TIẾT
5
NGHỊCH
LÝ CỦA KHÔNG TÁNH
Như bút giả đã biện luận ở những phần trên, không-tánh
dẫn đến lý thuyết về tánh bất khả xác định của
thế giới hiện tượng (samvrti). Nhưng, bản thân lý thuyết
này (về tánh bất khả xác định của thế giới hiện
tượng) không phải là một lý thuyết. Bạn đừng nên
coi rằng câu nói này chỉ là một trò chơi chữ nghĩa,
vì nó có thể cho thấy một ý nghĩa hợp lý về
câu nói “không-tánh dẫn đến lý thuyết về tánh
bất xác định của thế giới hiện tượng.” Lý thuyết
về không-tánh bản thân nó không phải là một lý thuyết,
vì nó không thể phủ định một cách thành công. Bút
giả xin giải thích rõ hơn về điểm này.
Ý niệm của tánh bất khả xác định là người ta có
thể khẳng định một định đề có vẻ nghịch lý:
Cái bất khả xác định chẳng phải là bất khả xác
định, và đồng thời là bất khả xác định. Vì vậy,
sự phủ định của cái bất khả xác định cũng trở
thành bất khả xác định. Câu nói này rõ ràng là trái
ngược với ý tưởng của chúng ta về luận lý. Nhưng,
chúng ta hãy cố gắng liễu tri ý nghĩa của nó.
Giả thử chúng ta coi x là bất xác định. Điều này
hoặc có nghĩa rằng không có thuộc từ (predicate) nào
có thể áp dụng một cách THÀNH CÔNG cho x, hoặc có
nghĩa rằng tất cả các thuộc từ – gồm cả những
nghịch lý – ĐỒNG THỜI có thể áp dụng cho x. Để
phủ nhận đề xuất “x là bất xác định” một cách
thành công, người ta phải cho thấy rằng một thuộc
từ “P” nào đó – chứ không phải là “phi P” đối
nghịch của P – sẽ có thể áp dụng cho x. Nói cách khác,
nếu chúng ta không thể cho thấy rằng “P” có thể
áp dụng cho x theo cách này, thì chúng ta không thể gán
bất cứ ý nghĩa nào cho sự phủ định của chúng ta
về đề xuất “x là bất xác định.”.. Nhưng điểm
chính yếu trong lý luận biện chứng pháp của Long Thọ
là biện luận rằng không thể tìm thấy một thuộc
từ “P” nào để áp dụng cho x mà cuối cùng không
khiến chúng ta sẽ phải áp dụng cả “phi P” cho x.
Một phương pháp nữa thường được dùng để phủ
định đề xuất “x là bất xác định” là coi thuộc
từ “bất xác định” như là một thuộc từ khác,
kế đó đi theo con đường của Long Thọ để chứng tỏ
rằng đề xuất đó sai. Nói cách khác, nếu chúng ta
chấp nhận “x là bất xác định,” rồi đi theo phương
thức suy luận của Long Thọ, thì cuối cùng chúng ta sẽ
bị dẫn đến xự chấp nhận cái trái ngược của
nó là “x chẳng phải là bất xác định.” Đây thực
sự là cách mà những người thuộc phái Chánh Lý
(Naiyayika), chẳng hạn như Uddyotakara, đã dùng để phủ
định phương pháp của Long Thọ. Nhưng, đó không phải là
cách phủ định hợp thức. Việc gọi “bất xác định”
là một thuộc từ là phạm vào “sai lầm về phạm
trù” – một sai lầm đã gây ra một số nghịch lý
về ngữ-nghĩa học (xem đoạn sau).
Chúng ta có thể nhận thấy, như đã được nói trước
đây, bản thân luận thuyết không-tánh chẳng phải là
một luận thuyết, cho nên có thể nói rằng bản thân
thuộc từ “bất xác định” chẳng phải là một thuộc
từ. Bởi vì chữ “bất xác định” được dùng ở
đây có nghĩa là “vô phương áp dụng bất cứ lúc
nào,” và nếu “vô phương áp dụng bất cứ thuộc
từ nào” được dùng làm thuộc từ của cái gì đó
thì chính cái đó không thể được gọi là “bất
xác định.”
Có hai cách để hiểu điều nghịch lý này của tánh
bất xác định: một cách đơn giản và một cách phức
tạp hơn. Nếu chúng ta chấp nhận cách thứ nhất thì
nó có thể dễ dàng cho thấy đây không phải là một
nghịch lý thực sự. Nhưng cách thứ nhì thì lý thú
hơn về phương diện triết học, và có lẽ gần gũi
hơn với tinh thần của phái Trung Quán.