TIẾT
6
NGỤY
BIỆN PHÁP
VÀ
NHỮNG NGHỊCH LÝ NGỮ-NGHĨA HỌC
Người ta có thể tìm thấy những nghịch lý về ngữ-nghĩa
học (semantic paradox) trong thời kỳ sơ khai của phái tranh
luận và ngụy biện (tức là phái vàdajalpa-vìtandà)
rất thịnh hành ở Ấn Độ, ngay cả trước thời của
Bồ Tát Long Thọ. Một trong 24 lối phủ định (jàti) ngụy
biện nằm trong chương thứ 5 của Chánh Lý Kinh, được
gọi là “thường trú tương tựa” (nityasama). Thí dụ
sau đây sẽ cho thấy cái xảo thuật được dùng làm
cách đối đáp “vô nghĩa lý’ trong trường hợp này:
Người đề xướng đưa ra luận án: “âm thanh là vô
thường.” Người chống lại sẽ đối đáp: “Có phải
từ ‘vô thường’ này là một thuộc từ thường
hằng (của âm thanh) hay không? Nếu nó là một thuộc
từ thường hằng thì tiếng động trở thành thường
hằng. Nếu nó không phải là một thuộc từ thường
hằng thì tiếng động cũng trở thành thường hằng.”
Nói cách khác, vấn đề sẽ trở thành nghịch lý nếu
người ta được quyền nêu ra những câu hỏi như vậy.
Uddyotakara nói rằng không nên cho phép người ta nêu ra những
câu hỏi như vậy, bởi vì “một cái gì đó là vô
thường” có nghĩa là nó không có sự hiện hữu thường
hằng, và người ta không thể hỏi “cái có sự hiện
hữu vô thường có sự hiện hữu thường hằng không?”
(mà không tự mâu thuẫn với chính họ). Nhưng cách diễn
giải này của Uddyotakara phá hủy tình huống nghịch lý
mà không đưa ra ý nghĩa thực sự của ngụy biện pháp
nguyên thủy. Cho nên, bằng cách đơn giản nhất, Uddyotakara
giải thích điều nghịch lý như là giả-nghịch-lý và
dễ dàng biến ngụy biện pháp thành sự vô nghĩa.
Ở đây, Uddyotakara giải thích theo một loại nghịch lý
về ngữ nghĩa (semantical paradox). Ông nói rằng thuộc
từ “vô thường” trong thí dụ nói trên thực sự là
một biến thể đối với bất cứ đặc tính thuộc-từ
(predicate property) nào. Lối phủ định ngụy biện gồm
có việc đặt câu hỏi có phải một thuộc từ nào
đó (nghĩa là một đặc tính thuộc-từ) có thể xác
định chính bản thân nó hay không. Trong đa số trườngt
hợp, đây là một câu hỏi hết sức vô nghĩa, thí dụ
hỏi: “Có phải thuộc-từ ‘xanh’ chính nó là xanh
hay không?” Vì vậy, Kanàda, trong khi tạo dựng phạm-trù
luận của ông, nói rằng cần phải đặt ra qui luật
để coi một màu sắc nào đó (chẳng hạn như ‘xanh’)
là một đặc tánh (guna) không thể được làm thành
thuộc từ của màu xanh đó, hoặc của bất cứ đặc
tánh (guna) nào khác. Nhưng, trong vài trường hợp nào
đó, những câu hỏi như vậy không tức khắc cho thấy
sự vô nghĩa của nó; thí dụ: “Có phải vô thường
là vô thường hay không?” Dù chúng ta trả lời theo bất
cứ cách nào, hoặc “phải” hay “không phải”, chúng
ta sẽ bị dẫn tới sự từ bỏ luận đề nguyên thủy:
x là vô thường.
Một xảo thuật tương tự như trên cũng đã được áp
dụng để chống phái Trung Quán. Luận điểm chủ yếu
của phái Trung Quán là: Thế giới hiện tượng là vô
thường, vì vậy không có thuộc từ nào có thể xác
định nó. Bây giờ một câu hỏi được nêu ra: Vậy chính
chữ “bất xác định” có phải là một thuộc từ
hay không? Nếu nó là thuộc từ thì thế giới hiện
tượng không phải là bất xác định, vì có ít nhất
là một thuộc từ có thể áp dụng cho nó. Nếu nó
không phải là thuộc từ thì nó là cái gì? Nói cách
khác, nếu định đề “thế giới là bất xác định”
là bất xác định thì chúng ta không thể nói rằng
thế giới hiện tượng là bất xác định. Và, nếu
định đề này không phải là bất xác định thì “bất
xác định” trở thành một thuộc từ mô tả một đặc
tánh xác định của thế giới hiện tượng và do đó
phủ định luận đề nguyên thủy nói trên.
Bút
giả đã từng nhắc tới câu trả lời của phái Trung
Quán đối với sự chỉ trích này: Chính bản thân “bất
xác định” không phải là một thuộc từ; chính bản
thân “không-tánh” không phải là một luận thuyết về
thế giới vô thường. Khi xác định rằng chúng ta không
thể xác định bất cứ thuộc từ nào của chủ từ
x, thì chính việc xác định đó không phải là sự xác
định bất cứ thuộc từ nào của chủ từ x đó. Có
lẽ phái Trung Quán nên nói rằng chính bản thân tính
cách bất xác định về đặc tính không phải là bất
xác định, vì họ sẽ đồng ý rằng cái bất xác định
không thể đồng thời vừa là xác định vừa là bất
xác định.
Bút giả công nhận rằng lý luận này có vẻ như muốn
bí ẩn hóa vấn đề triết học. Nhưng, điều cần
nói là lằn ranh phân cách giữa cái xác định và cái
bất xác định, giữa Tuyệt Đối và Hiện Tượng,
giữa Niết Bàn và cõi Luân Hồi, bản thân nó không
phải là bất xác định. Nói cách khác, trên cơ bản
chúng ta không thể thuyết minh điều gì về lằn ranh
phân cách này. Và đây là một lý do tốt để tin tưởng
(nếu không nói ra một cách minh bạch) rằng chúng ta không
thể phân biệt (advaya) và là bất nhị. Biện chứng
pháp theo đường lối nay sẽ dẫn tới Tuyệt Đối luận.
Nếu ở những phần trước đây bút giả từng nói
rằng lối phê bình trên đây về tánh bất xác định
dẫn chúng ta tới gần hơn với những nghịch lý về
ngữ nghĩa (chẳng hạn như “nghịch lý nói dối “khi
nói”: “những gì tôi đang nói không phải là sự thật”
– nghĩa là vừa nói dối vừa nói thật...) Bút giả
xin nói rõ hơn về điểm này. Công thức trên đây về
điều mà chúng ta gọi là “nghịch lý về bất xách
định” không giống hệt như những trường hợp về
nghịch lý về ngữ nghĩa. Một cách trực tiếp và
đơn giản để giải quyết nghịch lý về bất xác định
nói trên như sau. Câu nói “một sự vật là bất xác
định: thật ra là sự vi phạm nguyên tắc luận lý thông
thường mà chúng ta có thể nói “mọi sự vật hoặc
là P hoặc không phải là P.” Nếu phủ nhận nguyên tắc
này thì chẳng khác nào nói: “cái gì đó không là
P mà cũng chẳng phải không là P,” nếu nói như vậy
có nghĩa là “bất xác định về thuộc từ” (predicate
indeterminate). Vì vậy, khi chúng ta duy trì nguyên tắc luận
lý “mọi sự vật hoặc là P hoặc không là P” thì
điều nghịch lý nói trên sẽ không thể phát sanh. Đây
là một đường lối tốt để giải quyết nghịch lý,
nhưng, chúng ta có thể lâm vào nguy cơ giải thích sai chủ
ý triết học của phái Trung Quán.
Nguyên tắc luận lý đơn giản và chính xác “mọi sự
vật hoặc là P hoặc không là P” tùy thuộc vào sự
kết cấu của một định nghĩa minh bạch về ý nghĩa
của “không,” tức là ý nghĩa của sự phủ định.
Kỳ thực, có thể nói rằng nguyên tắc đó chỉ là
một cách để định nghĩa ý của phủ định – nghĩa
là đưa ra một ý nghĩa xác định cho sự phủ định
với mục đích thiết lập một hệ thống luận lý
nào đó. Ngoài ra, nguyên tắc đó cũng giả thiết rằng
mỗi thuộc từ có thể được áp dụng một cách đúng
hay sai cho bất cứ yếu tố nào trong toàn thể thế
giới đang được bàn luận tới (Đoạn dưới đây sẽ
bàn thêm về phủ định). Theo ý kiến của bút giả thì
động lực triết học của phái Trung Quán không phải
là phủ định nguyên tắc luận lý nói trên (mà tất
cả chúng ta phải chấp nhận) mà là vạch trần sự
hữu hạn của nguyên tắc này, để chúng ta khỏi giải
thích sai phạm vi áp dụng của nó.
Cho nên , bút giả nghĩ rằng điều nghịch lý về sự
bất xác định dẫn chúng ta tới một trạng huống giống
như tình trạng phải đối diện với một số nghịch
lý về ngữ nghĩa. Có lẽ căn nguyên của sự rắc rối
mà chúng ta phải đương đầu trong những nghịch lý về
ngữ nghĩa cũng cùng một nguồn gốc với sự rắc
rối trong trường hợp này. Nếu đúng như vậy, chúng
ta có thể coi rằng một giải pháp tổng quát cho các
nghịch lý về ngữ nghĩa sẽ đem lại một giải pháp
thỏa đáng cho nghịch lý về bất xác định. Những tiến
triển hiện đại vè triết học phân tách từ thập
niên 1930 có thể đưa ra vài giải pháp cho những nghịch
lý về ngữ nghĩa này. Chúng ta còn phải đợi xem liệu
một số những giải pháp đó sẽ thích ứng với nan
đề đã được nêu lên bởi sự phê phán trên đây về
phái Trung Quán hay không