TIẾT
7
HAI
PHƯƠNG DIỆN CỦA PHỦ ĐỊNH
Sự nhầm lẫn giữa những sai biệt trong ý nghĩa của
phủ định đã gây ra nhiều bối rối về luận lývà
biện chứng pháp. Cho nên trong đoạn dưới đây, bút giả
sẽ phân tách khái niệm của phủ định theo một đường
lối sẽ có thể làm sáng tỏ lập trường của phái
Trung Quán.
Thông thường, một điều phủ định đại để có hai
hương diện khác nhau: phủ nhận và ảnh hưởng ứng.
Ở đây xin bàn trước về phương diện thứ nhì: Khi
chúng ta nói “không” đối với một câu hỏi nào đó
thì chúng ta đương nhiên cũng bao hàm sự hưởng ứng
để trả lời “có” đối với một câu hỏi khác
nếu nó được đặt ra đúng cách. Loại hưởng ứng
này có những mức độ khác nhau. Khi chúng ta nói: “Đóa
hoa kia không là đỏ” tức là chúng ta sẵn lòng nhìn
nhận rằng đóa hoa đó có một màu sắc khác nào
đó (thậm chí có thể là một màu sắc rất gần
với màu đỏ). Khi chúng ta nói “Con người không phải
là đấng tạo hóa của vũ trụ” thì cấp độ hưởng
ứng của chúng ta rất thấp. Trong trường hợp này thậm
chí người ta có thể lý luận rằng chúng ta không sẵn
lòng chấp nhận ý kiến cho rằng vũ trụ có một đấng
tạo hóa.
Phương diện thứ nhất của phủ định, tức là phủ
nhận, hiện diện trong mọi phủ định, nhưng mức độ
của nó cũng thay đổi. Nếu chúng ta đọc câu thí dụ
thứ nhất là “Đóa hoa kia là không-đỏ,” hoặc chúng
ta lấy một thí dụ khác, như “Thân thể này có sự
bất tỉnh nhân sự” thì cường độ của sự phủ nhận
rất thấp. Trong những trường hợp này chúng ta khuynh
hướng ứng một lập trường nào hơn là phủ nhận
bất cứ liên hệ nào giữa chủ từ và thuộc từ.
Nhưng sự phủ nhận của chúng ta rất rõ ràng trong trường
hợp thứ nhì: “Con người không phải là đấng tạo
hóa của vũ trụ.” Nếu không nhận thức được cường
độ mạnh hay yếu trên cả phương diện phủ định thì
sẽ dẫn đến nhiều nan đề triết học.
Các nhà văn phạm và luận lý Ấn Độ cố gắng nắm
bắt hai phương diện này của phủ định bằng cách đưa
ra lý thuyết của họ về hai loại phủ định: paryudàsa
(phủ định bằng danh từ) và prasajya-pratisedha (phủ định
bằng động từ). Trong loại phủ định paryudàsa phương
diện “hưởng ứng” phần lớn lấn át phương diện
“phủ nhận,” trong khi loại phủ định pratisedha thì có
tình trạng trái ngược. Câu hỏi “người ta có thể
tìm thấy liên hệ nào đó về sự biến thiên trái
ngược giữa hai phương diện phủ định này hay không”
nằm ngoài phạm vi của bài này. Nhưng, bút giả có khuynh
hướng ngả về phía phái Trung Quán để nói rằng trong
một số trường hợp phủ định, phương diện “phủ
nhận” có thể rõ ràng đến nỗi nó giảm phương
diện “hưởng ứng” xuống tới độ hoàn toàn không
còn nữa.
Cho nên, khi phái Trung Quán muốn phủ định một đề luận
của đối phương, họ có thể mạnh dạn dùng loại phủ
định này mà không lo rằng sẽ phải chấp nhận hậu
quả của sự phủ định của mình, và do đó, họ có
thể thành công duy trì một thái độ bất hưởng ứng.
Vi vậy, Thanh Biện (Bhàvaviveka) đã biện minh một cách
rõ ràng cho loại phủ định mạnh mẽ nhất (prasajya-pratisedha)
khi ông giải thích quan điểm của Bồ Tát Long Thọ từ
lập trường của phái Tư Lập Luận Chứng (Svàtantrika).
Nhằm đạt tới loại phủ định mạnh mẽ nhất này, phái
Trung Quán có thể mạnh dạn vận dụng kế hoạch phủ
định liên kết gồm bốn mặt (catuskoti) hoặc giải nghĩa
theo lối này, sự mâu thuẫn của cách phủ định phối
hợp bốn mặt sẽ biến mất. Có thể nói rằng, Tuyết
Đối hay Niết Bàn hàm chứa sự phủ định của tất
cả những thuộc từ (hay những đặc tánh, trong ý nghĩa
phủ định cực đoan này). Khi tất cả những khả thể
đều bị phủ định thì “không-tánh” thắng thế.
Trong
những sách viết về luận lý học hiện đại, phủ
định thường được coi như loại phủ định “đề nghị”
(“propositional” negation), và, dấu hiệu của phủ định
thường được đặt ở phía trước những câu phủ
định. Theo cách đó thì phủ định co thể được định
nghĩa như sau: sự phủ định một câu nói là để bảo
rằng nó sai nếu câu nói đó được người ta coi là
đúng; và sự phủ định là để bảo rằng một câu
nói được cho là đúng trong bất cứ hoàn cảnh nào
mà câu nói đó bị coi là sai. Đây có vẻ là một quan
điểm rất đơn giản về phủ định mà phương diện
“phủ nhận” hoàn toàn quân bình với phương diện
hưởng ứng. Nói cách khác, nếu chúng ta phủ nhận
câu nói P, thì chúng ta hưởng ứng việc chấp nhận
sự thật của điều trái ngược, tức là P. Nhưng, tuy
rằng quan điểm này đơn giản hóa những qui luật sơ
đẳng của luận lý, nó lại thờ ơ đối với hình
thức phủ định cực đoan của phái Trung Quán – khi phủ
nhận một lập trường không nhất thiết có nghĩa rằng
người phủ nhận hưởng ứng một lập trường nào
khác.
Trong khi phái Trung Quán nhấn mạnh phương diện “phủ
nhận” của phủ định, chúng ta có thể nói rằng phái
Chánh Lý – Thắng Luận (Nyàya-Vaisesika) nhấn mạnh vào
phương diện “hưởng ứng” của phủ định, theo một
đường lối hầu như đặt biệt. Trong một phủ định
thuộc loại paryudàsa, khi phương diện hưởng ứng đương
nhiên khống chế, phái Chánh Lý bảo rằng chúng ta xác
định :sự khác biệt của cái bị phủ định” của chủ
từ. Chẳng hạn như phái Chánh lý giải thích câu “cái
bình không phải là mảnh vải” là “cái bình là vật
gì đó khác với một mảnh vải.” Ở đây, cái bình
được gán cho một đặc tánh gọi là “khác với một
mảnh vải.” Ngay cả khi chúng ta sử dụng cách phủ định
mạnh mẽ (pratisedha), phái Chánh Lý cũng vẫn coi phương
diện “phủ nhận” là phụ thuộc đối với phương
diện “hưởng ứng.” Do đó, câu nói “cái bình không
hiện hữu trên mặt đất” được diễn giảng là “sự
vắng mặt của cái bình tạo đặc tánh cho mặt đất,”
và nhóm chữ “sự vắng mặt của cái bình” được
coi như muốn nói về một đặc tánh khách quan của mặt
đất. Thật ra, phương pháp của phái Chánh Lý rất là
cơ bản, vì nó phủ nhận rằng có hoặc cần nên có
bất cứ đường lối phán đoán lưỡng cực xác định
hoặc phủ định nào. Nó thực sự giảm trừ phương
diện phủ nhận thành số không và coi phủ định như
là một phần không thể thiếu của thuộc từ.
Hai ý niệm phủ định khác nhau đang thịnh hành trong những
trước tác hiện đại về những gì được gọi là
“luận lý tự do” (free logic): phủ định lựa chọn (choice
negation) và phủ định loại trừ (exclusion negation). Thí
dụ mà chúng ta đã nói ở trên: “Đóa hoa kia không là
đỏ: sẽ là một trường hợp phủ định lựa chọn,
nếu nó ngụ ý rằng đóa hoa thực sự có một màu
sắc khác nào đó. Ý niệm này có thể rất thích
hợp với khái niệm về phủ định của phái Chánh Lý,
nếu chúng ta qui định rằng chữ “không” trong trường
hợp này cần được tái tạo như là một phần của
thuộc từ “không-đỏ.” Thật ra, lối diễn giải của
phái Chánh Lý không đòi hỏi chúng ta phải đặt lại
vị trí của chủ từ khi có sự mở rộng thêm về một
thuộc từ về màu sắc nào khác, mà chỉ bảo chúng
ta hãy tái tạo thuộc từ thành “không-đỏ” và coi
thuộc từ mới này như là một tổng thể trong sự
mở rộng thêm mà chủ từ sẽ được tái định vị
trí.