong ánh sáng thì mình đừng
bao giờ để cho mình đi trở lại vào bóng tối. Có nghĩa
là mình đã được sanh vào chỗ tốt đẹp hơn người khác
thì mình hãy tiếp tục trì giới, bố thí, làm lành, đừng
gây khổ đau cho người khác để tự mình đi vào ánh sáng
trong đời này và đời sau.
Đạo
Phật là từ ánh sáng này ta đi vào trong ánh sáng khác để
càng lúc càng trở thành con người cao thượng hơn, chẳng
hạn như làm người rồi lên cõi trời và lên mãi cho đến
khi giác ngộ.
Quan
điểm Phật học qua bức tranh chăn trâu:
Bước
đầu tu là ta quy ngưỡng Phật, Pháp và Tăng một cách chân
chánh và đây là tìm trâu. Với sự ổn định tâm linh
này ta chắc chắn sẽ không bao giờ bị đọa lạc (không bao
giờ rơi vào địa ngục, không bao giờ rơi vào ngạ quỷ và
không bao giờ rơi vào súc sanh). Lên một bậc nữa là
ta bắt đầu chăn trâu có nghĩa là ta cải thiện hệ thống
con người mình để con trâu đen trở thành con trâu trắng
có nghĩa là từ con người phàm phu trở thành con người thánh
nhân.
Đức
Phật dạy rằng trẻ chăn trâu có 11 cái nghệ thuật chăn
trâu như sau:
1.
Phải
biết dễ dàng nhận ra con trâu của mình khi nhìn vào một
đàn trâu
Người
tu phải biết nhận ra yếu tố chính (đất, nước, gió, lửa
và không, kiến và thức) tạo nên sắc thân của mình.
Do mê mờ nhận sắc thân này là thật mà mình sanh ra ngã,
sở hữu và khổ đau. Những yếu tố này là tạm bợ
và bị tan rã khi ta chết cho nên mình đừng quá yêu thương,
nuông chiều, lệ thuộc vào nó để rồi tạo nghiệp ác và
chịu khổ đau. Duyên sinh không có thực chất do đó theo
cái nhìn của mỗi người mà có khác biệt và theo thời gian
mà nó tự hoại diệt. Khi hiểu được lý duyên sinh thì
mình không chấp thủ để chịu khổ đau.
2.
Phải
biết hình tướng của mỗi con trâu
Người
tu phải biết dùng trí tuệ để kiểm soát những hành động
của thân, khẩu và ý của mình. Trước khi nói lên hoặc
làm một điều gì thì mình phải biết rõ kết quả sẽ đem
đến khổ đau cho người khác hay không. Phải biết phân
biệt thế nào là đúng và thế nào là sai trong từng lời
nói, từng việc làm. Nên nói ít và nghe nhiều. Lắng
nghe nhiều có nghĩa là suy tư, hiểu biết nhiều hơn là nói.
Nghe và suy nghĩ để biết là điều mà người ta nói đó có
đúng không, rồi mình có nên làm việc đúng đó không và
việc không nên làm thì mình nên bỏ mà không suy nghĩ đến
nó nữa. Do đó mình biết được những hành động của
thân, khẩu, ý và việc nào đáng hoặc không đáng làm.
3.
Biết
cách tắm rửa cho trâu được sạch sẽ
Người
tu thì phải biết cách buông xả, gội rửa thân và tâm của
mình để trừ những tham dục, hờn oán và si mê của con người
mình. Càng giảm bớt được tánh tham lam, sân giận thì
mình càng bớt đi thao thức, bất an trong nội tâm. Chúng
ta thường hay nghe nói là lửa sân đốt đi hết rừng công
đức của mình. Cho nên chúng ta phải biết xả bỏ tham,
sân, si để tâm được thanh tịnh thì cuộc sống của mình
được bình an.
4.
Biết
cách chăm sóc vết thương của trâu
Trong
cuộc đời của mình không ai là không có những vết thương
trong tâm linh. Người biết tu tập là người biết hộ
trì 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) để khi đối với
6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) và tạo thành 6
thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức,
ý thức) thì không bị phiền não, khổ đau. Khi đóng
các căn ta giảm đi những vết thương tạo nên bởi 6 trần
xúc tác với 6 thức. Chúng ta biết giảm đi sức thấy,
nghe, v...v... để bảo vệ thân tâm mình.
5.
Biết
đốt khói để trâu không bị muỗi cắn
Chúng
ta học hỏi và biết đem giáo lý của đạo Phật làm an lạc,
lợi ích cho mọi người. Do đó mình biết xả bỏ cái
ngã để đem lại hạnh phúc cho người khác. Tinh thần
vô ngã, vị tha là cuộc đời của mọi người được hạnh
phúc, bình an tức là hạnh phúc, bình an cho chính mình.
6.
Biết
tìm con đường an toàn cho trâu đi
Chúng
ta biết tìm những con đường tu học chân chánh để theo thay
vì đi trên con đường gai góc của danh lợi, sắc dục.
Nếu như ta đi trên những con đường gai góc này thì ta sẽ
bị nó làm chủ mình và định hướng đi bất thiện cho mình,
gây nên nhiều khổ đau.
7.
Trẻ
chăn trâu biết thương yêu trâu
Chúng
ta phải biết thương mình có nghĩa là chỗ nào mình cảm thấy
không an toàn thì mình nên tránh xa. Chúng ta phải biết
thay đổi pháp thực hành để không tiếp tục gây khổ đau
cho chính mình. Chúng ta phải biết quý trọng những kết
quả do pháp hỷ thực, thiền duyệt thực đem đến.
8.
Biết
tìm bến tốt để trâu qua sông
Chúng
ta phải biết nương tựa vào tứ diệu đế (4 sự thật):
khổ, tập, diệt, đạo. Cái chính của khổ là sanh, lão,
bệnh, tử và còn những khổ khác như là thương yêu, xa lìa,
gặp gỡ, ấm xứ thịnh khổ, cầu bất đắc khổ. Đây
là những nguyên nhân đưa đến cái khổ. Phật nói rằng
cũng chỉ vì mình thương, mình ghét, ... nên tự mình làm mình
khổ đau. Cũng vì tham dục nên con người mình chịu khổ
đau và đó là tập đế. Để chấm dứt tham dục thì
mình phải vô ngã, vị tha và buông xả. Phương pháp để
mình chấm dứt tham dục là đạo đế (bố thí, trì giới,
tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ). Trong
những phương pháp tu tập Phật dạy Bát Chánh Đạo (chánh
kiến, chánh niệm, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn và chánh định). Người nào biết
duy trì Bát Chánh Đạo thì sẽ diệt được những khổ đau
và chỉ có mình mới làm cho mình thoát khỏi mọi khổ đau
thôi.
9.
Biết
tìm những chỗ cỏ non và nước sạch cho trâu ăn, uống
Chúng
ta phải biết tu hành 4 cái quán niệm để an trú tâm.
4 quán niệm hoặc tứ niệm xứ là: quán thân bất tịnh,
quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngã.
Đây là phương pháp tu để giải thoát.
10.
Biết
chỗ để thả trâu mà không để trâu tàn phá đất đai
Người
tu phải biết dè dặt, cẩn thận trong việc tiếp xúc và thọ
nhận của cúng dường để không gây khổ đau cho thân và
tâm.
11.
Biết
để con trâu lớn làm gương cho những con nhỏ
Chúng
ta biết học hỏi kinh nghiệm của những thiện hữu tri thức
để mình không bị lầm lạc, không rơi vào con đường khổ
đau.
Trong
nghệ thuật chăn trâu, 2 điều sau cùng là phần của giới
tu sĩ và 9 điều còn lại là tất cả Phật tử có thể làm
được.
Khi
chúng ta nhìn cuộc sống với cặp mắt duyên sinh thì mình
khắc phục được những khổ đau. Đạo Phật là con
đường trung đạo có nghĩa là không có gì nằm ở chỗ thái
quá. Chính con đường trung đạo này là chánh đẳng,
chánh giác.
PHÓNG
HẠ ĐỒ ĐAO
Quan
điểm hoằng pháp dựa trên nhu cầu người Phật tử muốn
nghe pháp và cơ duyên đầy đủ cho thời giảng được diễn
ra. Muốn nghe pháp của đức Phật cũng phải do căn duyên
thì mới có thể nghe được. Ngài Tuệ Trung nói rằng:
“Lang
thang làm khách phong trần
Quê
hương ngày một muôn lần cách xa”
Mỗi
lần mà chúng ta luân hồi trở lại cõi này là chúng ta cách
xa dần với cái chân tâm, cái tri kiến Phật của chúng ta.
Chúng ta tu học để gội rửa thân tâm thì ít mà nhuốm bụi
trần thì nhiều. “Quê hương” đây nói lên cái chân
tâm của mình và chỉ khi nào tâm thanh tịnh thì ta mới có
Tịnh Độ.
Thường
thường ta nghe nói “Phật tức tâm, tâm tức Phật”
và người ta hay nghĩ rằng ứng dụng câu nói này là cách
để đạt con đường đạo. Câu nói này có nghĩa là
chính tâm ta có Phật và Phật chính là chúng ta. Nhưng
đây chỉ nói trên phương diện ngôn ngữ thôi chứ còn làm
thế nào để thành Phật và làm thế nào để thật sự mình
có Phật lại là một quá trình rất dài và khó khăn.
Thời xưa có câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”
có nghĩa là buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật.
Đây nói lên khi ta biết buông dao là ta có cái ý giác ngộ
rồi nhưng đó chỉ là nói trên lý thôi còn về sự thì là
một vấn đề khác.
Khi
xưa có người muốn hại Phật nhưng không thể làm tổn thương
ngài được nên hỏi Phật rằng: “Nguyên nhân nào ngài
có khả năng hóa hiện tường thành để tự bảo vệ thân?
Nguyên nhân nào mà ngài không sợ sinh tử? Nguyên nhân nào
mà đối với cuộc sống khổ đau này mà ngài có trí tuệ
để tự giải thoát?” Phật trả lời:
“Đa
văn năng trì cố
Phụng
pháp vi viên tường
Tinh
tấn nan vô hỷ
Trùng
thị giới tuệ thành
Đa
văn linh trí minh
Dĩ
minh trí tuệ tăng”
Đa
văn là nghe nhiều, hiểu nhiều, rõ ràng con đường đi và
mục đích cho nên “đa văn là sức kiên cố”. “Phụng
pháp là bờ tường thành” cho nên tu học theo chánh pháp thì
đó là bức tường thành che chở cho chúng ta. “Tinh tấn
là khó phá vượt” có nghĩa là sự tinh tấn tu học che chở
cho mình và người khác khó phá được cho nên “nhờ đó
mà giới tuệ sanh”. Con người chúng ta đi trong luân
hồi nhiều lần cho nên cái tạp chất xấu thì nhiều còn
cái thánh thiện nguyên thủy thì bị che mờ. Do “đa
văn mà tâm sáng” và khi tâm sáng thì trí tuệ tăng trưởng.
Khi ta nghe Kinh nhiều thì tâm trí mình trở nên rỗng rang và
không còn chấp mắc nữa. Lý do ta còn chấp mắc là vì
ta không hiểu cho nên khi hiểu lý của thế gian rồi thì dần
dần cái sở chấp giảm đi cho đến khi không còn nữa. Phật
nói tiếp:
“Trí
tắc bát giải nghĩa
Kiến
nghĩa hành pháp an”
Có
trí tuệ ta hiểu rộng nghĩa lý và do rõ nghĩa thì người
tu không còn lầm lẫn nữa, không bị hướng dẫn sai lạc
trong pháp môn tu hành.
Phật
nói tiếp:
“Đa
văn năng từ ưu
Năng
dĩ định vi an
Thiện
thuyết cam lộ pháp
Tự
trí đắc nê hoàn”
Có
nghĩa là người nào đa văn thì hết ưu phiền, luôn vui trong
thiền định và khéo nói pháp cam lộ cho nên đến được
chỗ vô sinh. Phật nói tiếp:
“Văn
vị tri pháp luật
Giải
nghi diệc kiến chánh
Trùng
văn xả phi pháp
Hành
đáo bất tử tứ”
“Nhờ
nghe pháp biết luật” là nhờ nghe giáo pháp nhiều mà “hết
nghi thấy đạo chánh” tức là biết giới luật để làm
tất cả thiện và xả bỏ tất cả những bất thiện vì vậy
“do nghe hết phi pháp”. Khi không còn làm những pháp
bất thiện nữa thì đến được thành bất tử.
Chuyển
hóa con người ác thành thiện mà đạt đến chánh quả thì
phải có thực hành. Quá trình này trải qua giai đoạn
đầu là tịnh tín bất động có nghĩa là một niềm tin không
lay động và có thể kéo dài trong nhiều kiếp. Có những
vị mà chúng ta nghe thấy là đạt được quả vị Thánh trong
một thời gian ngắn tu hành là vì họ đã trải qua một quá
trình tu trong nhiều kiếp và đến khi phát Bồ Đề Tâm thì
mau đạt quả.
Ngài
Mục Kiền Liên tuy đã chứng quả A La Hán và thần thông đầy
đủ nhưng khi nghiệp đến thì cũng phải trả quả rất là
đau thương. Một buổi sáng hôm đó khi ngài đi khất
thực, ngài đã bị nhiều người đánh đập đến tan xương
nát thịt mà ngài chẳng thể dùng thần thông để thoát được.
Đây cho ta thấy rằng dù cho tu hành đến chỗ cao thế nào
đi nữa ta cũng vẫn phải trả quả cho những nhân bất thiện
đã gieo trong quá khứ. Chúng ta muốn tu hành giải thoát
thì phải trả nghiệp nhưng với người chứng đạo thì có
năng lực kéo dài thời gian trả quả và nguyện dùng thời
gian đó để tu hành cho đến khi đạt được kết quả thì
sẽ chịu trả nghiệp. Ai ai rồi cũng phải trả tất
cả những nghiệp đã tạo tác.
Nếu
hiểu câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”
theo cái nghĩa là buông dao xuống thì lập tức được thành
Phật là hiểu sai lầm. Như chúng ta đã thấy ngay cả
đến chứng quả A La Hán mà còn nghiệp thì vẫn còn phải
trả. Cho nên nếu chúng ta thiếu xót phần đa văn thì
ta sẽ hiểu một cách sai lầm. Nhưng cũng có người tìm
hiểu rất nhiều mà vẫn nói sai và do đó cũng phải chiêu
cảm nhân quả như một vị tăng thời xưa đã phải làm thân
chồn suốt 500 kiếp vì trả lời sai. Vị tăng này đến
nghe Tổ Bá Trượng giảng pháp và Tổ hỏi: “Ngươi
là ai mà đến đây nghe lén pháp của ta?” Vị tăng trả
lời: “Con không phải là người mà là con chồn ở đằng
sau chùa. 500 năm về trước con là một tỳ kheo.
Có một người đến hỏi con rằng “Người đại tu hành
có rơi vào nhân quả không?” Con trả lời là “Không” và
vì vậy mà con bị đọa làm chồn 500 kiếp”. Vị tăng
xin Tổ trả lời câu hỏi để ông ấy được thoát kiếp
làm chồn. Tổ nói: “Người đại tu hành không
mê mờ nhân quả” Lúc đó, vị tăng hiểu được đạo
và nói: “Như vậy thì con đi được rồi. Ngày
mai xin ngài lấy xác con ở đằng sau chùa và chôn theo nghi
lễ của một vị tăng.” Ngày hôm sau, Tổ ra sau chùa
thì kiếm thấy xác một con chồn và cho người thiêu xác theo
nghi lễ của tu sĩ. Cho nên khi ta chưa rõ một điều gì thì
ta không nên nói vì nếu nói sai thì ta sẽ phải thọ nhân
quả. Chúng ta càng cẩn trọng thì càng tăng thêm phần
công đức. Giáo lý đạo Phật quan trọng hơn và thực
tiễn hơn là mình chỉ nói lý thuyết suông mà không sợ nhân
quả.
Thập
Nhị Nhân Duyên gồm có vô minh, hành, thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh và lão tử. Trên
đời này không có gì ra ngoài nhân duyên cả. Phật nói:
“Giả
sử bách thiên kiếp
Sở
tạo nghiệp bất vong
Nhân
duyên hội ngộ thời
Quả
báo hoàn tự thọ”
Có
nghĩa là dù cho trăm ngàn kiếp, cái nghiệp mình tạo ra không
có mất đi và khi đủ duyên thì mình sẽ tự nhận lấy quả
báo. Vì vậy, Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.
Đời nay chúng ta không rõ là ta đã tạo những nhân gì trong
quá khứ nhưng khi quả đến thì chúng ta than van. Khi ta
hiểu nhân quả thì chúng ta làm tất cả các việc thiện và
cố tránh các việc ác, như vậy đời sau chúng ta không sợ
chiêu cảm quả khổ đau. Khi nghiệp hết, phước được
đầy đủ và đủ duyên thì chúng ta mới về Tịnh Độ được.
Cho nên chúng ta phải tu và nhân không có thì quả cũng không
phải trả. Nếu như chúng ta chỉ có học để mà tràn
đầy với những tri kiến, lý thuyết suông mà thiếu phần
thực hành thì mình sẽ không có lợi ích gì trên con đường
tu. Để tránh không bị rơi vào trường hợp này, chúng
ta luôn kiểm soát hành vi của mình và tích đức tu nhân bằng
cách không làm cho người khác khổ đau. Như vậy là mình
đã dấn thân để tránh đi những nhân quả ác. Có thực
hành thì con đường tu của mình mới có giá trị.
Làm
thế nào để phân biệt Từ Bi tâm và Bồ Đề Tâm?
Từ
bi tâm: Trong quá khứ khi Phật còn tu hạnh Bồ Tát, ngài
đã giết chết một người vì người này muốn giết 500 người
khác. Với lòng từ bi mà Phật cam chịu gây nhân giết
người thay thế cho người này khỏi phải tạo cái nhân giết
chết 500 người. Nếu như người này giết 500 người
thì người đó sẽ phải trả cái nợ cho hơn 500 người trong
tương lai. Sự hy sinh của Phật là chấm dứt cái quá
trình sinh tử của một người này và đồng thời cứu được
500 mạng người.
Bồ
Đề tâm bao hàm Từ Bi tâm và còn nhiều tâm khác (bố
thí tâm, nhẫn nhục tâm, thiền định tâm) trong cái Bồ Đề
tâm. Nói trên nghĩa lý thì Bồ Đề tâm và Từ Bi tâm
là một. Còn trên mặt văn tự thì Từ Bi tâm là một
phần của Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ.
Người phát Bồ Đề tâm là chỉ một nguyện tu hành thành
Phật để độ chúng sinh, thành chánh quả và không mong cầu
điều gì khác. Có Bồ Đề là có giác ngộ, có giác
ngộ là có giải thoát và có giải thoát là có tự tại.
Hỷ
và lạc khác nhau như thế nào?
Hỷ
và lạc thì giống nhau về mặt nội dung nhưng khác nhau về
quá trình thành tựu
Hỷ:
Có động lực bên ngoài đưa đến (phần tích cực) như là
nghe được pháp thì vui.
Lạc:
Cái thành quả đạt được sau khi có cái hỷ (phần thụ động)
và trạng thái an vui kéo được dài lâu. Cái đạo đức
của mình ở bên ngoài có thể nuôi dưỡng cái an lạc ở
bên trong.
Trong
thiền có những giai đoạn như sau:
Tầm:
Đi tìm nguyên nhân hoặc lý do làm mình không tỏ sáng.
Tứ:
Dán tâm hoặc tư tưởng mình vào một điểm và khi quán một
điều gì thì hướng dẫn tư tưởng mình lên, xuống để
phá vỡ những gì mà mình bị bế tắc.
Tịnh:
Sau một quá trình mình ngồi thiền mà giữ được tâm an ổn
và mọi thứ đều lắng dịu.
Định:
Thời gian an tịnh kéo được dài lâu.
Khi
niệm Phật mà nhất tâm bất loạn thì mới thành và hai là
khi tu thiền thì phải phá ngã chấp, phá ngã sở hữu thì
mới thành. Như vậy thì làm sao để chúng ta tu hành trong
cái đời sống mà có nhiều trách nhiệm và ràng buộc mà
có thể có lợi ích hoặc thành tựu được?
Đây
nói cái đỉnh cao của sự tu hành của một vị thiền sư
chẳng hạn có nghĩa là muốn chứng thiền thì phải không
còn ngã và muốn về Tịnh Độ thì phải niệm Phật đến
chỗ nhất tâm bất loạn (tức tâm, tức Phật) đồng nghĩa
với tam nghiệp đều tịnh. Chúng ta có những ràng buộc
trong cuộc sống hằng ngày cho nên không đạt đến chỗ cứu
cánh như chư Tổ, các vị thiền sư nhưng cũng có thể thực
hành niệm Phật hoặc thiền mà vẫn có lợi ích do được
đầy đủ phước báu và gieo trồng nhân lành với Phật.
Ít ra chúng ta cũng an tịnh được phần nào trong tâm mình
và tránh tạo tác nghiệp ác khi mình chuyên niệm Phật. Khi
ta tu thiền dù không phá được hết ngã nhưng cũng bớt được
tham, sân, si hơn lúc chưa biết tu. Cũng vậy, nếu như
mình gần gủi thiện tri thức mà cho dù mình không thành đạt
quả vị gì cả nhưng lâu dần thì vị thiện tri thức cũng
cảm hóa được con người mình để không làm ác và chuyên
làm thiện.
HỒI
ĐẦU THỊ NGẠN
Luận
giải trong Phật học thường đề cập đến những câu như
là “Khổ hải man man, hồi đầu thị ngạn” có nghĩa là
biển khổ mênh mông nhưng quay đầu thì thấy bến hoặc câu
“Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là
buông dao đồ tể thì có thể thành Phật. Chúng ta không thể
hiểu những câu này trên mặt chữ mà phải hiểu chiều sâu
theo lý tưởng của thiền. Cái quá trình mà khi chúng ta mới
bắt đầu biết được hướng đi cho đến lúc đến bờ bình
an rất là dài và gian khổ. Muốn vượt qua được cái ảo
tưởng của ngã và pháp thì người tu phải có một công phu
rõ ràng. Trong pháp môn niệm Phật thì người tu phải niệm
đến nhất tâm bất loạn tức là tâm đạt đến chỗ vô
niệm. Cũng như trong pháp môn thiền thì người tu phải định
tâm và khi tâm định thì 6 căn không còn phan duyên bởi sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp nữa. Do định tâm nên chúng ta
không tạo nghiệp sinh tử nữa. Ngài Trần Nhân Tông nói rằng:
“Trời
đất nấu nung vạn vật tượng thành,
Xưa
nay không một, không móng, cũng không manh
Chỉ
say hữu niệm mà quên vô niệm
Liền
cái không sanh nhận có sanh
Mũi
đắm các hương, lưỡi tham vị
Mắt
mờ chúng sắc, tiếng mê tai”
Qua
ý niệm này, chúng ta hiểu được từ “hồi đầu thị
ngạn” là quay vào trong nội tâm để tìm lại cái
tâm chân thật của mình và lúc này là vượt khỏi những
công đức bố thí, cúng dường. Mỗi người chúng ta có những
nổi khổ tâm lý và vật lý tùy theo trường hợp. Những vị
tu trong chùa thì cũng còn phải hóa giải những tập khí sinh
tử và phải hóa giải nội tâm để có thể hồi đầu thị
ngạn. Khi nào ổn định được cuộc sống và quay vào bên
trong nội tâm của mình thì đó là thị ngạn tức là ngay
trong sóng biển này, trong thế gian này mà chúng ta không còn
bị chao động bởi sóng nữa. Thị có nghĩa là “đây” và
ngạn là “bờ mé”. Nói đến danh từ “thị ngạn” là
cần phải có công phu thực tập chứ không phải là chỉ có
quay đầu lại là thấy được bến.
Kinh
Pháp Bảo Đàn thuật lại lúc Tổ Huệ Năng sau khi được
y bát truyền trao xong thì đã đi về phương Nam. Trong số người
rượt theo để lấy y bát thì có Thượng Tọa Huệ Minh vốn
là võ sĩ cho nên rượt kịp theo ngài Huệ Năng. Ngài Huệ
Năng để y bát trên tảng đá và trốn vào bụi. Thượng Tọa
Minh đến nơi cố gắng lấy y bát nhưng không thể lấy được,
cho nên nói rằng: “Tôi đến đây vì pháp không phải vì
y bát, xin nhân giả thương tình nói pháp cho tôi nghe.” Tổ
Huệ Năng đi ra khỏi chỗ trốn và nói: “Nếu ông vì pháp
mà đến thì hãy yên tịnh”, và sau khi Thượng Tọa Minh an
tịnh rồi, Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay
lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh?”
Câu này có nghĩa là khi tu đến một mức nào đó thì không
còn phân biệt thiện và ác nữa bởi vì thiện và ác là còn
khởi trên duyên của đối đãi. Giai đoạn này cho thấy là
tâm đã dừng lại, không còn chạy theo tướng, không còn động
niệm vì 5 căn không còn bị nhiễm, chứ không phải là tâm
trở thành vô tri. Khi tâm dừng lại là lúc hồi đầu và thấy
được bến tức là thị ngạn. Thượng Tọa Minh sau khi nghe
thì hoát nhiên đại ngộ và đây là trong tâm chứ không phải
ở bên ngoài.
Giữa
chúng ta và Phật có những cái giống nhau và khác nhau. Đức
Phật nói rằng: “Tất cả chúng sanh bình đẳng với nhau
cả trí tuệ và đức tướng.” Cái mà chúng ta bình đẳng
với Phật nhất là pháp thân. Pháp thân Phật là biến nhất
thiết xứ tức là chỗ nào cũng có. Nhưng báo thân Phật thì
chúng ta và Phật khác nhau bởi vì Phật tu bao nhiêu kiếp,
làm bao nhiêu việc lành trong hằng trăm kiếp tạo thành phước
báo trang nghiêm. Còn báo thân của phàm phu là nghiệp báo thân.
Hóa thân Phật là ngài dùng nhiều phương tiện để hóa độ
chúng sanh và còn gọi là thị hiện thân. Trong Kinh Pháp Hoa
phẩm “Hiện Bảo Tháp”, Phật Đa Bảo đại diện cho pháp
thân Phật tuyên bố rằng: “Khi nào Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni mà muốn cho đệ tử thấy được pháp thân của ta thì
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tụ hội toàn bộ phân thân
của ngài lại thì lúc đó cửa tháp mới mở ra để thấy
toàn thân Phật Đa Bảo.” Đây nói lên khi nào toàn bộ
tâm lý phân tán của chúng ta, những phiền não, tranh chấp,
khổ đau, hơn thua, thù hận, v..v… mà tất cả đều lắng
dịu xuống thì ngay lúc đó chúng ta thấy được Đức Phật
của chính mình. Khi chúng ta hiểu được thì chúng ta cũng
sẽ hiểu được nhân cách sống. Có rất nhiều thử thách
trong và ngoài chùa, nhưng nếu như chúng ta biết xét lại khả
năng tâm lý của chính mình, tức là sự nhẫn chịu, sự hóa
giải của nội tâm cho đến lúc chúng ta không còn phân biệt
giữa kẻ cao, người thấp, kẻ giàu, người nghèo, không còn
phân biệt giữa thị phi, nhân ngã thì lúc đó chúng ta thấy
bờ. Trong Kinh Bát Nhã, Ba La Mật là đáo bỉ ngạn nhưng không
phải là qua bờ bên kia mà là lìa sanh diệt. Cho nên khi tâm
chúng ta còn khởi lên những sanh diệt của sắc và không sắc,
còn phân biệt thì vẫn còn trong vòng sanh diệt.
Tâm
chúng ta luôn vọng động bởi những thứ bên ngoài, trong khi
mục đích của thiền là để an trụ tâm. Câu “hít vào tâm
tĩnh lặng, thở ra thì miệng mỉm cười” là không phải
dễ làm bởi vì khi trong lòng còn chất chứa phiền não thì
cũng chẳng thể khiến cho ta mỉm cười được. Cũng có khi
chúng ta cố gắng làm cho tâm an tịnh để thấy được tâm
và hóa giải những lăng xăng, nhưng cố gắng mà không có
thực tập thì chẳng thể có được kết quả.
Thiền
hành:
•
Trong mỗi ngày, mỗi hành vi, chúng ta sống với tỉnh giác,
với tuệ, tức là hoàn toàn tập trung và không bị chi phối
•
Phải có thời gian để an trụ trong mỗi ngày, từ lúc ngủ
dậy cho đến lúc bước ra ngoài là phải cảm nhận được
tất cả hạnh phúc nhỏ của bên ngoài.
Hành
Thiền
Khi
muốn thấy được tâm thì trước hết phải xả vọng tâm.
Thường thì khi bắt đầu ngồi thiền, rất nhiều vọng tưởng
sẽ trổi dậy mà nếu như chúng ta không xả hết những vọng
tưởng đó thì sẽ không thể tiếp tục ngồi thiền được.
Tất cả những thứ bên ngoài, lời khen, tiếng chê làm cho
chúng ta luôn sống giả tạo để thích hợp với hoàn cảnh
bên ngoài. Do đó tâm chúng ta không có “thị ngạn”, không
chân thật bởi vì chúng ta luôn mong muốn sự đồng ý, tán
thành của bên ngoài để làm cho con người mình có giá trị
hơn. Vì vậy chúng ta luôn chạy theo cảnh bên ngoài và sống
trong khổ ải. Khi “hồi đầu” thì chúng ta thấy tất cả
những gì bên ngoài là không thật.
1.
Sửa soạn ngồi thiền là trước hết chúng ta làm xong công
việc trong ngày để không còn vướng bận tâm suy nghĩ
2.
Tắm rửa sạch sẽ (đây cũng là bước đầu trở lại với
con người thật của chính mình, không còn chưng diện quần
áo, phấn son,v..v…)
3.
Chọn nơi im lặng thích hợp cho thời gian ngồi thiền để
không gây phiền não cho người khác hoặc không bị khuấy
động cho chính mình. Chỉ khi nào thiền định đến một trình
độ cao thì không cần phải chọn nơi thanh vắng.
4.
Ngồi cho thoải mái để tránh gây căng thẳng, mỏi mệt cho
thân thể và tâm trí.
5.
Sau khi đã điều chỉnh thân và tâm không còn suy nghĩ chuyện
lung tung, tức là thân và tâm đã được ổn định thì chúng
ta hít thở 3 lần thật sâu, thật chậm rãi để tất cả
những phiền lụy trong lòng được trút ra theo hơi thở. Sau
đó, hít thở nhẹ nhàng lại.
6.
Để cho tâm lắng động xuống. Phần này cần một thời gian
chuyên cần thực tập bởi vì những lần đầu sẽ chưa đem
đến cái kết quả của lắng động được. Cho nên chúng
ta làm từ từ, chẳng hạn mỗi ngày chừng 15 phút ngồi và
dần dần tăng lên cho đến khi chúng ta cảm thấy rằng trong
giây phút ngồi thiền mình chỉ có thấy mình mà thôi và xung
quanh đã quên bặt hết. Lúc này là bắt đầu thấy được
bờ tức là “thị ngạn”.
7.
Sau một thời gian thực tập thì khoảng khắc lắng tâm sẽ
rút ngắn lại. Trong sự tĩnh lặng đó, chúng ta suy nghĩ, quán
xét điều gì thì nó sẽ được giải tỏa rõ ràng và đó
là dùng đến tuệ do sức mạnh của định. “Hồi đầu”
là biết trở lại và thấy được tâm của mình, biết dùng
sức mạnh của tâm để làm được những điều gì cần.
Hành
thiền là con đường duy nhất để thấy được tâm. Nếu
tâm không đủ sức mạnh để định thì chúng ta dễ bị chuyển
bởi tất cả những vọng ở bên ngoài. Khi tâm đã định
thì tất cả những thiện và bất thiện sẽ được phân tách
rõ ràng mà không bị những phiền não, nhiểm ô chi phối nữa.
Lúc đó chính là lúc tự mình làm chủ thân tâm. Ngay khi thanh
tịnh tâm thì những phiền não lắng dịu xuống và đó là
Bồ Đề, “phiền não tức Bồ Đề” là vậy. Khi hiểu được
rằng trong con người của chúng ta có đầy đủ công năng
để chuyển phiền não thành thanh tịnh thì mới có thể nhận
ra con đường trở về. Chỉ có làm chủ con người của chính
mình thì mới có cơ hội đạt được cái mà người ta nôm
na gọi là giải thoát. Nếu muốn tu, muốn tìm được lại
tâm của mình thì chúng ta phải hoàn toàn trực tâm tức là
con người của mình phải rất là ngay thẳng, không thay đổi
do áp lực hoặc ngoại cảnh. Do đó những vị thiền sư rất
là tự tại trong cuộc sống của họ.
Câu
chuyện nổi tiếng của Thiền Sư Triệu Châu: Một sáng có
người đến hỏi “con chó có Phật tánh không?” Ngài trả
lời “Không” Buổi chiều có người khác hỏi “con chó
có Phật tánh không?” Ngài trả lời “Có”. Người ta hỏi
ngài là tại sao hai câu trả lời lại khác nhau, thì ngài nói
là “Người buổi sáng là còn mê mờ trong sanh tử cho nên
không thấy Phật tánh.” Người buổi chiều hỏi thì ngài
đáp là “con chó có Phật tánh” thì người đó mới thắc
mắc là “tại sao có Phật tánh mà còn làm con chó?” Ngài
Triệu Châu trả lời rằng “Biết mà cố phạm.” Chúng ta
cũng thường thấy những người đi chùa biết nhân quả, biết
giới luật, biết tu, biết làm thiện mà vẫn phạm lỗi bởi
vì không khống chế được chính mình, không an trú và hay
chạy theo phiền não của 6 trần. Khi chúng ta sám hối, cái
quan trọng nhất là phải thấy được tánh thanh tịnh hoặc
ít ra cũng phải tìm được cái tâm chân thật của mình tức
là thị ngạn.
Nếu
chúng ta không dụng công mà cứ dựa trên danh ngôn thì sẽ
không chiêm nghiệm được những chỗ lắng động của nội
tâm. Chúng ta luôn tìm kiếm danh ngôn, nghĩa lý cho nên những
chuyện thiền, những công án là giả tưởng, là nghi
tình được đưa ra mà chúng ta lại dùng tâm trí để suy nghĩ,
để giải thích thì thật ra chỉ là chướng ngại bởi vì
chúng ta dùng ảo tưởng để giải quyết ảo tưởng thì trở
thành giả lập mà thôi.
Muốn
“hồi đầu thị ngạn” thì phải ngồi xuống và lắng động
tâm cho đến mức mình hiểu được mình là ai. Tổ Tín Tâm
Minh nói rằng: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch, đản
mặc tắng ái, đổng nhiên minh bạch” tức là Đạo không
khó nhưng trở thành khó bởi vì mình phân biệt, truy cầu
và khi nào không còn ghét và thương nữa, không còn những
gì vuốt ve cái tự ngã của mình nữa thì lúc đó chúng ta
minh bạch.
Đạo
Phật có tứ y tức là người tu hành muốn tìm con người
thật của chính mình thì phải:
1.
Y pháp bất y nhân
2.
Y nghĩa bất y ngữ
3.
Y tánh không y tướng
4.
Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa: Liễu nghĩa là không còn
hình tướng nữa.
Khi
Phật bắt đầu nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì 5000 ngàn Tỳ
Kheo đứng lên đi ra mà Phật không giữ họ lại bởi vì khi
nói đến giáo lý ở mức độ mà người không thể chịu
được thì họ có thể đi mà không cần phải giữ lại. Khi
chúng ta ở trong trạng thái “thị ngạn”, tìm lại được
chính mình thì tất cả những gì xung quanh như thế nào đi
nữa cũng mặc. Đây là phần liễu nghĩa và chỉ có lúc này
thì mới thấy được con người chân thật.
Trong
đời này, khi buông xả được thì tất cả đều xuôi và
không làm cho mình vướng bận nữa. Trên con đường tu, chúng
ta nên cẩn trọng với công phu tu tập, cho dù tiến chậm hoặc
người ta không hiểu mình nhưng ít ra chúng ta có cái chân
thật của con người mình và như vậy chúng ta mới trở lại
cái “thị ngạn” được.
THIỀN
TỊNH SONG TU
Khi
chúng ta không biết xử dụng đúng cách những pháp môn tu
tập thì chúng ta sẽ bị dị ứng về pháp môn hoặc dị ứng
về nhận thức. Dị ứng đây có nghĩa là không thích
hợp cho căn cơ hay là thời điểm. Nếu chúng ta có quá
nhiều phương pháp học Phật mà không biết điều phối để
dùng cho đúng bệnh của mình hoặc không biết tận dụng phương
pháp nào đó thì chúng ta có thể sẽ coi thường Phật pháp
và không đem lại niềm an tịnh tối thượng cho mình.
Ngược lại, nếu chúng ta chuyên trì một pháp môn thì căn
bệnh của chúng ta sẽ chóng hết hơn.
Quan
điểm Tịnh Độ tông: Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nói rằng:
“Người tu thiền mà có thêm Tịnh Độ là giống như con
hổ có thêm cái sừng và chắc chắn không sợ rơi lạc.”
Nếu như tu thiền mà không đủ phước báo, không đủ duyên
lành và bị rơi rớt thì sẽ rơi vào ma đạo. Cho nên
con đường niệm Phật là chắc chắn hơn hết. Con đường
Tịnh Độ là nhờ vào tha lực cho nên con đường này giúp
đỡ cho những người yếu đuối chưa đủ thượng thiện
căn để có thể thành tựu Niết Bàn một cách nhanh chóng.
Quan
điểm của Thiền tông: Con đường của thiền là con đường
tự lực và là căn bản của đức Phật Thích Ca và của Phật
giáo.
Tất
cả pháp môn của Phật có một mục đích duy nhất là đưa
người hành giả đến giác ngộ giải thoát. Còn dụng
công như thế nào để đưa đến giác ngộ là không phải
do pháp môn mà tùy thuộc ở hành giả. Hiện tại phần
nhiều người đang biện biệt, suy nghĩ, tranh luận những điểm
thắng, ưu, biệt, yếu của những pháp môn Mật tông, Thiền
tông, Tịnh Độ tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông.
Nhưng điểm chính bị bỏ quên là không phải pháp môn là
yếu tố mà hành giả là con người dụng công trên từng pháp
môn mới là yếu tố đạt đến kết quả. Cũng như một
căn nhà có nhiều cửa ra vào và hiện tại chúng ta tranh cãi
là cửa nào tốt hơn thay vì chúng ta bước đến một cánh
cửa, mở khóa và bước vào nhà. Khi chúng ta có một
bản đồ, một hướng quyết định để dấn thân vào con
đường học đạo để đạt được cái trí tuệ tột cùng
hoặc tri kiến Phật thì chúng ta (1) phải hiểu rõ ràng hướng
đi đó, (2) phải biết căn cơ và nổ lực của mình đang ở
vị trí nào, hoàn cảnh nào để biết rằng phải dùng pháp
môn nào cho thích hợp và gần đến mục tiêu nhất. Pháp
môn nào cũng có lợi nhưng phải biết xử dụng đúng đối
tượng và hoàn cảnh thì mới có kết quả hữu hiệu.
Làm
thế nào để chọn một pháp môn phù hợp mà không bị phân
tâm giữa nhiều pháp môn? Hay là nên chọn hai pháp môn
riêng biệt để hổ trợ cho nhau? Mỗi phương pháp có
hướng đi khác nhau và đồng thời cũng khác nhau trên một
khía cạnh nào đó. Chúng ta không thể xử dụng hai đạo
lộ cùng một lúc vì sẽ phí nhiều thời gian. Nhưng tại
sao Tổ lại nói là “có thiền mà thêm Tịnh Độ thì giống
như hổ thêm sừng”? Bởi vì chư Tổ ứng dụng pháp
thiền và pháp Tịnh Độ tại một mức cao thâm rồi thì các
ngài nhìn hai pháp đó là một chẳng phải hai. Nếu như
hành giả còn lưỡng lự, tranh chấp, nói trên danh tướng
thì Tổ sẽ ban cho phương thức là tu tập cả hai cái sẽ
lợi hơn vì rơi khỏi một cái thì còn lại cái kia. Đây
là nói trên phương tiện chứ trên thực tế thì những pháp
môn tu có từng bước một.
Tiên
quyết của thiền là thấy tánh thành Phật hay là tìm lại
chủ nhân ông hay là kiến tánh.
•
Trên con đường tu là hành giả phải nổ lực, dụng công
của tự lực để thanh lọc và thấu suốt con người của
chính mình gọi là ngộ được tự tánh có nghĩa là tự mình
quyết định và chứng nhập chân lý, phá vỡ vô minh để
cuối cùng thành tựu được Phật quả. Phật Thích Ca
đã thành Phật nhờ ngồi thiền, nếu không thì chẳng có
cơ hội thành Phật.
•
Những thiền giả khi kiến tánh tức là thấy được Phật
tánh rồi thì họ được tự tại, không còn vướng mắc nữa
và an trú trong cảnh giới của Niết Bàn.
•
Danh từ diễn tả giai đoạn kiến tánh này là “tức tâm
tức Phật, kiến tánh thành Phật.” Khi Thiền nói đến
“kiến tánh thành Phật” là nói trên ngôn ngữ mà thôi,
chứ thật ra thành Phật gì? Phật thân, Phật hoàn chỉnh,
y báo, chánh báo hay là Phật của pháp thân? Kiến tánh
đây là chỉ mới thành Phật của kiến giải thôi chưa phải
là Phật của hoàn chỉnh. Thành Phật giống như đức
Phật Thích Ca ra đời độ sanh thì chúng ta còn phải trải
qua một quá trình tu chứng và còn phải trở lại thế gian
này để hoằng pháp, độ sanh, đền ơn chúng sanh để viên
mãn báo thân Phật.
Chủ
trương của Tịnh Độ
•
Nếu tất cả chúng sanh có niềm tin tuyệt đối với Phật
gọi là tín, có cái hạnh thiết tha rằng không muốn ở thế
giới Ta Bà này nữa và có hành trì nghiêm mật gọi là hạnh
chuyên tức là luôn luôn niệm Phật, nhớ tưởng đến Phật
thì người đó sẽ cuối cùng tiến đến nhất tâm bất loạn.
•
Giai đoạn này người ta thường nói là về Tịnh Độ nhưng
Tịnh Độ là không có đến và không có đi bởi vì cảnh
giới của Tịnh Độ là thường tịch quang có nghĩa là luôn
hiện hữu, luôn tồn tại và luôn có mặt tại đây.
•
Khi niệm Phật đến nhất tâm bất loạn tức là tâm và cảnh
đã nhất như rồi thì chúng ta không còn thấy cảnh Ta Bà
này là phiền não, khổ đau nữa. Do đó chúng ta còn trở
lại thế gian này nhiều lần để độ sanh hoặc chia xẻ công
phu của chúng ta với nhiều người khác. Nếu còn nghĩ
rằng có đến, có đi, có đưa, có đón về một nơi chốn
nào đó thì vẫn còn nằm trong thế giới của tương đối,
của phạm trù sanh diệt.
•
Hành giả nhận thức thế nào về Tịnh Độ? cảnh giới của
Tịnh Độ có thật hay không? Tư tưởng đại thừa trong
Kinh Kim Cang được nêu lên qua câu “phàm sở hữu tướng
giai thị hư vọng” tức là tất cả những gì có tướng,
có danh, có tự đều không có thật. Sở dĩ đức Phật
nói lên cảnh giới Tịnh Độ cũng do vì phương tiện mà phải
lập danh cho quốc độ đó thôi. Niết Bàn có thật thì
cảnh giới Tịnh Độ cũng có thật. Nơi nào có Phật
an trú thì nơi đó là Niết Bàn hoặc Tịnh Độ. Nhưng
cảnh giới này chỉ có thật với người thật tu và thật
chứng cho nên nếu như chúng ta không đạt đến nhất tâm
bất loạn thì sẽ không bao giờ tìm ra Tịnh Độ.
•
Ngược lại nếu đạt nhất tâm bất loạn, không còn vọng
niệm điên đảo nữa thì toàn bộ cái nhìn của chúng ta trở
thành Tịnh Độ. Cho nên ở đâu cũng có Tịnh Độ bởi
vì tất cả các pháp chỉ quy về một và một là tất cả.
Cảnh giới Tịnh Độ được diễn tả là Cực Lạc có nghĩa
là sự an lạc tuyệt đối, không còn biên giới, không còn
phân biệt và so sánh của tương đối. Đến giai đoạn
này thì tâm và cảnh trở thành nhất như tức là quy tựu
về một.
•
Quan điểm của Tịnh Độ là nếu người mang nhiều tội lỗi
nhưng chuyên tâm niệm Phật thì được “đới nghiệp vãng
sanh” tức là mang nghiệp vãng sanh. Nhưng nếu đem những
nghiệp bất tịnh đó về Tịnh Độ thì nghiệp đem cất giữ
ở chỗ nào vì cảnh giới Tịnh Độ được định nghĩa là
cảnh giới thuần tịnh không hề có ô nhiễm. Như vậy
thì ngay trong thế giới này chúng ta phải tu tập để hóa
giải hết tất cả các nghiệp chướng và khi hoàn chỉnh xong
thì đương nhiên cảnh giới Tịnh Độ sẽ hiện. Nếu
chúng ta không thu rút các căn, thanh tịnh thân, khẩu, ý để
đạt tịnh nghiệp thì nhân lành và quả lành chẳng thể có
được. Có nghĩa là chánh báo phải thanh tịnh thì y báo
mới thanh tịnh được dù ở bất cứ chỗ nào.
•
Thường thì Tịnh Độ được hiểu là pháp môn của tha lực,
nhưng tự lực và tha lực là một, không hai. Nếu không
thấy, không nghe, không học, không nhận thức, không dụng
công, không hiểu biết, chúng ta lấy cái gì để tự lực?
Nếu không chính chúng ta niệm Phật cho đến nhất tâm bất
loạn thì dựa vào đâu để nói là có tha lực? Cho nên
tự và tha không có rời nhau chỉ vì chúng ta bám trụ trên
danh ngôn, bám trụ trên tình thức mới khởi sanh phân biệt.
Nếu chúng ta không dụng công triệt để và không có người
chỉ cho phương pháp tu thì chúng ta sẽ không thể tháo gỡ
những ràng buộc và không đạt giải thoát.
Thế
giới của Phật gọi là Pháp thân tức là Như Lai lấy pháp
giới làm thân, cho nên bất cứ nơi nào của thế gian này
cũng là pháp tướng của Như Lai. Như Lai là như như bất
động, không có uế nhiễm; nếu có uế nhiễm là bởi do chúng
sanh khởi tình thức phân biệt. Tịnh Độ là một cảnh
giới của thực chứng và hành giả khi tu sẽ nhìn cảnh một
cách khác lúc chưa tu. Con người có 5 loại mắt (nhãn):
nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.
Dù bất cứ ở chỗ nào mà chúng ta cứ dùng nhục nhãn thì
chúng ta mãi phân biệt và khổ đau.
Điều
quan trọng là chúng ta có thể dụng công để thay đổi cái
quá trình nhận thức hay không. Khi chúng ta thấy được
những phân biệt giữa tư lượng (hiện lượng, tỷ lượng)
và đạt được chân hiện lượng thì tâm, cảnh nhất như
và chúng ta nhìn mọi cảnh một cách trực tiếp. Lúc
đó tất cả các pháp đều chân, không còn tội, phước, sanh,
diệt nữa và thế giới trở thành hoàn toàn thanh tịnh.
Cho nên giác giả chẳng còn khởi vọng động để phân biệt
thế nào là dơ, sạch, chỗ nào là Ta Bà, là Tịnh Độ.
Thường
thường chúng ta luôn nhìn thấy những sai trái, không thật
của người khác mà quên không nhìn lại chính mình. Khi
mãi truy tầm và mong ước có một thành tựu nào đó ngoài
cuộc sống này, chúng ta không nhìn ra được những ô nhiễm
của chính mình bởi vì chúng ta thiếu phần dụng công thực
chất và cái sức mạnh muốn tu ban đầu đã phôi phai từ
lúc nào mà chúng ta không hay biết. Vấn đề chính yếu
là dụng công để thành tựu chứ không phải bám theo ngôn
ngữ để đi sai chiều hướng tu tập. Chúng ta phải hiểu
rõ yếu tố quan trọng để quyết định sự thành đạt mục
đích giải thoát tối hậu, giải thoát của sinh tử, hay là
giải thoát của luân lý. Khi tranh cãi rằng pháp môn này đúng,
pháp môn kia sai thì chúng ta chỉ có tranh cãi trên ngôn ngữ,
trên cái vỏ bề ngoài trong khi cái thực chất là thực tu
và thực dụng. Khi chúng ta soi xét lại chính mình thì
thấy rằng thời gian mà chúng ta lo tranh cãi, phân biệt, chúng
ta đã bị biến dạng bởi tham, sân, si, phiền não.
Chúng
ta có thể tự hỏi rằng do nguyên nhân nào mà khiến cho chúng
ta ở trong trần gian này? Đa phần là do chúng ta còn quá
nhiều tham muốn, ái ngã. Chỉ khi nào tâm chúng ta hoàn
toàn thanh tịnh, an nhiên để niệm Phật đến nhất tâm bất
loạn thì chúng ta mới có thể chấm dứt cái nhân ở hiện
tại và mọi thứ biến thành Niết Bàn hay Tịnh Độ.
Cũng vậy, khi nào chúng ta tu hành để đạt được con đường
của vô ngã và đạt trí tuệ để nhận ra rằng “ngũ uẩn
giai không độ nhất thiết khổ ách” thì chúng ta vượt qua
sinh tử và chứng Niết Bàn. Con đường của Tịnh Độ
và của Thiền tông đều đưa đến hai mục đích mà cùng
một lối đi để chúng ta hóa giải được những gì mà chúng
ta đang muốn giải thoát.
Nếu
chúng ta nổ lực thiền định để kiến tánh thành Phật tức
là ngay nơi này chúng ta không còn vọng tưởng, không còn ngã
thì chúng ta chỉ mới có thể thấy tánh thành Phật mà thôi.
Để thành một đức Phật, chúng ta cũng phải hành đạo như
Phật Thích Ca, phải trả nợ cơm áo của tín chủ, phải trở
lại thế gian để chia xẻ khổ đau và lấy nỗi khổ đau
của chúng sanh làm cách hành đạo cho chính mình. Chỉ
khi nào chúng ta tồn tại được trong thế giới này thì chúng
ta mới có thể hiểu được giá trị của một đức Phật.
Nếu một đức Phật được tôn lên trong một thế giới hoàn
toàn trang nghiêm, không có ai đau khổ thì đức Phật đó không
có giá trị với cuộc đời. Đạo Phật tồn tại hơn
2500 năm là vì đạo Phật thăng trầm với chúng sanh, giúp
đỡ chúng sanh, đáp ứng nhu cầu tâm linh của chúng sanh.
Đức Phật tồn tại trong thế gian này mà không một chút
phai nhạt nào là vì giáo lý của ngài quá siêu việt và những
gì ngài nói là chân lý của thế gian. Chân lý đó là
trong thế gian này người nào sống an trú, thấy được các
tịnh cảnh, từ bỏ các tham ái, bỏ các ngã và tự ngã và
học đạo để cuối cùng chứng đắc được thắng trí thì
người đó thấy được Niết Bàn. Do đó chúng ta không
cần phải rời bỏ thế giới này và đi tìm kiếm hoặc ước
mơ một thế giới khác. Hiểu đúng nghĩa thì chúng ta
thấy rằng khi tâm và cảnh nhất như thì toàn bộ thế giới
này là Phật giới. Phật nói trong Kinh Pháp Hoa rằng:
“Nếu người nào thấy được thật tướng các pháp thì
cho dù thế gian này biến đổi nhưng đức Phật vẫn còn đang
thuyết pháp tại núi Linh Sơn, pháp hội Pháp Hoa vẫn chưa
hề chấm dứt.” Khi tâm chúng ta còn đầy vọng tưởng
ô nhiễm, còn phân biệt đủ thứ, chúng ta chẳng thể nghe
và thấy được Tịnh Độ hoặc cảnh giới của chư Phật.
Cho nên cảnh giới Tịnh Độ là cảnh giới hoàn toàn có thật
nhưng chỉ với những người thực chứng.
Đức
Phật nói rằng: “Này các Tỳ Kheo có 3 cảnh giới mà các
ngươi không thâm nhập được đó là cảnh giới của thiền
chứng, cảnh giới của Phật trí và cảnh giới của nghiệp
báo.” Phật đã xác nhận là con người phàm phu chúng
ta không thể dự vào 3 cảnh giới này thì làm sao chúng ta
có thể tranh cãi bằng ngôn ngữ về những cảnh giới mà
chúng ta chưa thâm nhập được. Ngay khi dụng công chúng
ta thấy rất rõ là có cứu cánh có nghĩa là chúng ta sống
bình an để được chết bình an bởi vì nhân lành thì quả
sẽ lành. Nếu muốn niệm Phật không bị tán loạn, nguyên
nhân chủ yếu là đừng tạo thêm các nghi tình, đừng phan
duyên, đừng chạy theo, đừng bám víu. Như thế chúng
ta sẽ trở nên rỗng rang, vắng lặng và lúc đó tất cả
trong ta đều là thực chất có giá trị, có hoạt dụng.
Cảnh giới Phật chỉ có hiện hữu trong tâm thanh tịnh này
thôi.
Con
đường tu Phật là khởi hành từ một tâm và cuối cùng thành
tựu từ một tâm. Con đường của kiến tánh thành Phật
không hề có khởi thủy bởi vì con đường này bắt đầu
từ hành giả khởi tâm muốn tu, muốn thoát sinh tử, muốn
độ chúng sinh. Cũng ngay trong tâm này mà hành giả thanh
tẩy các vọng niệm, hóa độ các chúng sanh tâm và đó là
thành tựu Niết Bàn ngay trong tâm này. Con đường tất
yếu của Tịnh Độ, thiền tông hay mật tông đều quy nhất
về tâm. Đối với chư Phật hoặc chư Bồ Tát, thế giới
này không hề có nhiễm ô vì các ngài không có tri kiến có
nghĩa là không còn phân biệt, chấp mắc, thủ giữ và do đó
các ngài đã tận trừ vô minh.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thiền
Viện Minh Quang, Sydney, Úc Châu
(www.minhquangthienvien.com)
PRACTICAL
METHODOLOGY
Minh
Quang Monastery, Sydney, Australia
(www.minhquangthienvien.com)
Lecturer:
Ven. Thich Minh Hieu
English
Translation: Dieu My
*****
Foreword
Our
timeline is very short but the work is extensive, therefore, we are not
often concerned with the spiritual training but only trying to complete
the many tasks in life. The work in this life can never end because, as
the work is just finished and out of our hands, there are still many other
tasks. For this reason, we must strive to reserve time for the practice
and should not procrastinate until tomorrow because, once impermanence
arrives, there is no tomorrow. Within impermanence, the practitioner must
recognize that anything we can do to perfect the ethical aspect, we must
carry out straightaway and not wait until we are older or more settled.
Buddhism is the actuality, there is no waiting or promising, hence, there
is a saying: “Practice is as imperative as like the flame engulfs one’s
head”. The happiness that we are having is the ability to listen and
learn the Buddha dharma, the chance to meet each other on the same path
in reaching towards one goal and the opportunity to share the experiences
of the Sangha and dharma associates. This is the happiness that Buddha
stated in the Dharmapada: “Happiness is the birth of the Buddha, happiness
is the supreme dharma teachings, happiness is the unity of the Sangha and
happiness is the fourfold assembly [1] practices together”. In life,
we strive to reserve some time to find true happiness in each day by the
path of virtuous thought that Buddha has taught. How can we recognize the
time process of impermanence passing by in life? How can we have resolute
virtuous thought in order to break away from our own entanglement so as
to gain peace in the end? The Indic language has the term “maya” meaning
illusion used in describing our lives. Throughout the time period of 10
or 20 years separated from our native country, there were so many changes
from one generation to another and those changes are referred to as illusion.
When we recognize that this life is an illusion, what can we do to maintain
the stability or, in other words, what living characteristics in Buddhism
can be carried out to support our stability, finding true happiness in
each and every short second or minute of maya? Buddha said that when each
Buddhist understands one’s own physical, verbal and thought, then that
person shall live a life of realism, purity and altruism, and thus, such
person shall not endure suffering. Happiness is what we already have and
feel, not what we are chasing after or in search of. When waiting, chasing
after happiness, we obliviously shut out all the happiness already existed
around us. The happiness in the surrounding lasts because we have a wisdom
treasure that Buddha has nurtured us through his teachings. Buddha said:
“Let us light our own torch to walk the path” and that torch is the
self engagement from each one of us.
The
following is the summary of 6 dharma lecture sessions of Master Thich Minh
Hieu. These 6 lectures (Exerting Effort, Practice Insight Meditation, The
Art of Buffalo Herding, Relinquish The Blade, Turning Head to See The Shore,
and Simultaneous Practice of Meditation and Pure Land) are only a fraction
of many dharma lecture recordings that Master Minh Hieu has conducted in
Australia, America, Canada and Europe. These lectures were summarized and
compiled because the subjects discussed are related in many ways. This
composition aims at assisting the readers to comprehend the fundamentals
prior to selecting subjects for further listening and learning among hundreds
of Master Minh Hieu’s recorded lectures (www.minhquangthienvien.com).
EXERTING
EFFORT
The
learning activity can be extensive but the part of exerting effort is rather
deficient because the practitioner is unwilling to relinquish, and therefore,
it is difficult to attain. Exerting means hands-on and this requires engagement.
Effort is performing a particular task with diligence and concentration.
The practice can only yield effective results for the training process
when the comprehension is clear. Buddhism is the path of actuality and
can only sustain if we imbibed it. If we don’t attain any achievements
or accomplishments in order to continue in this life or next life, we would
not be able to finish the path. Exerting effort brings forth such essential
attainment. Buddha has exerted effort, determined to sit in meditation
until enlightenment is reached, and today, we have his teachings.
We
should not have status discrimination in learning Buddhism. Psychologically,
we tend to look upward and only see differences. Buddha, standing from
above, looks down and he see the generals, not seeing distinctions. When
Buddha enlightened, he wanted to enter Nirvana because he saw that this
world is too complex, full of doubts, even if he teaches the dharma, no
one would listen. The Four Devas in the heaven appeared before Buddha and
requested him to transmit the Wheel of Doctrine: “Although this world
seems as so [unable to receive dharma], but there are people with supreme
condition who want to listen to the Doctrine.” Buddha looked at the lotus
pond, he saw the differences among the lotus blossoms and understood those
differences, therefore, he presented many methods in order to salvate the
living beings. If we strive to exert effort, then one day, we can rise
above the surface of the pond. Even if we are born into the very bottom
of the world, we still have the ability to rise and to liberate from the
defilement and suffering given that we have the determination to exert
or not.
The
very first step is renouncing every notion that relates to the individual
ego so that we can receive the quintessence of Buddhism because Nirvana
exists only when there is no-ego. Knowledge easily produces ego and anything
related to the ego, hence, one must be aware that knowledge is the preparation
for one’s practice and sharing of experience with fellow practitioners,
not competing for gain or loss.
Exerting
effort is returning to find one self or to find one’s original face [Buddha
nature]. The following is the method of training in relating to exerting
effort:
Exerting
1.
Determine to end desires, demands. We must have the sincerity and a stable
basis so as to not easily waver.
•
Must accept to end cravings in order to exert effort.
•
The law of cause and effect is very precise. We can deceive people or ourselves,
but we cannot deceive justice. Therefore, when we end desires, we can avoid
disseminating bad cause and effect.
•
Worldly blessings: Worldly blessings only bring wealth and nobility, but
these are the very things that usually become hindrances for exerting effort.
When having merits, such attainment can bring us to a more supreme state,
and with righteous karmic resultant, we are protected wherever we go.
2.
Determine to renounce worldly thoughts
•
Purify the mind and listen to ourselves means that finding our own true
master. The truth is mainly ourselves and we must self-engage in order
to find truth. In other words, each of us has the Buddha nature. In order
to purify the mind, we must master our own concepts and actions in the
daily life, and then we may have a chance for attainment.
•
When not having the worldly thoughts, we will realize truth, however, at
this point, we can still hear the Buddha’s words. Keep on listening until
we no longer see the Buddha, no longer hear the Buddha, and then, we have
completely integrated with the Buddha nature inherent within us.
•
Continue training until the mind is completely one-mindedness, no worldly
thoughts, then the achievement from exerting effort can be reached. Once
entering meditation, all our perceptions, desires must be ceased and are
no longer pursued. Therefore, before commencing the exertion, we need to
have some time for cessation. We usually allow the mind to think of many
worldly aspects and sow the suffering cause for ourselves. Once we begin
to exert, we should examine and be considerate in each and every thought,
action and deed because these are what disperse the cause and effect.
“Often
see one’s own fault
Do
not speak of others’ faults
Others
blunder, we do not
To
speak of fault is one’s own offense
The
mind should reside in chanting Buddha’s name”
3.
Determine to practice the chosen method and maintain the method for
a long period of time
•
When exerting, we must prepare to walk a long path.
•
Must find a particular method that enables us to find a place for contemplation,
to be resolute in finding our own original nature and exerting effort.
Only then can we be the same as the Buddhas, the Bodhisattvas who have
exerted effort long ago. Today, we only practice leisurely and not as diligent
as the exalted ones.
•
If we practice and keep aiming towards the external, we continuously wear
ourselves out. We do not have time for resolving the trivial curiosity
of society and the world, but each one of us must find ourself, which means
that we must aim towards the internal. We ask ourselves what have we not
practice as time passes? What have we not accomplish?
Effort
Effort
is conducting a certain task unto perfect completion, thus, a lot of labor
and consideration is invested.
1.
Determine to practice with diligent effort in order to accumulate righteous
cause and reap righteous effect, for example, if wanting to attain human
vehicle[2] , then one must take refuge in the Three Jewels[3] and
receive the five precepts[4] ; if wanting to attain deva vehicle, then
one must practice the ten karmic virtues[5] .
2.
When chanting the Buddha’s name, the mouth can avoid from profane verbals
and prostrating the Buddha so that the physical body can avoid evil conducts:
“Increase
Buddha-name chants, decrease profane words
Increase
prostration to many Buddhas, decrease evil conducts”
•
There is not a lot of time remained, therefore, we must be resolute in
exerting effort and not be concerned with the superficiality of the surrounding.
This world is slowly degenerated, fluctuated and affected by impermanence,
and so we do not have any more time, hence, we must be decisive in exerting
effort. We need to use the time for chanting the Buddha’s name, for finding
our own peacefulness and for prostrating the Buddhas in praying for ourselves,
increasing the merits or repenting our blunders. This means that we should
perform actual conducts rather than mere beliefs. However, the main thing
is that we must have a stable basis as our provision.
PRACTICE
INSIGHT MEDITATION
Buddhism’s
viewpoint has two aspects:
1.
When Buddha introduced the realm of Nirvana, at the same time, he revealed
to us the misery of birth and death.
2.
In the Four Noble Truths[6] , Buddha interpreted the causes that lead to
suffering and, subsequently, he presented the path of ending suffering
and the Way to end suffering. In order to be liberated from life and death,
we must know the causes leading to suffering and the way leading to Nirvana.
When
we have been through so much suffering, oppression, disappointment, we
tend to dream, to yearn and to crave. For example, a person fell into the
river and lost his floater, he would then cling onto to anyone else. Similarly,
in the past, we have lost so much, and thus, we cling onto happiness of
the present no matter how ephemeral the present is. It is mainly this attachment
that creates suffering for us because the more hope we have the more disappointment.
Virtuous thought is the path that would not allow us to cling onto ephemeral
happiness, but it is a path that lead us to present happiness. This path
of virtuous thought can only be achieved by those who are walking each
step and recognizing each experience in order to enjoy happiness. With
their own effort, they free themselves from desires in order to gain the
power to endure life and to transform this world into the Pure Land. Henceforth,
the glorious shore only awaits the ships that weathered the storms. To
really enjoy the happiness of virtuous thought, we ourselves must acknowledge
the entanglements, the path that untied those knots in order to be liberated,
and secrete what elements to have sufficient strength for engaging ourselves
into life and transform this world into the Pure Land.
Walking
in virtuous thought is to walk without seeking a destination, meaning that
walk with a peaceful mind, gentle respiration and a smile because we have
happiness. In each step, we are aware of our thought, our speech and our
action, not pursuing the illusion of maya. When practicing in virtuous
thought, we do not reminisce the past or dream of the future. After realizing
the true cause that leads to suffering, we find the cause that leads to
Nirvana.
No
Ego is Nirvana
•
The cause leading to life and death, suffering is greed, attachment, delusion,
which had brought us through 12 years, 120 years, 1200 lifetimes.
•
The cause leading to Nirvana is awakening, wisdom, virtuous thought and
virtuous knowledge, which often illuminate each of our step, each of our
thought.
According
to the Study of Consciousness (Sanskrit: Yogacara), when engaging into
life, we accumulated every tiny bit of each action and thought, then we
became confused in thinking that we can resolve everything and will not
be defiled from life. And so, we do not exert effort for insight meditation
and liberating ourselves from the entanglement, instead we fuss over other
people’s faults, and in the end, we cannot achieve liberation.
The
method of insight meditation is a method of virtuous thought, meaning that
each person must examine his own mind in order to sever the twine of disturbance
and greed. We ourselves should often exert effort with virtuous thought
creating the immune power so that we can endure the world, and even if
we enter this world many more times in the future, we have no fear that
this worldly realm would make us impure.
It
is only this present moment is the moment of virtuous thought and the most
marvelous time because we enjoy the happiness that we created ourselves
and not through any other circumstances. Often examining ourselves in virtuous
thought meaning to reverse our view and look internally towards the self-nature
in order to eliminate the greedy attachment, purify the impure seeds and
use loving kindness, compassion, joy and renunciation to irrigate the garden
of the mind, which stores the seeds of love, sympathy and peace. Even if
we live in illusion, we would not be swept away by illusion, and thus,
we live in virtuous thought. When we ourselves overcome the entanglement,
hindrances and understand the causes subjected us to life and death so
that we no longer have the ego attachment, we attain independence within
this world and this is the path that leads to Nirvana. The Sutra mentions
that Buddha lived in meditative state 24 hours each day, that is he lived
in virtuous thought. The Honorable One directed the three karmic agents,
physical, verbal and thought, righteously with his own ability and led
life onto the path of happiness for the devas and humankind.
Finding
oneself, serenity and happiness without the use of desires means that we
master our own body and mind. The value of virtuous thought, of the people
who are studying and practicing Buddhism is to master any minute or second
of time means that we are liberated for that minute or second.
THE
ART OF BUFFALO HERDING
Buddha
said: “In this life, there are 4 types of people:
One
who is from the darkness enters into the darkness: There are people who
are very poor and miserable, but even when they live in a modern, good
country, they still walk the old path and continue to create bad karmas.
One
who is from the darkness enters into the light: People who were born more
unfortunate than others but because they understand the doctrine and clearly
know the principle of cause and effect, they create good karmas so that
the next lifetime is a better one in which they will continue Buddhist
studies and live as a righteous person.
One
who is from the light enters into the darkness: People who were born with
privilege due to good karmas obtained in the past life but, in the current
lifetime, they refuse to practice and only create bad karmas.
One
who is from the light enters into the light: People who were born into
a life of privilege and power and still continue to perform good deeds.
As
a Buddhist, we should know how to maintain our happiness so that we don’t
fall into suffering. If we ourselves don’t want to suffer, then we should
not bring misery to others. If we want to know the karmic retribution in
the later time, then we examine the deeds we have done right now and determine
what kind of seeds are being sowed for the future. When we recognize that
our life is adequate, peaceful and that we have done good deeds for other
people so as to lessen their suffering, we progress from the light further
into the light. In this life of impermanence, no one can guarantee or protect
any one else and only the merit that we ourselves created can protect us.
Therefore, when we are in the light, we should not allow ourselves to return
into the darkness. This means that since we were born into a better place
than other people, we should continue to uphold the precepts, make offerings,
conduct goodness, not bringing misery to others so that we continue into
the light in this life and the next.
Buddhism
means from this light we go into another light so that, as time passes,
we become a better being, for instance born as human, then succeed to the
heaven and then continue to progress until reaching enlightenment.
The
principle of Buddhism through the pictorial representation of buffalo herding:
In
the beginning, we practice by taking refuge in the Buddha, Dharma and Sangha
in a righteous way and this is the part of looking for the buffalo. With
this spiritual stability, certainly, we will not be condemned (never fall
into the hell realm, the hungry ghost realm and the animal realm). Ascending
to the next level, we begin to herd the buffalo, meaning that we reform
our mortal being so that the black buffalo becomes white, that is, from
a mortal we become a venerated being.
Buddha
taught that the young buffalo herder has 11 arts of herding the buffalo
as follows:
1.
Must easily recognize our own buffalo when looking into a herd of buffalos
The
practitioner must recognize the main elements (earth, water, wind, fire,
void, and perception and consciousness) that create this form of our physical
being. Because of delusion, we accept this physical form as tangible, and
thus, we allow the ego, the egoistic possession and the suffering to arise.
The elements are temporary and subjected to disintegration once we die,
therefore, we should not concern, pamper and rely on them so much that,
in the process, we create bad karma and endure suffering. The conditioned
arising does not have a true nature, thus, due to each person’s perception,
there is differentiation, and, ensuing with the course of time, the condition
will eventually end on its own accord. When we understand the principle
of conditioned arising, we would not be obstinate and endure suffering.
2.
Must recognize the images of each buffalo
Practitioners
must know how to use wisdom to examine the conducts of their own physical,
verbal and thought. Before vocalize or carry out an action, we must know
clearly whether the result will cause suffering for others or not. We must
distinguish what is right and what is wrong in every speech and every action.
Thus, one should speak less and listen more. To listen more means that
to contemplate and understand more than speaking. Listen and think so that
we know whatever being said is right or not, then judge whether that right
thing should be carried out or not. The things that should not be done,
we should renounce them and no longer think about them. Therefore, we know
the conducts of physical, verbal and thought, and which tasks deserve or
undeserve to be carried out.
3.
Must know how to bathe the buffalo to keep it clean
As
a practitioner, one must know how to renounce, to cleanse one’s own body
and mind in order to eliminate the greed, anger and delusion. The more
the greed and anger mind is diminished, the less the yearning and the perturbation
in one’s mind will be. We often heard that the flame of anger burns our
merit forest. Henceforth, we must know how to renounce the greed, anger
and delusion so that the mind becomes pure and our lives are then peaceful.
4.
Must know how to care for the buffalo’s injury
In
our lives, there is no one without any spiritual afflictions. Practitioner
is one who knows how to protect the 6 sense organs (eyes, ears, nose, tongue,
body and mind) so that when they are in contact with objects producing
the 6 attributes (sight, sound, scent, taste, touch and thought), creating
6 sense consciousnesses (seeing consciousness, hearing consciousness, smelling
consciousness, tasting consciousness, bodily consciousness and mental consciousness),
one would not be perturbed and suffered. When closing up all the sense
organs, we diminish the afflictions yielded from the contact of the 6 attributes
with the 6 sense consciousnesses. We then know how to lessen the volition
of seeing, hearing, etc. to protect our body and mind.
5.
Knowing to set off smoke to prevent the buffalo from mosquito bites.
We
study and know how to spread the doctrines of Buddhism in order to bring
peace, benefit to everyone. Therefore, we know how to renounce the ego
to bring peace to other people. The notion of no-ego, altruism is that
the happy, peaceful livelihood of others means our own happiness and peacefulness.
6.
Know how to find a safe path for buffalo to walk on
We
find a practice path that is virtuous to follow rather than walk the thorny
path of fame and lust. If we walk these thorny paths, we will be controlled
by them and will be guided towards the immoral directions and create much
unhappiness.<