TIẾT
8
“CHỦ
NGHĨA THẦN BÍ” CỦA PHÁI TRUNG QUÁN
Trong đoạn cuối cùng này, bút giả sẽ bàn về giả
thuyết “thần bí” mà đôi khi người ta bảo rằng
nó là phù hợp với lập trường của phái Trung Quán.
Người ta không ngạc nhiên khi thấy biện chứng pháp của
Long Thọ đã trở thành một cội nguồn phong phú của
chủ nghĩa thần bí ở Đông Phương.
Hai đặc tánh chủ yếu của triết học Trung Quán rất
gần gũi với những gì mà chúng ta có thể gọi là
những ̣điểm phổ quát của tất cả các loại chũ
nghĩa thần bí. Thứ nhất, có sự tin tưởng vào khả
thể của loại kiến thức mà chúng ta gọi là khải thị,
trực giác, hoặc thậm chí sự trực diện với hiện
tại. Có người biện luận rằng, những loại kiến
thức khác, tức là kiến thức qua các giác quan, lý
trí, và phân tách, chỉ hoạt động ngoài bề mặt, chỉ
ở tầng diện thế tục, samvrti, và nó che đậy chân
lý tối hậu; cho nên, loại kiến thức thứ nhì này
nằm ở giai tầng thấp hơn đối với loại kiến thức
thứ nhất. Trực giác là đơn vị trọng tài duy nhất
của chân lý tối hậu, vì nó không lệ thuộc vào bất
cứ quan điểm nào, và, cũng không nhờ cậy vào bất
cứ ký hiệu nào (thuộc về ngôn ngữ hay những gì
khác). Loại kiến thức thấp tùy thuộc vào quan điểm
mà chúng ta bị đặt vào, hoặc chỉ là những giả thiết
của chúng ta, và tùy thuộc vào những ký hiệu mà
chúng ta dùng để tự bày tỏ.
Đặc ̣điểm thứ nhì của phái Trung Quán là tin tưởng
vào sự nhất thống; sự nhất thống này có khuynh
hướng bác bỏ tất cả những phân hóa và dị biệt,
vì coi rằng chúng ta là những hiện tượng hư ảo. Phái
Trung Quán cho rằng tất cả những đa nguyên này chỉ là
cái màn che dấu thực tướng của chân lý tối hậu,
duy nhất và vô nhị. Tuy nhiên, quan niệm về thực tướng
bất nhị (advaya) này đặt cơ sở trên những biện luận
lý để cố gắng cho thấy sự bất khả đắc của
“tự-tánh” (own-nature) (svabhàva), tự ngã hoặc nhân
quả.
Dù cho họ nắm vững những kỹ xảo luận lý thích hợp,
người ta có thể hoặc không thể phê bình những biện
luận của phái Trung Quán. Người ta có thể phê bình
biện chứng pháp của phái Trung Quán và bảo rằng những
̣điều có vẻ phi lý và mâu thuẫn do những lý luận
biện chứng pháp đó gây ra có thể được giải thích,
hoặc giải quyết, bằng một hệ thống luận lý bao
quát hơn. Nhưng, người ta không thể phê bình phái Trung
Quán, vì lúc nào họ cũng có thể khoác chiếc áo
lãnh đạm và nói rằng họ không thấy có gì đáng
nói và cũng chẳng quan tâm. Nếu những lý luận của
phái Trung Quán dẫn tới những phi lý cho thấy rằng
chúng ta là ngụy biện ẩn tàng, thì đó chỉ là lầm
lỗi trong luận lý của đối phương, hoặc vì họ đã
không áp dụng luận lý khi nói về cái tối hậu. Nguyệt
Xứng nhấn mạnh rằng phái Trung Quán không bao giờ phủ
nhận rằng luận lý chỉ thành công một cách hữu hạn
ở giai tầng chân lý thế tục. Nhưng, có lẽ có người
thấy cần nói thêm ở điểm này, rằng những nghịch
lý hoặc phí lý có vẻ là mục tiêu mà phái Trung Quán
cảm thấy những luận lý của họ phải đạt tới, chứ
họ không nghĩ rằng chúng ta nan đề cần giải quyết
bằng một lý thuyết hay hơn và bao quát hơn.
Một ý niệm trọng yếu khác của tất cả các triết
gia thần bí là niệm về cái “không thể bày tỏ.”
Chân Lý Tối Hậu không thể bày tỏ, nhưng có thể liễu
ngộ bằng trực giác. Ý niệm này cũng xuất hiện
trong triết học của phái Trung Quán. Vì sự hiểu biết,
hay tư tưởng, của chúng ta luôn luôn vượt xa ngôn ngữ
– là thứ chỉ đại diện cho những điều chúng ta hiểu
biết – do đó sự liễu ngộ bằng trực giác này
có một giá trị giáo dục rất lớn trong triết học.
Điều này cũng có thể là một thử thách để sửa
đổi, xác minh, và tái nhận xét những triết thuyết
của chúng ta. Nhưng, nếu chúng ta diễn giải – một cách
sai lầm, theo thiển ý của bút giả – rằng điều đó
có nghĩa là chúng ta nên từ bỏ tất cả những nổ
lực phân tách theo lý trí, thì chúng ta sẽ thấy mình
trở thành những người nghèo nàn đang dự đám tang
của triết học.
Tu
Viện Bảo Pháp
Ngày
4 tháng 7 năm 2000