THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không
.
PHỦ ĐỊNH THỨC 
VÀ BIỆN CHỨNG PHÁP TRUNG QUÁN
Tác Giả: B.K. Matilal -  Dịch Giả: Thích Viên Lý
Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới  2000
TIẾT 7

HAI PHƯƠNG DIỆN CỦA PHỦ ĐỊNH

     Sự nhầm lẫn giữa những sai biệt trong ý nghĩa của phủ định đã gây ra nhiều bối rối về luận lývà biện chứng pháp. Cho nên trong đoạn dưới đây, bút giả sẽ phân tách khái niệm của phủ định theo một đường lối sẽ có thể làm sáng tỏ lập trường của phái Trung Quán. 

     Thông thường, một điều phủ định đại để có hai hương diện khác nhau: phủ nhận và ảnh hưởng ứng. Ở đây xin bàn trước về phương diện thứ nhì: Khi chúng ta nói “không” đối với một câu hỏi nào đó thì chúng ta đương nhiên cũng bao hàm sự hưởng ứng để trả lời “có” đối với một câu hỏi khác nếu nó được đặt ra đúng cách. Loại hưởng ứng này có những mức độ khác nhau. Khi chúng ta nói: “Đóa hoa kia không là đỏ” tức là chúng ta sẵn lòng nhìn nhận rằng đóa hoa đó có một màu sắc khác nào đó (thậm chí có thể là một màu sắc rất gần với màu đỏ). Khi chúng ta nói “Con người không phải là đấng tạo hóa của vũ trụ” thì cấp độ hưởng ứng của chúng ta rất thấp. Trong trường hợp này thậm chí người ta có thể lý luận rằng chúng ta không sẵn lòng chấp nhận ý kiến cho rằng vũ trụ có một đấng tạo hóa. 

     Phương diện thứ nhất của phủ định, tức là phủ nhận, hiện diện trong mọi phủ định, nhưng mức độ của nó cũng thay đổi. Nếu chúng ta đọc câu thí dụ thứ nhất là “Đóa hoa kia là không-đỏ,” hoặc chúng ta lấy một thí dụ khác, như “Thân thể này có sự bất tỉnh nhân sự” thì cường độ của sự phủ nhận rất thấp. Trong những trường hợp này chúng ta khuynh hướng ứng một lập trường nào hơn là phủ nhận bất cứ liên hệ nào giữa chủ từ và thuộc từ. Nhưng sự phủ nhận của chúng ta rất rõ ràng trong trường hợp thứ nhì: “Con người không phải là đấng tạo hóa của vũ trụ.” Nếu không nhận thức được cường độ mạnh hay yếu trên cả phương diện phủ định thì sẽ dẫn đến nhiều nan đề triết học. 

     Các nhà văn phạm và luận lý Ấn Độ cố gắng nắm bắt hai phương diện này của phủ định bằng cách đưa ra lý thuyết của họ về hai loại phủ định: paryudàsa (phủ định bằng danh từ) và prasajya-pratisedha (phủ định bằng động từ). Trong loại phủ định paryudàsa phương diện “hưởng ứng” phần lớn lấn át phương diện “phủ nhận,” trong khi loại phủ định pratisedha thì có tình trạng trái ngược. Câu hỏi “người ta có thể tìm thấy liên hệ nào đó về sự biến thiên trái ngược giữa hai phương diện phủ định này hay không” nằm ngoài phạm vi của bài này. Nhưng, bút giả có khuynh hướng ngả về phía phái Trung Quán để nói rằng trong một số trường hợp phủ định, phương diện “phủ nhận” có thể rõ ràng đến nỗi nó giảm phương diện “hưởng ứng” xuống tới độ hoàn toàn không còn nữa. 

     Cho nên, khi phái Trung Quán muốn phủ định một đề luận của đối phương, họ có thể mạnh dạn dùng loại phủ định này mà không lo rằng sẽ phải chấp nhận hậu quả của sự phủ định của mình, và do đó, họ có thể thành công duy trì một thái độ bất hưởng ứng. Vi vậy, Thanh Biện (Bhàvaviveka) đã biện minh một cách rõ ràng cho loại phủ định mạnh mẽ nhất (prasajya-pratisedha) khi ông giải thích quan điểm của Bồ Tát Long Thọ từ lập trường của phái Tư Lập Luận Chứng (Svàtantrika). 

     Nhằm đạt tới loại phủ định mạnh mẽ nhất này, phái Trung Quán có thể mạnh dạn vận dụng kế hoạch phủ định liên kết gồm bốn mặt (catuskoti) hoặc giải nghĩa theo lối này, sự mâu thuẫn của cách phủ định phối hợp bốn mặt sẽ biến mất. Có thể nói rằng, Tuyết Đối hay Niết Bàn hàm chứa sự phủ định của tất cả những thuộc từ (hay những đặc tánh, trong ý nghĩa phủ định cực đoan này). Khi tất cả những khả thể đều bị phủ định thì “không-tánh” thắng thế. 

Trong những sách viết về luận lý học hiện đại, phủ định thường được coi như loại phủ định “đề nghị” (“propositional” negation), và, dấu hiệu của phủ định thường được đặt ở phía trước những câu phủ định. Theo cách đó thì phủ định co thể được định nghĩa như sau: sự phủ định một câu nói là để bảo rằng nó sai nếu câu nói đó được người ta coi là đúng; và sự phủ định là để bảo rằng một câu nói được cho là đúng trong bất cứ hoàn cảnh nào mà câu nói đó bị coi là sai. Đây có vẻ là một quan điểm rất đơn giản về phủ định mà phương diện “phủ nhận” hoàn toàn quân bình với phương diện hưởng ứng. Nói cách khác, nếu chúng ta phủ nhận câu nói P, thì chúng ta hưởng ứng việc chấp nhận sự thật của điều trái ngược, tức là P. Nhưng, tuy rằng quan điểm này đơn giản hóa những qui luật sơ đẳng của luận lý, nó lại thờ ơ đối với hình thức phủ định cực đoan của phái Trung Quán – khi phủ nhận một lập trường không nhất thiết có nghĩa rằng người phủ nhận hưởng ứng một lập trường nào khác. 

     Trong khi phái Trung Quán nhấn mạnh phương diện “phủ nhận” của phủ định, chúng ta có thể nói rằng phái Chánh Lý – Thắng Luận (Nyàya-Vaisesika) nhấn mạnh vào phương diện “hưởng ứng” của phủ định, theo một đường lối hầu như đặt biệt. Trong một phủ định thuộc loại paryudàsa, khi phương diện hưởng ứng đương nhiên khống chế, phái Chánh Lý bảo rằng chúng ta xác định :sự khác biệt của cái bị phủ định” của chủ từ. Chẳng hạn như phái Chánh lý giải thích câu “cái bình không phải là mảnh vải” là “cái bình là vật gì đó khác với một mảnh vải.” Ở đây, cái bình được gán cho một đặc tánh gọi là “khác với một mảnh vải.” Ngay cả khi chúng ta sử dụng cách phủ định mạnh mẽ (pratisedha), phái Chánh Lý cũng vẫn coi phương diện “phủ nhận” là phụ thuộc đối với phương diện “hưởng ứng.” Do đó, câu nói “cái bình không hiện hữu trên mặt đất” được diễn giảng là “sự vắng mặt của cái bình tạo đặc tánh cho mặt đất,” và nhóm chữ “sự vắng mặt của cái bình” được coi như muốn nói về một đặc tánh khách quan của mặt đất. Thật ra, phương pháp của phái Chánh Lý rất là cơ bản, vì nó phủ nhận rằng có hoặc cần nên có bất cứ đường lối phán đoán lưỡng cực xác định hoặc phủ định nào. Nó thực sự giảm trừ phương diện phủ nhận thành số không và coi phủ định như là một phần không thể thiếu của thuộc từ. 

     Hai ý niệm phủ định khác nhau đang thịnh hành trong những trước tác hiện đại về những gì được gọi là “luận lý tự do” (free logic): phủ định lựa chọn (choice negation) và phủ định loại trừ (exclusion negation). Thí dụ mà chúng ta đã nói ở trên: “Đóa hoa kia không là đỏ: sẽ là một trường hợp phủ định lựa chọn, nếu nó ngụ ý rằng đóa hoa thực sự có một màu sắc khác nào đó. Ý niệm này có thể rất thích hợp với khái niệm về phủ định của phái Chánh Lý, nếu chúng ta qui định rằng chữ “không” trong trường hợp này cần được tái tạo như là một phần của thuộc từ “không-đỏ.” Thật ra, lối diễn giải của phái Chánh Lý không đòi hỏi chúng ta phải đặt lại vị trí của chủ từ khi có sự mở rộng thêm về một thuộc từ về màu sắc nào khác, mà chỉ bảo chúng ta hãy tái tạo thuộc từ thành “không-đỏ” và coi thuộc từ mới này như là một tổng thể trong sự mở rộng thêm mà chủ từ sẽ được tái định vị trí. 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx